NGÔ HOÀNG LONGNGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM DA CƠ ĐỊA TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU CẦN THƠ NĂM 2017-2018 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Những bệnh nhân từ 12 tuổi trở xuống được chẩn đoán viêm da cơ địa và điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ năm 2017-2018.
- Bệnh nhân từ 12 tuổi trở xuống được chẩn đoán viêm da cơ địa và điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ năm 2017-2018.
- Có sự đồng ý tham gia nghiên cứu của cha/mẹ.
- Cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng.
Chẩn đoán bệnh theo tiêu chuẩn của Hanifin và Rajka (1980), trong đó bệnh nhân phải đạt≥3 tiêu chuẩn chính +≥3 tiêu chuẩn phụ [32].
+ Viêm da mạn tính và tái phát
+ Hình thái và vị trí thương tổn điển hình: trẻ em mụn nước tập trung thành đám ở mặt, mặt duỗi các chi.
+ Tiền sử cá nhân hoặc gia đình bị bệnh cơ địa như: hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm da cơ địa.
+ Phản ứng da tức thì.
+ Viêm da bàn tay bàn chân không đặc hiệu.
+ Viêm kết mạc tái phát.
+ Nếp dưới mi mắt của Dennie Morgan.
+ Đục thủy tinh thể dưới màng bọc trước.
+ Tái mặt và ban đỏ ở mặt.
+ Ngứa khi ra mồ hôi.
+ Không chịu được len và chất hòa tan mỡ.
+ Dầy sừng quanh nang lông.
+ Tiến triển bệnh có thể ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường và tinh thần. + Da vẽ nổi trắng.
- Bệnh nhân mắc các bệnh da khác phối hợp như ghẻ, nấm da.
- Bệnh nhân tự ý bỏ điều trị.
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018.
- Địa điểm nghiên cứu là khoa Nội trú Bệnh viện Da liễu Cần Thơ.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
Cỡ mẫu được tính theo công thức [20]:
Trong đó: n: là cỡ mẫu.
Z: với mong muốn mức tin cậy là 95% (α=0,05) thì Z1-α/2= 1,96. p: tỉ lệ VDCĐ Theo khảo sát quốc gia về sức khỏe trẻ em của Hoa Kỳ [42], tỉ lệ viêm da cơ địa trẻ em trung bình là 10%, chọn p=0,1. d: là sai số cho phép trong nghiên cứu, d = 0,08.
Vậy số bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 54 bệnh nhân.
Chọn mẫu thuận tiện theo thời gian, phù hợp với đối tượng nghiên cứu từ tháng 07/2017 đến tháng 04/2018 cho đến khi đủ số lượng bệnh nhân.
Bảng 2.1 Phân chia các biến theo nội dung nghiên cứu
Tên biến số Loại biến Giá trị và định nghĩa Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Tuổi Định tính Liên tục có giá trị: < 2 tuổi, 2-12 tuổi.
Giới Định tính Có 2 giá trị: nam hoặc nữ.
Dân tộc Định tính Có 2 giá trị: dân tộc Kinh, dân tộc khác.
Nơi cư trú Định tính Theo tỉnh, thành phố hiện tại bệnh nhân đang cư trú.
Tiền sử mắc bệnh viêm da cơ địa Định tính 2 giá trị:
+ Tái phát: đã từng được bác sĩ chẩn đoán VDCĐ.
+ Bị lần đầu: chưa từng được chẩn đoán
Tiền sử mắc bệnh cá nhân Định tính Gồm: Hen phế quản, viêm mũi dị ứng Mỗi bệnh có 2 giá trị: có, không.
Tiền sử mắc bệnh gia đình Định tính Gồm 4 giá trị:
Các đối tượng này đã từng được bác sĩ chẩn đoán mắc các bệnh dị ứng như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, hoặc có các biểu hiện như nổi mẩn đỏ, sưng phù kèm ngứa rồi biến mất hoặc thường xuyên chảy nước mũi và ngứa mũi, cho thấy nguy cơ cao mắc các bệnh dị ứng đường hô hấp.
Yếu tố khởi phát của dị ứng bao gồm dị nguyên gây dị ứng tiếp xúc, dị nguyên trong không khí và dị nguyên thức ăn Các đặc điểm lâm sàng của dị ứng thường liên quan đến các phản ứng dị ứng rõ rệt như nổi mẩn, phù nề hoặc khó thở, đồng thời các yếu tố liên quan như tiền sử gia đình và môi trường tiếp xúc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguy cơ và hướng điều trị hiệu quả.
Triệu chứng lâm sàng Định tính Gồm [6], [29], [37]:
- Ngứa: là một cảm giác khó chịu mà khi con người gãi sẽ cảm thấy hài lòng, dễ chịu.
