1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị bệnh ghẻ trẻ em tại bệnh viện da liễu cần thơ năm 2017 2018

75 34 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị bệnh ghẻ trẻ em tại bệnh viện da liễu cần thơ năm 2017 2018
Tác giả Huỳnh Như Huỳnh
Người hướng dẫn PGS.TS.Huỳnh Văn Bá
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y Dược
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HUỲNH NHƯ HUỲNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH GHẺ TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU CẦN THƠ NĂM 2017-2018 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHO

Trang 1

HUỲNH NHƯ HUỲNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

BỆNH GHẺ TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU CẦN THƠ

NĂM 2017-2018

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Huỳnh Văn Bá

CẦN THƠ – 2018

Trang 2

Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Hội đồng nghiên cứu khoa học và tất cả các thầy cô ở Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc cũng như các cô chú anh chị bác sĩ, điều dưỡng tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để hoàn thành tốt nghiên cứu này

Tôi xin cảm ơn các thầy cô Bộ môn Da Liễu Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS.BS Huỳnh Văn Bá người thầy đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin cám ơn cha, mẹ, gia đình đã luôn sát cánh bên tôi, anh chị bạn bè đã luôn giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tất cả các

số liệu, kết quả trong nghiên cứu này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì nghiên cứu nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Huỳnh Như Huỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH ẢNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về bệnh ghẻ 3

1.2 Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh ghẻ 5

1.3 Điều trị bệnh ghẻ 9

1.4 Các nghiên cứu trong và ngoài nước 14

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh ghẻ 30

3.3 Kết quả điều trị bệnh ghẻ 35

Chương 4 BÀN LUẬN 39

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 39

4.2 Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh ghẻ 42

4.3 Kết quả điều trị bệnh ghẻ 48

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 6

ADR Adverse Drug Reactions (Tác dụng không

mong muốn của thuốc)

CB-CNV Cán bộ - công nhân viên

WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế

giới)

Trang 7

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi 26

Bảng 3.2 Đặc điểm về giới 26

Bảng 3.3 Đặc điểm về nơi cư trú 27

Bảng 3.4 Đặc điểm về dân tộc 27

Bảng 3.5 Tiền sử mắc bệnh ghẻ 29

Bảng 3.6 Biến chứng 32

Bảng 3.7 Đặc điểm tiếp xúc với nguồn lây 33

Bảng 3.8 Liên quan giữa điều kiện kinh tế và bệnh ghẻ 33

Bảng 3.9 Liên quan giữa nhà ở chật hẹp và bệnh ghẻ 34

Bảng 3.10 Liên quan giữa số anh em trong nhà và bệnh ghẻ 34

Bảng 3.11 Liên quan giữa số người trong nhà và bệnh ghẻ 35

Bảng 3.12 Bảng điều trị tại bệnh viện 35

Bảng 3.13 Bảng thuốc bôi tại chỗ 36

Bảng 3.14 Bảng tác dụng không mong muốn 37

Trang 8

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về nghề nghiệp của cha/mẹ 28

Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của cha/mẹ 29

Biểu đồ 3.3 Thời điểm ngứa nhất 30

Biểu đồ 3.4 Các tổn thương 31

Biểu đồ 3.5 Vị trí tổn thương 32

Biểu đồ 3.6 Kết quả sau các tuần điều trị 36

Biểu đồ 3.7 Các tổn thương sau điều trị 38

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh ghẻ là bệnh phổ biến ở nhiều loài động vật khác nhau, với hơn 100 động vật có vú được biết đến [52] Bệnh ghẻ ở người là sự nhiễm trùng da do

con cái ghẻ gây nên (Sarcoptes scabiei Hominis) Biểu hiện lâm sàng là ngứa

nhiều về đêm với các thương tổn như rãnh ghẻ; mụn nước nông, nhỏ, chứa dịch trong hay trắng đục, sắp xếp riêng rẽ; sẩn mụn nước hay sẩn cục (thường gặp ở nách, bìu trẻ em) [9], [19]

Bệnh cái ghẻ gặp ở khắp nơi trên thế giới nhất là những nước nghèo Tỷ

lệ bệnh ghẻ ở mức không thể chấp nhận được ở nhiều vùng trên khắp thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển, với tỷ lệ mắc bệnh trên thế giới khoảng 300 triệu trường hợp mỗi năm [49], [60] Bệnh thường xuất hiện ở những vùng dân

cư đông đúc, nhà ở chật hẹp, thiếu vệ sinh, thiếu nước sinh hoạt Bệnh lây qua tiếp xúc trực tiếp khi bắt tay, ôm, thậm chí ngồi cùng bàn, nằm cùng giường cũng có thể bị lây nhiễm cái ghẻ Bệnh ghẻ ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới, nhưng rất khó chẩn đoán bằng xét nghiệm cạo da bình thường, và chẩn đoán giả định thường dựa trên các dấu hiệu lâm sàng như phát ban và ngứa dữ dội [24]

Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2005, tổng hợp từ 18 nghiên cứu về tỷ lệ bệnh da ở trẻ em thuộc 18 quốc gia đang phát triển cho thấy

tỷ lệ bệnh da trẻ em rất cao, biến thiên từ 21 – 87 %; trong đó, ghẻ chiếm 0,2 – 24% Ở Việt Nam, cũng có những nghiên cứu về tỷ lệ bệnh ghẻ trong số các bệnh da liễu mắc phải Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Sáu [14] trong thời gian 3 năm (1/2007- 12/2009) đã có 10.033 bệnh nhân được chẩn đoán là ghẻ tại Bệnh viện Da liễu trung ương, chiếm 2,0% tổng số bệnh nhân mắc bệnh da, chủ yếu gặp ở trẻ dưới 6 tuổi (chiếm 34,1%), lứa tuổi từ 15-25 cũng bị ghẻ rất nhiều (30,6%) Một nghiên cứu khác của Nguyễn Hoàng Khâm tại Bệnh viện

Trang 11

103 (2000-2009) [10] cho thấy bệnh ghẻ chiếm tỷ lệ 3,56% trong các bệnh da liễu, tỷ lệ bệnh ghẻ đứng hàng thứ 4 trong các bệnh da liễu thường gặp trong quân đội Tác giả Fuller năm 2013 cho rằng tỷ lệ mắc bệnh ghẻ rất khác nhau, giao động từ 2,71/1000 tới 46% và vẫn là một gánh nặng bệnh tật lớn, đặc biệt

là ở các nước đang phát triển [36]

Bệnh ghẻ là bệnh thường gặp và rất lây Bệnh ghẻ trên toàn thế giới là một trong những bệnh nhiễm trùng da ký sinh trùng phổ biến nhất, nhưng bị bỏ quên [23], [34] Bệnh ghẻ làm suy yếu sức khoẻ con người và động vật, gây ra thiệt hại kinh tế nặng nề [64] Ở nước ta hiện nay chưa có nhiều công trình

nghiên cứu khảo sát về bệnh ghẻ, đặc biệt là trên trẻ em Do đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị bệnh ghẻ trẻ em tại Bệnh Viện Da Liễu Cần Thơ năm 2017-2018” được thực hiện để

góp phần giải quyết vấn đề trên với các mục tiêu:

- Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến bệnh ghẻ trẻ em tại Bệnh Viện Da Liễu (BVDL) Cần Thơ năm 2017-2018

- Phân tích kết quả điều trị bệnh ghẻ trẻ em tại Bệnh Viện Da Liễu Cần Thơ năm 2017-2018

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH GHẺ

1.1.1 Đại cương về bệnh ghẻ

Sarcoptes scabiei là một loài ký sinh trùng (một loài động vật chân đốt)

vùi vào da và gây ghẻ Cái ghẻ được tìm thấy ở mọi nơi trên thế giới Con người không phải là động vật có vú duy nhất có thể bị nhiễm bệnh Bệnh ghẻ có thể

gặp ở một số loài động vật nuôi và động vật hoang dã [51] S.scabiei hominis

phát triển và sinh sản duy nhất trên da người, tức là ký sinh bắt buộc ở người Bệnh ghẻ là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn và đặc hữu ở các cộng đồng nghèo tài nguyên trên toàn thế giới ảnh hưởng đến hơn 100 triệu người [26]

Hình 1 Hình thể cái ghẻ đực và cái (Sarcoptes scabiei) [12]

Trang 13

Cái ghẻ có kích thước rất nhỏ, con đực khoảng 220µm, con cái khoảng 350µm, nên chỉ quan sát được qua kính lúp hay kính hiển vi Ghẻ cái có hình bầu dục, màu xám, vỏ bọc ngoài có lằn song song với nhau và thở qua da Con trưởng thành có 4 cặp chân: ở con đực 2 cặp chân sau mang đĩa hút, nhưng ở con cái chỉ có cặp chân thứ ba mang đĩa hút còn cặp chân thứ tư tận cùng bằng lông tơ dài Đầu giả của cái ghẻ rất ngắn, không có mắt, chỉ có hai câu hình kẹp tạo nên một ống hút không hoàn hảo [12]

1.1.2 Sinh bệnh học bệnh ghẻ

Sự lây nhiễm bắt đầu khi con cái thụ thai và đến bề mặt da Ghẻ cái cư trú ở hang trong lớp sừng và cuối cùng chết sau khi đẻ trứng ở đó [7] Chu kỳ toàn bộ cuộc sống cái ghẻ dài 30 ngày nếu cư trú ở thượng bì

Ghẻ cái đào hầm ngoằn ngoèo dưới da, thường đào hang vào buổi tối, mỗi ngày đào 3-4mm, đường này không đi vào lớp biểu bì ngoại trừ ghẻ tăng sừng, đẻ trứng ban ngày Mỗi ngày ghẻ cái đẻ từ 1-5 trứng, sau 3-7 ngày trứng

nở thành ấu trùng, ấu trùng lột xác nhiều lần thành ghẻ trưởng thành, khi đó chu kỳ mới được lặp lại Ấu trùng di chuyển lên đến mặt da và phát triển thành ghẻ trưởng thành Tiếp theo ghẻ cái và ghẻ đực giao phối với nhau Sau đó ghẻ cái tiếp tục đào hầm dưới lớp sừng, ghẻ đực không gây bệnh vì chết sau khi giao phối và bị rớt khỏi da [18]

