MÆc dï thêi gian ®i thùc tËp s ph¹m kh«ng dµi, nhng tõ viÖc lµm quen Lời nói đầu Theo quyết định số 114 QĐ HVBC TT và kế hoạch học tập của Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm học 2006 2007, từ ngày 02042007 đến 11052007 toàn bộ sinh viên năm thứ t¬ư thuộc ngành lý luận Mác Lênin đ¬ược nhà trường tổ chức cho đi thực tập s¬ư phạm ở các tr¬ường chính trị tỉnh, thành phố. Với mục đích là nhằm tạo điều kiện cho sinh viên đ¬ược tiếp cận với thực tiễn trong quá trình giảng dạy. Từ đó để sinh viên có điều kiện để tìm hiểu phương pháp giảng dạy trên lớp ở chính địa ph¬ương. Để nhằm nâng cao kiến thức thực tiễn cho sinh viên, rèn luyện thêm năng lực giảng dạy và động viên lòng yêu nghề để trở thành giảng viên lý luận của tỉnh, thành phố. Nắm vững chức năng nhiệm vụ và tham gia các hoạt động chủ yếu của trư¬ờng để quen thuộc với hệ thống tổ chức và môi tr¬ường nghề nghiệp. Để thực hiện kế hoạch, yêu cầu của nhà trường đã đề ra, đoàn sinh viên thực tập sư¬ phạm ở tr¬ường chính trị tỉnh Thanh Hoá nói chung và bản thân em nói riêng đã chấp hành đầy đủ các hoạt động, công việc của đợt thực tập s¬ư phạm và tham gia các hoạt động của khoa tại trư¬ờng. Qua đó em tự rút ra được nhiền kiến thức, kinh nghiệm bổ ích cho hoạt động giảng dạy của mình cũng nh¬ư trong quá trình công tác sau này. Ьược sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ của trường chính trị tỉnh Thanh Hoá và cùng với sự nỗ lực của bản thân, qua đợt thực tập sư¬ phạm này, em đã tiếp thu được nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong thực tiễn.
Trang 1Lời nói đầu
Theo quyết định số 114 QĐ/ HVBC- TT và kế hoạch học tập của Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm học 2006
-2007, từ ngày 02/04/2007 đến 11/05/2007 toàn bộ sinh viên năm thứ tư thuộc ngành lý luận Mác - Lênin được nhà trường
tổ chức cho đi thực tập sư phạm ở các trường chính trị tỉnh, thành phố Với mục đích là nhằm tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp cận với thực tiễn trong quá trình giảng dạy Từ đó
để sinh viên có điều kiện để tìm hiểu phương pháp giảng dạy trên lớp ở chính địa phương Để nhằm nâng cao kiến thức thực tiễn cho sinh viên, rèn luyện thêm năng lực giảng dạy và động viên lòng yêu nghề để trở thành giảng viên lý luận của tỉnh, thành phố Nắm vững chức năng nhiệm vụ và tham gia các hoạt động chủ yếu của trường để quen thuộc với hệ thống
tổ chức và môi trường nghề nghiệp
Để thực hiện kế hoạch, yêu cầu của nhà trường đã đề ra, đoàn sinh viên thực tập sư phạm ở trường chính trị tỉnh Thanh Hoá nói chung và bản thân em nói riêng đã chấp hành đầy đủ các hoạt động, công việc của đợt thực tập sư phạm và tham gia các hoạt động của khoa tại trường Qua đó em tự rút ra được nhiền kiến thức, kinh nghiệm bổ ích cho hoạt động giảng dạy của mình cũng như trong quá trình công tác sau này
Được sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ của trường chính trị tỉnh Thanh Hoá và cùng với sự nỗ lực của bản thân, qua đợt thực tập sư phạm này, em đã tiếp thu được nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong thực tiễn
Trang 2A Giới thiệu vài nét về tỉnh Thanh hoá
I Điều kiện tự nhiên
1 Vị trí địa lý
Tỉnh Thanh Hoá là một tỉnh thuộc phía Bắc miền Trung, với diện tích trên 11163 km2 nên tỉnh Thanh Hoá được xếp là tỉnh có diện tích lớn thứ năm trong cả nước Thanh Hoá có vị trí địa lý hết sức quan trọng: phía Bắc giáp với các tỉnh như Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La; phía Tây giáp với tỉnh Hoả Phăn (CHDCND Lào); phía Nam giáp với tỉnh Nghệ An; phía Đông giáp với Vịnh Bắc Bộ Tỉnh Thanh Hoá còn có ba vùng địa lý tự nhiên như: biển, đồng bằng và miền núi
