1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''

120 801 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản
Tác giả KS. Lê Minh Châu, KS. Phạm Quang Mạnh, KS. Đỗ Tiến Trung, KS. Hoàng Thế Phi, ThS. Vũ Thị Tuyết Mai, KS. Võ Thị Cẩm Bình, TS. Nguyễn Thuý Lan, KS. Nguyễn Thị Lài
Trường học Viện khoa học và công nghệ mỏ - luyện kim, Bộ Công Thương
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên khoáng sản và Môi trường
Thể loại Báo cáo tổng kết dự án
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 12,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của dự án này là nhằm góp phần vào việc sử dụng tổng hợp nguồn tàinguyên thiên nhiên hữu hạn không tái tạo và bảo vệ môi trường, từng bước thực hiệnChiến lược phát triển bền vữn

Trang 1

khai th¸c kho¸ng s¶n

7431

26/6/2009

Hµ néi, th¸ng 1 n¨m 2009

Trang 2

Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Trang 3

những người tham gia thực hiện dự án

những cơ quan tham gia thực hiện dự án

1 Ban Môi trường – Tập đoàn Công nghiệp và Khoáng sản Việt Nam

2 Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam

3 Công ty TNHH NN 1 TV Kim loại màu Nghệ Tĩnh

Trang 4

Mục lục

Lời nói đầu 5

cHương i: 7

tổng quan về hoàn thổ phục hồi môi trường 7

I.1 vài nét khái quát về hoàn thổ phục hồi môi trường 7

I.1.1 Khái niệm về hoàn thổ phục hồi môi trường 7

I.1.2 Mục tiêu hoàn thổ phục hồi môi trường 7

I.1.3 Nguyên tắc hoàn thổ phục hồi môi trường 8

I.1.4 Các yêu cầu tổng quát về hoàn thổ phục hồi môi trường 11

I.1.5 Hoàn thổ phục hồi môi trường và phát triển bền vững 14

i.2 Kinh nghiệm của các nước về hoàn thổ phục hồi môi trường 17

I.2.1 Kinh nghiệm về tận thu và sử dụng một số chất thải trong hoạt động khoáng sản 17

I.2.2 Kinh nghiệm về hoàn thổ phục hồi môi trường 20

Chương ii 36

đánh giá, phân loại các nguồn thải rắn, đánh giá khả năng tận thu và sử dụng 36

II.1 Vài nét khái quát về chất thải rắn trong khai thác và chế biến khoáng sản 36

II.2 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng chì kẽm 37

II.3 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng đồng 38

II.4 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng sắt: 39

II.5 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng thiếc 40

II.6 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng crômit 41

II.7 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng apatit 42

II.8 Chất thải rắn trong quá trình kt và cb quặng pyrit 43

II.9 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng vàng 43

II.10 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến than 44

II.11 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến vật liệu xây dựng 45

II.12 Một số nhận định: 46

Chương iii 47

Đề xuất các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản hoạt động trước khi có Luật Bảo vệ môi trường và đã ngừng hoạt động 47

III.1 một số nhận xét về hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sản đã ngừng hoạt động 47

III.2 Đề xuất các giải pháp htph môi trường đối với các mỏ khai thác khoáng sản trước khi có luật BVMT và đã ngừng hoạt động 49

III.2.1- Giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật 50

III.2.2 Giải pháp huy động các nguồn tài chính phục vụ công tác hoàn thổ phục hồi môi trường 51

III.2.3 Giải pháp thành lập Cơ quan chỉ đạo/quản lý các công việc có liên quan đến hoàn thổ phục hồi môi trường ở các khu vực mỏ đã ngừng hoạt động 51

III.2.4- Giải pháp công nghệ 52

Chương iv 54

Nghiên cứu xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác và chế biến khoáng sản 54

IV.1 Quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các khu vực khai thác lộ thiên 54

IV.1.1 Xác định mục tiêu hoàn thổ phục hồi môi trường 56

Trang 5

IV.1.3 Làm cho khu vực trở nên an toàn 59

IV.1.4 Thiết kế địa mạo 60

IV.1.5 Cải tạo mặt bằng các khu vực đã khai thác xong 63

IV.1.6 Kiểm soát xói mòn 65

IV.1.7 Quản lý đất mặt 73

IV.1.8 Lập lại thảm thực vật 78

IV.1.9 Quan trắc và duy trì các hoạt động của khu vực mỏ đã được hoàn thổ phục hồi môi trường 80

IV.2 Quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở các khu vực khai thác hầm lò 81

IV.2.1 Xác định mục tiêu hoàn thổ phục hồi môi trường 82

IV.2.2 Xây dựng kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường 82

IV.2.3 Chuẩn bị hoàn thổ phục hồi môi trường 83

IV.2.4 Tiến hành hoàn thổ phục hồi môi trường 84

IV.2.5 Quan trắc và duy trì quá trình hoàn thổ phục hồi môi trường 89

IV.3 Hoàn thổ phục hồi môi trường ở các khu vực bãi thải đất đá, hồ thải quặng đuôi 90

IV.3.1 Đối với các bãi thải đất đá 91

IV.3.2 Đối với các khu vực lưu giữ quặng đuôi 93

IV.3.3 Đối với các công trình giao thông trong khu mỏ 99

IV.3.4 Đối với các đường điện và các công trình thông tin liên lạc 99

IV.4 Một số điểm cần lưu ý trong hoàn thổ phục hồi môi trường 100

IV.4.1 Đối với các mỏ đã đi vào hoạt động 100

IV.4.2 Đối với các các khu vực có tiềm năng hình thành dòng axit mỏ 101

Chương v 105

hỗ trợ doanh nghiệp triển khai thí điểm hoàn thổ phục hồi môi trường tại Công ty TNHH 1 thành viên Kim loại mầu Nghệ Tĩnh 105

V.1 Căn cứ lựa chọn thực hiện 105

V.2 Mục tiêu nhiệm vụ 105

V.3 Vị trí địa lí của khu mỏ 106

V.4 Khái quát quá trình khai thác ở khai trường Bản Poòng 107

V.5 Đặc điểm chung về địa hình, khí hậu, thủy văn của khu vực 107

V.6 Xác định vị trí, diện tích khu vực khai trường đã kt xong 109

V.7 Xác định mục tiêu hoàn thổ phục hồi môi trường 110

V.8 Thiết kế địa mạo 110

V.9 Xác định khối lượng đất đá cần vận chuyển, san gạt 110

V.10 Công tác san gạt, cải tạo mặt bằng và bổ sung đất mặt 111

V.11 Vấn đề kiểm soát xói mòn do gió và nước gây ra 112

V.12 Vấn đề bổ sung phân bón và lựa chọn giống cây 112

V.13 Tính toán giá trị đầu tư và nguồn vốn cho công tác hoàn thổ phục hồi môi trường 112

V.14 Một số kết quả ban đầu 112

V.15 Bài học kinh nghiệm 113

Kết luận và kiến nghị 115

I Kết luận 115

II Kiến nghị 116

Tài liệu tham khảo 117

Trang 6

Lời nói đầu

Khai thác và chế biến khoáng sản là một hoạt động công nghiệp có các tác

động lên hầu hết các thành phần môi trường vật lý: đất, nước, không khí; môi trườngsinh thái: thảm thực vật, loài động vật hoang dã, cây trồng, vật nuôi; môi trường cảnhquan, du lịch, di tích lịch sử và văn hoá…; môi trường lao động: người lao động, sứckhoẻ cộng đồng; cơ sở hạ tầng; hệ thống giao thông, cung cấp điện, thuỷ lợi, côngtrình công cộng…; môi trường kinh tế: thay đổi cơ cấu kinh tế, chênh lệch mứcsống…; môi trường văn hoá xã hội: tập quán, cộng đồng dân cư, trình độ dân trí…Các hoạt động khai thác khoáng sản vừa gây ô nhiễm môi trường vừa chiếm dụng đất,

để lại những diện tích đất bị suy thoái và hoang hoá Cho đến nay, nhiều khu vực khaithác và chế biến khoáng sản vẫn chưa được hoàn thổ phục hồi môi trường tiếp tụcchiếm dụng đất đai trên một diện tích rất lớn và tiếp tục gây ô nhiễm môi trường

Chúng ta biết rằng, việc sử dụng đất cho các hoạt động khai thác và chế biếnkhoáng sản chỉ là tạm thời trong một khoảng thời gian tương đối ngắn so với thời giantồn tại của nó, vì vậy sau khi chấm dứt các hoạt động khai thác và chế biến khoángsản cần phải tiến hành hoàn thổ phục hồi môi trường cho phù hợp với mục đích sửdụng đất lâu dài Nhưng trong thực tế, vấn đề hoàn thổ phục hồi môi trường trongkhai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam vẫn còn chưa được quan tâm thực hiện

đúng mức Cho đến nay, việc hoàn thổ phục hồi môi trường chưa có được vai trò quantrọng thực sự trong hoạt động sản xuất của ngành mỏ và một số nơi đang phải gánhchịu hậu quả của các tác động do khai thác và chế biến khoáng sản trước đây gây ra

Để từng bước hạn chế và khắc phục các tác động của ngành khai thác và chếbiến khoáng sản lên môi trường, nhằm phát triển các nguồn nguyên liệu khoáng phùhợp với các nguyên tắc của phát triển bền vững, góp phần thực hiện “Chiến lược bảo

vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” đã được Chínhphủ phê duyệt, Bộ Công thương đã có Quyết định số 1172/QĐ-BCT ngày 27 tháng 2năm 2008 về việc thực hiện dự án: “Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trườngcác vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trườngcho một đơn vị khai thác khoáng sản”

Mục tiêu của dự án này là nhằm góp phần vào việc sử dụng tổng hợp nguồn tàinguyên thiên nhiên hữu hạn không tái tạo và bảo vệ môi trường, từng bước thực hiệnChiến lược phát triển bền vững của ngành khai thác và chế biến khoáng sản, trong đó

đi sâu: (i) Phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoàn thổ phục hồi môi trường,

đề xuất các giải pháp phục hồi cảnh quan địa mạo, môi trường đất, nước; (ii) Nghiêncứu tài liệu, học tập kinh nghiệm của các nước về khả năng thu hồi và sử dụng cácchất thải, các chất có ích trước khi hoàn thổ phục hồi môi trường, về quy trình hoànthổ phục hồi môi trường; (iii) Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường trongkhai thác lộ thiên, khai thác hầm lò, cũng như những vấn đề cần lưu ý khi hoàn thổphục hồi môi trường các bãi thải đất đá, hồ thải quặng đuôi, các cơ sở hạ tầng; (iv) Đềxuất các giải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường ở các vùng khai thác khoáng sảnhoạt động trước khi có luật BVMT và đã ngừng hoạt động

Trang 7

Các nội dung hoạt động của dự án là nhằm cung cấp các công cụ kỹ thuật vềbảo vệ môi trường, đặc biệt về hoàn thổ phục hồi môi trường trong hoạt động khoángsản nhằm góp phần từng bước đưa công tác bảo vệ môi trường, hoàn thổ phục hồi môitrường trong hoạt động khoáng sản vào nền nếp và có hiệu quả, dự án cũng đề cập đếnkhả năng tận thu và sử dụng một số chất thải rắn trong hoạt động khoáng sản hướngtới việc sử dụng tổng hợp tài nguyên thiên nhiên không tái tạo và phù hợp với Chiếnlược phát triển bền vững của ngành khai thác và chế biến khoáng sản.

Trang 8

cHương i

tổng quan về hoàn thổ phục hồi môi trường

I.1 vài nét khái quát về hoàn thổ phục hồi môi trường

I.1.1 Khái niệm về hoàn thổ phục hồi môi trường

Hoàn thổ phục hồi môi trường là một quá trình nhằm hạn chế và khắc phục cáctác động của ngành khai thác mỏ lên môi trường Hoàn thổ phục hồi môi trường làmột phần quan trọng trong quá trình phát triển các nguồn nguyên liệu khoáng phùhợp với các nguyên tắc của phát triển bền vững [14,18,27-29] mà những năm gần đây,ngành công nghiệp khai thác mỏ của các nước trên thế giới bắt đầu tiếp cận với kháiniệm này Phát triển bền vững trong hoạt động khoáng sản có nghĩa là đầu tư vào các

dự án có lợi nhuận về mặt kinh tế, phù hợp về mặt kỹ thuật, đúng đắn về mặt môitrường và có trách nhiệm về mặt xã hội [28,29]

Khai thác mỏ chỉ là vấn đề sử dụng đất tạm thời, do đó cần phải lồng ghép vớicác hình thức sử dụng đất khác hoặc phải hoàn thổ phục hồi môi trường và chuyển lạicho các hình thức sử dụng khác tiếp theo Để hoàn thổ phục hồi môi trường trong khaithác khoáng sản cần phải xác định một cách rõ ràng việc sử dụng đất của khu vực đótrong tương lai Để xác định mục đích sử dụng đất trong tương lai của khu vực cần sựtham khảo ý kiến của các đơn vị liên quan như các cơ quan quản lý chuyên ngành,chính quyền địa phương, các chủ đất Một số công trình khác nhau của mỏ (như cáckhai trường, các bãi thải đất đá, hồ thải quặng đuôi, kho bãi chứa quặng nguyên khai,quặng tinh, nhà máy tuyển, các xưởng cơ khí và văn phòng, các công trình khoanthăm dò trước đây, đường ống dẫn, đường sá…) có thể được sử dụng cho các mục

đích khác nhau sau khi kết thúc hoạt động khai thác, vì vậy cần xác định khả năng sửdụng một cách có hiệu quả nhất các công trình này ở giai đoạn đóng cửa mỏ và hoànthổ phục hồi môi trường

I.1.2 Mục tiêu hoàn thổ phục hồi môi trường

Mục tiêu lâu dài về hoàn thổ phục hồi môi trường có thể rất khác nhau giữa cáckhu vực khai thác khác nhau Nhưng trong mọi trường hợp mục tiêu hàng đầu và quantrọng nhất của hoàn thổ phục hồi môi trường là bảo vệ sự an toàn và sức khoẻ của mọingười sống ở xung quanh các khu vực khai thác khoáng sản [14,29,33,47] Mục tiêudài hạn của hoàn thổ phục hồi môi trường rất khác nhau và có thể được phân loại nhưsau:

 Hoàn trả lại khu vực sao cho càng gần với các điều kiện trước khi khai tháccàng tốt với đầy đủ các giá trị môi trường ban đầu của khu vực Mục tiêunày thường được áp dụng để hoàn trả lại các hệ sinh thái nguyên sinh ban

đầu của khu vực

 Hoàn thổ phục hồi môi trường các khu vực khai thác khoáng sản sao cho

có thể tái tạo lại một cách tương tự các giá trị sinh thái và việc sử dụng đất

Trang 9

thể nhằm biến khu vực thành các thảm cây xanh tự nhiên với các chi phí đểduy trì chăm sóc thấp hoặc tái lập lại mục đích sử dụng như nông nghiệphay trồng rừng Việc lập lại rừng hoặc các khu vực trồng cây lấy gỗ ở cáckhu vực khó trồng trọt hoặc ở các vùng đất thoái hoá cũng có thể được xemnhư là hoàn thổ phục hồi môi trường.