Sau khi nhiễm 3-5 tuần, chỉ có một vài con hiện diện, do đó, bệnh nhân

có ít triệu chứng lúc đầu [1]

Ghẻ cái sinh sôi nảy nở rất nhanh, trong điều kiện thuận lợi một con ghẻ cái sau 3 tháng có thể có một dòng họ 150 triệu con Ban đêm ghẻ cái bò ra khỏi hang tìm ghẻ đực, đây là lúc ngứa nhất, dễ lây truyền nhất, vì ngứa phải gãi làm vương vãi cái ghẻ ra quần áo, giường chiếu… [16]

Cái ghẻ sẽ chết sau khi rời vật chủ khoảng 3-4 ngày [19]

Trang 14

1.1.3 Dịch tễ

Bệnh ghẻ là một bệnh nhiễm trùng da rất dễ nhiễm và lây truyền, đặc trưng ở các vùng nhiệt đới gây ra một tỷ lệ đáng kể các bệnh về da ở các nước

có thu nhập thấp Điều trị muộn có thể dẫn đến sự nhiễm siêu vi khuẩn, điều trị

cả những người tiếp xúc là cần thiết để ngăn ngừa tái nhiễm [32]

Bất kỳ ai, dân tộc nào, nam hay nữ, già hay trẻ cũng có thể mắc bệnh ghẻ Thường thì cả nhà đều bị nhiễm dù chỉ có một thành viên có thể phàn nàn

về các triệu chứng [7]

Bệnh ghẻ là bệnh truyền nhiễm và có thể lây truyền qua tiếp xúc vật lý kéo dài với người hay thú bị nhiễm bệnh Đa số trường hợp lây truyền là thông qua các hình thức tiếp xúc da với da, trong đó gồm cả quan hệ tình dục Ghẻ không phải là bệnh lây qua đường tình dục chính nhưng nó xảy ra qua quan hệ tình dục Người có nguy cơ cao là đồng tính nam [1], [27]

Ngoài ra bệnh ghẻ có thể lây truyền thông qua việc chia sẻ giường ngủ, quần áo, khăn tắm , nhưng đây không phải là phương thức lây truyền chủ yếu,

vì rằng ghẻ chỉ có thể tồn tại trong nhiều nhất là 2-3 ngày khi cách xa da người

ở nhiệt độ phòng [9], [28]

Nhiều nghiên cứu dựa trên dân số đã ghi nhận tỷ lệ nhiễm ghẻ cao ở những nơi đông đúc, đặc biệt là ở trẻ em và ở các vùng nhiệt đới [43] Ở các nước phát triển, ghẻ vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng trong các bệnh viện và cơ sở chăm sóc ở những bệnh nhân cao tuổi hoặc suy giảm miễn dịch [37]

1.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH GHẺ

1.2.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh ghẻ

Ghẻ có thể sống nhiều ngày quanh nhà bình thường sau khi rời khỏi da người, ghẻ sống hơn 7 ngày trên lam dầu soi kính hiển vi, bệnh bắt đầu âm

Trang 15

thầm, những triệu chứng lúc đầu có thể là châm chích hoặc khô da, cào gãi làm phá hủy đường hầm và di chuyển của cái ghẻ Bệnh nhân thấy dễ chịu vào ban ngày nhưng ngứa nhiều về đêm do cái ghẻ hoạt động nhiều về đêm [1], [19]

1.2.1.1 Thời kỳ ủ bệnh

Các triệu chứng được cho là phản ứng dị ứng với cái ghẻ nên thường phát triển từ 4-6 tuần sau khi sơ nhiễm Do đó, người ta có thể bị nhiễm một thời gian trước khi phát triển các triệu chứng Trong thời gian khi không có triệu chứng, họ có thể lây sang cho những người tiếp xúc chung [35]

1.2.1.2 Thời kỳ toàn phát

- Triệu chứng cơ năng: ngứa nhiều về đêm, nhiều ở vùng da non, mức độ ngứa tùy thuộc vào cơ địa mỗi người [19] Bệnh nhân ngứa ngáy nên hay gãi, khiến da bị trầy, chảy máu làm bệnh không những lan ra nơi khác mà còn có thể bị nhiễm trùng phụ, gây bệnh ghẻ phụ hay viêm da cấp tính [12]

- Triệu chứng thực thể:

+ Thương tổn đặc hiệu [6], [9], [19]:

▪ Rãnh ghẻ (triệu chứng có giá trị chẩn đoán): cái ghẻ đào hầm dưới da, đi tiêu ngay trên da nên có màu nâu, dài vài mm, sẽ hơi cộm, mụn nước là nơi cái ghẻ ở Rất đặc hiệu, nhưng không phải lúc nào cũng dễ tìm thấy

▪ Mụn nước trên nền da lành, rải rác, riêng rẽ, thường ở vùng

da mỏng như kẽ ngón tay, mặt trước cổ tay, cẳng tay, vú, quanh thắt lưng, rốn,

kẽ mông, mặt trong đùi và bộ phận sinh dục Ở trẻ sơ sinh mụn nước có thể xuất hiện ở lòng bàn chân

