1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam

247 598 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Đình Hương, Mai Ngọc Cường, Trần Đình Đàn, Đặng Văn Thanh, Đinh Văn Sơn, Đỗ Đức Bình, Nguyễn Văn Lịch, Phan Đăng Tuất, Bùi Hà, Phạm Văn Đăng, Nguyễn Đình Thọ, Phan Thị Nhiệm, Bùi Đức Triệu, Lê Văn Luyện, Trần Thị Lương Bình, Mai Thu Hiền, Dương Thị Hồng Vân
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Đình Hương
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 247
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu thành công quá trình điều chỉnh cơ cấu để phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam sẽ giúp Chính phủ có một kế hoạch chủ động trong việc xây dựng chiến lược

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HI

BÁO CÁO TỔNG HỢP

ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC

ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI

VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

MÃ SỐ: ĐTĐL2009G/33

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Nguyễn Đình Hương

Cơ quan chủ trì: VĂN PHÒNG QUỐC HỘI

Hà Nội, 2010

Trang 2

Danh sách thành viên nhóm nghiên cứu

1 GS, TS Nguyễn Đình

Hương Văn Phòng Quốc hội Chủ nhiệm đề tài

2 GS, TS Mai Ngọc Cường Đại học Kinh tế Quốc dân Thư ký đề tài

3 TS Trần Đình Đàn Văn Phòng Quốc hội Thành viên đề tài

4 PGS, TS Đặng Văn Thanh Văn Phòng Quốc hội Thành viên đề tài

5 GS, TS Đinh Văn Sơn Đại học Thương Mại Thành viên đề tài

6 GS, TS Đỗ Đức Bình Đại học Kinh tế Quốc dân Thành viên đề tài

7 PGS, TS Nguyễn Văn Lịch Viện Nghiên cứu Thương

mại, Bộ Công Thương Thành viên đề tài

8 PGS, TS Phan Đăng Tuất

Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp, Bộ Công Thương

Thành viên đề tài

9 TS Bùi Hà Vụ Tổng hợp Kinh tế

Bộ Kế hoạch và Đầu tư Thành viên đề tài

10 PGS,TS Phạm Văn Đăng Bộ Tài Chính Thành viên đề tài

11 PGS, TS Nguyễn Đình Thọ Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài

12 PGS, TS Phan Thị Nhiệm Đại học Kinh tế Quốc dân Thành viên đề tài

13 PGS, TS Bùi Đức Triệu Đại học Kinh tế Quốc dân Thành viên đề tài

14 TS Lê Văn Luyện Học viện Ngân hàng Thành viên đề tài

15 TS Trần Thị Lương Bình Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài

16 TS Mai Thu Hiền Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài

17 TS Trần Thị Lương Bình Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài

18 ThS Dương Thị Hồng Vân Đại học Ngoại Thương Thành viên đề tài

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG vii 

DANH MỤC HÌNH viii 

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ix 

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG x 

LỜI MỞ ĐẦU 1 

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI VỀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ 7 

1.1 Khái quát về tăng trưởng, phát triển và vai trò của Chính phủ trong điều chỉnh cơ cấu kinh tế 7 

1.1.1 Kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ 7 

1.1.2 Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững 15 

1.1.3 Vai trò của nền kinh tế tri thức trong phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại 22 

1.2 Giới thiệu một số mô hình phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu 29 

1.2.1 Thống nhất Washington và quan niệm về phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 29 

1.2.2 Quá trình hình thành các lý thuyết phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu 32 

Trang 4

1.2.3 Những nhân tố cơ bản đối với điều chỉnh cơ cấu và phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển 37 1.2.4 Điều chỉnh cơ cấu và trình tự hội nhập kinh tế quốc tế 42 1.2.5 Tầm quan trọng của điều chỉnh cân bằng cán cân thanh toán đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế 46 1.2.6 Điều chỉnh cơ cấu sử dụng quản lý chi tiêu NSNN phục vụ cho phát triển 57 

1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh cơ cấu kinh tế của một số nước Đông Á và Đông Nam Á 65 

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 79 

2.1 Tổng quan về quá trình điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới 79 2.1.1 Quá trình cải cách kinh tế và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam 79 2.1.2 Quá trình chuyển đổi cơ cấu thành phần kinh tế 88 2.1.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 101 2.1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng cùng với cơ cấu ngành kinh

Trang 5

2.2.2 Chế độ tỷ giá ảnh hưởng tới lạm phát ở Việt Nam năm 2008130 2.2.3 Điều chỉnh cơ cấu sử dụng NSNN để ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay 139 2.2.4 Tăng giá kép và tầm quan trọng của điều chỉnh cơ cấu nhằm hạn chế tác động của biến động cán cân thanh toán 142 

2.3 Yêu cầu điều chỉnh cơ cấu kinh tế để tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô 149 2.3.1 Tình hình tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam sau 25 năm đổi mới 150 2.3.2 Yêu cầu điều chỉnh kinh tế vĩ mô để tăng trưởng và phát triển

ổn định 153 

CHƯƠNG 3 ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH

CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 159 

3.1 Các quan điểm và định hướng về điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở Việt Nam 159 3.1.1 Các quan điểm về điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở Việt Nam 159 3.1.2 Một số định hướng điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở Việt Nam 163 

3.2 Kiến nghị hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường nhiều thành phần để phát triển bền vững ở nước ta 166 3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế nhiều thành phần, đa hình thức sở hữu với nhiều loại hình doanh nghiệp để phát triển bền vững 166 

Trang 6

3.2.2 Nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu vùng kinh tế tổng hợp gắn với điều kiện địa lý văn hóa và môi trường 171 

3.3 Kiến nghị giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm

phát ở Việt Nam trong thời gian tới 175 3.3.1 Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện để thúc đẩy tăng trưởng và

cơ cấu lại nền kinh tế 175 3.3.2 Một số chính sách tài chính, tiền tệ để điều chỉnh cơ cấu kinh

tế trong thời gian tới 176 3.3.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm xuất khẩu của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và xây dựng nền kinh tế tri thức.179 3.3.4 Tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là năng lực quản lý nền kinh tế 181 

Kết luận 183 

Tài liệu tham khảo 186 

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1Trình tự hội nhập kinh tế 44

Bảng 2.1Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế chia theo thành phần kinh tế (%) 100

Bảng 2.2 Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng và chỉ số lạm phát "cốt lõi" 136

Bảng 2.3 Chi phí gói kích thích kinh tế của Việt Nam theo % GDP 140

Bảng 2.4 Biến động cán cân thanh toán và tỷ lệ lạm phát 2001-2010 143

Bảng 2.5 Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội tính theo % GDP 144

Bảng 2.6 Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội tính theo % GDP 151

Bảng 2.7 Tỷ lệ lạm phát (%) 153

Bảng 2.8 Tăng trưởng cung tiền (%) 154

Bảng 2.9 Chi Ngân sách Nhà nước (% GDP) 154

Bảng 2.10 Thâm hụt Ngân sách Nhà nước (% GDP) 155

Bảng 2.11 Cán cân thương mại (triệu USD) 156

Bảng 2.12 Cán cân vãng lai (% GDP) 157

Bảng 2.13 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (triệu USD) 157

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá cố định 53

Hình 1.2 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá thả nổi 55

Hình 2.1 Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 83

Hình 2.2 Chỉ số về điểm tự do kinh tế 84

Hình 2.3 Chỉ số tự do hoá theo lĩnh vực 2011 85

Hình 2.4 Tác nghiệp kinh doanh năm 2011: Tạo việc làm 86

Hình 2.5 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế chia theo thành phần kinh tế (%) 100

Hình 2.6 Cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam so với một số nước trong khu vực năm 2008 102

Hình 2.7 Biểu đồ tăng trưởng kinh tế 103

Hình 2.8 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo khu vực kinh tế 105

Hình 2.9 Tỷ giá danh nghĩa USD/VND 117

Hình 2.10 Tác động của tỷ giá hối đoái tới xuất khẩu hàng hóa 121

Hình 2.11 Lạm phát của Việt Nam và các nước trong khu vực 126

Hình 2.12 Dự trữ ngoại hối, lạm phát, tăng trưởng M2 127

Hình 2.13 Lạm phát của Việt Nam và các nước (% so với cùng kỳ năm trước) 132

Hình 2.14 Biến động tỷ giá danh nghĩa so với USD (1/2005=1) 134

Hình 2.15 Biến động giá lương thực tính theo nội tệ (1/2005=100) 135 Hình 2.16 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2010 146

Hình 2.17 Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2010 147 Hình 2.18 Biến động tỷ giá VND so với USD và các nước khác (từ tháng 1-11/2010) 148

Hình 2.19 Tác động của tăng giá hàng hóa theo USD & mất giá VND 148

Hình 2.20 Biến động cán cân thanh toán (tỷ USD) và tỷ lệ lạm phát (%) 152

Trang 9

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

CCTM Cán cân thương mại

DNXNK Doanh nghiệp xuất nhập khẩu

ECB Ngân hàng Trung ương Châu Âu

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FII Đầu tư gián tiếp nước ngoài

KNXK Kim ngạch xuất khẩu

NEER Tỷ giá danh nghĩa trung bình

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTW Ngân hàng Trung ương

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế REER Tỷ giá thực trung bình

TKVL Tài khoản vãng lai

Trang 10

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG

1 A real devaluation and expansionary effect on the economy, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Fiscality and Public Policies”, 2010

2 Biến động cán cân thanh toán và vấn đề nhập khẩu lạm phát ở Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, Số 2+3, 2011

3 Biến động tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển , 2008

4 Chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá trong một nền kinh tế mở, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số 30, 2008

5 Chống lạm phát ở Việt Nam: Tìm đúng nguyên nhân mới có giải pháp tích cực, Tạp chí Cộng Sản, Số 788, 2008; Được chọn lọc in trong sách tham khảo "An ninh kinh tế và nền kinh tế thị trường Việt Nam thời hội nhập", trang 84-93, Nhà Xuất Bản Công an Nhân dân,

2008, Giấy đăng ký KHXB số 739-2008/CXB/14-202/CAND

6 Điều chỉnh cơ cấu kinh tế để tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, Tạp chí Ngân hàng, Số 6, 2011

7 Hội nhập tài chính quốc tế ở Việt Nam, Tạp chí Lý luận chính trị, Số

7, 2008

8 Mô hình quản lý chi tiêu ngân sách hiện đại, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “Những vấn đề cơ bản về phân cấp chi NSNN - Kinh nghiệm của Pháp và thực tiễn ở Việt Nam”, 2010