 Xây dựng khu vực đã khai thác thành khu vực có mục đích sử dụng hoàntoàn khác với các mục đích sử dụng trước khi khai thác Loại hình hoàn thổphục hồi môi trường này nhằm đạt được địa mạo cũng như mục đích sửdụng đất mới mà có thể mang lại cho cộng đồng xã hội lợi nhuận nhiềuhơn so với mục đích sử dụng đất đã được áp dụng trước khi khai thác Ví

dụ, có thể xây dựng các khu vực đã khai thác xong thành các vùng đất ngậpnước, các khu giải trí, xây dựng đô thị, đất trồng rừng, đất nông nghiệphoặc cho một loạt các mục đích sử dụng khác

 Chuyển đổi các khu vực có giá trị bảo tồn thấp và về bản chất các khu vựcnày chỉ cho năng suất cây trồng thấp thành các khu vực an toàn và ổn định

I.1.3 Nguyên tắc hoàn thổ phục hồi môi trường

Nguyên tắc chung là phải bảo đảm chắc chắn rằng các khu vực đã khai thácxong phải được hoàn thổ phục hồi môi trường đến trạng thái an toàn và ổn định khi đãcân nhắc các mục đích sử dụng đất có hiệu quả của khu vực mỏ và khu vực xungquanh

Việc xây dựng kế hoạch sớm và áp dụng đúng quy trình hoàn thổ phục hồi môitrường sẽ giảm thiểu được các tác động xấu của các hoạt động khai thác khoáng sảnlên môi trường Hoàn thổ phục hồi môi trường sẽ làm cho hoạt động khai thác khoángsản tránh được các tác động xấu ở những nơi có thể, còn ở những nơi không có thểtránh được thì sẽ khắc phục đến tình trạng có thể chấp nhận được Trên thực tế cầntăng cường việc hoàn thổ phục hồi môi trường song song với quá trình khai tháckhoáng sản

Phương pháp khai thác và đặc tính cụ thể của từng khoáng sàng sẽ tác động đếnmức độ ảnh hưởng của hoạt động khai thác đến môi trường và cảnh quan hình tháicủa khu vực [14,18,27-29,33] Khai thác hầm lò thường ít gây xáo trộn bề mặt củakhu vực và việc hoàn thổ phục hồi môi trường thường chỉ tập trung vào các hồ thảiquặng đuôi, dỡ bỏ nhà cửa trang thiết bị và làm cho khu vực trở nên an toàn Khaithác lộ thiên thường phá hỏng thảm thực vật đang tồn tại và gây xáo trộn các lớp đất

đá [33] Việc bóc đất đá phủ và đá vây quanh cũng như việc thải chúng vào các bãithải hoặc vào các khai trường đã khai thác xong có thể làm thay đổi địa hình cũng nhưtính ổn định của cảnh quan khu vực Một vài loại đất đá thải có thể sinh ra các loạimuối hoặc có chứa các khoáng vật sunphua và có thể gây nên các dòng axit mỏ[33,44] Những vật liệu này phải được thải vào một khu vực riêng biệt, được xử lý vàhoàn thổ phục hồi môi trường theo một yêu cầu đặc biệt

Các nguyên tắc cơ bản về hoàn thổ phục hồi môi trường đã được các nước đúckết dưới đây tuy chưa phải hoàn hảo hết mọi nhẽ nhưng đề cập đến hầu hết các khía

Trang 10

cạnh của nguyên tắc hoàn thổ phục hồi môi trường bắt buộc chúng ta phải tuân theo[14,18,27-29,33] , đó là:

 Con người là một bộ phận của môi trường;

 Tăng cường công tác tư vấn và tham gia của cộng đồng vào công tác hoànthổ phục hồi môi trường;

 Chuẩn bị một kế hoạch hoàn thổ rõ ràng trước khi khai thác;

 Phải bảo đảm chắc chắn rằng khu vực bị ảnh hưởng bởi các hoạt động khaithác khoáng sản phải được cải tạo an toàn;

 Quan tâm đến các yêu cầu pháp lý ngay từ đầu, bảo đảm đáp ứng được cácyêu cầu đó khi lập kế hoạch cũng như trong quá trình thực hiện từ khai lập

dự án, xuyên suốt quá trình hoạt động đến khi đóng cửa mỏ và hoàn thổphục hồi môi trường;

 Đối với mỗi một dự án mới, phải chuẩn bị đề xuất một kế hoạch hoàn thổphục hồi môi trường trước khi chuẩn bị khai thác;

 Thoả thuận được với các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và chủ

đất về mục tiêu sử dụng đất lâu dài cho khu vực sau khi kết thúc khai thác.Việc sử dụng đất này phải phù hợp với điều kiện khí hậu, thành phần đất,

địa hình địa mạo và trình độ quản lý có được sau khi hoàn thổ phục hồimôi trường để có thể xác định được mục tiêu sử dụng đất tối ưu nhất chokhu vực;

 Tăng cường công tác hoàn thổ phục hồi môi trường ở những nơi có thể làmsao cho khu vực được hoàn thổ phục hồi môi trường tương ứng với tỷ lệkhu vực đã khai thác;

 Ngăn ngừa không cho cỏ dại và sâu bọ độc hại phát triển ở khu vực đãhoàn thổ phục hồi môi trường;

 Giảm thiểu diện tích phải dọn dẹp, phải san ủi để chuẩn bị cho hoạt độngkhai thác và cho các hạng mục phụ trợ khác đến mức thấp nhất nhưng vẫnbảo đảm cần thiết cho sự an toàn tuyệt đối của các hoạt động khai tháckhoáng sản;

 Tái tạo lại hình dáng của khu vực đã bị xáo trộn bởi các hoạt động khaithác sao cho thật ổn định, bảo đảm thích đáng cho việc thoát nước và phùhợp cho mục đích sử dụng đất lâu dài;

 Giảm thiểu các tác động lâu dài về cảnh quan có thể quan sát thấy bằngcách tạo ra địa mạo mới phù hợp với cảnh quan xung quanh khu vực;

 Cần tái tạo lại hệ thống thoát nước tự nhiên bị xáo trộn bởi các hoạt độngkhai thác khoáng sản;

 Các khu vực mà mặt đất bị đầm cứng và bị ô nhiễm dầu diezen và các hợpchất hydrocacbon khác như các kho bãi, các xưởng cơ khí cần được cày xới

Trang 11

để đất được tơi và cho phép nước và không khí thâm nhập vào đất và cần ápdụng các giải pháp để loại bỏ các chất ô nhiễm hydrocacbon (nếu có);

 Làm cho cấu trúc đập chắn hồ thải quặng đuôi và các đống chất thải ổn

định, bảo đảm chúng được thoát nước một cách hoàn hảo và phù hợp choviệc sử dụng đất lâu dài;

 Trung hoà hoặc kiểm soát các vật liệu, hoá chất trong hồ thải quặng đuôibằng cách phân loại hoặc sử dụng các lớp phủ có tính trơ;

 Bảo đảm chắc chắn rằng những xói mòn do gió và nước gây ra sẽ được hạnchế tối đa trong suốt quá trình hoạt động khai thác khoáng sản, trong vàsau khi hoàn thổ phục hồi môi trường;

 Nên sử dụng tối đa các loài cây bản địa để tái phủ xanh các khu vực hoànthổ phục hồi môi trường nếu phù hợp với việc sử dụng đất sau khai thác;

 Di chuyển và kiểm soát các vật liệu độc hại còn sót lại Phát hiện bất kỳlớp đất phủ hay địa tầng phơi lộ tiềm ẩn độc hại nào và xử lý chúng sao cho

có thể ngăn ngừa được sự tổn hại về môi trường;

 Xác định đặc tính của lớp đất mặt trên cùng và giữ chúng lại để phục vụcho hoàn thổ Nên chú trọng sử dụng lại ngay lớp đất mặt trên cùng nàychứ không nên chất đống lâu ngày Chỉ nên thải bỏ lớp đất này nếu chúng

có chứa các thành phần hoá lý không mong muốn, hoặc nếu chúng có chứanhiều hạt cỏ độc hoặc các loại mầm bệnh cho cây cối;

 Nên cân nhắc trồng lại các loại cây cối đã bị dọn dẹp trước khi khai thác ởcác khu vực bị xáo trộn do khai thác khoáng sản gây ra;

 Tạo ra sự liên kết chắc chắn giữa lớp đất mặt trên cùng với lớp kế tiếp tạo

điều kiện thuận lợi cho cây cối phát triển;

 Trong trường hợp lớp đất mặt trên cùng không phù hợp hoặc không có thìcần phải xác định và thử nghiệm với lớp đất kế phía dưới, có thể đất bóc sẽ

là đất thay thế phù hợp nếu ta bổ sung thêm một số chất cải tạo đất;

 Tái phủ xanh khu vực với các loài cây chắc chắn phù hợp với mục đích sửdụng đất sau khi kết thúc khai thác;

 Dỡ bỏ tất cả các trang thiết bị ra khỏi khu vực;

 Quan trắc và quản lý các khu vực đã được hoàn thổ phục hồi môi trườngcho đến khi cây cối tự phát triển được hoặc thoả mãn các yêu cầu của chủ

đất hoặc người quản lý đất hoặc cho đến khi việc quản lý khu vực này đượclồng ghép vào chương trình quản lý khác

Để hoàn thổ phục hồi môi trường các khu vực khai thác cho mục đích sử dụng

đất mà chi phí duy trì chăm sóc thấp như để biến thành hệ sinh thái tự nhiên bền vữngtrong thời gian lâu dài đòi hỏi phải có sự am hiểu các vấn đề cơ bản về thổ nhưỡng, về

sự đa dạng của các loài cây cối Việc hoàn thổ phục hồi môi trường cần phải hướngtới mục đích tăng nhanh các quá trình phát triển tự nhiên của cây cối sao cho các tập

Trang 12

đoàn cây phát triển theo chiều hướng mong đợi Thảm thực vật phải bền vững đối vớicác biến động, đặc biệt đối với lửa, và các nhu cầu về các chất dinh dưỡng không lớnquá mà các quá trình cung cấp chất dinh dưỡng tự nhiên có thể đáp ứng được.

I.1.4 Các yêu cầu tổng quát về hoàn thổ phục hồi môi trường

Phần này trình bày các yêu cầu tổng quát về hoàn thổ phục hồi môi trường ởcác vùng có hoạt động khai thác khoáng sản Các yêu cầu này có thể khác nhau tuỳthuộc vào đặc tính của từng vị trí cụ thể, bao gồm:

I.1.4.1 Xác định các điều kiện thoả mãn

Mục đích của công tác hoàn thổ phục hồi môi trường là khôi phục khu vực khaithác khoáng sản nhằm thoả mãn các điều kiện sau đây:

 Loại bỏ các mối nguy hiểm và bảo đảm an toàn chung cho người và độngvật;

 Hạn chế tối đa việc sản sinh và/hoặc tuần hoàn các chất có thể gây tổn hại

đến môi trường tiếp nhận và về lâu dài cố gắng loại bỏ việc phải duy trì sựchăm sóc và quan trắc các khu vực đã hoàn thổ phục hồi môi trường;

 Cải tạo và khôi phục khu vực đã khai thác sao cho có hình dáng bên ngoàiphù hợp với cảnh quan chung của khu vực và được cộng đồng dân cư địaphương chấp thuận;

 Cải tạo các khu vực có các công trình hạ tầng theo hướng có thể sử dụngchúng trong tương lai cho các mục đích khác

I.1.4.2 Các yêu cầu về tái phủ xanh khu vực

Tất cả các khu vực bị ảnh hưởng bởi các hoạt động khai thác khoáng sản cầnphải được trồng cây tái phủ xanh nhằm kiểm soát sự xói mòn và bảo tồn các điều kiện

tự nhiên của khu vực Tuy nhiên, nếu toàn bộ hay một phần của khu vực khai thác vàchế biến khoáng sản đặc biệt là các bãi đá thải nếu không thể tái phủ xanh được thìcần phải chứng minh rằng nó chẳng bao giờ đạt được các “điều kiện thoả mãn” về cácyêu cầu tái phủ xanh

Trước khi tái phủ xanh đất đai ở các khu vực cần cày xới và bón phân nếu cầnthiết ở những nơi thích hợp thì lớp đất mặt đã được bóc lên cần được sử dụng trựctiếp trên các diện tích đã sẵn sàng cho hoàn thổ phục hồi môi trường

Nhìn chung, trước hết nên trồng cỏ và các bụi cây để chống xói mòn và tạo

điều kiện thuận lợi cho việc sinh mùn cho đất Các loại cây trồng này cần có các đặctính phù hợp với môi trường tự nhiên Cần chú ý ưu tiên các loại cây có thể tự pháttriển được trong thời gian 6 năm kể từ ngày trồng mà không cần phải cung cấp phânbón hay chăm sóc

I.1.4.3 Yêu cầu đối với các khu vực khai thác (bao gồm khai trường, bãi thải đất

đá, hồ thải quặng đuôi…)

Trang 13

Chính sách hoàn thổ phục hồi môi trường quan trọng nhất đối với các khu vựckhai trường, bãi thải đất đá, hồ thải quặng đuôi…là nhằm bảo đảm chắc chắn rằng đất

đai bị ô nhiễm ở các khu vực đó không còn độc hại đối với sức khoẻ cộng đồng,không còn các tác động xấu đối với môi trường và chúng thích hợp với mục đích sửdụng đất trong tương lai [27,33] Cần phải thực hiện đầy đủ chính sách này và nó phải

được xem là một phần quan trọng của quá trình hoàn thổ phục hồi môi trường ở cácvùng đất bị ô nhiễm bởi các hoạt động khai thác (trừ những khu vực bãi thải đất đá và

hồ thải quặng đuôi đã được cấp phép riêng)

Theo kinh nghiệm của các nước [33] có thể chia môi trường trong khai tháckhoáng sản làm bốn loại với các mức độ ô nhiễm và các hành động ứng phó tươngứng như được nêu trong bảng 1

Các khu vực phải được mô tả một cách chi tiết khi kết thúc khai thác nhằm xác

định được rằng liệu đất đai ở đó đã bị ô nhiễm chưa và liệu có cần phải xử lý không.Việc mô tả này nhằm:

a) Xác định được mức độ ô nhiễm;

b) Tìm được vị trí chính xác các khu vực bị ô nhiễm và xác định khảnăng lan rộng ô nhiễm ra khu vực xung quanh;

Bảng 1: Phân loại mức độ ô nhiễm môi trường trong khai thác khoáng sản và các hành động ứng phó

Mức B-C Môi trường bị ảnh

hưởng

Cần thiết phải mô tả hết mọi khía cạnhmôi trường, có thể cần thiết phải khử ônhiễm để thoả mãn các mục tiêu hoàn thổphục hồi môi trường, đặc biệt ở các vùng

sẽ được sử dụng cho mục đích định cư ;

có thể sử dụng cho mục đích công nghiệp

động khai thác trừ trường hợp có thể chỉ

ra được rằng địa điểm đó sẽ thoả mãn

được điều kiện phù hợp với mục tiêu sửdụng khác của nó trong tương lai

Trang 14

c) Xác định khối lượng của mỗi một chất gây ô nhiễm;

Nói chung, khi các mức độ ô nhiễm vượt quá giá trị B và tất cả các thông số

đều vượt quá giá trị nền tự nhiên của khu vực thì cần áp dụng các biện pháp xử lý

Đối với các mỏ đang hoạt động, cần tiến hành đánh giá sơ bộ xem liệu đất đai ở

đó có bị ô nhiễm không và xác định mức độ, yêu cầu công việc hoàn thổ phục hồi môitrường ở những nơi có thể

I.1.4.4 Các yêu cầu đối với nhà cửa và hạ tầng cơ sở trên mặt đất

Tất cả nhà cửa và các công trình hạ tầng trên mặt đất phải được tháo dỡ nếukhông chứng minh được rằng chúng cần phải được giữ lại và bảo quản theo yêu cầuhoặc nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của khu vực

- Các khu nhà hành chính, nhà ở của công nhân

Nếu không còn nhu cầu sử dụng, nhà cửa phải được tháo bỏ, tường nhà phải

được đập sát đến tận mặt đất, nền móng chỉ có thể được để lại nếu lớp đất phủ phíatrên cho phép cây cối tự phát triển được trên đó Tất cả các chất thải tháo dỡ ra phải

được chuyển đến khu vực chứa chất thải theo quy định chung

- Nhà dịch vụ phân tích, nhà máy tuyển

Các yêu cầu đối với các hạng mục công trình này cũng tương tự như đối vớikhu nhà hành chính, nhà ở của công nhân Ngoài ra còn phải đánh giá chất lượng đất

và nếu cần thiết còn phải khử các chất ô nhiễm để có biện pháp xử lý

- Các công trình hạ tầng hỗ trợ khác

Tất cả các công trình ngầm (bồn chứa, đường ống ) tuỳ thuộc vào việc sử dụngcủa khu vực đó trong tương lai (như khu định cư, khu công nghiệp, khu du lịch, khulâm nghiệp, khu giải trí ) mà có thể để lại hoặc đào lên và chuyển ra khỏi khu vực