Tỉnh Thanh Hoá gồm 27 huyện, thị như: Vua Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Bà Thước, Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Nga Sơn, Ngọc Lạc, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Thọ Xuân, Quan Hoá, Lang Tránh, Quang Xương, Đông Sơn, Tĩnh Gia, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Hoằng Hoá, Hà Trung, Yên Định, Thiệu Hoá, Triệu Sơn, Thị xã Sầm Sơn, Thị xã Bỉm Sơn và thành phố Thanh Hoá Trong đó có 11 huyện miền núi, 6 huyện, thị thuộc vùng biển và 10 huyện, thị thuộc đồng bằng
2 Đặc điểm
Trang 3Tỉnh Thanh Hoá là một tỉnh có số dân đông thứ ba trên
cả nước với 3,8 triệu dân, trong đó gồm có 7 dân tộc anh em như: Kinh, Mường, Thái, Mông, Dao, Khơ Mú, Thổ Trong 3,8 triệu dân đó thì có khoảng 2 triệu lao động mà chiếm 80% là lao động nông nghiệp còn lại là lao động công nghiệp xây dựng và dịch vụ Do số lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp nên GĐP bình quân đầu người năm 2006 đạt 471 USĐ/năm (theo kế hoạch là 475USD)
Hiện nay, tỉnh Thanh Hoá đang có chủ trương xây dựng 4 vùng kinh tế lớn đó là: Nghi Sơn, Sầm Sơn, Thạch Thành - Bỉm Sơn, Lam Sơn Và tỉnh Thanh Hoá phấn đấu cơ cấu kinh tế đạt: nông nghiệp 33,7%, dịch vụ 33,3%, công nghiệp 33%
Với điều kiện địa lý, điều kiện dân cư và tình hình thực tiễn của tỉnh Thanh Hoá còn nhiều khó khăn Song tỉnh Thanh Hoá đã cùng với các tỉnh trên phạm vi cả nước thực hiện thành công công cuộc đổi mới, đời sống nhân dân trong toàn tỉnh được cải thiện ngày càng tốt hơn
II Tình hình kinh tế - xã hội
Tỉnh Thanh Hoá là một tỉnh có số dân đông thứ hai trên
cả nước với 3,7 triệu dân trong đó gồm 7 dân tộc anh em: Kinh, Mường, Thái, Mông, Dao, Khơ Mú, Thổ Trong đó Nữ 53,1%, Nam 47,9%, Dân số trong độ tuổi lao động 1984000 người chiếm 54,6% dân số của cả tỉnh; có khoảng 2 triệu lao động mà chiếm 80% là lao động nông nghiệp còn lại là lao động công nghiệp xây dựng và dịch vụ Do số lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp nên GĐP bình quân đầu người chỉ
có 471 USĐ Hiện nay tỉnh đang có chủ trương xây dựng 4
Trang 4vùng kinh tế lớn đó là: Nghi Sơn, Sầm Sơn, Thạch Thành - Bỉm Sơn, Lam Sơn
Nguồn lực lao động của tỉnh Thanh Hoá được đào tạo từ các trường Đại học, cao đẳng chiếm 4,5% tổng dân số, lao động được đào tạo nghề chiếm 22% tổng dân số Mặc dù số lượng đào tạo lớn nhìn chung chất lượng chưa cao
Tài nguyên khoáng sản dồi dào, lãnh hải với 23000 km
và 250 loại khoáng sản khác nhau Tiềm năng du lịch lớn
như-ng chưa khai thác và tận dụnhư-ng hết như: Sầm Sơn, Thành nhà
Hồ, Lam kinh, Suối cá
Nhìn chung về điều kiện tự nhiên đây là địa bàn chiến
lư-ợc không chỉ trong an ninh quốc phòng mà còn đặc biệt quan trọng là rất thuận tiện cho việc phát triển kinh tế - xã hội
Với sự phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hoá trong những năm qua toàn diện cho tất cả các lĩnh vực Thời kỳ
2005-2006 tốc độ tăng trưởng đạt 7,3%, đến năm 2005-2006 nông - lâm, ngư nghiệp đạt 5,5%- 13, 4%- 11%, công nghiệp xây dựng và dịch vụ đạt 7,3% Tổng sản lượng lương thực 1,632 triệu tấn
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh gắn với nhu cầu của thị trường và xuất hiện những nhân tố mới Các nguồn lực được huy động cho phát triển, thu ngân sách đạt ở mức trên 1000 tỷ đồng, kết cấu kinh tế - xã hội được tăng cường