9 Trade, Financial Crisis and Economic Growth in Vietnam, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “East Asia’s Industrial Agglomeration - Current Issues and Policy Responses”, 2010

10 Xuất nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Cộng Sản

Số 798, 2009

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của nội dung nghiên cứu

Là một nước chuyển đổi, kém phát triển, nền kinh tế Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cấp làm hạn chế tốc độ phát triển kinh tế Điều chỉnh cơ cấu kinh tế để phát triển bền vững là một đòi hỏi tất yếu ở các nước kém phát triển Trong trường hợp của Việt Nam, đòi hỏi này càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đã là một thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam Quá trình chuyển đổi lại diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế gia tăng buộc Việt Nam phải tiến hành song song quá trình chuyển đổi tự do hóa khu vực kinh tế trong nước và tự do hóa khu vực kinh tế đối ngoại Việc nghiên cứu thành công quá trình điều chỉnh cơ cấu để phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam sẽ giúp Chính phủ có một kế hoạch chủ động trong việc xây dựng chiến lược công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Sau tiến trình chuẩn bị và đàm phán hơn 11 năm, ngày 07/11/2006, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chính thức kết nạp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của Tổ chức này Do đòi hỏi giải phóng nguồn lực để phát triển kinh tế và theo các điều kiện yêu cầu để Việt Nam có thể gia nhập WTO, Việt Nam đã bắt đầu quá trình cải cách kinh tế từ năm 1986 Quá trình này tập trung vào cải cách cơ chế quản lý kinh tế theo thị trường; tái cơ cấu để xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần; cải cách hành chính, tiền tệ và tài chính; và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại

Để có thể duy trì và tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập WTO, Việt Nam cam kết đẩy mạnh cải cách kinh tế, điều chỉnh cơ cấu để khắc phục các mất cân đối kinh tế vĩ mô và giải quyết

Trang 12

tình trạng thắt cổ chai do yếu kém về cơ sở hạ tầng, khung khổ pháp lý,

và trình độ quản lý kinh tế gây ra Tiếp tục cải điều chỉnh cơ cấu theo hướng trao quyền độc lập cho Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tài chính - tiền tệ, hoàn thiện chính sách ngoại hối và thanh toán theo khuynh hướng hội nhập quốc tế, cải thiện môi trường đầu tư và chính sách công nghiệp, đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa và cải cách doanh nghiệp nhà nước, xóa bỏ dần dần cơ chế hỗ trợ và kiểm soát giá

cả thị trường, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và tự do hóa thương mại và đầu tư

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO, công cuộc cải cách kinh

tế theo thị trường tiếp tục được đẩy mạnh Phát triển kinh tế dựa trên cạnh tranh thị trường có thể dẫn tới mất cân đối kinh tế lớn đặc biệt là các vấn đề liên quan tới xã hội và môi trường Chính vì thế, việc nghiên

cứu "Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền

vững ở Việt Nam" là vấn đề có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực

tiễn

2 Các kết quả nghiên cứu trước đây

Lý luận và thực tiễn về điều chỉnh cơ cấu kinh tế để phát triển bền vững đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt trong chương trình viện trợ hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng thế giới (WB) và Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) Trong một thời gian dài từ những năm 1960-

1980, nghiên cứu về điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên thế giới tập trung vào mục tiêu giải quyết mất cân đối kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Với mục tiêu đó các nghiên cứu tập trung vào luận giải khái niệm tăng trưởng và phát triển, nhằm chỉ ra phạm vi và các mục tiêu kinh tế vĩ mô cần đạt được thông qua cải cách kinh tế, điều chỉnh cơ cấu, giải quyết mất cân đối vĩ mô Thành công của các nghiên cứu trong thời

kỳ này là đã chỉ ra khái niệm phát triển kinh tế bao trùm khái niệm tăng trưởng kinh tế hướng tới cả một số mục tiêu phát triển xã hội Đồng thời các nghiên cứu cũng chỉ ra được các nhân tố thúc đẩy hoặc cản trở tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong đó giải quyết mất cân đối kinh tế vĩ

Trang 13

mô như cơ cấu ngành, thâm hụt ngân sách nhà nước, thâm hụt cán cân thương mại, cán cân thanh toán, song song với giải quyết các yếu tố thắt

cổ chai làm cản trở quá trình phát triển kinh tế như cơ chế kinh tế phi thị trường bóp méo tín hiệu giá cả, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ công nghệ thấp, thiếu hụt lao động kỹ thuật cao

Trong giai đoạn từ 1990 tới nay, khái niệm phát triển bền vững trở nên phổ biến và bao gồm không những các mục tiêu hẹp về tăng trưởng kinh tế mà khái niệm chất lượng tăng trưởng được đặt lên hàng đầu theo

đó tăng trưởng bền vững không chỉ đề cập tới các mục tiêu kinh tế mà còn bao trùm các mục tiêu về xã hội và môi trường Nghiên cứu về điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong thời kỳ này tập trung vào vấn đề xóa đói, giảm nghèo Các chính sách kinh tế "khắc khổ" để ổn định kinh tế vĩ mô trong thời kỳ trước được nghiên cứu lại nhằm hạn chế các giải pháp ngắn hạn

mà hướng tới mục tiêu chất lượng tăng trưởng nhằm đảm bảo phát triển bền vững trong dài hạn, theo đó xóa đói, giảm nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo cơ hội phát triển bình đẳng cho tất cả mọi người thông qua đảm bảo các nhân tố về dinh dưỡng, sức khỏe và giáo dục

Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Ví dụ là đề tài "Chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình CNH, HĐH" của TS Bùi Tất Thắng, Viện Kinh tế học (Đề tài KX.02.05) Nội dung nghiên cứu của đề tài này tập trung vào xác định luận cứ khoa học của mô hình tăng trưởng hiện đại và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong giai đoạn CNH, HĐH Nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững trên cơ

sở phân tích và chỉ ra định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nhằm đáp ứng các yêu cầu của mô hình CNH, HĐH ở Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Bùi Tất Thắng chỉ giới hạn trong phạm vi chuyển dịch cơ cấu ngành mà chưa nghiên cứu tổng thể toàn bộ nền kinh tế với một hệ thống chính sách điều chỉnh kinh tế vĩ mô

Trang 14

Nghiên cứu "Phát triển kinh tế vùng trong quá trình CNH, HĐH" của TS Nguyễn Xuân Thu, Viện chiến lược Phát triển (Đề tài KX.02.06)

đã xây dựng được các nguyên tắc, quan điểm phát huy tiềm năng, lợi thế

so sánh của mỗi vùng lãnh thổ theo hướng có trọng điểm nhằm phát huy vai trò của mỗi vùng để thực hiện CNH, HĐH ở Việt Nam Đề tài của tác giả Nguyễn Xuân Thu tập trung nghiên cứu phát triển kinh tế vùng, theo đó tác giả chưa chỉ ra việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo ngành và quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo thị trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nghiên cứu "Luận cứ xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách

và giải pháp kinh tế tài chính nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam" của GS TSKH Tào Hữu Phùng, Ủy ban Kinh tế-Ngân sách của Quốc hội năm 2003 đã làm rõ một số vấn đề lý luận, nội dung cơ bản, các tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào một số chính sách và giải pháp kinh tế - tài chính chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam mà chưa nghiên cứu đến vấn đề điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO

Đề tài chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, vùng lãnh thổ cũng đã có nhiều luận án tiến sĩ đề cập đến ở một phạm vi nhất định Những đề tài luận án đã thực hiện mới đề cập đến việc chuyển dịch kinh tế ngành, kinh tế vùng hoặc một vài chính sách chuyển dịch kinh tế để ổn định kinh tế vĩ mô, chưa có đề tài nào nghiên cứu đầy đủ cơ sở khoa học của chính sách điều chỉnh kinh tế vĩ mô trong điều kiện mới khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng chưa có những đề tài, chương trình khoa học nghiên cứu để chủ động ứng phó với yêu cầu hội nhập

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững;

Trang 15

- Phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và tác động của hệ thống chính sách điều chỉnh kinh tế đến chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững;

- Kiến nghị các quan điểm, chính sách, lộ trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại và phát triển bền vững

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống chính sách và thể chế điều chỉnh cơ cấu kinh tế Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rộng và có nhiều cách hiểu và phương pháp tiếp cận khác nhau Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm của thế giới Khi nói tới điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đề tài tập trung vào hệ thống chính sách và thể chế liên quan tới các mất cân đối kinh tế vĩ mô là trọng tâm của các gợi ý chính sách của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho các nước trên thế giới trong điều chỉnh cơ cấu kinh tế để cân đối các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nhằm bình ổn nền kinh tế và phát triển theo hướng phát triển bền vững và hiện đại

Đề tài tập trung nghiên cứu kết quả chuyển dịch cơ cấu sau 25 năm đổi mới từ 1986-2010 và thực tiễn diễn biến kinh tế vĩ mô trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2006-2010 Ở giai đoạn 2006-2010, đề tài tập trung vào các chính sách tiền tệ, tài khóa và tỷ giá hối đoái và các mất cân đối kinh tế vĩ mô đe dọa sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Là đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, đề tài áp dụng các phương pháp truyền thống, như sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, công cụ trừu tượng hoá trong nghiên cứu, kết hợp lý luận với thực tiễn, tiếp cận các phương pháp mới, so sánh, phân tích, dự báo kinh tế, logic với lịch sử để làm

Trang 16

sáng tỏ vấn đề trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu đã công bố trong nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu

Để có cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng nguồn lực và chính sách phát triển bền vững, đề tài tổ chức khảo sát và phỏng vấn xã hội học những vấn đề có liên quan và phỏng vấn các nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý kinh tế-xã hội Trung ương và địa phương, các nhà nghiên cứu, các nhà doanh nghiệp và người lao động theo các mục tiêu nghiên cứu

6 Bố cục của nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu được bố cục thành 3 chương :

Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của thế giới về điều chỉnh cơ cấu kinh tế

Chương 2: Đánh giá hệ thống chính sách điều chỉnh cơ cấu và phát triển kinh tế ở việt nam trong thời kỳ đổi mới