Các lối vào mỏ, vào các khu vực có các công trình phải được rào, bịt kín Phảichỉ ra trên bản đồ vị trí các công trình phụ trợ này

Tất cả các công trình phụ trợ (nhà, bồn chứa, đường ống các loại ) phải đượctháo dỡ và chuyển ra khỏi khu vực Việc thải bỏ các vật liệu tháo dỡ này phải tuân thủtheo quy định chung Phải đánh giá chất lượng của lớp đất mặt và nếu cần thì phảikhử các chất ô nhiễm

- Hạ tầng giao thông

Trước khi đóng cửa các đường vào các khu vực cần phải kiểm tra xem liệu có

đơn vị nào (chủ yếu là lâm nghiệp) có ý muốn tiếp tục sử dụng không Đường vào khuvực khai thác chính phải được giữ gìn để sử dụng cho việc quan trắc và bảo dưỡng saunày

ở khu vực mà đường sá không còn cần thiết nữa (kể cả đường sắt) thì khu vực

đó cần được khôi phục như sau:

a) Cầu, cống và đường ống phải được dỡ bỏ, mương máng phải được lấp đầynếu chúng không còn cần thiết nữa

Trang 15

b) Các dòng chảy tự nhiên phải được duy trì, bờ các con sông/suối và kênh cần

được làm cho ổn định bằng cách trồng cỏ Tuy nhiên nếu việc trồng cỏ không đạt yêucầu (có nguy cơ bị xói mòn) thì cần sử dụng vật liệu khác như đá cục, đá tảng

I.1.5 Hoàn thổ phục hồi môi trường và phát triển bền vững

I.1.5.1 Tại sao ngành khai thác và chế biến khoáng sản cần thực hiện phát triển bền vững

Khai thác và chế biến khoáng sản thường chiếm dụng những diện tích đất hữuích rất lớn để làm khai trường, bãi thải đất đá, hồ thải quặng đuôi và các công trìnhphụ trợ khác Những khu vực này nếu không hoàn thổ phục hồi môi trường sẽ bị suythoái và hoang hoá, gây ảnh hưởng môi trường, tác động xấu đến việc sản xuất và sứckhoẻ của cộng đồng, tạo ra vấn đề khó khăn về trách nhiệm pháp lý đối với các cơquan quản lý, đối với các công ty khai thác khoáng sản và cuối cùng làm giảm uy tíncủa chính ngành khai thác khoáng sản Hơn nữa, việc tiếp cận nguồn tài nguyênkhoáng sản ngày càng gắn liền với uy tín của ngành và của bản thân từng công ty Cácquá trình đóng cửa mỏ và hoàn thổ phục hồi môi trường một cách hiệu quả và thỏa

đáng trở thành yếu tố tiên quyết đối với khả năng xây dựng những dự án mới của mộtcông ty Do đó, nhiều nước đã xây dựng một loạt các khung chính sách phát triển bềnvững cho ngành khai thác khoáng sản Hiện nay, những chính sách này đang trở thành

động lực để cải thiện phương thức hoạt động, thể hiện sự cam kết của ngành đối vớivấn đề phát triển bền vững [28,29]

I.1.5.2 Phát triển bền vững: những khía cạnh môi trường

Không nên cho rằng mục tiêu của toàn bộ quá trình hoàn thổ phục hồi môitrường là tìm cách tái tạo hệ sinh thái tự nhiên gần giống như hệ sinh thái đã tồn tạitrước khi khai thác mỏ Tại những khu vực xa xôi hẻo lánh việc biến các khu vực đãkhai thác xong trở lại một hệ sinh thái tự nhiên ổn định thường là lựa chọn được ưachuộng Điều này sẽ tạo ra hình thức sử dụng đất cuối cùng với ít yêu cầu bảo dưỡngvới ít chi phí để kiểm soát phát sinh ô nhiễm có thể xảy ra từ khu mỏ Tại những khuvực tập trung đông dân cư hơn, sẽ có nhiều hình thức sử dụng đất hơn để lựa chọn ở

đó những phần đất khác nhau của khu mỏ có thể được sử dụng cho nông nghiệp, côngnghiệp, du lịch hoặc các hoạt động cộng đồng khác đòi hỏi cần phải có một sự quản

lý liên tục Điều quan trọng là phải hình thành ngay từ đầu năng lực lâu dài để thựchiện những hoạt động này Nếu không có một cam kết dài hạn và các nguồn lực phùhợp để thực hiện, các chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường khó có thể thu đượckết quả như mong đợi

- Các yêu cầu về điều tiết

Các yêu cầu về điều tiết thực sự là những điều bắt buộc đối với các lựa chọn đểhoàn thổ phục hồi môi trường Những điều bắt buộc này có thể xuất hiện trong các kếhoạch sử dụng đất của khu vực Thí dụ nếu một khu vực được dành cho hệ thốngdòng chảy thì sẽ có những vấn đề có liên quan cần được nghiên cứu như: Nó có thểngăn cản hình thức thâm canh do nguy cơ thuốc bảo vệ thực vật hoặc phân bón có thể

Trang 16

thẩm thấu và làm ô nhiễm hệ thống dòng chảy này của địa phương Nếu bao quanhkhu mỏ là các hệ sinh thái tự nhiên, việc áp dụng mô hình nuôi cá thâm canh có thể

đe dọa tới các loài cá bản xứ sinh sống trong các dòng chảy xung quanh…

Khi xây dựng các yêu cầu điều tiết này nên có sự tham gia đóng góp xây dựngcủa nhân dân trong vùng Điều này có thể đem lại cơ hội cho việc hợp tác với cộng

đồng vì lợi ích tương đồng của dự án, vì những điều tiết cần thiết và quyền lợi củacộng đồng

- Các giới hạn về các đặc điểm tự nhiên

Các thuộc tính về các đặc điểm tự nhiên của một khu mỏ đặt ra những giới hạncuối cùng mà theo đó chương trình hoàn thổ phục hồi môi trường phải đạt được Cóthể có những vùng không có khả năng tái thiết lập lại một số loại thực vật, ví dụ nhưrừng nhiệt đới hoặc rừng rậm ẩm, nếu khu mỏ đó thiếu các điều kiện cần thiết (nhưmưa rừng và nhiệt độ ấm) Điều đó có thể do chế độ khí hậu bình thường của khu mỏ,

do những quá trình biến đổi khí hậu hoặc do tác động trực tiếp của hoạt động khaithác mỏ Điều cần thiết là phải xác định được các giới hạn về các đặc điểm tự nhiêncàng sớm càng tốt

Một số các giới hạn về các đặc điểm tự nhiên chủ chốt cần cân nhắc trong quátrình tư vấn trao đổi được liệt kê dưới đây:

Khí hậu:

Chế độ khí hậu là một yếu tố quan trọng nhất cần cân nhắc khi lựa chọn cácgiải pháp hoàn thổ phục hồi môi trường Nếu mục đích cuối cùng là tạo được mộtcảnh quan ổn định, mục tiêu này luôn phải nhất quán với những điều kiện khí hậu nổitrội và sự cân nhắc đối với những thay đổi khí hậu có thể xảy ra Lượng mưa và nhiệt

độ tạo ra những giới hạn thực sự đối với những kết quả có thể đạt được ở khu mỏ

Kích thước khu vực mỏ:

Quy mô của khu mỏ có ảnh hưởng đối với các phương án có thể lựa chọn Hìnhdạng của khu mỏ cũng sẽ là một yếu tố cần cân nhắc, nhất là khi các vấn đề ảnhhưởng mạnh của các loài động thực vật bản địa sinh sống tràn lan và cỏ dại phát triểnmạnh mẽ

Loại đất/đá:

Loại đất (đất sét, đất mùn, đất cát), các tính chất hoá lý (độ pH, đất sét kếtdính/không kết dính) và các chất dinh dưỡng có trong đất là các yếu tố quan trọng chothấy loại thực vật nào sẽ phát triển thuật lợi trên khu mỏ có các tính chất khác nhau.Các biện pháp quản lý như giữ lại lớp đất mặt để sử dụng trong hoàn thổ phục hồi môitrường, sử dụng phân bón và các chất bổ sung cho đất, có thể giảm nhẹ một số giớihạn, nhưng có thể mất hàng chục năm để tạo ra vòng dinh dưỡng cần thiết cho mụctiêu tái lập

Trang 17

I.1.5.3 Phát triển bền vững: những khía cạnh xã hội

Trước đây các công ty khai thác khoáng sản thường đưa ra cam kết đối vớinhiệm vụ phát triển kinh tế và xã hội đối với cộng đồng dân cư tại nơi họ hoạt độngkhai thác khoáng sản Ngày nay họ còn bị đòi hỏi phải cam kết giảm thiểu những tác

động tiêu cực của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường, đến cộng đồng dâncư lân cận, cũng như đề xuất các biện pháp duy trì hoặc cải thiện mức sống của cộng

đồng dân cư bị ảnh hưởng và tính bền vững xã hội

Hợp tác với cộng đồng

Cần có sự thống nhất về hình thức sử dụng đất cuối cùng ở các khu vực hoànthổ phục hồi môi trường, trên cơ sở cân đối giữa các yêu cầu của cơ quan chức năng,người dân địa phương và cộng đồng Tham vấn cộng đồng, hợp tác và trao đổi ý kiến

về hình thức sử dụng đất cuối cùng là nhằm đạt được sự thống nhất về các mục tiêuhoàn thổ phục hồi môi trường của khu mỏ, cho phép công ty có thể bàn giao khu vựchoàn thổ phục hồi môi trường đáp ứng được yêu cầu của cơ quan chức năng và thỏamãn kỳ vọng của cộng đồng

Các phương án hoàn thổ phục hồi môi trường được chọn cho khu mỏ cần phảimang tính phù hợp, nhất là phù hợp với việc sử dụng đất ở các khu vực xung quanh.Kinh nghiệm của các nước cho thấy quá trình chia sẻ kiến thức chuyên môn và điềuphối các hoạt động quan trọng trong hoàn thổ phục hồi môi trường có thể dẫn tới lợiích của cộng đồng được tăng lên rõ rệt

I.1.5.4 Phát triển bền vững: từ góc độ kinh doanh

Xét từ góc độ kinh doanh thì việc đưa ra các phương pháp hoàn thổ phục hồimôi trường khu mỏ trong khuôn khổ phát triển bền vững phải được thực hiện mộtcách có kế hoạch, có tổ chức, có tính hệ thống và được tiến hành liên tục trong quátrình hoạt động của dự án, bao gồm:

Nâng cao công tác quản lý khu mỏ

 Những cơ hội để tối ưu hóa quá trình lập kế hoạch và vận hành khu mỏtrong thời gian hoạt động để khai thác hiệu quả tài nguyên và phục vụviệc sử dụng đất sau khai thác (ví dụ giảm quá trình xử lý kép đối vớivật liệu phế thải và đất mặt, giảm khu vực đất bị xáo trộn);

 Xác định những khu vực có nguy cơ cao là nhiệm vụ ưu tiên cho côngtác nghiên cứu và khắc phục các tác động môi trường của các hoạt độngkhoáng sản;

 Hoàn thổ phục hồi môi trường dần dần tạo ra cơ hội kiểm tra và tăngcường kỹ thuật áp dụng

Tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình lập kế hoạch và ra quyết định xây dựng

 Các chiến lược và chương trình dựa trên thông tin thực tế đầy đủ hơn đểgiải quyết những tác động của việc hoàn thổ phục hồi môi trường, tốt

Trang 18

nhất nên nằm trong một phương pháp tiếp cận phát triển cộng đồng từthời điểm hoạt động ban đầu của khu mỏ;

 Tăng khả năng tiếp nhận của cộng đồng đối với các đề xuất khai thác

mỏ trong tương lai;

 Tăng cường hình ảnh và uy tín công cộng

Giảm thiểu những nguy cơ và chi phí phát sinh

 Đảm bảo cung cấp vật liệu và tài chính cho công tác hoàn thổ phục hồimôi trường thông qua việc dự toán chi phí hoàn thổ phục hồi môi trườngmột cách chính xác hơn;

 Giảm nguy cơ phải gánh chịu chi phí phát sinh ngoài dự toán do rủi ro

và nguy cơ đe dọa môi trường

i.2 Kinh nghiệm của các nước về hoàn thổ phục hồi môi trường

I.2.1 Kinh nghiệm về tận thu và sử dụng một số chất thải trong hoạt

động khoáng sản

Công nghiệp hoá các hoạt động sản xuất của xã hội là một xu thế tất yếu củanhiều quốc gia Sự nghiệp công nghiệp hoá càng phát triển thì các nhu cầu về sử dụngnăng lượng, tài nguyên thiên nhiên càng lớn Để đáp ứng nhu cầu về năng lượng vànguyên nhiên liệu cho các hoạt động công nghiệp, các quốc gia đã nỗ lực khai thác

và sử dụng ngày càng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên khôngtái tạo Ngành khai thác và chế biến khoáng sản ngày càng đáp ứng đầy đủ các nhucầu to lớn về nguyên vật liệu và góp phần ổn định kinh tế đối với các nước côngnghiệp phát triển, khai thác khoáng sản cũng góp phần phát triển đất nước và tăngtrưởng kinh tế đối với nhiều nước đang phát triển Một phần khá lớn các nhu cầu vềhàng hoá của các nước đang phát triển là sản phẩm của ngành công nghiệp khoángsản Khai thác khoáng sản là một giải pháp quan trọng trong việc tạo ra công ăn việclàm và phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia Phát triển các nguồn nguyên liệukhoáng được nhiều quốc gia nhìn nhận như là cơ sở để phát triển kinh tế, đặc biệt là ởnhững nơi mà ngành công nghiệp còn chưa phát triển Nhiều nước đã đầu tư nghiêncứu sử dụng tổng hợp các nguyên tố có ích đi kèm cũng như các loại đất đá thải trongcác hoạt động khoáng sản Trong những năm gần đây, một số nước đã xây dựngChương trình khai thác khoáng sản với ít hoặc không có chất thải (“non-wastemining” hoặc “zero-waste mining”) Việc thực hiện chương trình này vừa có ý nghĩa

sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo vừa bảo vệ môitrường

Cùng với những tiến bộ mới về công nghệ, các nước đang tăng cường tận thucác nguyên tố đi kèm cũng như tìm cách tái sử dụng quặng thải và quặng đuôi Trong

5 năm trở lại đây ngành khoáng sản kim loại màu Trung Quốc đã phát triển mạnh

mẽ, trong đó có 10 kim loại quan trọng được liệt vào hàng đầu thế giới là đồng,

Trang 19

nhôm, chì, kẽm, niken, thiếc, antimon, thuỷ ngân, mangan và titan với tổng sản lượngkhoảng 19 triệu tấn năm với tỷ lệ gia tăng hàng năm 17,5 % và trở thành nước sảnxuất và tiêu thụ kim loại màu lớn nhất thế giới Trong những năm gần đây, TrungQuốc đã đầu tư cải tiến và đã đạt được những tiến bộ vượt bậc đáng kể về công nghệ

để sử dụng tổng hợp các nguồn tài nguyên, bao gồm cả tận thu các nguyên tố đi kèmcòn trong quặng thải, quặng đuôi mà trước đây không thể thu hồi được Chỉ tính riêngcác mỏ kim loại màu, tỷ lệ thu hồi quặng trong khai thác đã tăng từ 53,2 % (năm1980) lên 79,4 % (năm 2005), thực thu tuyển khoáng trung bình tăng từ 80,1 lên 84,1

% và thực thu khâu luyện kim đạt 95 %, tỷ lệ thu hồi các khoáng vật cộng sinh tăng

từ 38 lên 60 % Trung Quốc cũng đã thực hiện tuần hoàn tối đa “ba dạng chất thải”(khí thải, nước thải và chất thải rắn) Ngành kim loại Trung Quốc cũng đã đạt đượcnhững tiến bộ đáng kể trong việc tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu chất thải Trongnăm 2006, ngành công nghiệp kim loại màu Trung Quốc đã tiết kiệm trên 25 triệutấn than; 1,5 tỷ tấn nước và giảm hơn 1,2 tỷ tấn các loại chất thải rắn Trong năm