B Khái quát về Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá
I Vị trí và tổ chức bộ máy của nhà trường
1 Vị trí
Trang 5Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá là một trường nhằm giáo dục, nâng cao bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất chính trị, đường lối chính trị cho cán bộ, học viên cấp cơ sở và các ngành các cấp trong toàn tỉnh Năm 1956 trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá mang tên: “trường Đảng Hoàng Văn Thụ” Trong quá trình hình thành và phát triển, do thực tiễn đặt ra lúc đương thời trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá đã sát nhập nhiều trường lại với nhau: trường Đảng Hoàng Văn Thụ, trư-ờng Pháp Lý…Trưtrư-ờng Đảng Hoàng Văn Thụ và trưtrư-ờng Pháp Lý
đã được ra đời chính thức hoạt động và phát triển có bề dầy lịch sử, từ khi ra đời cho đến nay đã trải qua hơn 50 năm và
đã đào tạo bồi dưỡng được nhiều cán bộ học viên cho các ban, ngành và cán bộ cấp cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh Đến khi có quyết định số 88/QĐ - TW ra ngày 5/9/1994 và quyết định 100/QĐ - TW ngày 13/6/1995 của Ban bí thư Trung ương Đảng khoá VII thì trường chính thức được mang tên “Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá ” Từ năm 1994 đến nay, trường Chính trị Thanh Hoá đã vượt qua rất nhiều khó khăn và đã thu được nhiều thành quả quan trọng trong sự nghiệp giáo dục chính trị cho cán bộ học viên trong tỉnh Trường Chính trị tỉnh
đã được Tỉnh uỷ và Trung ương Đảng khen thưởng Trường đã giải quyết đồng bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kịp thời mở nhiều lớp đào tạo cán bộ đáp ứng nhu cầu
và chuẩn hoá đội ngũ cán bộ trong toàn tỉnh Thực hiện chủ trương, chính sách của “Dân tộc và miền núi” của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Thanh Hoá, Trường Chính trị Thanh Hoá đặc biệt quan tâm đào tạo cán bộ miền núi cho các huyện miền
Trang 6núi, các huyện thuộc diện miền núi vùng sâu, vùng xa của tỉnh như: Quan Sơn, Mường Lát, Quan Hoá…nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, học viên nên trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá còn mở các lớp tại chức tại các huyện, đặc biệt các huyện miền núi vùng sâu, vùng xa, không ngừng chuẩn hoá nâng cao về trình độ hiểu biết, nhận thức về chính trị của cán
bộ cấp cơ sở ở các huyện, huyện miền núi cấp xã, phường trong toàn tỉnh Có được những kết quả đó là cả một quá trình phấn đấu liên tục tận tuỵ, nhiệt tình sáng tạo của toàn thể, tập thể cán bộ, giảng viên và công nhân viên trong toàn trư-ờng
2 Tổ chức bộ máy của nhà trường
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá bao gồm các Ban, Khoa, Phòng cụ thể như sau:
- Ban Giám hiệu nhà trường gồm có 3 đồng chí:
+ 1 đồng chí hiệu trưởng
+ 2 đồng chí phó hiệu trưởng
Trường gồm có tất cả là 6 khoa, có 4 phòng và 4 tổ bộ chuyên môn
- Gồm có các khoa như:
+ Khoa Triết học (bao gồm Triết học Mác - Lênin và CNXHKH)
+ Khoa Xây dựng Đảng (bao gồm Xây dựng Đảng và Lịch
sử Đảng)
+ Khoa Dân vận
+ Khoa Quản lý Nhà nước
Trang 7+ Khoa Pháp luật
+ Khoa Kinh tế Chính trị
- Gồm có 4 phòng chức năng như:
+ Phòng Đào tạo
+ Phòng Khoa học - Thư viện
+ Phòng Hành chính
+ Tổ chức
- Gồm có 4 tổ chuyên môn như:
+ Tổ tin học
+ ngoại ngữ
+ Tổ giáo dục quốc phòng
+ Tổ giáo dục chính trị
* Về cơ cấu chất lượng của các cán bộ trong Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá, giảng viên trong nhà trường đều đ-ược gửi đi bồi dưỡng, tu nghiệp để nâng cao chất lượng giảng viên của trường Tính đến nay đội ngũ giảng viên của trường