Chương 3: Đổi mới hệ thống chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh

tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam

Đề tài là tổng hợp kết quả nghiên cứu của một tập thể tác giả là các nhà khoa học và chuyên gia đến từ các bộ, ngành trực tiếp xây dựng

và thực thi chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Do đóng góp vào kết quả nghiên cứu là của một tập thể lớn các tác giả, trong quá trình tổng hợp kết quả nghiên cứu, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chưa nhất quán trong ngôn từ và logic tổng thể, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và các chuyên gia để kết quả nghiên cứu cuối cùng có ý nghĩa khoa học và tham khảo tốt hơn

Trang 17

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI VỀ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ

1.1 Khái quát về tăng trưởng, phát triển và vai trò của Chính phủ trong điều chỉnh cơ cấu kinh tế

1.1.1 Kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ

Kinh tế học nghiên cứu sự lựa chọn việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm một cách hiệu quả nhất nhằm theo đuổi một số mục tiêu nhất định Các chủ thể kinh tế bao gồm Chính phủ, nhà cung cấp, và người tiêu dùng, tìm cách đạt được mục tiêu của mình trên cơ sở tối ưu hóa sự lựa chọn việc sử dụng các nguồn lực của mình để có thể đạt được hiệu quả cao nhất, nghĩa là đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất

Lý thuyết về thị trường tự do đặc biệt được các nhà kinh tế học Pháp ủng hộ Các nhà kinh tế ủng hộ lý thuyết về thị trường tự do được

gọi là những người theo trường phái trọng thương Trong tác phẩm Của

cải của các dân tộc (1776), ông tổ của kinh tế học hiện đại đã đưa ra lý

thuyết về bàn tay vô hình, theo đó lực vô hình của thị trường sẽ chi phối

toàn bộ quá trình từ sản xuất tới tiêu dùng theo một cách tốt nhất thông qua tín hiệu của thị trường là giá cả

Lý thuyết về bàn tay vô hình của Adam Smith có ảnh hưởng lớn tới Chính phủ và các nhà kinh tế học của thế kỷ thứ 19 như John Stuart Mill và Nassau Senior Tuy nhiên, cũng trong thế kỷ thứ 19, thất nghiệp

và bất bình đẳng kinh tế nghiêm trọng giữa người giàu và người nghèo

đã làm cho các nhà xã hội học như Karl Marx và Robert Owen phải đề xướng các phương pháp cải cách xã hội Theo Karl Marx, sở hữu tư bản

là nguyên nhân của bất bình đẳng và thất nghiệp Theo đó, ông đề xuất Chính phủ phải nắm giữ phương tiện sản xuất Tư tưởng của Marx đã có ảnh hưởng lớn tới Chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20, dẫn tới sự ra đời của các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong hệ

Trang 18

thống các nước xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là một hình thái kinh tế gần với nền kinh tế mệnh lệnh

Khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 đã làm cho lý thuyết về thất bại thị trường lan rộng Trong bối cảnh đó, nhà kinh tế học vĩ đại Anh John Maynard Keynes đã cho rằng không thể vỗ tay bằng một bàn tay Ông đề cao vai trò của Chính phủ và lập luận Chính phủ có thể và cần phải can thiệp để giải quyết các thất bại của thị trường Ngày nay, các nhà kinh tế học đều thừa nhận vai trò của cả thị trường và Chính phủ và cho rằng cần phải đạt được một sự cân đối giữa thị trường và can thiệp của Chính phủ Để tìm ra sự cân đối này, các nhà kinh tế thường dựa vào kinh tế học phúc lợi để nghiên cứu các vấn đề thuộc về kinh tế học chuẩn tắc nhằm đưa ra các khuyến nghị để có thể tổ chức nền kinh tế một cách tốt nhất

Trong một nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh hoàn hảo, người

ta không cần quan tâm tới các vấn đề về kinh tế học phúc lợi bởi lẽ lực thị trường đã giải quyết tất cả các vấn đề về tổ chức nền kinh tế Tuy nhiên, một khi có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, những can thiệp đó sẽ làm thay đổi cách thức xã hội tổ chức nền kinh tế Kinh tế học phúc lợi giúp định hướng cách thức Chính phủ điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế Hầu hết các nền kinh tế trên thế giới hiện nay là kinh tế hỗn hợp, nghĩa là Chính phủ tham gia vào định hướng cách thức tổ chức nền kinh tế cùng với bàn tay vô hình của thị trường Tùy thuộc vào mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế xã hội của mỗi Chính phủ, các nhà kinh tế học phúc lợi đưa ra các khuyến nghị để có thể theo đuổi các mục tiêu đó một cách tốt nhất

Hiệu quả Pareto1 là một chỉ tiêu hiệu quả được các nhà kinh tế học

sử dụng phổ biến nhất Nền kinh tế sẽ đạt được hiệu quả Pareto nếu cách phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế đó đảm bảo không ai có thể thay đổi cách phân bổ đó để làm một người giàu lên mà không làm cho một

Trang 19

người khác nghèo đi Phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto hay nền kinh tế đạt hiệu quả Pareto gắn với sản xuất đạt hiệu quả Pareto, theo đó với mỗi lượng nguồn lực đầu vào nhất định, nền kinh tế không thể tăng lượng sản xuất một mặt hàng mà không làm giảm lượng sản xuất một mặt hàng khác Một sự cải thiện Pareto là một sự thay đổi theo đó người

ta có thể làm một người giàu lên mà không làm người khác nghèo đi hay làm tăng sản lượng một mặt hàng mà không làm giảm sản lượng một mặt hàng khác Các nhà kinh tế học luôn tìm kiếm cơ hội để có thể thực hiện một sự cải thiện Pareto

Kinh tế học phúc lợi khẳng định rằng trong điều kiện cạnh tranh lý tưởng, tất cả các nền kinh tế cạnh tranh có hiệu quả Pareto Vấn đề đặt ra

là hiệu quả Pareto quan tâm tới sự phân bổ nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế và kết quả kinh tế thu được cho toàn xã hội từ việc sử dụng các nguồn lực được phân bổ đó Các nhà kinh tế học luôn luôn tìm kiếm cơ hội để tạo ra một sự cải thiện Pareto nhằm làm tăng tổng sản lượng của toàn xã hội Dựa theo tiêu chuẩn là hiệu quả Pareto, các nhà kinh tế học

sẽ đề xuất bất kỳ phương án tổ chức nền kinh tế nào đem lại một sự cải thiện Pareto, ngay cả trong trường hợp sự cải thiện Pareto đó sẽ làm người giàu giàu lên nhanh hơn người nghèo

Ngược lại, các nhà xã hội học sẽ chú ý nhiều hơn tới vấn đề bất

bình đẳng thu nhập, khoảng cách giàu nghèo gia tăng và những hậu quả

về mặt xã hội đi theo Vấn đề gia tăng khoảng cách giàu nghèo đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển như Việt Nam Trong những năm trước Đổi mới kinh tế năm 1986, đời sống kinh tế của nhân dân cả nước ta ở mức thấp, nhưng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư không lớn, mọi người nghèo như nhau Kể từ khi Đổi mới kinh tế bắt đầu cuối năm 1986, tăng trưởng kinh tế được nâng cao, đời sống của tất cả các tầng lớp nhân dân được tăng lên và rõ ràng có một sự cải thiện Pareto, mọi người đều được lợi Tuy nhiên, Đổi mới kinh tế cũng làm cho một bộ phận dân cư giàu lên nhanh hơn các bộ phận khác khiến bất bình đẳng gia tăng, và khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn Cái giá phải trả cho hiệu quả là bất bình đẳng Trong điều kiện đó, để đảm bảo

Trang 20

có thể duy trì tổ chức nền kinh tế một cách hiệu quả, Chính phủ có vai trò rất lớn trong việc tái phân phối thu thập

Kinh tế học phúc lợi cho rằng sau khi phân phối lại thu nhập ban đầu, hiệu quả Pareto có thể đạt được thông qua cơ chế thị trường cạnh tranh Nghĩa là, sau khi thu nhập được phân phối lại theo cách thức mà Chính phủ mong muốn, hiệu quả Pareto lại có thể đạt được thông qua thị trường cạnh tranh Hay nói cách khác, hiệu quả Pareto có thể đạt được

mà không cần phải có một cơ quan kế hoạch hóa tập trung, Chính phủ chỉ cần phân phối lại thu nhập một lần sau đó để việc phân bổ nguồn lực khan hiếm của xã hội cho thị trường cạnh tranh Tuy nhiên, hiệu quả Pareto chỉ có thể đạt được trong điều kiện cạnh tranh lý tưởng Vậy trong những trường hợp nào thì thị trường cạnh tranh không đạt được điều kiện lý tưởng

Vào những năm đầu thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp

là hiện tượng kinh tế phổ biến trong nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa Cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 đã chứng tỏ các học thuyết kinh

tế thị trường tự do không còn hiệu nghiệm "Thị trường thất bại" và Chính phủ bị gây áp lực mạnh cần phải làm một điều gì đó để khắc phục thất bại của thị trường Lý thuyết về sự thất bại của thị trường là cơ sở để giải thích cho sự cần thiết phải có can thiệp của nhà nước vào hoạt động của thị trường cạnh tranh

Thất bại của thị trường nảy sinh do có sự tồn tại của các tác nhân cản trở sự hoạt động của một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, làm cho nền kinh tế không đạt được hiệu quả Pareto Các tác nhân đó có thể là thị trường độc quyền (monopoly), hàng hoá công cộng (public goods), ngoại ứng (externalities), thị trường chưa hoàn chỉnh (incomplete market), thông tin không hoàn hảo (imperfect information)

Cạnh tranh là điều kiện để thị trường tự do có thể hoạt động hiệu quả Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, theo đó cả người mua và người bán đều không thể tác động đến giá cả thị trường, là điều kiện cạnh tranh lý tưởng để có thể phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto Một trong những

Trang 21

điều kiện để có thị trường cạnh tranh là phải có nhiều người mua và nhiều người bán trên thị trường Độc quyền và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là những tình huống làm cho thị trường mất tính cạnh tranh và vì thế không đạt được hiệu quả Pareto trong phân bổ nguồn lực khan hiếm Độc quyền là tình huống mà thị trường chỉ có một người cung cấp duy nhất Cạnh tranh không hoàn hảo là các tình huống nằm giữa hai thái cực cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền, ví dụ, thị trường có thể có một số ít người bán hoặc người mua có khả năng cấu kết với nhau Hậu quả của độc quyền là giá cả bị tăng lên và sản lượng bị giảm xuống so với trường hợp cạnh tranh Đây là trường hợp sụt giảm sản lượng do cạnh tranh không hoàn hảo và làm nền kinh tế không đạt được hiệu quả Pareto

Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mà sự tiêu dùng của một

người không ảnh hưởng tới sự tiêu dùng của những người khác rival consumption) hay nói cách khác chi phí biên để tăng thêm một người sử dụng hàng hóa công cộng là bằng không Hơn nữa, khó có thể loại trừ (ngăn cấm) một người nào đó sử dụng hàng hóa công cộng Môi trường trong sạch, quốc phòng, đường xá là những thí dụ điển hình về hàng hóa công cộng Mọi người đều có nhu cầu sống trong một môi trường trong sạch, nhưng chi phí để duy trì môi trường trong sạch không tăng lên khi có thêm một người sử dụng Hơn nữa, nếu một cộng đồng

(non-có môi trường trong sạch, khó (non-có thể ngăn cản một thành viên nào của cộng đồng đó sử dụng môi trường trong sạch Do tính chất không thể loại trừ (non-exclusion) của hàng hóa công cộng có một số người trong cộng đồng sẽ tìm cách sử dụng hàng hóa công cộng mà không trả tiền (free-rider problem) Thị trường tư nhân thường không cung cấp hàng hóa công cộng hoặc nếu có cung cấp thì không cung cấp đầy đủ Đây là một thất bại quan trọng nữa của thị trường khiến cạnh tranh không đem lại hiệu quả Pareto Để khắc phục hạn chế này của thị trường cạnh tranh, Chính phủ phải đứng ra xác định số lượng hàng hóa công cộng cần thiết cho toàn xã hội và tổ chức cung cấp hàng hóa đó trên cơ sở đóng góp của toàn xã hội thông qua thuế hoặc phí sử dụng

Trang 22

Ngoại ứng (externalities) nảy sinh khi hành động của một người hoặc một doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới chi phí hoặc lợi ích của những người khác hoặc các doanh nghiệp khác Ngoại ứng tiêu cực (negative externalities) là ngoại ứng xảy ra khi một người làm tăng chi phí sản xuất hoặc tiêu dùng của một người khác mà không bồi thường cho họ Ngoại ứng tích cực (positive externalities) là ngoại ứng xảy ra khi một người trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng của mình đem lại lợi ích cho một người khác mà không nhận được sự đền đáp từ người được hưởng lợi ích Ngoại ứng không thể được giải quyết thông qua thị trường cạnh tranh và là nhân tố cản trở thị trường cạnh tranh đem lại hiệu quả Pareto trong việc phân bổ nguồn lực Ngoại ứng là một thất bại quan trọng của thị trường có nhiều ứng dụng trong kinh tế học môi trường nói chung và kinh tế chất thải nói riêng

Thị trường chưa hoàn chỉnh (incomplete markets) là các thị trường không có khả năng cung cấp một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó ngay cả trong trường hợp chi phí để cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ đó thấp hơn giá cả mà thị trường sẵn sàng chi trả để mua hàng hóa hoặc dịch vụ đó Một số thí dụ về thị trường chưa hoàn chỉnh phổ biến ở các nước là thị trường vốn và thị trường bảo hiểm

Một trong những nguyên nhân khiến thị trường vốn và thị trường tài chính không hoàn chỉnh là do hệ quả của hiện tượng thông tin bất đối xứng (asymmetric information) Thông tin bất đối xứng xảy ra khi các bên tham gia vào một giao dịch hay hợp đồng không có thông tin giống như nhau - người mua người bán không có cùng một lượng thông tin giống nhau về sản phẩm giao dịch Ví dụ người bảo hiểm và ngân hàng không có thông tin đầy đủ về người được bảo hiểm hay người đi vay vốn như bản thân những người đó Hai hiện tượng phổ biến xảy ra trong trường hợp thông tin bất đối xứng là sự lựa chọn bất lợi (adverse selection) và hiểm họa đạo đức (moral hazard)

Thí dụ, trong lĩnh vực bảo hiểm, hiểm họa đạo đức xảy ra khi người được bảo hiểm trở nên thiếu cẩn trọng hơn trong việc bảo vệ đối

Trang 23

tượng được bảo hiểm Sự bất cẩn của người được bảo hiểm làm rủi ro của công ty bảo hiểm tăng lên Trên thị trường vốn, ngân hàng phải đối mặt với sự lựa chọn bất lợi khi họ phải lựa chọn các nhà đầu tư mà không rõ về rủi ro của các dự án đầu tư của các nhà đầu tư đó Chỉ có nhà đầu tư trực tiếp mới có thể hiểu được tất cả các rủi ro liên quan tới

dự án đầu tư của mình Trong kinh doanh, lợi nhuận cao thường đi kèm với rủi ro cao Vì không có thông tin đầy đủ như các nhà đầu tư, trong một nhóm các nhà đầu tư giống nhau nhìn từ phía ngân hàng, ngân hàng không thể phân biệt được ai là nhà đầu tư mạo hiểm, ai là nhà đầu tư an toàn Nếu ngân hàng đặt lãi suất quá cao, chỉ có các nhà đầu tư mạo hiểm mới có thể vay nợ để đầu tư Kết quả là, nếu các dự án đầu tư mạo hiểm phá sản, ngân hàng sẽ không có khả năng thu hồi vốn Để thu hút các nhà đầu tư với các dự án có chất lượng tốt hơn, ngân hàng buộc phải

hạ lãi suất để cho các dự án đầu tư an toàn hơn nhưng có lợi nhuận thấp hơn có thể vay tiền Tuy nhiên, với lãi suất thấp ngân hàng không thể đáp ứng được nhu cầu của tất cả các nhà đầu tư bao gồm cả các nhà đầu

tư an toàn và các nhà đầu tư mạo hiểm Trong số những nhà đầu tư xin vay nợ, ngân hàng chỉ có thể xét duyệt cho một số nhà đầu tư được vay Kết quả là tín dụng bị chia sẻ, giữa các nhà đầu tư và có một số nhà đầu

tư sẵn sàng trả lãi suất cao hơn để vay vốn cũng không được ngân hàng đáp ứng Lý do các thị trường không tồn tại hoặc tồn tại chưa hoàn chỉnh

là lý do để nhà nước can thiệp vào nhằm cải thiện hiệu quả của thị trường Tuy nhiên, bản thân nhà nước cũng sẽ phải đối phó với các vấn

đề như thông tin bất đối xứng nêu trên

Người tiêu dùng và các hãng sản xuất có thể có những hành động

đi ngược lại lợi ích của chính họ nếu họ không có đầy đủ thông tin về hàng hóa được giao dịch Rất nhiều hoạt động can thiệp của Chính phủ vào thị trường là nhằm bảo vệ người tiêu dùng và các nhà đầu tư, đảm bảo cho người tiêu dùng và các nhà đầu tư có được đầy đủ lượng thông tin cần thiết để ra quyết định mua bán hoặc sản xuất hàng hóa hoặc dịch

vụ Yêu cầu của Chính phủ nhằm buộc các công ty dược phẩm và các công ty thực phẩm phải in rõ thông tin về sản phẩm của mình để cung

Trang 24

cấp cho khách hàng là một trong những nỗ lực làm giảm tác động tiêu cực của thông tin không hoàn hảo tới phân bổ nguồn lực hiệu quả

Mặc dù một trong các giả định về điều kiện cạnh tranh lý tưởng để

có hiệu quả Pareto là thông tin phải hoàn hảo, thông tin bất đối xứng là một hiện tượng khá phổ biến Và vì vậy, rất nhiều hoạt động kinh tế trên thực tế là để thu thập thông tin, ngân hàng tìm kiếm thông tin xem ai là nhà đầu tư an toàn, nhà đầu tư tìm thông tin về cơ hội đầu tư tốt, công ty bảo hiểm tìm kiếm thông tin về khách hàng

Thất bại cuối cùng của thị trường mà chúng ta nghiên cứu là các vấn đề liên quan tới kinh tế vĩ mô Điều kiện để có thể đạt được hiệu quả Pareto là thị trường phải cạnh tranh hoàn hảo, nói một cách khác tất cả các thị trường bao gồm cả thị trường tư liệu sản xuất và thị trường hàng hóa tiêu dùng phải tiêu thụ hết hàng hóa Tuy nhiên, thất nghiệp kinh niên là một bằng chứng rõ nét nhất về sự không hoàn hảo của thị trường lao động và được coi là thất bại lớn nhất của thị trường Lạm phát có nguyên nhân xuất phát từ Chính phủ và là nhân tố làm trầm trọng thêm những thất bại sẵn có của thị trường

Chu kỳ kinh doanh thể hiện sự cần thiết phải có sự can thiệp của Chính phủ để rút ngắn thời gian suy thoái và kéo dài thời kỳ tăng trưởng Trước khi xuất hiện học thuyết kinh tế của Keynes về vai trò của Chính phủ, cái vòng luẩn quẩn của suy thoái kinh tế đã đẩy nền kinh tế các nước theo chủ nghĩa thị trường tự do tới hết cuộc khủng hoảng kinh tế này tới cuộc khủng hoảng kinh tế khác mà đỉnh điểm là đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933

Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế học đều nhất trí thị trường có thất bại và sự can thiệp của Chính phủ để giải quyết các thất bại của thị trường là cần thiết Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học vẫn thấy cần hạn chế sự can thiệp của Chính phủ bởi lẽ họ cho rằng giới hạn thông tin của Chính phủ, thủ tục hành chính quan liêu, thủ tục chính trị phức tạp và khả năng hạn chế trong việc kiểm soát phản ứng của khu vực tư nhân là

Trang 25

những trở ngại lớn ngăn cản khả năng can thiệp giải quyết thất bại thị trường của Chính phủ

1.1.2 Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia hay thu nhập quốc dân theo đầu người trong một khoảng thời gian nhất định Mặc dù đôi khi khái niệm tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có thể được sử dụng thay thế cho nhau, phát triển kinh tế là một khái niệm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Trong khi khái niệm tăng trưởng kinh tế là một khái niệm khá rõ ràng và ít gây tranh cãi, khái niệm phát triển luôn luôn là một khái niệm gây tranh cãi cho tất cả các nhà kinh tế học Điều này không có nghĩa là các nhà khoa học không chú ý nghiên cứu về phát triển Trái lại, phát triển luôn là mối quan tâm nghiên cứu hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế học và của các nhà xã hội học trên khắp thế giới