2005, Trung Quốc đã sản xuất được 310 tấn indium, 4.077 tấn cadmium, 10.605 tấnbismus, 18 tấn galli và trở thành nước đứng đầu thế giới về sản xuất các kim loại này,hầu như tất cả các kim loại trên đều được tận thu một cách triệt để từ các quá trìnhluyện các kim loại màu [15]

Nhằm tăng cường sử dụng tổng hợp tài nguyên khoáng sản một cách có hiệuquả, ủy ban Châu Âu (EU) cũng đã có Hướng dẫn số 2006/21/EU về quản lý chấtthải của ngành khai thác và chế biến khoáng sản, trong đó nhấn mạnh đến việc ngănngừa, giảm thiểu việc sản sinh ra các chất thải và giảm độc tính của chúng đặc biệt làvấn đề tăng cường tuần hoàn, thu hồi và tái sử dụng các chất thải [63]

Theo tác giả Naumova L.B., có thể thu hồi được tới 94 đến 98 % một số kimloại như Mo, Pb, Ni, Fe, Mn, Cr và khoảng 72 % vanadium từ nước thải ở các bãithan bùn ở khu vực Tomsk [36]

Từ nước thải các khu vực hoà tách vàng có nồng độ xyanua cao có thể xử lý đểthu hồi xyanua và các kim loại Xyanua được tái sử dụng lại trong quá trình xyanuahoá và hầu như toàn bộ nước thải được tuần hoàn, tái sử dụng, không thải ra môitrường [31]

Gần đây người ta đã hoà tách quặng đuôi tuyển chrysolite để thu được MgO vàMgCl2 [38] Tác giả Pradip và nhóm nghiên cứu (1987, 1990 và 1995) đã công bố cáckết quả nghiên cứu thành công của mình trong việc sử dụng quặng đuôi để tạo ra ximăng alinite có chất lượng tốt Từ quặng đuôi của vàng sa khoáng và chất thải giàuclo đã sản xuất được xi măng alinite khi nung ở nhiệt độ 1150 0C Thành phần quặng

đuôi gồm CaO 10 %; SiO2 50 %; Al2O3 10 %; MgO 10 % và Fe2O3 20 % Hợp chấtgiàu Clo (6-8 % khối lượng) trong hỗn hợp thô được tạo ra từ axit HCl và dung dịchthải CaCl2 ứng dụng quan trọng của xi măng alinite là tạo chất kết dính dạng viên(thay thế cho xi măng Portland) [37]

Ngoài ra, tác giả Singh và nhóm nghiên cứu năm 1997 đã công bố kết quả sảnxuất thành công loại xi măng đặc biệt chứa CaO-Al2O3-Fe2O3-SO4 gọi là xi măngsulfo-aluminate Loại xi măng này được sản xuất từ vôi bột, thạch cao và bùn đỏ

Trang 20

Mẫu bùn đỏ được sử dụng trong thử nghiệm này gồm có 33,1 % Fe2O3; 18,2 %

Al2O3, 8,8 % SiO2, 2,7 % CaO và 19,6 % TiO2 Vôi bột chứa 67,1% CaO; thạch caochứa 37,4% CaO; 53,4 % SO3; quặng thải chứa 16,5 % Fe2O3, 48 % Al2O3; 3 % SiO2

và 8,5 % TiO2 Từ bùn đỏ và quặng đuôi có thể tạo ra các loại xi măng aluminate chất lượng tốt nếu nung ở nhiệt độ 1250-13000C

sulfo-Quá trình thủy luyện bùn phosphat chứa uranium, radium và các nguyên tốhiếm khác có ý nghĩa quan trọng trong việc tận thu nguyên liệu và bảo vệ môi trường.Quá trình này đã được áp dụng để tận thu các nguyên tố có ích từ nước thải và bùnthải tuyển quặng phosphat ở Florida nơi mà 1/3 khối lượng khai thác quặng phosphat

được lưu trong các hồ thải khổng lồ chiếm hàng nghìn hecta đất Bùn thải này chứacacbonat fluorapatite (20-25 %), quắc-zít (30-35 %), montmonrilonite (20-25 %),attapulgite (5-10 %), wavelite (4-6 %), felpat, đolomite và một số khoáng vật thứ yếukhác

Vật liệu laterit-quặng crom được khai thác ở mỏ Sukinda (ấn Độ) chứa 0,4-0,9

% Ni; 0,02-0,05 % Co; 5-15 % Cr2O3 và 14-50 % Fe áp dụng công nghệ phân loại

và tách đãi có thể thu lại được hơn 65 % Ni

Cũng có thể thu được một số kim loại quý từ quặng đuôi đồng bằng phươngpháp trọng lực đơn giản Ví dụ, ở ấn Độ, trong một vài năm trước, Pitchblende - mộtkhoáng vật chứa uranium, được thu lại từ quặng đuôi đồng ở mỏ Rakha và Mosabani.Ngoài ra, tác giả Luszczkiewicz và nhóm nghiên cứu ở Ba Lan năm 1995 đã chứngminh khả năng thu hồi được các kim loại nặng như zircon, rutile, bari và các vật liệuchứa bạc, uranium và đất hiếm từ quặng đuôi đồng

Vào năm 1996, tác giả Pradip đề cập đến công nghệ có sẵn để thu hồi vonfram

có giá trị từ quặng đuôi mịn và rất mịn Phương pháp này bao gồm các công đoạntách trọng lực các hạt mịn, tách từ tính cao, đãi và sự kết tụ có chọn lọc và cácphương pháp tuyển khác nhau đã được áp dụng để thu được sản phẩm có chất lượngtương đối tốt

Mỏ quặng sắt Divrigi (Thổ Nhĩ Kỳ) hàng năm phải xử lý khoảng 2 triệu tấnquặng magnetite để thu được 1,6 triệu tấn quặng tinh cho luyện kim Quặng đuôi củanhà máy tuyển được thải ra ngoài theo 3 cấp hạt: cấp +4 mm; cấp 0,5-4 mm và cấp -0,5 mm Cấp -0,5 mm chứa khoảng 60 %; cấp -0,04mm được thải trực tiếp vào suốiCalti gây nên những vấn đề nghiêm trọng về môi trường sinh thái Theo đánh giá của

mỏ trong quặng đuôi cấp -4mm có chứa những kim loại có giá trị như đồng, niken vàcoban, vì thế người ta đã tiến hành nghiên cứu tận thu các kim loại này Với sơ đồcông nghệ gồm các công đoạn nghiền, tuyển nổi và tuyển từ đã tận thu đượcmagnetite và quặng tinh các khoáng sunphua Quặng tinh sunphua được nungsunphat hoá sau đó kết tủa để thu được đồng, niken và coban [37]

Một số công nghệ mới đã được áp dụng như hoà tách các quặng thải nghèohoặc các bãi thải ở một số nước, công nghệ tuyển quặng bằng phương pháp vi sinhcũng đang được áp dụng để tuyển quặng nghèo Trong thực tế, nhiều bãi chứa quặngthải hay quặng đuôi đang được khai thác lại để tận thu các nguyên liệu có ích mà

Trang 21

của một số loại khoáng sản cũng đã được nghiên cứu sử dụng là nguyên liệu cho một

số lĩnh vực sản xuất khác nhau, đặc biệt chúng được sử dụng khá phổ biến để làm

đường và làm vật liệu xây dựng

I.2.2 Kinh nghiệm về hoàn thổ phục hồi môi trường

I.2.2.1 Kinh nghiệm về hoàn thổ phục hồi môi trường của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khai thác Vàng Terra Gold, Australia [20]

ở Australia, các công ty khai thác mỏ trước khi bắt đầu khai thác phải lập kếhoạch đóng cửa mỏ và hoàn thổ phục hồi môi trường, tuân thủ theo các nguyên tắc vàmục tiêu của Khung hành động chiến lược cho quá trình đóng cửa mỏ của Hội đồngKhoáng sản và Năng lượng Australia và NewZealand Các yêu cầu cho hoàn thổ phụchồi môi trường và đóng cửa mỏ được trình bày trong kế hoạch đóng cửa và hoàn thổphục hồi môi trường Đề cương kế hoạch đóng cửa và hoàn thổ phục hồi môi trường

sẽ được đệ trình lên Sở Công nghiệp cơ bản, Đánh bắt cá và Khai thác khoáng sản

Kế hoạch đóng cửa mỏ và hoàn thổ phục hồi môi trường là một phần của kế hoạchkhai thác khoáng sản

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khai thác vàng Terra Gold (Terra Gold) trựcthuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khai thác vàng GBS của Australia đang chuẩn bị

kế hoạch khai thác tại Mỏ Maud Creek gần Katherine thuộc Lãnh thổ Bắc Australia.Terra Gold dự định bắt đầu khai thác từ tháng 9/2009 và sẽ đạt công suất khai thác

100 % vào giữa năm 2010 và khai thác trong vòng 10 năm Terra Gold đã tuân thủtheo các yêu cầu về lập kế hoạch đóng cửa mỏ và hoàn thổ phục hồi môi trường saukhi kết thúc khai thác Công ty lập kế hoạch quan trắc sau khi đã đóng cửa mỏ trongvòng 5 năm để đảm bảo khu vực sau khi đóng cửa mỏ ổn định không có ảnh hưởng

đến môi trường Thời gian 5 năm này đủ cho công tác tái phủ xanh được hoàn tất và

đất đai đã ổn định trở lại Công tác giám sát này sẽ kết thúc khi quá trình hoàn thổphục hồi môi trường của khu vực được sự chấp thuận của Sở Công nghiệp Cơ bản,

Đánh bắt cá và Khai thác Khoáng sản

Các công việc cần thực hiện trong quá trình hoàn thổ phục hồi môi trường

Hoàn thổ phục hồi môi trường cho vùng đất bị tác động được thực hiện từ giai

đoạn mỏ đang khai thác đến khi mỏ đóng cửa Công ty Terra Gold đã lập kế hoạchmột số công việc sau đây cần thực hiện và phương pháp thực hiện:

- Đối với hố khai trường lộ thiên: xây dựng đê/đập/rào chắn cho an toàn xungquanh khai trường;

- Đối với giếng hầm lò: xây đê/đập/rào chắn cho an toàn xung quanh giếng và lấpmiệng giếng để ngăn sự xâm nhập của người và súc vật;

- Đối với khu vực lưu giữ quặng thải như bãi đất đá trong quá trình mở mỏ: Càyxới/đánh luống sâu sau đó gieo hạt trồng cây rừng hoặc làm đồng cỏ;

- Các cơ sở hạ tầng khác (đường trong mỏ, văn phòng, nhà xưởng, ao lắng, khochứa nhiên liệu, v.v): Sẽ di dời các cơ sở hạ tầng đó và đất bị ô nhiễm vào trong

Trang 22

khu vực hoàn thổ khai trường lộ thiên và phủ đất đá thải sạch lên Khu vực nàysau đó sẽ được đánh luống và trồng cây hoặc là giữ nguyên trạng.

Công ty Terra Gold sẽ đảm bảo:

- Giữ lại lớp đất mặt nếu có thể và sẽ dùng làm lớp phủ trên mặt cho đất ở các khuvực đã bị đào xới như đê/đập chắn và rãnh thoát nước

- Phát quang lớp thực vật nếu có thể và sử dụng như bẫy trầm tích để dẫn dòngchảy mặt ra ngoài khu vực mỏ

- Tiến hành hoàn thổ phục hồi môi trường, tái phủ xanh bằng các loại cây phù hợptheo đề nghị của Sở Công nghiệp Cơ bản, Đánh bắt cá và Khai thác Khoáng sản,hoặc các loại cây rừng phổ biến thông thường đã được xác định trong nghiên cứuthực vật nền

- Tiến hành hoàn thổ phục hồi môi trường đợt cuối cùng của khu mỏ khi mỏ đóngcửa, xây dựng kế hoạch kiểm soát trầm tích và xói mòn cụ thể và tái phủ xanhkịp thời tất cả các vùng đất trống để đảm bảo ít nhất 50 % khu vực được phủxanh trong mùa mưa đầu tiên sau khi kết thúc khai thác

- Xác định và xử lý các vấn đề về ô nhiễm trong khu vực khai thác

Sử dụng đất sau quá trình khai thác và cảnh quan khu vực

Cùng với tư vấn của chủ đất, khu vực khai thác sẽ được sử dụng trở lại thành đấtchăn thả gia súc Mục tiêu ban đầu của đóng cửa mỏ là làm khu vực sau khai thác trởthành nơi thích hợp cho chăn thả gia súc Vì mỏ cách Công viên Quốc gia Nitmiluk 1

km nên khi lập kế hoạch cần chú ý giữ nguyên khoảng cách đó

Khu vực bị ảnh hưởng bởi các hoạt động khai thác được phân loại thành đất cókhả năng và không có khả năng hồi phục được Các khai trường lộ thiên và các giếng

mỏ hầm lò được coi như vùng không hoàn phục được, do vậy sẽ được làm ổn định và

an toàn Tuy nhiên các hố khai trường lộ thiên cũng có thể sử dụng làm hồ chứa nướcsinh hoạt

Kế hoạch sử dụng đất sau khai hoàn thổ phục hồi môi trường như sau:

o Với các hố khai trường lộ thiên và giếng mỏ hầm lò: Làm đất khu vực này

ổn định cả về tính cơ lý và hóa học Khai trường lộ thiên sẽ ngập nước tựnhiên và là nguồn nước cho các loài chim hoặc gia súc chăn thả

o Với các khu vực có cơ sở hạ tầng mỏ: Trồng các loài cây bản địa hoặc cỏcho chăn thả gia súc

o Các bãi đất đá thải: Trồng cây savan để bảo tồn thiên nhiên

o Các cơ sở hạ tầng khác (gồm khu vực văn phòng, kho, v.v): Trồng savan

và cỏ cho mục đích chăn thả gia súc

Xác định mục tiêu đóng cửa mỏ và các cam kết

Trừ khai trường lộ thiên và các giếng hầm lò cùng với cơ sở hạ tầng cho tướitiêu, sẽ không có các hạ tầng cơ sở lâu dài nào còn tồn tại khi đóng cửa mỏ Tuy

Trang 23

nhiên, một số hạ tầng đặc biệt cho khai thác có thể được giữ lại để sử dụng, phụthuộc vào tư vấn của chủ đất trong quá trình khai thác mỏ.