Mất ngủ là tình trạng khó đi vào giấc ngủ hoặc ngủ không yên giấc, gây cảm giác mệt mỏi và không tỉnh táo vào ban ngày Người bị mất ngủ thường xuyên thức dậy sớm mà không thể ngủ lại hoặc tỉnh dậy nhiều lần trong đêm, với mỗi lần thức dậy kéo dài hơn 30 phút Điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, gây ra stress và giảm năng suất trong công việc hàng ngày.
Da khô, hay còn gọi là da thô và nhám, thường xuất hiện ở vùng mặt, cánh tay, cẳng tay, cẳng chân, bàn tay, bàn chân, cùng các đầu ngón tay và ngón chân Tình trạng này có thể gây ra nứt nẻ, tạo điều kiện cho viêm nhiễm và làm tổn thương hàng rào bảo vệ da trầm trọng hơn Nguyên nhân chủ yếu của da khô là do giảm lượng ceramide trong da, gây mất cân bằng hàng rào bảo vệ và làm tăng khả năng mất nước qua da, dẫn đến tình trạng da khô và kém sức sống.
- Vảy cá thông thường: tổn thương da khô, xếp lớp trông như vảy cá Thường gặp tổn thương này ở vùng cẳng chân, cẳng tay.
Dày sừng nang lông là các sẩn sừng ở nang lông có cảm giác ráp khi chạm vào Tình trạng này có thể kèm theo viêm và tạo mủ tại chân lông Dày sừng nang lông thường gặp ở vùng cánh tay, đùi và lưng, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và cảm giác khó chịu của người bệnh.
- Dễ nhiễm trùng da: tổn thương da dễ bội nhiễm, phản ứng viêm đỏ, tái phát nhiều lần.
- Viêm da bàn tay, bàn chân không đặc hiệu: là các dạng da khô, bong vảy da, nứt nẻ ở lòng bàn tay bàn chân, ngón tay ngón chân.
Chàm núm vú là tình trạng viêm đỏ, xuất hiện các mụn nước thành từng đám và có thể kèm theo phù nề, chảy dịch tại vùng núm vú và quầng vú Đây là vấn đề thường gặp ở phụ nữ đang trong thời kỳ cho con bú, gây khó chịu và cần được chẩn đoán sớm để điều trị hiệu quả.
- Viêm môi: môi khô, bong vảy hoặc mụn nước trên nền viêm đỏ, có thể chảy dịch.
- Nếp dưới mắt Dennie-Morgan: là 2 nếp da ở dưới mi dưới của mắt, chụm lại ở khóe mắt.
- Đục thủy tinh thể dưới màng bọc trước: cũng là một trong những biểu hiện của VDCĐ nhưng tần suất gặp không nhiều.
- Quầng thâm quanh mắt: là các tổn thương thâm da xung quanh mắt.
Vảy phấn trắng Alba thường gặp ở trẻ em, biểu hiện dưới dạng các dát giảm sắc tố có ranh giới rõ nét với da lành Đây là tình trạng không gây triệu chứng cơ năng và bé cảm thấy bình thường xung quanh Vảy phấn trắng Alba thường xuất hiện ở vùng da phơi sáng, đặc biệt là các vị trí dễ tiếp xúc với ánh sáng.
- Nếp lằn cổ trước: là những nếp da nằm ngang, màu thâm ở phía trước cổ.
- Ngứa khi ra mồ hôi: một số trường hợp VDCĐ khi ra mồ hôi nhiều xuất hiện đỏ da, ngứa.
- Không chịu được len: bệnh nhân VDCĐ thường có biểu hiện ngứa, đỏ da, dị ứng với len.
- Dị ứng thức ăn: tình trạng dị ứng với một số loại thức ăn thường xảy ra ở bệnh nhân VDCĐ.
- Chứng da vẽ nổi trắng: dùng một dụng cụ cùn vẽ lên vùng da lành sẽ xuất hiện một hằn nổi màu trắng.
Các triệu chứng gồm 2 giá trị: có, không.
Giai đoạn tiến triển của bệnh Định tính Gồm 3 giai đoạn: cấp tính, bán cấp, mạn tính.
Mỗi giai đoạn có 2 giá trị: có, không.
Mức độ nặng của bệnh Định tính Gồm 3 mức độ: nhẹ, trung bình, nặng Được tính dựa trên thang điểm SCORAD với: nhẹ
0,05).
Tỉ lệ bệnh mức độ nặng ở nhóm bệnh nhân có tiền sử HPQ là 0% và không có HPQ là 16%, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Trong nhóm bệnh nhân có tiền sử VMDU, tỷ lệ mắc bệnh mức độ nặng là 15,4%, cao hơn so với nhóm không mắc bệnh với tỷ lệ 14,6% Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy không có sự khác biệt rõ ràng giữa hai nhóm về mức độ nặng của bệnh.