▪ Săng ghẻ thường xuất hiện ở vùng sinh dục, dễ nhầm với săng giang mai

▪ Sẩn cục hay sẩn mụn nước hay ngứa: nốt nhô cao và trên đầu có mụn nước, đặc hiệu hơn mụn nước, thường gặp ở trẻ em, gặp ở nách hay bìu giúp chẩn đoán tốt

Trang 16

+ Thương tổn thứ phát [16]:

▪ Vết xước gãi, vết trợt, sẩn, vẩy tiết, mụn nước, mụn mủ, chốc nhọt, sẹo thâm màu, bạc màu… nhiều loại tổn thương thứ phát tạo nên hình ảnh được ví như bức tranh “khảm xà cừ”, “hình hoa gấm”

▪ Những tổn thương thứ phát và biến chứng nhiễm khuẩn, viêm da, eczema hóa thường che lấp, làm lu mờ tổn thương đặc hiệu gây khó khăn cho chẩn đoán

+ Thường gặp ở vùng da non: kẽ ngón tay, mặt trước cổ tay, quanh rốn, nếp dưới rốn, đầu vú, da đùi, da bộ phận sinh dục, nách…

1.2.1.3 Các thể lâm sàng

- Ghẻ đơn giản: chỉ có rãnh ghẻ và mụn nước, ít có thương tổn thứ phát

- Ghẻ trẻ em: thường gặp hơn người lớn Da non nhiều, kể cả mặt, ngoài mụn nước có nhiều sẩn cục, hai nách nhiều sẩn ghẻ, nam có ở bìu [19] Ở trẻ nhỏ chưa biết đi gan bàn chân là vị trí thường bị ghẻ [7], [13]

- Ghẻ Na-uy: là một thể đặc biệt, gặp ở người bị suy giảm miễn dịch, thương tổn là các lớp vảy chồng lên nhau và lan tỏa toàn thân, có thể tìm thấy hàng nghìn cái ghẻ trong các lớp vảy [6] Không ngứa hay ngứa dữ dội, bệnh rất lây

- Ghẻ bóng nước: trong bóng nước có cái ghẻ

1.2.1.4 Biến chứng [9]

- Chàm hóa: bệnh nhân bị ngứa, gãi chàm hóa Ngoài các thương tổn ghẻ còn có các mụn nước tập trung thành đám

- Bội nhiễm: các mụn nước xen kẽ các mụn mủ, có thể phù nề, loét

- Lichen hóa: do ngứa nên bệnh nhân gãi nhiều, da dày, có màu thâm

- Viêm cầu thận cấp: có thể gặp ở những bệnh nhân ghẻ bội nhiễm và không được điều trị, hoặc điều trị không khỏi, tái đi tái lại nhiều lần Biến chứng ghi nhận nhiều nhất của ghẻ được báo cáo là nhiễm trùng bởi Streptococci

Trang 17

nhóm A, tác nhân đã góp phần vào sự phát triển của bệnh thận cầu thận [29] Bệnh ghẻ kèm theo chốc có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng [57]

1.2.2 Chẩn đoán bệnh ghẻ

1.2.2.1 Chẩn đoán xác định [9], [18]

Dựa vào các triệu chứng:

- Thương tổn đặc hiệu: Mụn nước rải rác và khu trú ở những vị trí đặc hiệu như kẽ ngón tay, đường chỉ lòng bàn tay, sinh dục, mặt trong đùi, bụng (ở các vùng da mỏng) Đối với trẻ nhỏ chưa biết đi có thể thấy mụn nước ở lòng bàn chân

- Cơ năng: ngứa nhiều về đêm

- Có tính chất dịch tễ: trong gia đình, tập thể, vườn trẻ nhiều người cùng

bị ghẻ

- Tìm thấy rãnh ghẻ, khêu được cái ghẻ là chính xác nhất

1.2.2.2 Chẩn đoán phân biệt [6]

- Tổ đĩa: thương tổn là các mụn nước nhỏ ở vùng rìa các ngón tay hay bàn tay, bàn chân, ngứa, tiến triển dai dẳng

- Sẩn ngứa: thương tổn là sẩn huyết thanh rải rác khắp cơ thể, rất ngứa

- Viêm da cơ địa: thương tổn dạng sẩn mụn nước tập trung thành từng đám, chủ yếu ở các chi dưới, rất ngứa, tiến triển dai dẳng

- Nấm da: thương tổn là mảng da đỏ, các mụn nước và vẩy da ở rìa thương tổn, bờ hình vòng cung, có xu hướng lành ở giữa Ngứa nhiều, xét nghiệm tìm thấy sợi nấm

- Săng giang mai: thương tổn là một vết trợt nông, nền cứng, không ngứa, không đau, hay gặp ở vùng hậu môn sinh dục Kèm hạch bẹn to, thường có hạch chúa Xét nghiệm trực tiếp soi tươi tìm thấy xoắn khuẩn giang mai tại thương tổn và hạch vùng, xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính

Trang 18

1.2.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh ghẻ

1.2.3.1 Mối liên quan giữa tiếp xúc với nguồn bệnh và bệnh ghẻ

Bệnh ghẻ lây qua tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm, hay thậm chí là ở chung, khi các con ghẻ bị rơi rớt xuống nền nhà do gãi, sau đó bò lên cơ thể người lành…

1.2.3.2 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế, nhà ở và bệnh ghẻ