Các mục tiêu cụ thể mà Công ty Terra Gold sẽ lựa chọn cho quá trình đóng cửamỏ:

o Bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe và an toàn của cộng đồng bằng sử dụngcác biện pháp an toàn và đáng tin cậy;

o Giảm thiểu các tác động môi trường tiềm tàng như các tác động lên nước mặt,nước ngầm sau khi đã kết thúc khai thác;

o Di dời chất thải nguy hại ra khỏi khu vực mỏ;

o Tái tạo lại cảnh quan khu vực giống với cảnh quan khu vực xung quanh trongkhả năng có thể;

o Nước ở hạ nguồn khu vực mỏ đạt tiêu chuẩn Australia và New Zealand vềchất lượng nước;

o Tái phủ xanh bằng loại thực vật dễ sống, cung cấp nơi cư ngụ cho động-thựcvật địa phương và ổn định lâu dài, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên trước kia đã

bị ảnh hưởng do khai thác theo như đề xuất sử dụng đất sau khi kết thúc khaithác mỏ;

o Triển khai kế hoạch sử dụng đất sau khi đóng cửa mỏ, chú ý tới các sử dụng

có ích của khu vực và các vùng đất xung quanh (sử dụng chủ yếu là cho mục

đích chăn thả gia súc, cộng với Công viên Quốc gia Nitmiluk ở phía bắc);

o ổn định lâu dài về chất thải rắn với thảm thực vật dễ sống và giảm xói mòn;

o Mỏ sau khi đóng cửa trở thành khu vực an toàn đối với cộng đồng;

o Giảm công tác quan trắc về lâu dài bằng việc làm ổn định các khu vực đãhoàn thổ phục hồi môi trường

Thêm vào đó Công ty Terra Gold cũng sẽ xem xét thực hiện bất cứ yêu cầu nàotrong Đánh giá tác động môi trường, các yêu cầu của Kế hoạch Quản lý Mỏ (đượchình thành trước khi mỏ hoạt động), yêu cầu về pháp luật của vùng lãnh thổ và củaLiên bang, bất cứ cam kết nào đối với chủ đất trước đây, Khung hành động chiếnlược về Đóng cửa Mỏ của ủy ban Khoáng sản và Năng lượng Australia và NewZealand, Sở Công nghiệp Cơ bản, Đánh bắt cá và Khai thác Khoáng sản, Chươngtrình Phát triển Bền vững và Các biện pháp hàng đầu về Du lịch và Tài nguyên, đặcbiệt là Sổ tay Hướng dẫn về Đóng cửa mỏ và Hoàn thổ Phục hồi Môi trường

Tham gia của cộng đồng

Trong quá trình chuẩn bị Kế hoạch đóng cửa mỏ và hoàn thổ phục hồi môitrường, một chiến lược về truyền thông sẽ được triển khai Thành phần cơ bản củachiến lược truyền thông trong quá trình chuẩn bị Kế hoạch đóng cửa mỏ và Hoàn thổphục hồi môi trường sẽ là cơ sở của việc tạo ra sự đồng thuận cho việc đóng cửa mỏ

và hoàn thổ phục hồi môi trường một cách hiệu quả

Các chỉ thị hoặc tiêu chuẩn sau đây đã được đề xuất:

Trang 24

o Số liệu về chất lượng nước sông suối trong khu vực không quá khác biệt sovới số liệu về chất lượng nước nền của khu vực trong suốt mùa mưa;

o Nước trong các khai trường lộ thiên sau khai thác có thể sử dụng làm nướcuống cho các loài chim và sử dụng cho tưới tiêu hoặc chăn nuôi gia súc;

o Các khu vực trong mỏ được hoàn thổ phục hồi môi trường theo các bước đề ratrong Kế hoạch đóng cửa mỏ và Hoàn thổ phục hồi môi trường;

o Tốc độ xói mòn ở khu vực bị ảnh hưởng do khai thác mỏ cũng tương đươngtốc độ xói mòn ở khu vực có cảnh quan tự nhiên tương tự;

o Thảm thực vật được hình thành theo tiêu chuẩn đã đưa ra trong Kế hoạch

đóng cửa mỏ và Hoàn thổ phục hồi môi trường

Lập kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường

Kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường chi tiết sẽ áp dụng các hướng dẫn sau

đây:

o Chỉnh lại độ dốc địa hình;

o Gieo hạt khi điều kiện đất đai khu vực thuận lợi, gieo hỗn hợp các hạt giống

địa phương phù hợp cho việc chăn nuôi gia súc;

o Khu vực gieo hạt được trồng thêm gỗ rừng savan (như bãi đất đá thải) với hỗnhợp các loại cây thông thường và các loại cây rừng địa phương phổ biến đã

được xác định trong các cuộc khảo sát thực vật nền;

o Xây đập chắn cho khai trường lộ thiên và giếng lò, làm hàng rào đảm bảo antoàn cho người dân và gia súc;

o Giữ lại các hạ tầng cơ sở sẽ phục vụ cho quá trình sử dụng đất làm đồng cỏ(phụ thuộc vào tư vấn của chủ đất trong quá trình khai thác mỏ);

o Di dời các cơ sở hạ tầng khai thác mỏ khác trong khu vực khi kết thúc khaithác

Xác định vùng đất bị ô nhiễm và hồi phục hoặc xử lý bằng cách chèn lấp trongkhai trường lộ thiên cùng với lớp đất đá thải không có khả năng gây ô nhiễm hoặctrong trường hợp chất thải nguy hại thì cần xử lý trong khu vực xử lý thích hợp riêngbiệt Những khu vực không thích hợp cho hoàn thổ phục hồi môi trường sẽ được ràochắn để ngăn ngừa sự xâm nhập của gia súc và người dân

Đối với khai trường khai thác

Mục tiêu hoàn thổ phục hồi môi trường cho các khai trường lộ thiên, giếng mỏhầm lò chủ yếu là nhằm làm giảm sự xâm nhập của cộng đồng và gia súc vào khuvực mỏ đã bị bỏ hoang, đảm bảo tính ổn định lâu dài cho toàn bộ khu vực Tuy nhiên,cần chuyển hướng dòng chảy mặt vào các hố khai trường lộ thiên và xây dựng các bờthoải cho hố khai thác để dễ lấy nước tưới tiêu Làm hàng rào cho các hố khai thác đểtránh tai nạn rủi ro cho người và súc vật Các hố khai thác có thể không làm hàng rào

để gia súc có thể xuống uống nước, phụ thuộc vào tư vấn của chủ mỏ trong quá trình

mỏ hoạt động, nhưng cũng cần chú ý đến sự an toàn

Trang 25

Bãi đất đá thải

Công ty Terra Gold sẽ hoàn thổ phục hồi môi trường cho các bãi thải đất đá.Terra Gold sử dụng đất đá thải để xây dựng đường giao thông vào mỏ, phần bãi thảichứa đất đá thải còn lại sẽ được cải tạo lại hình dáng cho hài hoà với cảnh quan xungquanh và tái phủ xanh Các thí nghiệm địa hóa đã xác định đất đá thải đó không cókhả năng sinh axit dựa vào hàm lượng nhỏ sunphua trong đất đá thải và khả năngtrung hòa axit cao

Khi đóng cửa mỏ, các đập nước bãi thải sẽ bị phá bỏ, khu vực được cải tạo lại

và tái phủ xanh với các loại cây savan rừng Mục tiêu sử dụng đất cuối cùng của bãithải đất đá là trở thành đồng cỏ Mặc dù các bãi thải đất đá chứa nhiều thành phần đá

và độ dốc không phù hợp của bãi thải sẽ gặp khó khăn trong việc cải tạo thành đồng

cỏ nhưng có thể cải tạo các bãi thải đất đá để trồng cây gây rừng sẽ đem lại giá trịtích cực về mặt môi trường

Bãi chứa quặng

Bất cứ loại nguyên vật liệu từ bãi chứa quặng có khả năng bị phong hóa sẽ đượcdùng để chèn lấp khai trường lộ thiên kết hợp phủ lấp với loại vật liệu không có khảnăng gây ô nhiễm, tuân theo các hướng dẫn về quản lý chất thải mỏ có chứa cáckhoáng vật sunphua Sau khi di dời loại vật liệu này, các bãi chứa quặng sẽ được cảitạo hình dáng, cảnh quan, đánh luống sâu và gieo hạt trồng rừng hoặc trở thành đồngcỏ

Khu vực tưới tiêu

Cơ sở hạ tầng phục vụ tưới tiêu sẽ được giữ nguyên ở các khu vực hoàn thổphục hồi môi trường thành đất đồng cỏ

Các cơ sở hạ tầng khác

Cơ sở hạ tầng không còn phù hợp cho các mục đích sử dụng tiếp theo sẽ được

di dời ra khỏi khu mỏ Làm vụn các tấm bê-tông dùng để lấp khai trường lộ thiên, sau

đó phủ với lớp vật liệu chèn lấp không gây ô nhiễm Khu vực đất trống sẽ được cảitạo và tái phủ xanh theo hướng dẫn kỹ thuật của Cục Bảo vệ Môi trường Australianhư: xẻ rãnh, đánh luống, gieo hạt ngay trước khi mùa mưa bắt đầu

Thiết kế cảnh quan cho khu vực cần hoàn thổ phục hồi môi trường

Cần thiết kế cảnh quan cho khu vực đất cần hoàn thổ phục hồi môi trường sẽtuân theo hướng dẫn của Cục Bảo vệ môi trường Australia Vật liệu dùng để phủ sẽ

được nghiên cứu đánh giá để đảm bảo vật liệu ít có nguy cơ hình thành dòng axit mỏ.Giám sát sự ổn định của cảnh quan trong suốt quá trình hoàn thổ phục hồi môi trườngsau khi đóng cửa mỏ Giải quyết tất cả các vấn đề đã được xác định trong kế hoạchhoàn thổ phục hồi môi trường

Chiến lược tái phủ xanh

Chiến lược tái phủ xanh nhằm đảm bảo nhanh chóng phủ xanh các vùng đất bịtác động trước khi mùa mưa đầu tiên đến sau khi mỏ kết thúc khai thác và để phủxanh giống như các vùng đất lân cận trong khu vực Loại vật liệu dùng để phủ lấp có

Trang 26

ảnh hưởng đến chất lượng đất trồng, do đó sẽ đánh giá được các yếu tố hạn chế quátrình tái phủ xanh và sẽ được cải tạo theo yêu cầu để đảm bảo quá trình tái phủ xanhthành công.

Kiểm soát thực vật trong quá trình tái phủ xanh nhằm kiểm soát sự phát tán củathực vật tới khu vực công viên quốc gia gần đó và các khu vực gần kề Khảo sát vềthực vật cho vùng mỏ sẽ được thực hiện trong quá trình hoạt động và trong giai đoạnhoàn thổ phục hồi môi trường sau khi đóng cửa mỏ để đánh giá phạm vi và các vấn

đề về thực vật để tập trung kiểm soát Sẽ tiến hành kiểm soát các loài thực vật vàquản lý cháy rừng cho khu vực cần phủ xanh

o Chất lượng nước trong khu vực

o ô nhiễm trong khu vực

Tiêu chuẩn đóng cửa mỏ sẽ được thiết lập và được rà soát lại trong suốt quátrình khai thác mỏ Tuy nhiên về nguyên tắc, khu vực sẽ được giữ nguyên hiện trạngnếu không gây mất mỹ quan và không gây tác động môi trường nghiêm trọng vàcũng thỏa mãn mục tiêu sử dụng đất một cách có hiệu quả Chương trình quan trắc sẽ

được thiết kế để xác định xem hoàn thổ phục hồi môi trường có tuân theo các mụctiêu về đóng cửa mỏ hay không

- Quan trắc chất lượng nước mặt

Quan trắc chất lượng nước mặt trong khu vực để đánh giá mức độ thỏa mãn theocác Hướng dẫn về chất lượng nước của ủy ban Môi trường và Bảo tồn Australia vàNew Zealand hay không Ngoài ra còn đánh giá các tác động dựa vào thông số của khuvực thượng nguồn (thông số nền) và hạ nguồn (bị tác động) của khu mỏ

- Quan trắc chất lượng nước ngầm

Các lỗ khoan dùng trong quan trắc nước ngầm sẽ được sử dụng lấy mẫu phântích Chất lượng nước ngầm sau khi đóng cửa mỏ cần thỏa mãn Hướng dẫn của ủyban Môi trường và Bảo tồn Australia và New Zealand về nước sinh hoạt Việc quantrắc chất lượng nước ngầm được tiến hành trước khi bắt đầu, trong và sau khi kết thúckhai thác Quan trắc nước ngầm sẽ được mở rộng phạm vi sang khu vực đất nôngnghiệp gần đó Hàng tháng đo đạc mực nước ngầm, hàm lượng kim loại và các thông

số chung khác trong mẫu nước từ các hố khoan Các phân tích hóa lý về chất lượngnước cần bao gồm các chỉ tiêu về anion, cation, các kim loại và các thông số chungkhác của các mẫu lấy từ toàn bộ các hố khoan trong vòng 6 tháng

- Quan trắc quá trình hoàn thổ phục hồi môi trường

Trang 27

Khu vực hoàn thổ phục hồi môi trường sẽ được kiểm tra và chụp ảnh hàng năm

để xem xét mức độ thành công của quá trình hoàn thổ phục hồi môi trường Tiêuchuẩn đánh giá hiệu quả của quá trình tái phủ xanh do Công ty Terra Gold đề nghịbao gồm:

o Mật độ phủ xanh đạt trên 50 % so với mật độ phủ xanh tự nhiên trước khikhai thác;

o Khu vực cần phủ xanh có sự đa dạng của các loài thực vật rừng thông thường;

o Sử dụng phương pháp quan trắc Phân tích Chức năng Hệ Sinh thái (đã sửdụng ở các khu mỏ khác ở Lãnh thổ phía Bắc, Miền Tây Australia vàQueensland) cho các hệ sinh thái chức năng trong khu vực cần hoàn thổ phụchồi môi trường;

o Khả năng hồi phục của thực vật khi hỏa hoạn – quan trắc sự tái sinh của thựcvật sau khi cháy rừng;

o Kiểm soát khả năng tương thích của thực vật khu vực hoàn thổ phục hồi môitrường với thực vật ở khu vực xung quanh

- Quan trắc thảm thực vật

Phân loại thực vật và phân bố thực vật trong khu vực cần hoàn thổ phục hồi môitrường trong giai đoạn đóng cửa mỏ sẽ được bản đồ hóa sử dụng các biện pháp thíchhợp và sẽ được báo cáo trong Kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường Sẽ đệ trình lênChi nhánh Thực vật của Sở Tài nguyên Khoáng sản, Môi trường và Nghệ thuật về báocáo khảo sát thực vật trước khi kết thúc khai thác mỏ Mục tiêu của báo cáo nhằm

đánh giá sự tuân thủ theo các tiêu chuẩn về kiểm soát thực vật trong khu vực lân cậnmỏ

- Quan trắc cháy rừng

Các khu vực cần hoàn thổ phục hồi môi trường sẽ được bảo vệ về cháy rừngtheo như Kế hoạch Quản lý Cháy rừng của Công ty Terra Gold ít nhất trong vòng 5năm Mục đích của kế hoạch nhằm ngăn ngừa cháy rừng

- Tính toán về mức độ an toàn

Công ty Terra Gold sẽ tính toán các yêu cầu về an toàn dựa trên tiêu chuẩn

được xác định trong Kế hoạch đóng cửa mỏ và hoàn thổ phục hồi môi trường, sửdụng các Hướng dẫn được Sở Công nghiệp cơ bản, Đánh bắt Cá và Khai thác Khoángsản ban hành

Các tính toán về an toàn sẽ bao gồm:

o Tính toán diện tích khu vực bị tác động sau khai thác;

o Xác định các tiêu chuẩn cho đóng cửa mỏ trước khi tính toán mức độ an toàn

Trang 28

kết trong Báo cáo Đánh giá Môi trường, Kế hoạch Quản lý khai thác Mỏ, Kếhoạch đóng cửa mỏ và hoàn thổ phục hồi môi trường);

o Tính toán các chi phí liên quan đến các hoạt động đó theo Báo cáo Tư vấnPA6-009 (Thủ tục tự đánh giá) và PA6-008 (Thủ tục tính toán an toàn) của SởKhai thác

Tính toán các chi phí sẽ dựa trên chi phí về nhân lực và thiết bị bao gồm các chiphí cố định và lưu động Nếu cần nhà thầu địa phương có kinh nghiệm thực hiện côngtác hoàn thổ phục hồi môi trường thì sẽ đấu thầu để thực hiện công tác này Tính toánnày cũng có thể được rà soát lại khi có những thay đổi lớn trong quá trình hoạt độngkhai thác mỏ để đảm bảo phản ánh được các hoạt động của mỏ

I.2.2.3 Kinh nghiệm hoàn thổ phục hồi môi trường ở Mỏ Kim loại Kam Kotia bang Ontario, Canada [22]

Mỏ kim loại Kam Kotia ở gần thành phố Tammins ở phía Đông Bắc tỉnhOntario (tỉnh lớn thứ hai ở Canada, sau Quebec) Mỏ bắt đầu khai thác đồng, kẽm vàvàng, bạc thứ sinh vào đầu những năm 1940, chủ yếu là khai thác lộ thiên và đếnnhững năm 1960-70 thì chủ yếu khai thác hầm lò Mỏ đóng cửa từ năm 1972 Đây

được coi là mỏ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất của Ontario