Trong một thời gian dài kể từ sau Chiến tranh Thế giới II, khái niệm phát triển đã được gắn liền với các thước đo về sản lượng và thu nhập quốc dân hay nói cách khác là gắn liền với tăng trưởng kinh tế Trong thời gian này, mặc dù các nhà kinh tế có đề cập tới các vấn đề xã hội cần lưu ý trong phát triển, tăng trưởng kinh tế được đặc biệt coi trọng

và tăng trưởng vốn đầu tư được coi là phương tiện để có thể thực hiện mục tiêu phát triển Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân theo đầu người được coi là thước đo phát triển duy nhất Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trở thành những thước đo phát triển tin cậy nhất Khi GNP trở thành mục tiêu của phát triển vào những năm

1950 và 1960, vấn đề phúc lợi xã hội không được chú ý Người ta cho rằng phúc lợi xã hội là cái tất nhiên theo sau tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa thu nhập và chất lượng cuộc sống được thể hiện qua thu nhập theo đầu người

Vào những năm 1960 thực tế ở các nước đang phát triển đã chứng

tỏ tăng trưởng thu nhập tự nó không giải quyết được tất cả các vấn đề phát triển Phát triển kinh tế hiểu theo một nghĩa chung nhất phải bao

Trang 26

hàm sự nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của con người Với

ý nghĩa đó, mặc dù tăng trưởng kinh tế vẫn là điều kiện cần để có thể phát triển, cùng với tăng trưởng kinh tế, phát triển phải bao hàm cả một quá trình chuyển dịch cơ cấu, theo đó tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp

và giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia Phát triển còn bao hàm cả quá trình đô thị hóa và thay đổi cơ cấu dân số theo hướng tăng dân số sống ở thành phố và giảm dân số sống ở nông thôn Đi kèm với phát triển là sự sụt giảm nhanh chóng tốc độ tăng trưởng dân số và nâng cao tuổi thọ do chất lượng dịch vụ y tế và giáo dục được nâng cao Phát triển kinh tế làm thay đổi cả cơ cấu tiêu dùng của đại bộ phận dân số Mọi người không còn sử dụng toàn bộ thu nhập của họ cho các đồ dùng thiết yếu mà bắt đầu mua sắm các đồ dùng lâu bền và tiến tới sử dụng ngày càng nhiều các sản phẩm và dịch vụ giải trí Phát triển còn đòi hỏi sự trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển của tất cả mọi người nhằm tự mình sản xuất ra những kết quả của sự phát triển và tự mình hưởng thụ những lợi ích do tăng trưởng đem lại

Theo định nghĩa của Ủy ban Brundtland (Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển 1987) phát triển bền vững là một sự phát triển đảm bảo đáp ứng các nhu cầu cuộc sống của thế hệ hiện tại mà không làm thay đổi khả năng đáp ứng nhu cầu cuộc sống của thế hệ mai sau Mặc

dù định nghĩa của Ủy ban Brundtland là một tuyên bố có ý nghĩa rất lớn trong việc kêu gọi mọi người chú ý tới sự ứng xử công bằng giữa các thế

hệ trong việc chia sẻ việc sử dụng các nguồn lực hữu hạn của thế giới, định nghĩa này quá tổng quát và các nhà kinh tế học, xã hội học và sinh thái học có thể giải thích theo rất nhiều cách khác nhau

Phát triển bền vững về bản chất chỉ là một sự mở rộng khái niệm phát triển qua phạm vi thời gian, bao gồm cả các thế hệ khác nhau Theo

đó phát triển bền vững đòi hỏi trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với

sự phát triển của thế hệ mai sau thông qua việc bảo vệ môi trường và gìn giữ tài nguyên thế giới cho thế hệ tương lai Nói một cách khác Phát triển bền vững bao hàm việc lồng ghép vấn đề môi trường vào khái niệm phát triển thông thường Cộng đồng thế giới bắt đầu quan tâm tới vấn đề

Trang 27

suy giảm chất lượng môi trường từ hơn 30 năm trước và đã cùng nhau thỏa thuận tại Stockholm về sự cần thiết phải đối phó với sự suy giảm chất lượng môi trường năm 19721 Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất tại Rio de Janeiro đã thông qua Chương trình Nghị sự 21 và ra Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro năm 1992 là nền tảng đánh dấu nỗ lực của toàn thể nhân loại vì một thế giới phát triển bền vững Mười năm sau đó, cộng đồng thế giới lại nhóm họp một lần nữa tại Johannesburg, Nam Phi để khẳng định quyết tâm của mình vì một thế giới phát triển bền vững Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững tại Johannesburg năm 2002 là nỗ lực của cộng đồng thế giới nhằm tìm ra những giải pháp để gỡ bỏ những trở ngại ngăn cản việc theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững thông qua việc thực thi Chương trình Nghị sự

21

Việc lồng ghép vấn đề môi trường vào khái niệm phát triển truyền thống không làm thay đổi bản chất của sự phát triển đó là lấy con người làm trung tâm và là mục tiêu của phát triển Nguyên tắc thứ nhất của Tuyên bố Rio khẳng định "Con người là trung tâm của các vấn đề liên quan tới phát triển bền vững Con người có quyền sống một cuộc sống lành mạnh và hữu ích trong mối quan hệ hài hòa với tự nhiên"

Với ý nghĩa đó, phát triển bền vững bao gồm ba bộ phận chính: phát triển kinh tế, phát triển xã hội, và bảo vệ môi trường Phát triển kinh

tế bao hàm việc sử dụng một cách tối ưu và hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên để có thể làm giàu tối đa cho xã hội đồng thời xóa nghèo trên phạm vi toàn thế giới Phát triển xã hội đòi hỏi giảm bất bình đẳng, nâng cao phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng y tế và giáo dục cho cộng đồng, đảm bảo an ninh cho cộng đồng, tôn trọng quyền con người của mỗi cá nhân, đồng thời phát triển các nền văn hóa đa dạng và lấy dân chủ tại gốc làm cơ sở cho các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của nhân dân

Trang 28

Bảo vệ môi trường đòi hỏi phải quan tâm tới việc gìn giữ và làm giàu các

cơ sở tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái

Để có thể phát triển bền vững vấn đề sống còn là khả năng đánh giá đúng mức và quản lý hợp lý mỗi quan hệ qua lại phức tạp giữa các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường Ví dụ, có một sự đánh đổi giữa các mục tiêu kinh tế và các mục tiêu môi trường Tăng trưởng kinh

tế là kết quả của hoạt động sáng tạo không ngừng của con người nhằm chế ngự thiên nhiên và chuyển hóa các tài nguyên thiên nhiên thành hàng hóa và dịch vụ phục vụ cuộc sống con người Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả thu được từ tăng trưởng kinh tế, con người cũng phải trả giá cho những hành động của mình Tài nguyên thiên nhiên bị tiêu hao, môi trường tự nhiên bị suy giảm chất lượng do tác động của ô nhiễm khí quyển, ô nhiễm nguồn nước, thay đổi khí hậu và biến động bất thường đối với đa dạng sinh học

Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã nhận ra tầm quan trọng của việc hiểu một cách thấu đáo thế nào là phát triển bền vững Từ Stockholm năm 1972, tới Rio de Janeiro năm 1992 và Johannesburg năm

2002, khái niệm phát triển bền vững đã phát triển theo thời gian Từ việc chỉ tập trung vào khía cạnh môi trường đến nay phát triển bền vững đã được coi là cả một quá trình phức tạp trong đó các mục tiêu về kinh tế,

xã hội và môi trường được lồng ghép với nhau để tạo nên một kết quả hài hòa theo đó phải đảm bảo một tương lai tươi sáng cho thế giới mai sau trong khi vẫn đảm bảo chất lượng cuộc sống con người cho thế giới hôm nay trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý và có trách nhiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tạo ra một thách thức lớn cho các nhà hoạch định chính sách trong việc đưa ra các lựa chọn chính sách đảm bảo cân đối được các mục tiêu kinh tế cũng như môi trường Tăng trưởng mang lại lợi ích kinh tế cho các nhóm dân

cư khác nhau, khác nhau theo không gian, thời gian, và nguồn gốc của các nhóm dân cư đó Việc quyết định thời gian và địa điểm đầu tư cho

Trang 29

tăng trưởng kinh tế là những lựa chọn khó khăn của các nhà hoạch định chính sách Mỗi một sự lựa chọn, một quyết định chính sách sẽ đem lại những hậu quả tiêu cực và tích cực đối với kinh tế, xã hội và môi trường

Để có được những bước đi cẩn trọng và chắc chắn trong việc thực hiện phát triển bền vững, cần phải có các đánh giá thấu đáo về cả tác động tiêu cực lẫn tích cực đối với kinh tế, xã hội và môi trường trước khi đưa ra các lựa chọn chính sách Các nhà hoạch định chính sách cần phải chỉ ra được những sự đánh đổi giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường (khi lợi ích thu được cho lĩnh vực này lại gây thiệt hại cho lĩnh vực khác) để đề ra những biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của mỗi một lựa chọn chính sách của mình

Phát triển bền vững đòi hỏi sự phối hợp nỗ lực quốc gia và quốc

tế Trên bình diện quốc gia, phát triển bền vững đòi hỏi một sự thay đổi thể chế, chính sách sao cho sự phối hợp thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững phải được thực hiện thông suốt ở tất cả các ngành các cấp Phát triển bền vững phải được xây dựng trên cơ sở nền tảng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng sẵn có ở mỗi quốc gia Phát triển bền vững vừa là mục tiêu cuối cùng vừa là bản thân quá trình theo đuổi mục tiêu đó Phát triển bền vững không phải là việc có thể để lại để thực hiện trong dài hạn

mà phát triển bền vững bao gồm tất cả những hoạt động kinh tế ngắn hạn, trung hạn để giải quyết các vấn đề hiện tại song song với việc chú ý giải quyết các vấn đề dài hạn hơn Trên bình diện quốc tế, phát triển bền vững đòi hỏi sự nỗ lực chính sách của tất cả các nước vì một mục đích chung đó là xây dựng thế giới hôm nay một cách có trách nhiệm cho sự phát triển của thế giới mai sau