Bệnh ghẻ ngứa có thể gây thành dịch ở những nước đang phát triển, thường liên quan đến mật độ đông đúc, vệ sinh kém, điều kiện kinh tế xã hội thấp, mặc dù nó có thể ảnh hưởng đến các cá nhân ở bất kỳ cấp độ kinh tế xã hội nào [15], [25] Ở nước ta, bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước, ngay cả những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại Ký sinh trùng ghẻ thường có ở vùng nước bẩn, môi trường ô nhiễm

1.2.3.3 Mối liên quan giữa gia đình có nhiều người và bệnh ghẻ

Môi trường sống đông đúc là nguyên nhân phổ biến dẫn tới bùng phát ghẻ. Hầu hết sự lây truyền bệnh ghẻ xảy ra mang tính chất gia đình vì nếu một thành viên trong nhà bị bệnh ghẻ thì khả năng những người khác trong gia đình

dễ mắc bệnh theo

1.3 ĐIỀU TRỊ BỆNH GHẺ

1.3.1 Nguyên tắc điều trị

- Phát hiện sớm và điều trị đúng để tránh biến chứng và hạn chế lây lan

- Bôi thuốc rộng và nên bôi vào ban đêm

- Cần lưu ý rằng những người tiếp xúc gần gũi với người bị ghẻ nên được điều trị đồng thời [58] Nguyên nhân thường gặp của ghẻ dai dẳng là hoặc bôi thuốc tại chỗ chưa thích hợp hoặc tái nhiễm do tiếp xúc [13]

- Nên tầm soát các bệnh lây qua đường tình dục với các người bệnh trên

18 tuổi

- Quần áo, chăn màn, đệm, vỏ gối, đồ dùng… giặt sạch, phơi khô, là kỹ

Trang 19

+ Crotaminton 10%

+ Có thể dùng vỏ cây ba chạc đen tắm hoặc dầu hạt máu chó

Cách bôi: tắm sạch bằng xà phòng, sau đó bôi thuốc vào thương tổn ngày một lần vào buổi tối Giặt sạch phơi khô quần áo, chăn màn

Ghẻ bội nhiễm dùng milian hoặc castellani

Nếu có chàm hóa, dùng hồ nước hoặc kem chứa corticoid bôi trong 1-2 tuần

Ghẻ Na-uy: ngâm, tắm sau đó bôi mỡ salicylic để bong sừng rồi bôi thuốc diệt ghẻ

Trang 20

1.3.3 Các thuốc bôi tại chỗ

Có nhiều loại thuốc bôi tại chỗ điều trị ghẻ nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi theo dõi trên 3 loại thuốc bôi tại chỗ: Permethrin 5%, Benzoat benzyl 25% và D.E.P

- Permethrin 5%: vừa là thuốc điều trị vừa là thuốc sát trùng Bôi ngoài da như kem hoặc lotion để điều trị ghẻ và chấy Ngoài ra có thể được phun lên quần áo, màn để diệt trùng [45] Công thức: C21H20Cl2O3

+ Chỉ định: Thuốc được dùng để thoa ngoài da cho những người bị bệnh ghẻ, chấy, rận

+ Chống chỉ định: da bị viêm hoặc rách, mẫn cảm với thuốc Permethrin hoặc với bất kì thành phần nào của thuốc

+ Tác dụng không mong muốn (ADR): ngứa hoặc phát ban, tê hoặc ngứa ran ở vùng bôi thuốc, đau như châm chích, hoặc mẫn đỏ nhẹ…

+ Liều lượng và cách dùng: bôi lên da kỹ lưỡng từ cổ đến lòng bàn chân Nên rửa sạch kem bằng cách tắm gội sau 8 – 14 giờ

- Benzoat benzyl 25%: Benzoat benzyl là một trong những loại thuốc lâu đời nhất được sử dụng để điều trị ghẻ và được khuyến cáo là "can thiệp đầu tiên" vì điều trị hiệu quả và kinh tế [59] Công thức: C6H5CH2O2CC6H5

+ Chỉ định: điều trị ghẻ, diệt chấy rận, còn dùng như một chất để hòa tan

+ Chống chỉ định: những người dị ứng với benzoat benzyl

+ ADR: kích ứng mắt và niêm mạc, có thể có kích ứng da và phản ứng quá mẫn ở một số bệnh nhân, bôi benzoat benzyl có thể gây viêm da thể bọng nước

+ Liều lượng và cách dùng: nên bôi thuốc lên vùng da đã lau khô sau khi tắm nước nóng và để nguyên trong 24 giờ, sau đó bôi tiếp một lần nữa

mà không cần tắm và để thuốc tác dụng tổng cộng là 48 giờ rồi tắm rửa sạch

Trang 21

thuốc Liều lượng: 60ml đến 90ml nhũ dịch benzoat benzyl 25% pha loãng với nước sạch thành 120 đến 180 ml Không bôi lên mặt

- D.E.P: là một thuốc được biết đến rộng rãi với công dụng chữa trị ghẻ D.E.P là một este phthalate, cụ thể là este diethyl của axit phthalic Công thức:

1.3.4 Thuốc dùng đường toàn thân

Thuốc kháng histamin: thuốc kháng histamin là một loại dược phẩm đối kháng lại hoạt động của các thụ thể histamin trong cơ thể Đây là loại thuốc được sử dụng khá phổ biến trong điều trị dị ứng hiện nay