3.2.2.5 Mối liên quan giữa các yếu tố khởi phát với mức độ nặng của bệnh
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa các yếu tố khởi phát với mức độ nặng của bệnh
Mức độ Yếu tố khới phát
Dị nguyên dị ứng từ thức ăn
Dị nguyên trong không khí
Dị nguyên gây dị ứng do tiếp xúc
Trong nghiên cứu, tỷ lệ các trường hợp có phản ứng nặng do tiếp xúc với dị nguyên thức ăn chiếm 14,3%, trong khi đó nhóm không tiếp xúc có tỷ lệ là 15% Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về mức độ nặng của phản ứng dị ứng giữa hai nhóm.
Bệnh nhân VDCĐ mức độ nặng có tiếp xúc với dị nguyên trong không khí chiếm tỉ lệ 35,7%, cao hơn ở nhóm không tiếp xúc 7,5% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,021 (OR=6,85; KTC: 1,37-34,14).
Nhóm có tiếp xúc với dị nguyên gây dị ứng qua tiếp xúc chiếm tỷ lệ bệnh nặng đến 50%, cao hơn đáng kể so với nhóm không tiếp xúc, chỉ khoảng 13,5% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy mối liên hệ giữa tiếp xúc với dị nguyên và mức độ nặng của bệnh còn cần được nghiên cứu thêm.
3.3 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHI VIÊM DA CƠ ĐỊA
3.3.1 Các thuốc được sử dụng trong điều trị
Bảng 3.11 Các thuốc được sử dụng trong điều trị
Tỷ lệ điều trị bằng kháng sinh đạt 100%, trong đó 92,6% bệnh nhân sử dụng cefuroxim và 7,4% sử dụng spiramycin Phần lớn bệnh nhân được điều trị bằng kháng histamin H1, với 40,74% sử dụng chlorpheniramin, 7,4% dùng loratadin, và 51,85% được kết hợp chlorpheniramin và loratadin Ngoài ra, 42,59% bệnh nhân còn được điều trị bằng prednisolon để giảm triệu chứng viêm Trong điều trị tại chỗ, 88,9% dùng Fucidin H, trong khi 11,1% sử dụng thuốc bôi tacrolimus với nồng độ 0,03%.
3.3.2 Kết quả điều trị dựa vào điểm SCORAD trung bình
Bảng 3.12 Kết quả điều trị dựa vào điểm SCORAD trung bình
Thời gian Điểm SCORAD Thay đổi so với trước điều trị
- Trước điều trị: SCORAD trung bình là 36,81 ± 8,89.
- Sau điều trị 7 ngày: SCORAD trung bình là 23,22 ± 6,38, giảm 13,59 điểm.
- Sau điều trị 14 ngày: SCORAD trung bình là 13,31 ± 3,81, giảm 23,5 điểm.
Bảng 3.13 Kết quả điều trị dựa vào mức độ bệnh
Thời gian Nặng Trung bình
- Trước điều trị: 5,6% bệnh nhân mức độ nhẹ, 79,6% mức độ trung bình và14,8% mức độ nặng.
- Sau điều trị 7 ngày: 55,6% bệnh nhân mức độ nhẹ, 44,4% mức độ trung bình và 0% mức độ nặng.
- Sau điều trị 14 ngày: 96,3% bệnh nhân mức độ nhẹ, 3,7% mức độ trung bình và 0% mức độ nặng.
3.3.3 Kết quả điều trị dựa vào thành phần trong thang điểm SCORAD
Bảng 3.14 Kết quả điều trị dựa vào thành phần trong thang điểm SCORAD
Triệu chứng lâm sàng TB ± ĐLC
A: Diện tích thương tổn Trước điều trị 22,67 ± 12,26
Sau điều trị 7 ngày 21,75 ± 11,07 Sau điều trị 14 ngày 19,01 ± 7,72 B: Mức độ tổn thương Trước điều trị 6,64 ± 1,65
Sau điều trị 7 ngày 3,72 ± 1,20 Sau điều trị 14 ngày 1,94 ± 0,79
C: Tổng điểm ngứa + mất ngủ
Trước điều trị 9,72 ± 3,80 Sau điều trị 7 ngày 5,85 ± 2,20
Trước khi điều trị, diện tích thương tổn trung bình của bệnh nhân là 22,67 ± 12,26 cm² Sau 7 ngày điều trị, diện tích này giảm nhẹ còn 21,75 ± 11,07 cm², thể hiện xu hướng giảm nhẹ của tổn thương Sau 14 ngày điều trị, diện tích thương tổn tiếp tục giảm còn 19,01 ± 7,72 cm², cho thấy quá trình phục hồi tích cực theo thời gian.