Chương trình Nghị sự 21 kêu gọi các nước sử dụng Chiến lược Phát triển Bền vững Quốc gia làm cơ sở cho việc chuyển hóa các mục tiêu phát triển bền vững thành những chính sách và hành động cụ thể của mỗi quốc gia Chiến lược Phát triển Bền vững Quốc gia (NSDS - National Sustainable Development Strategy) được Ủy ban Liên hiệp quốc về Phát triển Bền Vững định nghĩa là một quá trình xử lý phối hợp

Trang 30

liên tục và dân chủ các tư tưởng và hành động ở cấp độ quốc gia cũng như cấp độ ngành và các địa phương để có thể lồng ghép một cách cân đối các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia Thông qua chiến lược phát triển bền vững quốc gia, các nước có thể thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở cấp địa phương, quốc gia cũng như khu vực Chiến lược phát triển bền vững quốc gia bao gồm quá trình việc phân tích hiện trạng, soạn lập chính sách và kế hoạch hành động, thực hiện, giám sát và kiểm tra định

kỳ Chiến lược phát triển bền vững quốc gia với ý nghĩa là một quá trình lặp liên tục và có tính định kỳ đặt trọng tâm vào cả quá trình quản lý thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững chứ không chú trọng tới bản thân việc xây dựng nên một văn kiện chiến lược

Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử,

và môi trường của mỗi nước, các nước khác nhau sẽ có các chiến lược phát triển bền vững quốc gia khác nhau Một định hướng thống nhất và bao trùm cho tất cả các chiến lược quốc gia là phải lồng ghép các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường một cách cân đối Chiến lược phát triển bền vững là công cụ cung cấp thông tin để các quốc gia có thể đưa

ra các quyết định chính sách Chiến lược cần phải thể chế hóa quá trình tham vấn, đối thoại, và hòa giải các xung đột về mục tiêu phát triển giữa các nhóm có lợi ích khác nhau

Tất cả các nước đều thu được lợi ích từ quá trình soạn lập chiến lược phát triển bền vững Một chiến lược phát triển bền vững sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ra quyết định của Chính phủ thông qua việc chỉ rõ các mục tiêu, mục đích, và chính sách để thực hiện phát triển bền vững Bên cạnh việc phân tích lồng ghép các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường một cách toàn diện chiến lược cũng chỉ ra và đánh giá đầy đủ tác động của các lựa chọn chính sách

Hơn nữa, chiến lược phát triển bền vững sẽ giúp các quốc gia huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế để phục vụ phát triển thông qua việc cung cấp thông tin cho dân chúng và cộng đồng các nhà tài trợ

Trang 31

Chiến lược cũng góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực thông qua việc chỉ ra các ưu tiên, mục tiêu và chương trình phát triển trên cơ sở tham vấn tất cả các nhóm chia sẻ lợi ích Ngoài ra, chiến lược phát triển bền vững còn góp phần giải quyết các xung đột lợi ích thông qua đối thoại và hòa giải đồng thời xây dựng thể chế và nguồn lực con người để duy trì tăng trưởng bền vững và cải cách xã hội

Để chiến lược phát triển bền vững phát huy tác dụng phải có một

hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả phát triển bền vững để có thể kiểm tra, theo dõi, giám sát quá trình thực hiện chiến lược Ủy ban Phát triển Bền vững Liên hiệp quốc đã ban hành một hệ thống các chỉ số cơ bản để các nước có thể sử dụng phát triển riêng một hệ thống chỉ số, chỉ báo cho riêng mình Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững cần phải thiết kế một hệ thống điều hòa các chính sách kinh tế, xã hội và môi trường Hệ thống này có thể được xây dựng trên cơ sở các ma trận chỉ rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong việc thực thi từng chính sách cụ thể đối với ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường Một hệ thống như vậy sẽ tạo điều kiện cho các nước hạn chế các chính sách trái ngược nhau và đảm bảo một môi trường chính sách có khả năng

hỗ trợ lẫn nhau trên cả ba lĩnh vực

Chiến lược phát triển bền vững phải chú trọng tới việc lên kế hoạch hành động và lập dự toán ngân sách Mặc dù chiến lược phát triển bền vững được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp tiếp cận vĩ mô nhưng chiến lược lại phải đáp ứng yêu cầu chỉ ra được những hành động

cụ thể ở tầm vi mô để có thể thực hiện được mục tiêu của chiến lược Ngân sách là một công cụ quan trọng để Chính phủ có thể sử dụng nguồn lực công nhằm phục vụ các mục tiêu chung trên cơ sở thực hiện các mục tiêu của phát triển bền vững

Chiến lược phát triển bền vững không chỉ chú trọng tới một lĩnh vực cụ thể nào mà được xây dựng cho tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Tuy nhiên chiến lược phải chỉ ra được những lĩnh vực ưu tiên hành động Sáng kiến WEHAB (Water and sanitation, Energy, Health, Agriculture,

Trang 32

and Biodiversity protection and ecosystem management) của Liên hiệp quốc chỉ ra các lĩnh vực phải ưu tiên hành động hiện nay là nước uông

và vệ sinh, năng lượng, y tế, nông nghiệp, và bảo vệ đa dạng sinh học cũng như quản lý hệ sinh thái)

Kể từ trước và sau Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển Bền vững tại Johannesburg năm 2002, các nước trên thế giới đã bắt đầu quá trình xây dựng các chiến lược phát triển bền vững quốc gia cho mình Chiến lược phát triển bền vững quốc gia đã, đang và sẽ là kim chỉ nam cho hành động của cộng đồng quốc tế vì một sự nghiệp chung: phát triển cho thế giới hôm nay và bảo vệ môi trường cho thế giới mai sau Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử, và môi trường của mỗi nước, các nước khác nhau sẽ có các chiến lược phát triển bền vững quốc gia khác nhau Tất cả các nước đều thu được lợi ích từ quá trình soạn lập chiến lược phát triển bền vững Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững cần phải thiết kế một hệ thống điều hòa các chính sách kinh tế, xã hội và môi trường

1.1.3 Vai trò của nền kinh tế tri thức trong phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại

Kinh tế thị trường đã phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử Trong thế kỷ 20, nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công nhờ hiện đại hóa nền kinh tế công nghiệp, lấy mô hình và cơ cấu kinh tế công nghiệp làm trọng tâm Khi Khoa học và công nghệ phát triển trở thành lực lượng sản xuất, thì kinh tế tri thức trở nên quan trọng

Fritz Machlup và Peter Drucker là những người đâu tiên đưa ra khái niệm nền kinh tế tri thức vào những năm 1960 Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ trên toàn thế giới, kinh tế tri thức đã trở thành một trong những định hướng chiến lược phát triển quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới Các nước phát triển và đang phát triển đều ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, khó có thể định nghĩa chính xác kinh tế tri thức bởi tùy cách

Trang 33

tiếp cận các nhà khoa học, kinh tế, và phát triển xã hội sẽ hiểu theo các cách khác nhau

Kinh tế tri thức được hiểu “Là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm việc thu nhận và khai thác nguồn tri thức toàn cầu cũng như thích ứng và sáng tạo tri thức để dùng cho các nhu cầu riêng.” (Ngân hàng Thế giới, World Bank); hay kinh tế tri thức “Là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc tạo ra, phân phối

và sử dụng tri thức và thông tin.” (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD), và kinh tế tri thức “Là nền kinh tế trong đó việc tạo ra, truyền

bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.” (Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, APEC)

Kinh tế tri thức có thể được gọi bằng nhiều tên gọi khác như kinh

tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy) hay kinh tế được điều hành bởi tri thức (knowledge-driven economy) Trong nền kinh tế tri thức, việc phát triển và ứng dụng thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, như khoa học về sự sống, công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ nano, đóng một vai trò quyết định với

sự vận hành và phát triển của nền kinh tế

Trong nền kinh tế tri thức, chính phủ đặt trọng tâm vào phát triển các nền tảng của tri thức và ứng dụng vào hoàn cảnh kinh tế thực tế Nguồn lực của nền kinh tế được tập trung để phát triển tri thức và khoa học ứng dụng Hệ thống giáo dục phổ thông, các trường đại học, các viện nghiên cứu được xây dựng gắn kết để tạo thành một chuỗi cung cấp tri thức Một hệ thống giáo dục hữu hiệu có khả năng khuyến khích khả năng sáng tạo của con người và hướng tới những phát minh, sáng chế có khả năng ứng dụng thực tiễn là nền tảng để phát triển kinh tế tri thức Chương trình giảng dạy đại học phải đảm bảo gắn kết giữa giảng dạy với nghiên cứu khoa học và gắn kết giữa giảng dạy với thực tiễn

Tri thức là một hàng hóa công cộng Một khi tri thức được sáng tạo, nó trở thành sản phẩm của nhân loại Chính vì vậy để nuôi dưỡng và

Trang 34

phát triển tri thức Chính phủ cần phải đầu tư giống như xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế Chính phủ cần tập trung đầu tư vào

hệ thống giáo dục và y tế để đảm bảo có một nguồn nhân lực có sức khỏe và trí tuệ để tiếp thu và phát triển các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào cuộc sống Bên cạnh đó phát triển các trường đại học, các viện nghiên cứu ứng dụng cao cấp là điều kiển để chuyển giao tri thức thành các sản phẩm kinh tế có ý nghĩa Chính phủ cần có chính sách bảo hộ cho các sản phẩm trí tuệ, tạo điều kiện cho những người phát triển các sản phẩm trí tuệ có điều kiện thu hồi vốn để tiếp tục phát triển tri thức

Tuy nhiên, sự nỗ lực của Chính phủ là chưa đủ Trong nền kinh tế tri thức, các chủ thể tham gia vào quá trình tạo ra tri thức ý thức được tầm quan trọng của tất cả các thành viên trong chuỗi cung cấp tri thức Các doanh nghiệp là nơi tạo ra sản phẩm cuối cùng có khả năng tạo ra thu nhập là kết quả của quá trình sáng tạo tri thức hiểu được sự cần thiết phải sử dụng nguồn lực từ các trường đại học, các viện nghiên cứu làm đầu vào nòng cốt cho quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm của mình Chính vì vậy, doanh nghiệp sẵn lòng sử dụng nguồn lực của mình

để nuôi dưỡng và phát triển tri thức tại các trường đại học và các viện nghiên cứu thông qua trao đổi thường xuyên nhu cầu của doanh nghiệp

và khả năng vận động và điều chỉnh linh hoạt của hệ thống sáng tạo và phát triển tri thức nhằm đáp ứng nhu cầu thay đổi thường xuyên của doanh nghiệp và xã hội