- Clorpheniramin maleat: là thuốc kháng histamin H1 thế hệ thứ nhất, tác dụng an thần tương đối yếu hơn các thuốc cùng thế hệ khác Công thức: C16H19ClN2

+ Chỉ định: viêm mũi dị ứng và quanh năm Những triệu chứng dị ứng khác như: mày đay, viêm kết mạc dị ứng, viêm da tiếp xúc, phù mạch, phù Quincke, dị ứng thức ăn…

+ Chống chỉ định: quá mẫn với clorpheniramin hoặc bất kì thành phần nào của thuốc

+ ADR: ngủ gà, an thần, khô miệng, buồn nôn

Trang 22

+ Liều lượng cách dùng: Clorpheniramin 4mg 1/2 viên (uống) 2 lần/ngày

- Loratadin: là thuốc kháng histamin 3 vòng có tác dụng kéo dài đối kháng chọn lọc trên thụ thể H1 ngoại biên và không có tác dụng làm dịu trên thần kinh trung ương [5] Công thức: C22H23ClN2O2

+ Chỉ định: viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, ngứa và mày đay liên quan đến histamin

+ Chống chỉ định: quá mẫn với bất kì thành phần nào của thuốc + ADR: đau đầu, chóng mặt, trầm cảm, khô miệng, buồn nôn, ngoại ban, nổi mề đay…

+ Liều lượng cách dùng: Loratadin 10mg 1 viên (uống)

- Desloratadin: thuốc kháng histamin H1 thế hệ 3 Là chất chuyển hóa chính có tác dụng của loratadin, ít có tác dụng ức chế thần kinh trung ương hơn thế hệ 1 [4]

+ Chỉ định: thuốc điều trị làm giảm triệu chứng viêm mũi dị ứng & chứng nổi mề đay

+ Chống chỉ định: quá mẫn với bất cứ thành phần nào của thuốc + ADR: đau đầu, mệt mỏi, ngủ gà, khô miệng, buồn nôn, khó tiêu… + Liều dùng: được dùng bằng đường uống, một lần một ngày, không

bị ảnh hưởng bởi thức ăn Desloratadin 25mg/5ml 1 ống (uống)

1.3.5 Theo dõi điều trị [19]

- Điều trị tốt 3-5 ngày không nổi sang thương mới, ngứa tồn tại dưới hoặc bằng 2 tuần

- Tiêu chuẩn điều trị lại:

+ Ngứa trên 2 tuần dù không có sang thương về mặt lâm sàng + Nổi sang thương mới

+ Điều trị không đúng phương pháp

Trang 23

1.3.6 Diệt nguồn lây [19]

- Cái ghẻ chết khi ra khỏi ký chủ 3 ngày, do đó để quần áo trong tủ một tuần sau đó mặc lại

- Cái ghẻ chết ở nhiệt độ 600C, do đó quần áo đang mặc nên đun sôi ở

80-900C trong 15 phút

1.4 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.4.1 Các nghiên cứu trong nước

Theo Nguyễn Thị Hồng Hạnh [8] trong vòng 2 năm 1995-1996, trẻ nhỏ

từ 0-5 tuổi đến khám tại bệnh viện Da liễu Đà Nẵng chiếm tỷ lệ gần 4,3%; trong

đó, tỷ lệ bệnh ghẻ chiếm 10,63%

Theo khảo sát tình hình bệnh da trẻ em tại bệnh viện trung ương Huế năm 2010-2011 của Lê Viết Khánh và cộng sự [11], tỷ lệ mắc bệnh ghẻ là

12,2%

1.4.2 Các nghiên cứu ngoài nước

Tỷ lệ hiện nhiễm trên toàn thế giới ước tính khoảng 100–130 triệu trường hợp/năm và đang có xu hướng gia tăng [30], [56]

Theo nghiên cứu của Gunbiyi A.O và cộng sự khám trên 1066 học sinh

từ 4-15 tuổi ở Ibadan, Nigeria có 375 học sinh mắc bệnh da chiếm 35,2% trong

đó ghẻ chiếm 4,7% [38]

Theo nghiên cứu của Kam Lun Hon và cộng sự trên 331 bệnh nhân trẻ

em tại Trung tâm da nhi khoa ở Trung Quốc, ghẻ chiếm 1% [42]

Theo nghiên cứu của Isil Inanir và cộng sự trên 785 học sinh tiểu học ở Thổ Nhĩ Kỳ có 608 trẻ có biểu hiện da, trong đó ghẻ chiếm 2,16% [41]

Một cuộc điều tra quốc gia ở Fiji của Romani L và cộng sự có tỷ lệ mắc bệnh ghẻ là 23,6%, và khi điều chỉnh cấu trúc tuổi và vị trí địa lý dựa trên dữ liệu điều tra dân số, tỷ lệ hiện nhiễm trên toàn quốc là 18,5% Tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở trẻ em từ 5 đến 9 tuổi (43,7%), tiếp theo là dưới 5 tuổi (36,5%) [54]