đã có giảng viên 111 giảng viên, trong đó có 2 tiến sĩ, 14 thạc
sĩ, 1 đồng chí nghiên cứu sinh, 2 đồng chí đang học cao học,
số còn lại ít nhất đã được chuẩn hoá cơ bản là một bằng đại học Và trường còn có các cán bộ công nhân viên hành chính hiện nay có tất cả là 37 đồng chí
* Về thành lập các cơ cấu xã hội
Trường chính trị tỉnh Thanh Hoá, có 11 chi bộ bao gồm
303 đảng viên
* Về cơ sở vật chất
Trang 8Hiện nay trường chính trị tỉnh Thanh Hoá có hơn 20 phòng học chính, có 1 nhà văn phòng hành chính, thư viện… Ngoài ra còn có 2 nhà nội trú 5 tầng tất cả gồm 400 giường,
có nhà khách cho giảng viên riêng và có 1 hội trường lớn gồm
có 400 chỗ ngồi
II Chức năng - Nhiệm vụ và hoạt động chung của nhà trường
1 Chức năng:
Hiện nay, trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá đã mở rộng đối tượng đào tạo bồi dưỡng cụ thể là:
- Đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ đương chức và dự nguồn cho các chức danh, cho các cơ sở trong các lĩnh vực
- Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho cả hệ thống chính trị ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn
- Đào tạo bồi dưỡng cán bộ trưởng và phó phòng cho các ban, ngành ở các huyện, thị trấn và thành phố
- Đào tạo bồi dưỡng học viên Trung học Hành chính, đào tạo hệ Trung học Pháp lý
- Bồi dưỡng kiến thức về nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, về quản lý hành chính Nhà nước, về công tác vận động quần chúng
- Bồi dưỡng ngắn hạn về lý luận chính trị, về đường lối, công tác vận động quần chúng cho cán bộ chủ chốt ở cơ sở
Ngoài ra, trường còn phối hợp với các trường Đại học mở các Đại học Tại chức cho các cán bộ tỉnh, huyện với chuyên
Trang 9ngành, ngành học khác nhau: Đại học Tại chức Luật, cử nhân Chính trị, cử nhân Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước…
2 Nhiệm vụ:
Nhằm thực hiện tốt các kế hoạch đã đề ra, hiện tại nhà trường đã có 3 hệ đào tạo bồi dưỡng đó là:
- Hệ Trung học chính trị: (Quy mô đào tạo hàng năm 10 lớp)
- Hệ Trung học hành chính: (hệ trung câp quản lý Nhà nước) Hệ này mang tính cơ bản là ổn định 8 lớp Trong đó có
3 lớp tập trung và 5 lớp tại chức
- Hệ trung học pháp lý: Hai lớp tập trung và một lớp tại chức của bộ đội biên phòng
Trên cơ sở kế hoạch đã được xác định, nhà trường chủ động liên hệ, phối kết hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính quốc gia và các trường Đại học khác mở các lớp Đại học Tại chức, Đại học Chính trị, Đại học Hành chính, Đại học Luật, mở nhiều lớp bồi dưỡng cho các cấp ngành trên toàn tỉnh Lớp chính quyền cơ sở có hiện tại 10 lớp Bồi dưỡng chuyên viên, bồi dưỡng cán bộ tổ chức cơ sở,
có sự kết hợp chặt chẽ với các ban ngành cấp tỉnh, huyện các trung tâm bồi dưỡng chính trị của các huyện, thị xã… nhằm đảm bảo công tác đào tạo, bồi dưỡng đạt kết quả cao
Cho đến nay trên quy mô tổng thể đào tạo bồi dưỡng của trường khoảng 63 lớp số lượng học viên lên đến xắp xỉ hơn 5.000 học viên
Nhà trường căn cứ vào hướng dẫn chuyên môn của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Học viện Hành chính
Trang 10quốc gia xây dựng nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng bao gồm các lĩnh vực: lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước và nghiệp vụ công tác cho khối dân vận Năm