- B: Tổng điểm của: ban đỏ + sẩn/phù + tiết dịch/vảy tiết + sước da + lichen hóa + khô da Trước điều trị B trung bình là 6,64 ± 1,65 Sau điều trị 7 ngày,
B trung bình giảm còn 3,72 ± 1,20 và sau 14 ngày điều trị, B trung bình chỉ còn 1,94 ± 0,79.
- C: Tổng điểm của ngứa + mất ngủ Trước điều trị, điểm C trung bình là 9,72 ± 3,80, sau điều trị 7 ngày thì giảm xuống còn 5,85 ± 2,20 và sau điều trị 14 ngày giảm chỉ còn 5,85 ± 2,20.
3.3.4 Ghi nhận các tác dụng không mong muốn của thuốc
Trong thời gian theo dõi điều trị 2 tuần không ghi nhận các tác dụng không mong muốn nào.
Kết quả điều trị của bệnh nhi viêm da cơ địa
4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHI VIÊM DA CƠ ĐỊA
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm 53,7%, nữ chiếm 46,3%, với tỉ số nam/nữ là 1,16, phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Hương và Nguyễn Thị Hồng Huyên có tỉ số lần lượt là 1,25 và 1,01 Theo y văn, tỷ lệ mắc bệnh VDCĐ ở trẻ nam và nữ là tương tự nhau và không có sự khác biệt về mặt thống kê, chứng tỏ bệnh lý này không liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ dưới 2 tuổi chiếm tỉ lệ 46,3%, trong khi trẻ từ 2-12 tuổi chiếm 53,7% Kết quả này khác với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Hương (67,6% trẻ dưới 2 tuổi) và Trần Văn Trung (61% trẻ dưới 2 tuổi), nhưng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Duy Hưng (40% dưới 2 tuổi, 46,7% từ 2-12 tuổi) Sự khác biệt này có thể do thời gian thu thập mẫu và đối tượng nghiên cứu khác nhau; thời gian lấy mẫu của chúng tôi ngắn hơn nhiều so với nghiên cứu của Trần Văn Trung, đồng thời chúng tôi chỉ tập trung vào trẻ em điều trị nội trú, trong khi các nghiên cứu khác có thể gồm cả trẻ khám ngoại trú.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của bệnh nhi
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm 53,7%, nữ chiếm 46,3%, với tỉ số nam/nữ là 1,16, phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Thị Xuân Hương và Nguyễn Thị Hồng Huyên, đều cho kết quả tỉ số trẻ nam/nữ lần lượt là 1,25 và 1,01 Theo y văn, tỷ lệ mắc VDCĐ ở trẻ nam và nữ là tương tự nhau và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, cho thấy VDCĐ không liên quan đến giới tính của trẻ Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các tài liệu y học về VDCĐ, nhấn mạnh rằng đây là bệnh lý không liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính.
Dựa trên nghiên cứu của chúng tôi, trẻ dưới 2 tuổi chiếm tỷ lệ 46,3%, trong khi trẻ từ 2-12 tuổi chiếm 53,7%, khác biệt so với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Hương (67,6% trẻ dưới 2 tuổi) và Trần Văn Trung (61%) Tỉ lệ này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Duy Hưng, trong đó trẻ dưới 2 tuổi chiếm 40%, 2-12 tuổi 46,7%, và trên 12 tuổi 13,3% Sự khác biệt này có thể do khác nhau về thời gian thu thập mẫu và đối tượng nghiên cứu; ví dụ, nghiên cứu của Trần Văn Trung diễn ra trong 6 năm tại Viện Da Liễu Việt Nam, có cỡ mẫu lớn hơn nhiều, còn nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Hương tập trung vào trẻ khám ngoại trú và nội trú, trong khi chúng tôi chỉ nghiên cứu trẻ điều trị nội trú Do đó, tỷ lệ của chúng tôi tương đồng hơn với nghiên cứu của Nguyễn Duy Hưng về thời gian và đối tượng nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 53,7% trẻ em thuộc thành phố Cần Thơ, trong khi phần còn lại đến từ các tỉnh lân cận như Vĩnh Long (16,7%), Hậu Giang (13,0%), Kiên Giang (7,4%), Sóc Trăng (5,6%), Trà Vinh (1,9%) và Đồng Tháp (1,9%) Điều này dễ dàng giải thích do nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ, bệnh viện chủ yếu phục vụ cư dân địa phương và là trung tâm khám chữa bệnh da liễu hàng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, thu hút nhiều bệnh nhân từ các tỉnh lân cận đến khám và điều trị.
4.1.4 Tuổi khởi phát bệnh Đa số bệnh nhân VDCĐ khởi phát bệnh từ nhỏ, bệnh tái phát nhiều lần và kéo dài tới lớn Hơn 60% bệnh nhân VDCĐ khởi phát trong năm đầu tiên của cuộc sống, gần 80% bệnh nhân triệu chứng lâm sàng còn kéo dài đến 5 tuổi, chỉ