Trang 24

Theo nghiên cứu của Thérèse Kearns và cộng sự quan sát năm đầu đời trên 320 trẻ em được sinh từ 1/1/2001- 31/12/2006, ghi nhận bệnh ghẻ và/hoặc loét da có 84% [44]

Một cuộc khảo sát của Hewitt KA và cộng sự tại miền nam nước Anh trong 6 tháng đã ghi nhận được tỷ lệ mắc bệnh ghẻ dao động từ 2-50% [39]

Nghiên cứu của Taieb A và cộng sự trên 2866 người trước và trong chương trình can thiệp ghẻ (SIP) tại trung tâm tiếp nhận chính ở Hà Lan từ 1/2014-3/2016, ghi nhận được 1359 người có dấu hiệu lâm sàng bệnh ghẻ chiếm 47,4% [62]

Một nghiên cứu của Romani L và cộng sự tại Fiji đã ghi nhận được tỷ lệ mắc bệnh ghẻ là 36,4% [55]

Trang 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân được chẩn đoán ghẻ và điều trị nội trú tại BVDL Cần Thơ năm 2017-2018

2.1.1 Tiêu chuẩn được chọn

- Bệnh nhân được chẩn đoán ghẻ và điều trị nội trú tại BVDL Cần Thơ Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng [9], [18]:

+ Thương tổn đặc hiệu: Mụn nước rải rác và khu trú ở những vị trí đặc hiệu như kẽ ngón tay, đường chỉ lòng bàn tay, sinh dục, mặt trong đùi, bụng… (ở các vùng da mỏng) Đối với trẻ nhỏ chưa biết đi có thể thấy mụn nước ở lòng bàn chân

+ Cơ năng: ngứa nhiều về đêm

+ Có tính chất dịch tễ: trong gia đình, tập thể, vườn trẻ nhiều người cùng bị ghẻ

- Bệnh nhân dưới 15 tuổi

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không thể nghe hoặc trả lời phỏng vấn

- Bệnh nhân hoặc cha mẹ bệnh nhân không hợp tác nghiên cứu

- Bệnh nhân hoặc cha mẹ tự chối tham gia nghiên cứu

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Tại Bệnh viện Da liễu Cần Thơ từ tháng 8/2017 đến tháng 5/2018

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Trang 26

n: cỡ mẫu p: tỷ lệ tổn thương ở chân và sinh dục d: sai số tuyệt đối ( d = 8% )

Z: hệ số tin cậy Với độ tin cậy 90% thì Z = 1,645 α: mức ý nghĩa thống kê ( với α = 0.05 nên Z2 1-α/2 = 1,96 ) Theo nghiên cứu của Terry BC và cộng sự [63], tỷ lệ tổn thương ở chân

và sinh dục chiếm 14,2% (p = 14,2%) Tính được mẫu: 37

- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện các trường hợp bệnh nhân ghẻ điều trị nội trú tại BVDL Cần Thơ trong thời gian nghiên cứu đến khi đủ mẫu

- Thực tế chúng tôi lấy được 43 mẫu

2.2.3 Nội dung nghiên cứu

2.2.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm mẫu nghiên cứu: tuổi, giới tính, dân tộc, địa chỉ, nghề nghiệp cha/mẹ, học vấn cha/mẹ, tiền sử bệnh

- Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh ghẻ:

+ Ngứa

+ Tổn thương

+ Vị trí tổn thương

+ Biến chứng

- Các yếu tố liên quan đến bệnh ghẻ:

+ Tiếp xúc với nguồn lây

Trang 27

+ Điều kiện kinh tế, nhà ở

+ Số thành viên trong gia đình

- Điều trị bệnh ghẻ:

+ Điều trị tại bệnh viện

+ Kết quả điều trị sau từng tuần

+ Các tác dụng phụ

+ Các triệu chứng sau điều trị

2.2.3.2 Biến số nghiên cứu

biến số Các biến số về đặc điểm chung của bệnh nhân mắc bệnh ghẻ

Tuổi Tính theo năm, lấy năm của thời điểm

nghiên cứu trừ đi năm sinh

- Nông thôn: xã

1 Thành thị

2 Nông thôn

Trang 28

2 Nông dân

3 Cán bộ - công nhân viên

Tiền sử

bệnh

Đã được khám và chẩn đoán bệnh ghẻ trước đó

Cảm giác da của bệnh nhân mà khi gãi

sẽ cảm thấy dễ chịu hơn

Trang 29

Tổn thương Tổn thương da:

- Rãnh ghẻ: các đường lằn da màu da hoặc màu xám, dài 0,5-1cm, có thể thẳng hoặc lượn sóng, có mụn nước hoặc sẩn nhỏ ở cuối đường

- Mụn nước: tổn thương nhô cao trên mặt da, bên trong chứa thanh dịch, đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 5mm

- Sẩn, sẩn mụn nước: thương tổn nhô cao trên mặt da, bên trong chứa chất đặc, sờ chắc hoặc mềm, đường kính lên đến 1cm

- Săng ghẻ: tổn thương tròn đường kính 5-7mm ở giữa trợt da khá đặc biệt, ở vùng sinh dục

Với mỗi tổn thương có 2 giá trị:

Trang 30

- Chàm hoá: ngoài tổn thương ghẻ còn có thương tổn mảng hồng ban mụn nước

- Bội nhiễm: mụn nước xen kẽ mụn mủ

- Lichen hoá: mảng da dầy, sạm màu, các nếp da nổi rõ thành những rãnh ngang dọc tạo ra các ô không đều

- Thu nhập trung bình: có thu nhập bình quân đầu người 700.000 – 1.000.000 đồng/ người/tháng ở nông thôn và 900.000 – 1.300.000 đồng/người/tháng

- Thu nhập cao: không thuộc các diện trên

1 Thu nhập thấp

2 Thu nhập trung bình

3 Thu nhập cao

Trang 31

Nhà ở chật

hẹp

Cảm thấy nóng bức, ngột ngạt, không được thoáng mát

Sau mỗi tuần điều trị đánh giá lại mức

độ bệnh dựa trên tổn thương lâm sàng:

Trang 32

- Thuốc bôi tại chỗ:

+ Permethrin: bôi lên da kỹ lưỡng từ cổ đến lòng bàn chân Nên rửa sạch kem bằng cách tắm gội sau 8 – 14 giờ

+ Benzoat benzyl: sau tắm bôi thuốc và để nguyên trong 24 giờ, sau

đó bôi tiếp một lần nữa mà không cần tắm và để thuốc tác dụng trong 48 giờ rồi tắm sạch thuốc

+ D.E.P: dùng thuốc bôi lên vùng da bị ghẻ ngứa sau khi tắm rửa sạch, ngày từ 2 đến 3 lần, có thể bôi vào ban đêm trước khi đi ngủ

- Thuốc uống: thuốc kháng histamin

2.2.3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả

- Mức độ bệnh [2]

+ Nhẹ: tổn thương khu trú ở tay, vùng sinh dục

+ Trung bình: tổn thương khu trú ở tay, chân, vùng sinh dục

+ Nặng: tổn thương rải rác toàn thân

Trang 33

- Đánh giá mức độ bệnh sau từng tuần điều trị

- Tác dụng phụ:

+ Tại chỗ:

Tăng ngứa da Tăng đỏ da Nóng rát tại chỗ + Toàn thân:

Lừ đừ, ngủ gà Buồn nôn Các tác dụng phụ khác

- Đánh giá tổn thương sau khi kết thúc điều trị

2.2.3.5 Thời gian theo dõi

Theo dõi bệnh trong 3 tuần điều trị tại Bệnh viện Da Liễu Cần Thơ

2.2.4 Phương pháp thu nhập số liệu

2.2.4.1 Công cụ

- Phiếu thu thập thông tin

- Hồ sơ bệnh án

2.2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu dựa vào phỏng vấn, khám lâm sàng rồi điền vào phiếu thu thập số liệu

- Ghi nhận và theo dõi tình trạng bệnh nhân trong quá trình điều trị để đánh giá mức độ sau đó điều vào phiếu thu thập số liệu

- Thu thập được tính từ khi bệnh nhân nhập viện đến khi kết thúc điều trị

Trang 34

được tính tần số và tỉ lệ

- Sử dụng phép kiểm định χ2 để tìm mối liên quan giữa các biến định tính với nhau

2.2.6 Phương pháp hạn chế sai số

- Nhà nghiên cứu trực tiếp thu thập số liệu

- Thiết kế phiếu thu thập số liệu để ghi nhận kết quả một cách thống nhất

- Thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu

- Kiểm tra tính hoàn tất của phiếu thu thập số liệu ngay sau khi phỏng vấn

- Quá trình nhập và mã hoá số liệu được kiểm tra nhiều lần để tránh sai sót

2.3 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

- Tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích cụ thể mục đích, nội dung của nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác trong quá trình nghiên cứu Các đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu hoặc có thể chấm dứt nghiên cứu trong bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu

- Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Tất cả các thông tin chỉ có người nghiên cứu mới được phép tiếp cận

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nhận xét: tỷ lệ cao nhất thuộc nhóm tuổi <5 tuổi chiếm 79,0%, tỷ lệ

mắc bệnh giảm dần theo sự gia tăng của độ tuổi, thấp nhất thuộc nhóm tuổi 10-14 tuổi chiếm 4,7%

Nhận xét: có sự chênh lệch giữa tỉ lệ nam và nữ trong nghiên cứu này,

nam chiếm 60,5%, nữ chiếm 39,5%, tỷ lệ nam/nữ là 1,53/1

Trang 36

Nhận xét: phần lớn bệnh nhân thuộc dân tộc Kinh, chiếm 97,7% Có 1

bệnh nhân thuộc dân tộc Khmer trong tổng số 43 bệnh nhân, chiếm 2,3%, không ghi nhận được dân tộc Hoa hay các dân tộc khác

Trang 37

3.1.5 Nghề nghiệp cha/mẹ

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về nghề nghiệp của cha/mẹ

Nhận xét: Nghề nghiệp của cha phần lớn thuộc nhóm khác (buôn bán,

thợ hồ, làm thuê…) chiếm 58,1%, nông dân và cán bộ - công nhân viên chiếm

tỷ lệ giống nhau là 20,9% Nghề nghiệp của mẹ chủ yếu là nội trợ, chiếm 39,5%; thấp nhất là nông dân, chiếm 14%

Ngày đăng: 27/03/2023, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w