Phát triển kinh tế tri thức cũng như mọi hoạt động kinh tế khác đòi hỏi phải nằm trong một kế hoạch tổng thể nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế hôm nay không làm suy giảm nguồn lực để phát triển kinh tế trong tương lai Hay nói một cách khác quy hoạch phát triển các ngành kinh tế phải dựa trên việc sử dụng tri thức trong một môi trường toàn cầu hóa Phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Thực vậy, vì để cho nền kinh tế tri thức có thể phát triển buộc phải quan tâm đúng mức tới phát triển các mục tiêu xã hội như y tế và giáo dục Bên cạnh đó, một nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế ít sử dụng tài nguyên Sản phẩm sáng tạo là sản

Trang 35

phẩm có hàm lượng công nghệ cao và sử dụng ít nguyên nhiên vật liệu thô Chính vì vậy kinh tế tri thức có thể được phát triển hài hòa với sự phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Kinh tế tri thức không đồng nhất với nền kinh tế của các công nghệ cao Kinh tế tri thức gắn với ứng dụng tri thức vào tất cả các mặt của đời sống kinh tế, xã hội Sản xuất nông nghiệp cũng có mặt trong nền kinh tế tri thức khi những người tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp có ý thức và có khả năng vận dụng tri thức vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm có hàm lượng tri thức cao Kinh tế tri thức đòi hỏi quá trình sáng tạo không ngừng và liên tục ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất nông nghiệp Quá trình công nghiệp hóa nông thôn và nâng cao hàm lượng tri thức trong giá trị sản phẩm nông nghiệp là những biểu hiện của vận dụng kinh

tế tri thức vào trong sản xuất nông nghiệp Với cách hiểu như vậy, mọi quốc gia đều có thể có định hướng phù hợp để phát triển kinh tế tri thức, không phụ thuộc vào trình độ phát triển

Trong những năm qua, Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Phát triển Hợp tác Kinh tế đã có nhiều báo cáo về việc định hình và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tri thức ở các nước phát triển và đang phát triển trên phạm vi toàn cầu Việc xây dựng một nền kinh tế tri thức có tác dụng cải biến cơ cấu kinh tế của một nước, chuyển các nền kinh tế từ lệ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường toàn cầu sang một nền kinh tế sản xuất có hàm lượng tri thức cao

Điều chỉnh kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững đòi hỏi phải gắn kết phát triển và tăng trưởng kinh tế với một nền kinh tế tri thức Kinh tế tri thức phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất xã hội, theo đó, trong từng sản phẩm và trong tổng sản phẩm quốc dân thì hàm lượng giá trị tạo ra bởi nguyên nhiên vật liêu, thiết bị máy móc giảm đi rất nhiều so với hàm lượng lao động sử dụng tri thức Phát triển nền kinh tế tri thức đòi hỏi phải phát triển chuỗi cung cấp và mạng lưới các ngành công nghiệp phụ trợ với những doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 36

có khả năng tập trung vào sản xuất những mặt hàng chuyên biệt, có giá trị cao Giá trị hàm lượng tri thức trong các sản phẩm cần được thể hiện thông qua những đặc tính ưu việt của sản phẩm Những sản phẩm này hấp dẫn được người tiêu dùng bởi những tính năng vượt trội, thể hiện sự sáng tạo của con người và ý thức cao độ của nhà sản xuất trong việc tìm kiếm những sản phẩm có những tính năng hấp dẫn, có giá trị gia tăng cao với hàm lượng tri thức lớn Những ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học, công nghệ là những ngành

có tác động to lớn tới sự phát triển kinh tế của đất nước

Kinh tế tri thức gắn liền với nguồn vốn trí thức và sáng tạo vô tận với những đặc trưng cơ bản sau đây:

- Vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức Tri thức là nguồn gốc của giá trị, tri thức là nguồn lực quan trọng tạo nên tốc độ tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế; của cải của xã hội được tạo

ra dựa vào tri thức nhiều hơn dựa vào tài nguyên thiên nhiên và sức lao động phổ thông Công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ tự động hóa và công nghê thông tin được ứng dụng rộng rãi trong công tác dự báo, lên

kế hoạch, vận hành , triển khai thực hiện và giám sát quá trình sản xuất Khoa học và công nghệ trở thành yếu tố sản xuất quan trọng và là lực lượng sản xuất trực tiếp Tổng sản phẩm xã hội cần tăng nhanh hơn tổng tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, và nhân trong khu vực sản xuất hàng hóa

- Sự sáng tạo, đổi mới và phát minh liên tục là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội Kinh tế tri thức phát triển dựa trên sáng tạo, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm Quá trình phát triển kinh tế là quá trình sáng tạo và phát triển khoa học và công nghệ mới Quá trình tiếp nhận, kế thừa, sáng tạo và sản xuất tri thức là quá trình quan trọng để hình thành một nền kinh tế tri thức Các sản phẩm hàng hóa tạo ra để đáp ứng nhu cầu của con người, các sản phẩm luôn cập nhật và tiếp thu những ứng dụng khoa học, công nghệ mới nhất của loài người

Trang 37

- Kinh tế tri thức là nền kinh tế đặt trọng tâm vào quá trình học tập

và giáo dục của các thành viên trong nền kinh tế Giáo dục và đào tạo phải tạo lập được cho con người một nền tảng kiến thức và khả năng vận dụng kiến thức thu được để tạo ra kiến thức mới Muốn vậy, hệ thống giáo dục cần đặt trọng tâm vào phát huy khả năng tự học tập và sáng tạo của con người Quá trình học tập không chỉ là quá trình thu nhận tri thức

mà còn là quá trình tạo ra tri thức Quá trình học tập, lấy người học làm trung tâm được coi là chủ đạo trong nền kinh tế tri thức Học tập cả đời

là nguyên lý và đạo tạo thường xuyên được coi là triết lý của phát triển giáo dục Giao dục cần được coi là trọng tâm ưu tiên đầu tư hàng đầu trong nền kinh tế Tiếp cận tới các dịch vụ giáo dục là quyền con người, phát triển tri thức là nhu cầu và cũng là đòi hỏi bắt buộc của con người, nâng cao kỹ năng làm việc, phát triển sức sáng tạo, thúc đẩy đổi mới kinh tế, xã hội là nền tảng của phát triển Xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri thức

- Nền kinh tế tri thức đặt trọng tâm vào ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ tự động hóa và công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực Công nghệ tự động hóa giúp giảm lao động giản đơn để tập trung nguồn lực vào phát triển các sản phẩm trí tuệ Công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo là nền tảng để nâng cao hiệu quả sản xuất Công nghệ thông tin đã thay đổi cách thức liên lạc, trao đổi tương tác, và cách thức làm việc nhóm trên thế giới Công nghệ thông tin cho phép quá trình cung cấp dịch vụ có thể được thực hiện bên ngoài phạm vi của một quốc gia Những dịch vụ hỗ trợ khách hàng của các doanh nghiệp phải

sử dụng một lực lượng lớn nhân công làm việc nhiều ca, nay đã có thể thực hiện phục vụ 24 giờ với các nhóm làm việc ở các địa điểm khác nhau trên thế giới Nhân viên ở Ấn Độ có thể phục vụ khách hàng ở Mỹ vào buổi tối Mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế

- Kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hóa Quá trình phát triển kinh tế tri thức đi liền với quá trình kinh tế thị trường, phát triển thương mại thế giới và quá trình toàn cầu hóa Nền kinh tế tri thức kế thừa kiến

Trang 38

thức và kinh nghiệm của toàn thế giới Quá trình sáng tạo tri thức là quá trình kế thừa và tạo ra các sản phẩm tri thức mới Sự phát triển của internet đã tạo điều kiện cho kiến thức, tri thức được phổ biến trên phạm

vi toàn cầu

- Kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững Kinh tế tri thức khuyến khích và tạo điều kiện cho các công nghệ sạch, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lượng, chất thải công nghiệp ít hơn, hạn chế ảnh hưởng làm ô nhiễm môi trường Vì vậy, kinh tế tri thức không những đảm bảo cho thế giới phát triển hôm nay mà còn đảm bảo bảo tồn nguồn lực cho thế giới phát triển mai sau

Kinh tế thị trường phát triển bền vững với cơ cấu kinh tế mới chỉ thực hiện được dựa trên nền tảng kinh tế tri thức Vì vậy điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại phải gắn với chiến lược xây dựng kinh

tế tri thức

Kinh tế tri thức đã ra đời và phát triển cho thấy kinh tế tri thức có những ưu việt vượt trội so với kinh tế công nghiệp Kinh tế tri thức đưa lại năng suất lao động cao, và thúc đẩy sự phát triển của xã hội đồng thời chú trọng việc bảo vệ môi trường Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo mô hình phát triển bền vững dựa trên kinh tế tri thức sẽ kéo theo sự thay đổi

về cơ cấu xã hội dân cư, thông qua sự thay đổi về cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trong xã hội

Chúng ta đều biết, lịch sử phát triển kinh tế thị trường gắn liền với quá trình phát triển phân công lao động xã hội, làm cho cơ cấu xã hội, dân cư không ngừng thay đổi, do đó mức sống và lối sống cũng như dân trí thay đổi Sự phát triển phân công lao động xã hội luôn dựa trên sự phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, thúc đẩy nền văn hoá mới ra đời Chính vì vậy, điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải đi đôi với những cải cách cơ bản trong giáo dục và đào tạo, trong khoa học và công nghệ Điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải gắn chặt với nền kinh tế tri thức Điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải gắn với phát triển giáo dục và đào tạo nhằm tạo động lực để thúc đẩy tiến bộ xã hội thông qua thúc đẩy tiến bộ

Trang 39

khoa học và công nghệ Nền kinh tế tri thức đòi hỏi một xã hội tri thức Một xã hội sống có trách nhiệm với bản thân và với mọi người xung quanh Một xã hội trong đó mỗi cá nhân, mỗi gia đình và mỗi doanh nghiệp đều thực hiện trách nhiệm xã hội của mình để đem lại một cuộc sống văn minh cho tất cả mọi người