2006-2007 nhà trường có khoảng 63 lớp gồm 5.000 học viên với một số lượng học viên đông đảo bảo gồm cả học viên tập trung và học viên tại chức Song số học viên tốt nghiệp hàng năm là rất đông, nhưng đạt chất lượng cao qua mỗi kỳ tốt nghiệp, tỷ lệ học viên tốt nghiệp ra trường đạt khá, giỏi tương đối cao, phản ánh đúng hiện thực về việc dạy và học của nhà trường và học viên tại trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá
3 Hoạt động nghiên cứu khoa học:
Bên cạnh, những chức năng và nhiệm vụ của nhà trường
là việc dạy và học, nhà trường còn đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá cũng
đã tập trung, đầu tư một khoản kinh phí khá lớn và nhân lực
để phục vụ có hiệu quả cho hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm đào tạo bồi dưỡng cán bộ Tham gia tổng kết kinh nghiệm giúp cho công việc giảng dạy ở trường đem lại hiệu quả tốt hơn Đồng thời còn giúp cho các cấp cơ sở huyện, xã, phường làm tốt công tác chuyên môn
Với rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học được đánh giá cao như: Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy của hệ trung học Chính trị Hội thảo khoa học về Đạo đức
tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội thảo khoa học về Đổi mới phương pháp giảng dạy, tham gia biên tập nội dung giảng dạy của trường, biên soạn sổ tay Bí thư chi bộ, công tác chi bộ…và gần đây nhất năm 2005, nhà trường tổ chức Hội thảo khoa học ở cấp tỉnh về đào tạo cán bộ cấp cơ sở Nói đề tài này,
Trang 11đư-ợc tỉnh đánh gía rất cao và với đề tài trên tỉnh đã quyết định trao giải xuất sắc cho đề tài nghiên cứu khoa học qua cuộc hội thảo
III Khái quát về Khoa xây dựng đảng
1 Chức năng - nhiệm vụ
Qua tìm hiểu về khoa xây dựng Đảng thì Khoa xây dựng Đảng của trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá bao gồm xây dựng Đảng và Lịch sử Đảng đã sát nhập thành một khoa Thầy tr-ưởng khoa phụ trách về phần của Xây dựng Đảng, thầy phó khoa thì phụ trách về phần của Lịch sử Đảng
Giảng viên của khoa hiện nay gồm 9 người, trong đó có 5 người giảng phần của Xây dựng Đảng và 4 người giảng phần Lịch sử Đảng
* Về hoạt động chuyên môn:
- Về lịch sử Đảng, đảm nhận giảng day 2 phần chính: Lịch sử cách mạng Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh
- Về xây dựng Đảng, đảm nhận giảng dạy xây dựng Đảng
Môn xây dựng Đảng tất cả có 18 bài gồm 3 phần chính sau:
Phần thứ I: Một số vấn đề lực lý luận cơ bản về xây dựng Đảng
Bài thứ nhất: Học thuyết Mác-Lênin về Đảng cộng sản Bài thứ hai: Tập trung dân chủ-nguyên tắc tổ chức cơ
bản của Đảng
Trang 12Bài thứ ba: Đặc điểm, vai trò, nội dung và phương thức
lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền
Phần thứ ii: Những nội dung cơ bản về xây dựng tổ chức cơ sở Đảng hiện nay.
Bài thứ nhất: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở Đảng
Bài thứ hai: Xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong cơ sở
Đảng
Bài thứ ba: Công tác đảng viên trong tổ chức cơ sở Đảng Bài thứ tư: Công tác cán bộ của tổ chức cơ sở Đảng
Bài thứ năm: Công tác chính trị- tư tưởng của tổ chức cơ
sở Đảng
Bài thứ sáu: Công tác kiểm tra của tổ chức cơ sở Đảng Bài thứ bảy: Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng đối với
chính quyền cơ sở
Phần thứ iii: Một số vấn đề nghiệp vụ công tác Đảng ở cơ sở
Bài thứ nhât: Công tác của cấp uỷ cơ sở và người bí thư Bài thứ hai: Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ
Bài thứ ba: Nghiệp vụ công tác kiểm tra của Đảng ở cơ
sở
Bài thứ tư: Nghiệp vụ thi hành kỷ luật Đảng ở cơ sở
Bài thứ năm: Nội dung và thủ tục kết nạp, quản lý, tuyên
chuyển đảng viên
Bài thứ sáu: Công tác văn phòng cấp uỷ cơ sở