Trong khoảng thời gian mỏ hoạt động, 6 triệu tấn quặng đuôi giàu sunphua đã

được thải vào 3 khu vực chứa quặng đuôi riêng biệt, trong đó 2 khu vực không có

đê/đập ngăn và chiếm diện tích hơn 500 hecta đất Đó là các khu vực: (i) Hồ thảiquặng đuôi không có đập chắn phía Bắc (NUT) nằm ở đông bắc mỏ,); (ii) Hồ thảiquặng đuôi có đập chắn phía Bắc (NIT) nằm ở tây bắc mỏ và (iii) Hồ thải quặng đuôikhông có đập chắn ở phía Nam (SUT) nằm ở phía nam mỏ Dòng axit mỏ (với độ pH2-3) và kim loại nặng thất thoát từ 3 bãi thải quặng đuôi trên đã gây ô nhiễm nghiêmtrọng tới đất đai xung quanh và đe dọa ô nhiễm nguồn nước mặt và ngầm trong khuvực

Ngoài ra các vấn đề môi trường khác ở Mỏ Kam Katia như ô nhiễm do bụi, mất

mỹ quan và các hiểm họa do sụt lún ở giếng mỏ chính, khai trường lộ thiên và cộtchống lò cũng rất đáng quan tâm Khu vực phía Nam mỏ, toàn bộ thảm thực vật chephủ đã bị hủy diệt do tác động của dòng thải axit trong nhiều năm Dòng thải axit từSUT đã đổ vào sông Kamiskotia ở phía Nam mỏ, gây ra tác động nghiêm trọng tớisinh vật thủy sinh nơi đây và độ pH nước sông đã xuống dưới pH 3 Khu vực phíaBắc và Đông Bắc mỏ cũng có các tác động tương tự do dòng thải axit từ NUT và sôngKamiskotia ở phía Bắc mỏ cũng đã bị ô nhiễm trầm trọng

Lập kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường cho Mỏ Kam Katia

Công ty Tư vấn Trách nhiệm hữu hạn SENES đã giúp Bộ Mỏ và Phát triển miềnBắc bang Ontario thực hiện lập kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường cho mỏ vàonăm 2000-2001 Sau khi đã xem xét kỹ lưỡng các phương án của kế hoạch hoàn thổphục hồi môi trường ở khu vực này, Công ty tư vấn SENES đã chọn kế hoạch nămgiai đoạn (A, B, C, D và E) để hoàn thổ phục hồi môi trường cho Mỏ Kam Kotia,trong đó mỗi giai đoạn kéo dài khoảng một năm và hoàn thổ phục hồi môi trường cho

Trang 29

từng khu vực riêng biệt Tổng chi phí dự kiến để hoàn thành toàn bộ công tác hoànthổ phục hồi môi trường ước tính khoảng 41 triệu USD Dựa vào các đề nghị và tínhtoán kinh phí của Công ty tư vấn SENES, chính quyền bang Ontario đã cam kết hoànthành Giai đoạn A và B Tháng 1/2001, hợp đồng thực hiện công tác kỹ thuật vàchuẩn bị kế hoạch thiết kế cho hai giai đoạn này được giao cho Công ty Trách nhiệmhữu hạn Kỹ thuật Wardrop.

Trong Giai đoạn A, giai đoạn đầu tiên của công tác hoàn thổ phục hồi môitrường, một Nhà máy xử lý bằng Vôi để xử lý dòng thải axit được xây dựng và hoànthành vào tháng 7/2002 (Hình 3) Nhà máy vận hành một phần dưới sự quản lý củamột trong số các công ty tham gia xây dựng nhà máy Nhà máy này được thiết kế vậnhành ít nhất 50 năm hoặc có thể lâu hơn nếu kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường

5 giai đoạn không được hoàn thành Trong giai đoạn này, xây dựng một đập thải chokhu vực bãi thải NUT, bao gồm việc làm ổn định và gia cố đập “Bắc-Nam” hiện có.Khu vực đập thải có đê bao mới này được thiết kế với khả năng thu giữ toàn bộ quặng

đuôi còn lại trong khu vực không có đê bao Quặng đuôi này sẽ được di dời vào khuvực đập thải mới trong các giai đoạn tiếp theo của hoàn thổ phục hồi môi trường và sẽ

được xử lý bằng cách trung hòa với vôi và sau đó đập thải có đê bao mới sẽ được làmngập nước thành vùng đất ngập nước

Giai đoạn B dự kiến di dời khoảng 330 nghìn tấn quặng đuôi ở SUT sang khuvực hồ thải mới NUT, sau đó quặng đuôi được trộn với vôi để trung hòa Sau khicông tác này hoàn thành, sẽ hạn chế tối đa các tác động lên khu vực phía Nam và TâyNam khu vực mỏ - nơi có dân cư sinh sống

Việc sử dụng sản phẩm “Envirolime” dùng để trung hòa dòng thải axit từ quặng

đuôi thay cho sử dụng vôi khô thông thường đã tiết kiệm một khoản chi phí lớn Mặc

dù chỉ tiêu tiêu hao Envirolime lớn hơn một chút so với vôi khô nhưng chi phí sửdụng Envirolime trên đơn vị khối lượng cần xử lý rẻ bằng một nửa so với dùng vôikhô Thành phần của Envirolime gồm: CaO (63-75 %), MgO (1-8 %) và SiO2 (1-2

%)

Giai đoạn C: di dời nốt quặng đuôi của khu vực bãi thải NUT vào đập thải NUTmới Dự kiến giai đoạn này thực hiện vào mùa đông 2003- 2004 Việc di dời này phảithực hiện trong mùa đông để thiết bị bốc xúc dễ vận chuyển trên bề mặt bãi thải.Theo thiết kế thì khối lượng quặng đuôi cần phải di dời trong giai đoạn này nhiều gấp2,5 lần khối lượng quặng đuôi cần di dời trong giai đoạn B, do vậy kế hoạch sẽ thựchiện giai đoạn này trong vòng 2 năm

Giai đoạn D: chủ yếu là hoàn thổ phục hồi môi trường cho nước thải rò rỉ ở phíaBắc, phía Đông và suối nước thải ở phía Đông Bắc mỏ

Giai đoạn E: là giai đoạn hoàn thổ phục hồi môi trường cuối cùng của khu vực

và cũng có khả năng là gian đoạn tốn kém nhất Giai đoạn này bao gồm một số việcnhư sau:

o Gia cố lại hồ thải quặng đuôi NIT;

o Phủ lớp phủ kỹ thuật lên trên quặng đuôi ở NIT;

Trang 30

o Làm ngập nước khu vực bãi thải NUT;

o Hoàn thổ phục hồi môi trường cho các sự cố có thể xảy ra đối với khai trường

lộ thiên, các cột chống lò và giếng mỏ chính

Thực thi kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường ở Mỏ Kam Katia

- Hoàn thổ phục hồi môi trường giai đoạn A

Giai đoạn này chia làm 2 dự án:

o Dự án 1: làm rãnh thoát nước cho khu vực thải NIT, xây nhà để bơm và Nhàmáy xử lý bằng Vôi

o Dự án 2: bao gồm công tác chuẩn bị đá và hố sét cùng với việc xây dựng đậpthải NUT mới và gia cố đập thải phía Bắc

Các chi phí cho các dự án giai đoạn A là hơn 9,8 triệu USD Giai đoạn A bắt

đầu vào tháng 10/2001, dự định kết thúc vào cuối tháng 3/2002 nhưng do dự án 2 gặpvấn đề khó khăn trong triển khai xây dựng các hố sét vì thời tiết mùa đông ấm hơnbình thường, do vậy dự án 2 bị kéo dài tới mùa hè 2002 mới hoàn thành

Khi bắt đầu xây dựng đập thải thì phát hiện ra thông tin cung cấp trong bản đấuthầu còn thiếu và cần khoảng 400 nghìn USD để mua vật liệu bổ sung cho đập thảiNUT do độ cao của đê bao thực tế thấp hơn so với tính toán ban đầu Vì không đượcphép để kinh phí vượt quá dự tính nên chính quyền đã quyết định chuyển sang phủlớp đất mặt và gieo hạt ở khu vực đập thải NUT và đập thải Bắc-Nam Do đó dự án 2hoàn thành vào 18/7/2003 mà chi phí không bị vượt quá

Dự án 1 cũng gặp phải khó khăn riêng Vấn đề nảy sinh cả trong giai đoạn xâydựng và trong quá trình hoạt động của Nhà máy xử lý bằng Vôi với việc chọn loạibơm Còn có một số thay đổi nữa như xây dựng các ống dẫn cho cửa cống thải bùn

Do vậy, chi phí cho dự án này đã tăng gấp 3 lần chi phí tính toán trong khi đấu thầu

Để giảm bớt các chi phí vượt trội đó, việc thực hiện phần di dời quặng đuôi ở phíaBắc của khu vực bãi thải SUT được chuyển sang giai đoạn B, do đó dự án 1 hoànthành vào 30/3/2002 đúng tiến độ mà không có chi phí phụ trội

- Hoàn thổ phục hồi môi trường giai đoạn B:

Công tác hoàn thổ phục hồi môi trường giai đoạn này thông qua hai hợp đồng

ký vào tháng 9/2002 và tháng 10/2002 do hai công ty đảm nhiệm Công ty Tráchnhiệm hữu hạn Alarie and Sons của thành phố Timmins trúng thầu hợp đồng xâydựng trong giai đoạn này Còn hợp đồng quản lý dự án do Công ty Tư vấn Kỹ thuậtD.F Elliot và New Liskeard thực hiện Tuy nhiên, do kinh phí đầu tư đã bị gộp chunggiữa giai đoạn A và B nên chi phí thầu của hai công ty đã vượt quá tổng kinh phí

được phân bổ là gần 143 nghìn USD Do vậy mà Bộ Mỏ và Phát triển miền BắcOntario và hai công ty đấu thầu đã tìm cách cắt giảm chi phí của giai đoạn B xuốngbằng cách duy nhất là hạn chế khối lượng quặng đuôi thực tế cần chuyển đi, tức làchỉ chuyển đi một diện tích mỏng hơn xung quanh vành đai của hồ thải quặng đuôiSUT với hy vọng là quặng đuôi ở đây đã hết khả năng hình thành dòng thải axit

Trang 31

Giai đoạn B đã khởi động một cách chậm chạp Công ty Alarie chờ cho điềukiện thời tiết (cụ thể là chờ có băng giá) để vận chuyển thiết bị bốc xúc trên bề mặtquặng đuôi dễ dàng hơn Không may là thời tiết năm đó không thuận lợi vào đầu mùa

đông: có ít tuyết và nhiệt độ cao hơn bình thường Do vậy, công tác bốc xúc và vậnchuyển quặng đuôi có thể sẽ không thực hiện được theo đúng kế hoạch (tức là vàocuối tháng 3)

Tuy nhiên, may mắn cho dự án là miền Bắc Ontario có một giai đoạn băngtuyết hoạt động mạnh từ giữa tháng 1 đến hết tháng 2 Để vận chuyển 330.000m3

quặng đuôi ở SUT sang NUT, kế hoạch ban đầu của công ty Alarie là di chuyển 6000

m3 quặng đuôi mỗi ngày Nhưng do sợ bị chậm tiến độ nên Công ty Alarie đã quyết

định hoạt động 2 ca, mỗi ca 12 tiếng, làm việc 7 ngày/tuần và sử dụng nhiều thiết bịtại hiện trường Do đó, mỗi ngày di dời được 9000 m3 quặng đuôi và tổng số 340 000

m3 quặng đuôi được Công ty Alarie di dời sang khu vực bãi thải NUT Chỉ còn lạiduy nhất quặng đuôi ở xung quanh cột thủy điện ở SUT và quặng đuôi ở phía trên

đường ống dẫn từ nhà bơm đến Nhà máy xử lý bằng Vôi Toàn bộ quặng đuôi còn lạicủa SUT đã được di dời sang NUT

Công ty đã tiết kiệm được chi phí từ việc giảm khối lượng quặng đuôi cần phải

di dời, giảm công tác phát quang và đánh luống bằng và không gieo hạt cho khu vựcbãi thải SUT Việc cắt giảm quá trình gieo hạt cũng đã nằm trong kế hoạch trước khikhởi động công tác hoàn thổ phục hồi môi trường và đã được sự đồng ý của dân địaphương Hơn nữa, Công ty Alarie cũng cho rằng do điều kiện thời tiết khắc nghiệtvào cuối tháng 2 nên hạt giống cũng không thể được tra sâu vào trong lớp đất bùn để

đảm bảo sống sót được Tuy nhiên, kế hoạch ngừng gieo hạt cũng hợp lý do tínhkiềm vôi của đất khu vực này Do đó, tổng chi phí cho các Giai đoạn A và B là hơn

4100 USD, thấp hơn so với chi phí dự kiến Tuy nhiên, đất kiềm vôi vẫn được phủ lêntrên lớp bùn/đất sau khi di dời quặng đuôi để tăng khả năng trung hòa trong môitrường nước, lỗ hổng trong đất và sau đó khu vực cần được tái phủ xanh một cách tựnhiên

- Hoàn thổ phục hồi môi trường giai đoạn C:

Giai đoạn này bao gồm công tác di dời quặng đuôi ở NUT cũ sang khu vựcNUT mới, sau đó trung hòa Tuy nhiên, do lượng lớn nước trong khu vực thải NUTmới có tính axit với hàm lượng kim loại cao nên 611000 m3 quặng đuôi ở NUT cũ (đã

được di dời trong mùa đông 2003-2004) được chất thành đống xung quanh chu vi hồthải NUT mới Khoảng 34000 m3 quặng đuôi còn lại được di dời từ bờ xa nhất củakhu vực NUT cũ và từ nhiều khu vực khác nhau có nước rò rỉ Sau đó xử lý nước axit

có chứa hàm lượng cao các kim loại và các đống quặng đuôi đã được di dời này Giai

đoạn này kết thúc vào cuối tháng 3/2004

-Hoàn thổ phục hồi môi trường giai đoạn D

Khi nước bị ô nhiễm đã được xử lý và phần quặng đuôi còn lại của khu vựcNUT cũ đã được chuyển đi (từ giai đoạn C), công tác trong giai đoạn D là phủ nướccho khu vực bãi thải NUT Dự kiến giai đoạn này sẽ hoàn thành vào năm 2010

Trang 32

-Hoàn thổ phục hồi môi trường giai đoạn E

Giai đoạn E gồm công tác xây dựng lớp phủ “khô” kỹ thuật lên khu vực thảiNIT và sẽ giải quyết các vấn đề có khả năng gây hiểm họa cho khu mỏ như với cộtchống lò mỏng và khai trường lộ thiên Vì giai đoạn C và D không thể hoàn thành donước bị ô nhiễm ở khu vực NUT nên đã tiến hành xây dựng được hai lớp phủ đầu tiêncho khu vực thải NIT vào mùa đông 2004-2005 Các phần việc còn lại của giai đoạn

Việc phát quang khu vực khai thác và quản lý lớp đất mặt được thực hiện nhưsau: Lớp đất mặt được bóc trước khi khai thác, ở những nơi có thể thì lớp đất mặt này

được sử dụng trực tiếp bằng cách phủ ngay lên trên các khu vực đã được cải tạo hìnhdạng, hoặc nếu chưa có điều kiện thì chất đống bảo quản Với công tác đắp đất, nhữngvấn đề quan tâm đầu tiên là việc quản lý độ ổn định, mức độ xói mòn và việc thoátnước của khu vực ở những nơi dự định làm cánh đồng cỏ sẽ được phủ lớp đất mặt dàykhoảng 100 mm, ở các khu vực trồng cây thì không phủ lớp đất mặt

Công tác tái thiết lập thảm thực vật: Tất cả các khu vực đều được cày xới thànhluống sâu theo đường đồng mức trước khi tái thiết lập thảm thực vật Các loại hạt giống

cỏ được trộn và sử dụng 50 kg/ha (nếu gieo vào mùa thu) hoặc 40 kg/ha (nếu gieo vàomùa xuân), hạt giống cây từ 2 đến 2,5 kg/ha Các khu vực trồng cây được phủ một lớpbùn thải tuyển than trước khi xới rãnh Thời vụ gieo cỏ thường là vào mùa thu đôi khivào mùa xuân Hạt giống cây được gieo vào tháng 4 và tháng 5 Hạt cỏ được trộn vớiphân Starter 15 (chứa 15 % N và 13,1 % P) rồi dùng máy kéo rắc lên khu vực đã đượcchuẩn bị, sau đó rải tiếp 350 kg/ha phân Starter 15 bằng máy bay Hệ động vật ở đâygồm có chuột túi, các loài chim và kiến Cỏ dại được kiểm soát bằng các biện phápquản lý thích hợp ở những nơi cỏ dại phát triển mạnh sẽ sử dụng thuốc diệt cỏ để diệttừng điểm

Công tác kiểm soát mức độ xói mòn: Các khu vực hoàn thổ được cải tạo có hìnhdáng thích hợp để làm tăng độ thẩm thấu nước và giảm lượng nước chảy tràn cũng như

sự xói mòn đất

Công tác quan trắc: Quan trắc các loài cỏ hàng năm, định kỳ quan trắc sự sốngsót và phát triển của thực vật Chú ý là có thể thu hoạch cỏ trong vòng 18 – 24 thángsau khi trồng/gieo hạt Mỗi năm bón thêm 200 kg/ha phân Starter 15 vào mùa thu và

100 kg/ha phân Nitram (34 %N) vào mùa xuân trong vòng 5 năm cho lớp thực vật Sau

Trang 33

5 năm đó, mỗi năm bón thêm 100 kg/ha phân supe phốtphát (9,1 % P) vào mùa thu cholớp thực vật.