1.2 Giới thiệu một số mô hình phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu

1.2.1 Thống nhất Washington và quan niệm về phát triển kinh tế và điều chỉnh cơ cấu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc

mà sẽ nghiên cứu một khái niệm rộng hơn, phát triển kinh tế, với ý nghĩa

là một quá trình tăng trưởng lâu dài, ổn định, bền vững, công bằng và dân chủ

Nhìn chung, các trường phái kinh tế khác nhau có thể khác nhau

về phương pháp tiếp cận và cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề phát triển kinh tế Tuy nhiên, đến nay hầu hết các nhà kinh tế trên thế giới đều thừa nhận vai trò của nhà nước trong việc khuyến khích tăng trưởng kinh

tế và phát triển thông qua việc cung cấp các hàng hoá công cộng, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường, kích thích tiết kiệm và đầu tư, nâng cao mức sống, giảm bớt sự mất công bằng

Trang 40

Từ lâu giữa các nhà kinh tế đã tồn tại một sự thống nhất, được biết đến với tên gọi “Thống nhất Washington”1 Trong số những nhà hoạch định chính sách ủng hộ sự thống nhất này có Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF)

và Ngân hàng Thế giới (World Bank) Các nhà kinh tế ủng hộ sự thống nhất này đều nhất trí sử dụng một số công cụ chính sách để đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế thông qua các chương trình ổn định hoá, và điều chỉnh cơ cấu (stabilisation and adjustment programmes) nhằm tư nhân hoá, tự do hoá thương mại, duy trì tỷ lệ lạm phát thấp, hạn chế thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại

Các nhà kinh tế ủng hộ "Thống nhất Washington" nhấn mạnh vai trò của tăng trưởng trong phát triển kinh tế, mà bỏ qua các yếu tố phát triển nguồn nhân lực để phát triển bền vững và đảm bảo công bằng xã hội lâu dài Họ yêu cầu Chính phủ thi hành chính sách tài chính và tiền tệ thắt chặt, thực hiện chính sách khắc khổ để đảm bảo các chỉ tiêu tài chính về lạm phát và thâm hụt ngân sách do Quĩ tiền tệ quốc tế đặt ra Chính sách này đã làm cho nguồn nhân lực của nhiều nước bị suy thoái nghiêm trọng cộng với bất bình đẳng trong xã hội gia tăng do tốc độ tư nhân hoá và tự do hoá thương mại diễn ra quá nhanh

Để khắc phục những khiếm khuyết của "Thống nhất Washington", hiện nay, các nhà kinh tế đã đi tới một thống nhất mới, được biết tới với tên gọi là “Thống nhất hậu Washington” Theo “Thống nhất hậu Washington”, khái niệm phát triển kinh tế đã được xác định rộng hơn không chỉ bao gồm tăng trưởng ngắn hạn mà bao gồm cả phát triển lâu dài, ổn định, bền vững, công bằng và dân chủ Nhà nước không chỉ giới hạn tới các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn mà còn mong muốn duy trì phát triển lâu dài, ổn định và bền vững thông qua nâng cao đời sống về mặt sức khoẻ và giáo dục, và bảo vệ tài nguyên, thiên nhiên, môi trường chứ không chỉ tăng trưởng GDP Đồng thời họ cũng mong muốn có một

sự phát triển bình đẳng, nghĩa là đảm bảo tất cả mọi người đều được

Ngày đăng: 18/04/2014, 10:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bảo Anh, Lạm phát 2010: Yếu tố tiền tệ không phải là chủ yếu? http://vneconomy.vn/2011010105375966P0C6/lam-phat-2010-yeu-to-tien-te-khong-phai-la-chu-yeu.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát 2010: Yếu tố tiền tệ không phải là chủ yếu
Tác giả: Bảo Anh
3. Bateman, Ian, David Pearce & Kerry Turner. 1993. Environmental Economics - An Elementary Introduction, Harvester Wheatsheaf, Simon & Schuster International Group Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Economics
4. Begg, David, Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch. 1995. Kinh tế học (bản dịch 2 tập), In lần thứ hai, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
7. Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi. TS. Đặng Nguyên Anh. NXB Thế giới năm 2006 8. Chinh, Nguyễn Thế. Giáo trình Kinh tế và Quản lý Môi trường,Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà Xuất bản Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở các tỉnh miền núi
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2006
10. Chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình CNH, HĐH, TS. Bùi Tất Thắng, Viện Kinh tế học (Đề tài KX.02.05) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình CNH, HĐH
Tác giả: Bùi Tất Thắng
Nhà XB: Viện Kinh tế học
15. Dự án Kinh tế Chất thải. 2003. Giới và Kinh tế chất thải - Kinh nghiệm Việt Nam và quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và Kinh tế chất thải
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
16. Dự án Kinh tế Chất thải. 2005. Kinh tế chất thải - Tài liệu dùng cho các khóa đào tạo về quản lý tổng hợp chất thải, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế chất thải
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
17. Frankel Jeffrey A. "The International Financial Architecture," Brookings Policy Brief No. 51 (June 1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The International Financial Architecture
18. Friedman, M., 1977, "Nobel lecture: Infation and Unemployment," The Journal of Political Economy 85, 451-472 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nobel lecture: Infation and Unemployment
23. Local – Development . Tác giả Professor Alain Sckoon. Chương trình đào tạo cao học Việt Bỉ về quản lý công và kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Local – Development
Tác giả: Professor Alain Sckoon
Nhà XB: Chương trình đào tạo cao học Việt Bỉ về quản lý công và kinh tế
29. Markandya, A. & Julie Richardson. 1992. Environmental Economics, Earthscan Publication Ltd, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Economics
30. Mundell, Robert A "Growth, Stability and Inflationary Finance," The Journal of Political Economy, LXXIII, No. 2 (April 1965), 97-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth, Stability and Inflationary Finance
31. Mundell, Robert A. "International Trade and Factor Mobility," The American Economic Review, XLVII, No. 3, (June 1957), 321-335 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Trade and Factor Mobility
37. Nguyễn Tấn Dũng, Thông điệp đầu năm của Thủ tướng (2011) http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2011/01/3BA24F14/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông điệp đầu năm của Thủ tướng
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Năm: 2011
38. Orphanides, Athanasios và Robert M. Solow (1990), “Money, Inflation, and Growth,” Handbook of Monetary Economics, do Benjamin M. Friedman and Frank H. Hahn chủ biên, Amsterdam:North-Holland, quyển 1, trang 223–59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Money, Inflation, and Growth
Tác giả: Orphanides, Athanasios và Robert M. Solow
Năm: 1990
39. Pagano, Marco. 1993. "Financial Markets and Growth: An Overview." European Economic Review, Voi. 37, pp. 613-622 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Markets and Growth: An Overview
40. Phân cấp ở Đông Á để chính quyền địa phương phát huy tác dụng. Ngân hàng thế giới. NXB văn hoá thông tin Hà Nội năm 2005 41. Phát triển kinh tế vùng trong quá trình CNH, HĐH, TS. NguyễnXuân Thu, Viện chiến lược Phát triển (Đề tài KX.02.06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế vùng trong quá trình CNH, HĐH, TS
Tác giả: Nguyễn Xuân Thu
Nhà XB: Viện chiến lược Phát triển
Năm: 2005
46. Porter, Richard. 2002. The Economics of Waste, Resources for the Future, Whashington Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economics of Waste
47. Quy hoạch vùng. TS. Phạm Kim Giao - NXB Xây dựng 2000 48. Radelet, S. and Sachs, J. 1998. ‘The East Asian Financial Crisis:Diagnosis, Remedies, Prospects’, Brookings Papers on Economic Activity, 1, 1–90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The East Asian Financial Crisis:Diagnosis, Remedies, Prospects
Tác giả: Radelet, S., Sachs, J
Nhà XB: Brookings Papers on Economic Activity
Năm: 1998
55. Stiglitz, Joseph. 2000. Economics of the Public Sector, Third Edition, W.W. Norton & Company Ltd, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics of the Public Sector

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá cố định - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 1.1 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá cố định (Trang 63)
Hình 1.2 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá thả nổi - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 1.2 Mô hình Mundell-Fleming trong chế độ tỷ giá thả nổi (Trang 65)
Hình 2.6 Cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam so với một số nước trong  khu vực năm 2008 - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.6 Cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam so với một số nước trong khu vực năm 2008 (Trang 112)
Hình 2.7 Biểu đồ tăng trưởng kinh tế - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.7 Biểu đồ tăng trưởng kinh tế (Trang 114)
Hình 2.10 Tác động của tỷ giá hối đoái tới xuất khẩu hàng hóa - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.10 Tác động của tỷ giá hối đoái tới xuất khẩu hàng hóa (Trang 131)
Hình 2.11 Lạm phát của Việt Nam và các nước trong khu vực - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.11 Lạm phát của Việt Nam và các nước trong khu vực (Trang 136)
Hình 2.12 Dự trữ ngoại hối, lạm phát, tăng trưởng M2 - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.12 Dự trữ ngoại hối, lạm phát, tăng trưởng M2 (Trang 137)
Hình 2.13 Lạm phát của Việt Nam và các nước (% so với cùng kỳ năm - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.13 Lạm phát của Việt Nam và các nước (% so với cùng kỳ năm (Trang 142)
Hình 2.14 Biến động tỷ giá danh nghĩa so với USD (1/2005=1) - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.14 Biến động tỷ giá danh nghĩa so với USD (1/2005=1) (Trang 144)
Hình 2.15 Biến động giá lương thực tính theo nội tệ (1/2005=100) - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.15 Biến động giá lương thực tính theo nội tệ (1/2005=100) (Trang 145)
Bảng 2.4 Biến động cán cân thanh toán và tỷ lệ lạm phát 2001-2010 - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Bảng 2.4 Biến động cán cân thanh toán và tỷ lệ lạm phát 2001-2010 (Trang 153)
Hình 2.18 Biến động tỷ giá VND so với USD và các nước khác (từ - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.18 Biến động tỷ giá VND so với USD và các nước khác (từ (Trang 158)
Hình 2.19 Tác động của tăng giá hàng hóa theo USD & mất giá VND - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.19 Tác động của tăng giá hàng hóa theo USD & mất giá VND (Trang 159)
Hình 2.20 Biến  động cán cân thanh toán (tỷ USD) và tỷ lệ lạm phát  (%) - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.20 Biến động cán cân thanh toán (tỷ USD) và tỷ lệ lạm phát (%) (Trang 162)
Hình 2.20 Biến động cán cân thanh toán (tỷ USD) và tỷ lệ lạm phát - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững ở việt nam
Hình 2.20 Biến động cán cân thanh toán (tỷ USD) và tỷ lệ lạm phát (Trang 233)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w