I.2.2.5 Kinh nghiệm của các nước về hoàn thổ phục hồi môi trường các mỏ đã

ngừng hoạt động

ở các nước có nền công nghiệp mỏ phát triển, vấn đề bảo vệ môi trường, hoànthổ phục hồi môi trường đã được quan tâm từ rất sớm, tuy vậy vẫn còn nhiều mỏ đãngừng hoạt động từ lâu vẫn chưa được hoàn thổ phục hồi môi trường và trở thành mốiquan tâm của chính bản thân ngành khoáng sản cũng như chính quyền và cộng đồngdân cư các nước đó, không phải do họ thiếu kỹ thuật, thiếu công nghệ hoàn thổ phụchồi môi trường, mà vấn đề chính là họ cần xây dựng một cơ chế chia sẻ trách nhiệm

đóng góp kinh phí để hoàn thổ phục hồi môi trường Trong những năm gần đây, cácnước này đã thực hiện tốt vấn đề hoàn thổ phục hồi môi trường ở các khu vực đãngừng hoạt động trước khi có những quy định pháp lý chặt chẽ Sau đây là một sốkinh nghiệm của các nước

ở Thuỵ Điển, ngành khai thác mỏ phát triển từ rất sớm (cách đây gần ngànnăm), do đó vấn đề bảo vệ môi trường, hoàn thổ phục hồi môi trường trong các hoạt

động khai thác khoáng sản đã được quan tâm thực hiện từ rất lâu, các quy trình, kỹthuật về hoàn thổ phục hồi môi trường đã được hoàn thiện Tuy nhiên vẫn còn tồn tạinhững mỏ cũ khai thác trong quá khứ và đã ngừng hoạt động cần phải được hoàn thổphục hồi môi trường ở đây, việc hoàn thổ phục hồi môi trường phần lớn do các Công

ty tư vấn và công nghệ môi trường thực hiện Kinh phí để thực hiện các dự án đầu tưhoàn thổ phục hồi môi trường thường do Chính phủ và Ngành công nghiệp mỏ cùng

đóng góp Mức độ đóng góp của các bên tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, tuynhiên đối với các dự án hoàn thổ phục hồi môi trường lớn thì Chính phủ thường đónggóp 50%, còn lại bản thân ngành công nghiệp mỏ đóng góp 50% kinh phí để hoàn thổphục hồi môi trường

ở Nhật, đối với các dự án hoàn thổ phục hồi môi trường cho các khu vực đãngừng các hoạt động nhưng không còn chủ mỏ có nghĩa vụ pháp lý phải hoàn thổphục hồi môi trường thì Chính phủ cấp 3/4 kinh phí cần thiết để thực hiện dự án., cònchính quyền địa phương (cấp tỉnh) góp 1/4 kinh phí và chịu trách nhiệm thực hiện các

dự án hoàn thổ hoàn phục môi trường Chính quyền địa phương sẽ tổ chức đấu thầu đểcác Tổ chức có năng lực lập kế hoạch và triển khai dự án Các mỏ đang hoạt độnghoặc đã đóng cửa nhưng vẫn còn các chủ mỏ thì kinh phí để hoàn thổ phục hồi môitrường được Chính phủ cấp 3/4, Chính quyền địa phương cấp 1/4 và chủ mỏ phải chịutrách nhiệm thực hiện việc tổ chức hoàn thổ phục hồi môi trường [13]

ở CHLB Đức, kinh phí để hoàn thổ phục hồi môi trường đối với các mỏ đã

đóng cửa và không còn chủ mỏ thì được Chính phủ cấp Tuỳ theo điều kiện của từngkhu vực, của từng Bang mà việc phân bổ kinh phí có thể khác nhau Đối với một số dự

án, Chính phủ cấp kinh phí để hoàn thổ, cải tạo địa hình địa mạo, sau đó sẽ tổ chức

đấu thầu cho các cá nhân hoặc tổ chức tham gia thực hiện việc phục hồi môi trườngvới các mục đích sử dụng đất sau khi khai thác Nhiều khu vực sau khi cải tạo địahình địa mạo có diện tích rộng lớn đã được đấu thầu để trồng hoa, cây cảnh, thành

Trang 34

công viên giải trí, thành các khu vực hoạt động thể thao Nhưng cũng có những dự

án, Chính phủ liên bang cấp toàn bộ kinh phí để thực hiện hoàn thổ phục hồi môitrường như dự án hoàn thổ phục hồi môi trường ở tổ hợp khai thác và tuyển quặngurani lớn nhất Châu Âu Tổ hợp này đóng cửa vào năm 1991 sau hơn 40 năm hoạt

động và đã để lại hơn 300 triệu m3 đất đá thải và 160 triệu m3 quặng đuôi Nhiệm vụhoàn thổ phục hồi môi trường ở tổ hợp này là nhằm biến 37 km2 diện tích đất bị tác

động của các hoạt động trước đây thành vùng đất có khả năng sinh lợi Kinh phí dựkiến để hoàn thổ phục hồi môi trường ở tổ hợp này khoảng 6,6 tỷ Euro và do Chínhphủ Liên bang cấp thông qua Bộ Lao động và kinh tế Liên bang Dự kiến công táchoàn thổ phục hồi môi trường ở tổ hợp này sẽ kết thúc vào năm 2015 Các công ty tưvấn và kỹ thuật môi trường cũng như các công ty khai thác mỏ có khả năng đều cóquyền tham gia đấu thầu thực hiện dự án đầu tư hoàn thổ phục hồi môi trường, và Tập

đoàn RWE Power Internatonal được chọn để cung cấp toàn bộ các dịch vụ có liênquan đến kỹ thuật và các khía cạnh kinh tế của dự án hoàn thổ phục hồi môi trườngcủa tổ hợp khai thác và tuyển quặng urani trước đây[39]

ở Canada, tác động môi trường từ các mỏ đã đóng cửa mà chưa thực hiện hoànthổ phục hồi môi trường, bao gồm các vấn đề về dòng axit mỏ, ô nhiễm nước mặt vànước ngầm, ô nhiễm kim loại trong trầm tích sông suối, sạt lở hoặc vỡ đê đập của hồthải quặng đuôi, sụt lún đất và ô nhiễm từ các hóa chất sử dụng trong khai thác và chếbiến, các loại hóa chất và nhiên liệu còn rơi rớt lại v.v [68]

ở Canada, hơn 10 nghìn mỏ đã đóng cửa mà chưa hoàn thổ phục hồi môi trường.Trước đây, các mỏ này đóng cửa mà không thực hiện hoàn thổ phục hồi môi trường

do luật pháp không quy định chặt chẽ và do thiếu hiểu biết về các tác động môitrường có thể xảy ra Trong những năm 1980-90, một số quy định về yêu cầu cáccông ty khai thác khoáng sản phải tự bỏ tiền để hoàn thổ phục hồi môi trường Tuynhiên, việc thực hiện luật pháp vẫn còn kém hiệu quả (như ở bang Ontari) hoặc làkhông được cải thiện và không được thi hành (như ở bang Manitoba và Yukon) [68].Trong những năm gần đây, Canada đã chú ý đến việc đánh giá môi trường vàhoàn thổ phục hồi môi trường đối với các khu vực mỏ đã đóng cửa và gặp phải cáckhó khăn như các vấn đề về mặt trách nhiệm pháp lý, sức khỏe cộng đồng và chi phíhoàn thổ phục hồi môi trường Năm 1999 và 2000, nhiều yêu cầu đã được đặt ra chocác Bộ trưởng Bộ Mỏ của các bang nhằm hình thành một nhóm làm việc chung, baogồm đại diện của ngành công nghiệp và của chính quyền để rà soát các vấn đề của các

mỏ đã đóng cửa mà không hoàn thổ phục hồi môi trường Các bộ trưởng của các bang

đã ủng hộ sáng kiến này và yêu cầu tổ chức một hội thảo giữa các bên liên quan nhằmxác định các vấn đề trọng tâm cũng như các mục tiêu ưu tiên của các mỏ đã ngừnghoạt động [35]

Hội thảo về các vấn đề có liên quan đến các mỏ đã đóng cửa được tổ chức vàotháng 6/2001 ở Winnipeg Hội thảo đã xem xét, phân tích đánh giá các vấn đề cần đốiphó và xác định các bước hành động cụ thể Năm vấn đề chính đã được thảo luậntrong hội thảo bao gồm: (i) Kiểm toán các mỏ đã đóng cửa trên toàn lãnh thổ; (ii)Mong muốn của cộng đồng; (iii) Thiết lập các tiêu chuẩn phù hợp; (iv) Quyền sở hữu

Trang 35

và các vấn đề về trách nhiệm pháp lý; và (v) Xác định các hình thức về tài trợ kinhphí Tiếp theo đó, trong hội thảo tổ chức vào tháng 9/2001, các đại biểu tham gia đãxây dựng các hướng dẫn và đưa ra kiến nghị làm cơ sở cho kế hoạch hoạt động của

ủy ban Tư vấn cho Mỏ đã đóng cửa ủy ban tư vấn này bao gồm đại diện của cácngành công nghiệp mỏ, của Chính phủ liên bang, của các tỉnh hoặc lãnh thổ, của các

tổ chức phi Chính phủ trong lĩnh vực môi trường và các thổ dân Canada

Chương trình Hành động Quốc gia đối với Các Mỏ đã Đóng cửa (gọi tắt làNOAMI) được xây dựng năm 2002 theo đề nghị của Các Bộ trưởng Bộ Mỏ của cácbang ủy ban Tư vấn cho các mỏ đã đóng cửa sẽ nghiên cứu các vấn đề và bước hành

động có liên quan nhằm phát triển hợp tác thực hiện các chương trình hoàn thổ phụchồi môi trường cho các mỏ đã đóng cửa trên toàn lãnh thổ Canada Chính phủ vàngành công nghiệp đã tài trợ cho các hoạt động của NOAMI Có 4 nhóm làm việc

được hình thành nhằm giải quyết 4 vấn đề chính nêu dưới đây [35]

Thu thập thông tin: Nhóm công tác này nhằm phát triển năng lực kiểm toán trên

phạm vi toàn quốc với các khu mỏ đã đóng cửa dựa trên các kiểm toán phù hợp ở mỗibang/tỉnh/lãnh thổ Sau đó tiến hành phân loại và xếp thứ tự ưu tiên cho các khu vựcmỏ

Tham gia của cộng đồng: Nhóm công tác về sự tham gia của cộng đồng nhằm

phát triển một chương trình thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong quá trình raquyết định đóng cửa mỏ và về các tiêu chuẩn cho hoàn thổ phục hồi môi trường vànhằm đảm bảo mục tiêu sử dụng đất lâu dài và các tiêu chuẩn cải tạo môi trường đượccộng đồng chấp nhận

Rào cản về pháp luật và việc hợp tác: Nhóm công tác về Rào cản về pháp luật và

việc hợp tác nhằm xem xét các rào cản về pháp lý và tổ chức, các cơ hội hợp tác và sựkhông thỏa mãn pháp luật ở Canada về hoàn thổ phục hồi môi trường tự nguyện củacác mỏ đã đóng cửa

Tìm nguồn kinh phí: Vấn đề tìm các nguồn kinh phí cho công tác hoàn thổ phục

hồi môi trường các mỏ đã đóng cửa ở Canada được quan tâm phù hợp với các yêu cầu

đồng dân cư xung quanh đã tham gia vào công tác hoàn thổ phục hồi môi trường này.Một số địa phương đã đóng góp kinh phí cho hoàn thổ phục hồi môi trường, ví dụbang Bristish Columbia đóng góp 25 triệu USD và bang Ontario đóng góp 27 triệuUSD [24]

Trang 36

Kế hoạch hành động chiến lược trong tương lai cũng đã được xây dựng thôngqua việc thực hiện chương trình NOAMI Chiến lược này bao gồm các vấn đề: (i)

Đảm bảo giám sát được công tác hoàn thổ phục hồi môi trường mà chính quyền cácbang đang thực hiện đối với các trường hợp mỏ điển hình; (ii) Giới thiệu các hoạt

động đáng chú ý đang diễn ra thông qua phương tiện truyền thông và qua các hộinghề nghiệp; (iii) Trợ giúp cho cộng đồng (bao gồm trợ giúp về kỹ thuật, quảng cáo

và mạng lưới hoạt động); (iv) Tiếp tục kế hoạch hành động quốc gia đối với các mỏ

đã đóng cửa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và cam kết về hoàn thổphục hồi môi trường [24]

Trang 37

Chương ii

đánh giá, phân loại các nguồn thải rắn,

đánh giá khả năng tận thu và sử dụng

II.1 Vài nét khái quát về chất thải rắn trong khai thác và chế biến khoáng sản.

Chất thải rắn trong ngành khai thác và chế biến khoáng sản chủ yếu là đất đáthải (đất mặt, đất đá bóc) sinh ra từ quá trình khai thác khoáng sản và quặng đuôi sinhtrong quá trình chế biến khoáng sản Sơ đồ phát sinh các chất thải rắn được trình bàynhư trên hình 1

Hình 1: Sơ đồ phát sinh các chất thải rắn trong quá trình khai thác và

chế biến khoáng sản

Thông thường khối lượng các loại chất thải rắn trong khai thác và chế biếnkhoáng sản chiếm tới hơn 80-90% khối lượng đất đá khai thác được (trong khai thácvàng, đá quý, quặng thiếc tỷ lệ này cao hơn - xấp xỉ 100%) Vì thế, ngoài việc nghiên

Đất đá thải

Quặng tinh thương phẩm

Khu vực mỏ

Quá trìnhkhai thác

Quặng nguyên khai

Quá trình

Trang 38

cứu tận thu các chất còn có ích trong chất thải rắn nhiều nước đã xây dựng cácchương trình khai thác và chế biến khoáng sản với ít hoặc không có chất thải (non -waste mining, zero – waste mining) sử dụng tối đa các chất thải rắn cho các mục đíchkhác trước khi tiến hành hoàn thổ phục hồi môi trường.

Bên cạnh việc đánh giá khả năng tận thu và sử dụng một số chất thải rắn củacác hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, việc nghiên cứu nhằm giảm tổn thấtquặng trong khai thác, nâng cao thực thu trong tuyển khoáng cũng được nhiều nướcquan tâm Kết quả điều tra khảo sát tại các khu vực khai thác và chế biến khoáng sảncũng như báo cáo chương trình nghị sự Việt Nam 21 [50] cho thấy tổn thất tài nguyêntrong quá trình khai khoáng là rất lớn: Tổn thất trong khai thác than hầm lò từ 40-60%, trong khai thác than lộ thiên từ 10-15%, trong khai thác Apatit từ 26-43%,trong khai thác quặng kim loại từ 16-30%, trong khai thác vật liệu xây dựng từ 15-20% cho thấy đây cũng là đối tượng cần đầu tư nghiên cứu nhằm sử dụng có hiệu quảtài nguyên khoáng sản

ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có cơ quan nào điều tra thống kê một cách

có hệ thống về thành phần và khối lượng chất thải rắn trong hoạt động khoáng sản.Hiện tại các số liệu về thành phần, khối lượng chất thải trong khai thác và chế biếnkhoáng sản rất ít, chỉ có một số từ các công trình nghiên cứu, các dự án đầu tư còn sốliệu thực tế hầu như chưa có, do đó nhiệm vụ tổng hợp đánh giá và phân loại cácnguồn thải cũng như đánh giá khả năng tận thu và sử dụng một số chất thải của quátrình khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn, không đầy đủ

và chỉ mang tính tham khảo

II.2 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng chì kẽm

Quặng chì - kẽm được khai thác ở các mỏ thuộc tỉnh Bắc Kạn và tỉnh TháiNguyên Các mỏ quặng chì - kẽm Chợ Điền (tỉnh Bắc Kạn) và Làng Hích (tỉnh TháiNguyên) đang được Công ty TNHH Nhà nước một thành viên kim loại màu TháiNguyên quản lý và khai thác ở quy mô công nghiệp

Mỏ Chợ Điền với tổng trữ lượng có thể khai thác là 1,46 triệu tấn quặng ôxyt và

650 ngàn tấn quặng sunfua chì-kẽm Trữ lượng còn lại có thể tiếp tục khai tháckhoảng 9 - 10 năm với sản lượng khoảng 70 ngàn tấn/năm quặng ôxyt (hàm lượngPb+Zn > 12%), 40 ngàn tấn/năm quặng sunfua (hàm lượng 11% Zn, 2% Pb) Quặngnguyên khai có thành phần chính như sau [7]: Pb: 3,5%; Zn: 13%; As: 0,28%; Fe:16,81%; Cd: 0,0002%; Ag: 0,0025%; SiO2: 4,45%; Al2O3: 2,07%; Mn: 1,35%; Bi:0,006%; Ni: 0,011%; Cu: 0,06%; CaO: 12,11%; MgO: 4,86%

Mỏ Làng Hích có 3 khu khai thác: Metis, Mỏ Ba, Sa Lung với tổng trữ lượng

được huy động vào khai thác 422,5 ngàn tấn quặng sunfua (hàm lượng Pb+Zn =13,5%) và 65,7 ngàn tấn quặng ôxyt (hàm lượng Pb+Zn = 15%) Đến nay phần quặng

Trang 39

tấn/năm Hàm lượng một số kim loại trong quặng sulfua chì kẽm mỏ Làng Hích [7]:Zn: 2-26,3%, trung bình 10-12%; Pb: 0,4-7,9%, trung bình 3-5%; Cd: 0,5-0,8%; Ag:0,001- 0,06%; As: 0,35 -9,02%; Cu: 1,83.10-3- 14,8.10-3%.

Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng chì kẽm bao gồm:

- Đất mặt và đất đá thải: chủ yếu được bóc ra từ lớp đất trên bề mặt và đất đá nằm

phía trên thân quặng.Thành phần đất đá thải chủ yếu là đá macma (granit, riolit vàthạch anh); đá biến chất (taconite, đá phiến, khoáng chất,…) và trầm tích (dolomit, đávôi, sa thạch, …) Đất đá thải này được loại bỏ trong quá trình khai thác và được thảitập trung về các bãi thải đất đá

- Quặng đuôi: Quặng đuôi sinh ra trong quá trình tuyển nổi quặng chì kẽm thường ở

cấp hạt mịn, có tỷ lệ rắn/lỏng khoảng 20 - 50% Quặng đuôi có thành phần chính là

đất đá tạp có lẫn các kim loại có ích với hàm lượng rất thấp và dư lượng thuốc tuyển

Đánh giá khả năng sử dụng chất thải:

- Đối với lớp đất mặt: Lớp đất này thường được giữ lại để rải lên trên bề mặt các khu

vực hoàn thổ phục hồi môi trường trước khi trồng cây tái phủ xanh khu vực

- Đối với đất đá thải: Đất đá thải có thể sử dụng để làm đường, làm nền móng cho các

công trình xây dựng hoặc làm vật liệu san lấp các hố đã khai thác xong Tuy nhiên tạihai mỏ Làng Hích và Chợ Điền, xung quanh ít có công trình xây dựng, đất đá thảihiện nay đang được tập trung vào các bãi thải Mặt khác quặng chì kẽm đang đượckhai thác chủ yếu ở dạng quặng sunfua có tiềm năng phát sinh dòng axit mỏ vì vậy

đất đá thải này cần phải được đánh giá trước khi sử dụng cho các mục đích khác

- Đối với quặng đuôi: Quặng đuôi tại hai mỏ chì kẽm Làng Hích và Chợ Điền hiện

nay đang được tập trung ở các hồ thải quặng đuôi Trong quặng đuôi tuyển chì kẽmchứa một phần rất nhỏ của các kim loại có ích, gần như không thu hồi được

II.3 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng

đồng

Hiện nay, Việt Nam đang khai thác quặng đồng ở mỏ đồng Sin Quyền Cáckhoáng vật chính trong quặng gồm: pyrotin, chalcopyrit, magnetit, pyrit, menikovit,orthit, sphalerit, quặng đồng xám, cubanit, arsenopyrit, cobaltin, uraninit, milerit,calaverit, covelin, chalcosin, rutil, ilmenit…hàm lượng Cu:1,03%; Au: 0,55 g/tấn; Ag:0,48 g/tấn; Fe:12,35%; S: 2,25%, Tr2O3: 0,63% [10], trữ lượng: 52,7 triệu tấn quặng

đồng cấp B + C1 + C2, tương đương 551,2 nghìn tấn Cu, kèm theo 334 nghìn tấn

Re2O3; 35 tấn Au; 25 tấn Ag; 843 nghìn tấn S [9]

Các nguyên tố có ích trong quặng chủ yếu : Cu, S, Au, Ag, Fe, ReO và một sốnguyên tố phóng xạ U, Th [10]

Công nghệ tuyển nổi và tuyển từ đang được áp dụng ở Mỏ đồng Sin Quyền.Tuyển nổi để thu được quặng tinh đồng (có chứa các kim loại quý như vàng và bạc có

Trang 40

thể thu hồi bằng các quá trình xử lý tiếp theo) và tuyển từ quặng đuôi tuyển nổi để thu

được quặng tinh manhêtit Sản phẩm tuyển năm 2007 bao gồm:

- Quặng tinh đồng (21,82% Cu): 45397,79 tấn [11], (theo thiết kế: công suất:

Đánh giá khả năng tận thu và sử dụng chất thải:

- Đối với quặng đuôi: Mỏ đồng Sinh Quyền là một mỏ có khối lượng quặng đuôi khá

lớn khoảng 1 triệu tấn/năm Quặng đuôi được thải vào các hồ thải quặng đuôi Có khảnăng thu hồi các nguyên tố có ích trong quặng đuôi như đất hiếm hoặc các nguyên tốphóng xạ U, Th; điều này cũng đã được đề cập trong “Báo cáo nghiên cứu khả thi Tổhợp đồng Sinh Quyền Lào Cai” của Tổng công ty khoáng sản Việt Nam, với côngnghệ tuyển thích hợp có thể thu hồi được sản phẩm đất hiếm (có hàm lượngReO=60%) với sản lượng 2743 tấn/năm

- Đối với đá thải: Có thể sử dụng đá thải cho việc sửa chữa, di tu đường nội mỏ hoặc

bán cho các đơn vị khác trong khu vực để làm vật liệu làm đường hoặc làm nền chocác công trình xây dựng Tuy nhiên nhu cầu sử dụng loại vật liệu thải trong khu vựckhông lớn và để sử dụng các loại chất thải rắn cho các công trình ngoài trời cần đánhgiá khả năng hình thành dòng axit mỏ của loại chất thải này

II.4 Chất thải rắn trong khai thác và chế biến quặng sắt:

Quặng sắt đang được khai thác chủ yếu ở các Mỏ sắt Trại Cau, Mỏ sắt Nà Lũng

và mỏ sắt Quý Sa (mới đưa vào vận hành năm 2007) ở Mỏ sắt Trại Cau, quặng sắt

được khai thác bằng phương pháp lộ thiên với sản lượng 200 - 250 ngàn tấn/năm, cácthiết bị khai thác và tuyển ở đây nhìn chung cũ và lạc hậu, năng suất thấp, tổn thất tàinguyên lớn, vì thế hàm lượng sắt trong quặng đuôi tuyển khoáng còn khá cao (xem tạibảng 2)

 Đánh giá khả năng sử dụng chất thải:

- Đối với lớp đất mặt: Lớp đất mặt nên được lưu giữ riêng để rải lên trên bề mặt các

khu vực hoàn thổ phục hồi môi trường

- Đối với đá thải: Nên được sử dụng để san lấp các hố đã khai thác xong phục vụ

công tác hoàn thổ phục hồi môi trường

Ngày đăng: 18/04/2014, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đồng Quốc Hưng: Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu công nghệ thu hồi thiếc mịn đuôi thải bằng thiết bị tuyển đa trọng lực”. Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện Kim, n¨m 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu công nghệ thu hồi thiếc mịn đuôithải bằng thiết bị tuyển đa trọng lực
2. Lê Minh Châu: Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu cơ hội sản xuất sạch hơn trong hoạtđộng khai thác và chế biến khoáng sản kim loại ở Việt Nam”. Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ – Luyện kim, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ hội sản xuất sạch hơn trong hoạtđộng khai thác và chế biến khoáng sản kim loại ở Việt Nam
4. Vũ Tân Cơ: Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu khả năng thu hồi niken trong quặng mỏ Cromit Cổ Định Thanh Hóa”. Viện Khoa học và Công nghệ Mỏ - Luyện Kim, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng thu hồi niken trong quặng mỏCromit Cổ Định Thanh Hóa
10. Tổng công ty khoáng sản Việt Nam: “Báo cáo nghiên cứu khả thi tổ hợp Đồng Sin Quyền Lào Cai Việt Nam”, tháng 9 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu khả thi tổ hợp Đồng SinQuyền Lào Cai Việt Nam
11. Tổng công ty khoáng sản – TKV: “Dự án đầu tư xây dựng công trình khai thác mỏ - tuyển Đồng Sin Quyền Lào Cai”, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án đầu tư xây dựng công trình khai thác mỏ -tuyển Đồng Sin Quyền Lào Cai
12. Tài liệu Hội thảo “Tăng cường năng lực quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường trong ngành mỏ ở Việt Nam”, Hà Nội ngày 20 tháng 10 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường trongngành mỏ ở Việt Nam
13. Atsushi Osame: Mine Pollution Control for Abandoned mine in Japan. Oct.2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mine Pollution Control for Abandoned mine in Japan
Tác giả: Atsushi Osame
Năm: 2008
26. Landform Design for Rehabilitation: Chapter 4 21/01/2003 14:29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Landform Design for Rehabilitation
Năm: 2003
34. Mining Environmental Management, Volume 12, N o 1, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mining Environmental Management
Năm: 2004
36. Naumova L.B. and others: Russian Journal of Applied Chemistry, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Russian Journal of Applied Chemistry
Tác giả: Naumova L.B., and others
Năm: 1995
37. Pradip and Forssberg: Stabilisation and utilisation of solid mining waste Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stabilisation and utilisation of solid mining waste
Tác giả: Pradip, Forssberg
40. SGAB – Environet: Giaplai pyrite closure plan. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGAB – Environet: Giaplai pyrite closure plan
Năm: 2002
50. http:/www.va21.org/nganh/congnghiep/sa21congnghiep.htm Link
60. www.nap.edu/openbook.php?record_id=9077&page=13 Link
64. www.nt.gov.au/nreta/environment/assessment/register/maudcreek/pdf/ Link
3. TS. Nguyễn Xuân Tặng. Những vấn đề cấp bách về môi trường do khai thác, chế biến đáxây dựng. Hội nghị Khoa học công nghệ tuyển khoáng toàn quốc lần thứ II/năm 2005 Khác
5. Bộ Công nghiệp: Chiến lược BVMT ngành công nghiệp đến năm 2010 và định hướngđến năm 2020. Hà Nội 2005 Khác
7. Hội khoa học và công nghệ mỏ Việt Nam: Hội nghị khoa học kỹ thuật mỏ toàn quốc lần thứ XIII – năm 2001 Khác
8. Hội khoa học và công nghệ mỏ Việt Nam: Hội nghị khoa học kỹ thuật mỏ toàn quốc lần thứ XVI – năm 2004 Khác
14. Best Practice Environmental Management: Landform Design for Rehabilitation.Environment Australia 1998 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ phát sinh các chất thải rắn trong quá trình khai thác và - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 1 Sơ đồ phát sinh các chất thải rắn trong quá trình khai thác và (Trang 37)
Bảng 2: Thành phần quặng đuôi của mỏ sắt Trại Cau qua các năm - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Bảng 2 Thành phần quặng đuôi của mỏ sắt Trại Cau qua các năm (Trang 41)
Hình 3. Hình dạng các mặt nghiêng dốc để kiểm soát xói mòn - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 3. Hình dạng các mặt nghiêng dốc để kiểm soát xói mòn (Trang 62)
Hình 4: Phương pháp sử dụng ô tô để rải đất thành gò đống - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 4 Phương pháp sử dụng ô tô để rải đất thành gò đống (Trang 68)
Hình 6: Đường đi của gió phụ thuộc vào các dạng hàng rào cản gió với mức độ gió - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 6 Đường đi của gió phụ thuộc vào các dạng hàng rào cản gió với mức độ gió (Trang 69)
Hình 8: Các dạng mặt cắt của kênh rạch thoát nước. - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 8 Các dạng mặt cắt của kênh rạch thoát nước (Trang 72)
Hình 9: Xới đất theo đường đồng mức - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 9 Xới đất theo đường đồng mức (Trang 73)
Hình 10: Các thiết bị dùng để bóc lớp đất mặt đang hoạt động - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 10 Các thiết bị dùng để bóc lớp đất mặt đang hoạt động (Trang 75)
Hình 11: Phủ đất mặt lên khu vực đã cải tạo xong địa hình, địa mạo - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 11 Phủ đất mặt lên khu vực đã cải tạo xong địa hình, địa mạo (Trang 78)
Hình 12. Thiết kế lớp che phủ cho miệng giếng tròn và miệng giếng chữ nhật - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 12. Thiết kế lớp che phủ cho miệng giếng tròn và miệng giếng chữ nhật (Trang 88)
Hình 13.  Thiết kế chèn lấp hoàn toàn cho lò bằng, giếng nghiêng và lò dọc vỉa - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 13. Thiết kế chèn lấp hoàn toàn cho lò bằng, giếng nghiêng và lò dọc vỉa (Trang 89)
Hình 14: Cách đổ thải nhằm hạn chế những ảnh hưởng về mặt mỹ quan - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 14 Cách đổ thải nhằm hạn chế những ảnh hưởng về mặt mỹ quan (Trang 94)
Hình 15: Mô hình kỹ thuật “đội nón” cho hồ thải quặng đuôi - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 15 Mô hình kỹ thuật “đội nón” cho hồ thải quặng đuôi (Trang 97)
Hình 16: Một số phương án xử lý đối với hồ thải quặng đuôi - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 16 Một số phương án xử lý đối với hồ thải quặng đuôi (Trang 98)
Hình 18: Mặt cắt đứng các bãi thải đất đá có chứa các khoáng vật sunphua - ''Xây dựng quy trình hoàn thổ phục hồi môi trường các vùng khai thác các loại hình khoáng sản và hỗ trợ hoàn thổ phục hồi môi trường cho một đơn vị khai thác khoáng sản''
Hình 18 Mặt cắt đứng các bãi thải đất đá có chứa các khoáng vật sunphua (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w