1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Mối quan hệ chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật xã hội học pháp luật

19 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật
Trường học Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Chuyên ngành Xã hội học pháp luật
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 245,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bìa lý luận ( VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI ooo000ooo ) ( Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  ) TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC KỲ MÔN XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT Đề.

Trang 1

Trường Đại học Kiểm sát Hà

Nội

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC KỲ

MÔN: XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT

Đề số 04: Mối quan hệ chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật Liên hệ thực tiễn.

Hà Nội - 7/2021

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

ooo000ooo

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 3

I Những vấn đề lý luận về chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức 3

1 Chuẩn mực pháp luật

3 1.1 Khái niệm pháp luật 3

1.2 Bản chất của pháp luật 3

2 Chuẩn mực đạo đức 3

2.1 Khái niệm chuẩn mực đạo đức 3

2.2 Các đặc điểm của chuẩn mực đạo đức 4

II Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật 5

1 Tác động của pháp luật với đạo đức 5

2 Tác động của đạo đức với pháp luật 6

III Liên hệ với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay 8

C KẾT LUẬN 15

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để một đất nước phát triển thì yếu tố con người là điều quan trọng nhất

Để yếu tố con người phát triển một cách bền vững thì chính yếu nhất là điều chỉnh suy nghĩ, hành vi từng của từng cá thể sao cho phù hợp nhất đối với định hướng của đất nước Ngày nay, các quy phạm pháp luật có xu hướng được ban hành nhiều hơn, khiến cho không ít người đặt câu hỏi: Phải chăng chúng ta đang sống trong một xã hội mà cái gì không được quy định, hành vi nào không được đề ra khuôn mẫu bắt buộc và không bị răn đe bởi các chế tài thì con người ắt có xử sự không đúng đắn? Nhưng tại sao pháp luật ngày càng chặt chẽ mà tội phạm lại ngày càng gia tăng, xã hội ngày một phức tạp? Như vậy có phải khi pháp luật lên ngôi cũng có nghĩa là đạo đức đã xuống cấp hay không?

Dù đặt ngược vấn đề như thế nào thì khi nhìn nhận lại một cách nghiêm túc, không ai có thể phủ nhận vai trò của mối quan hệ tương tác giữa pháp luật và đạo đức Xã hội không thể tồn tại một ngày mà thiếu đi sự điều chỉnh của hai loại quy phạm này vì đó là nhu cầu mang tính tất yếu Chính vì vậy,

để quản lý xã hội một cách có hiệu quả, cần phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa pháp luật với đạo đức Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em đã chọn đề bài:

“Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo

đức? Liên hệ với tình hình thực tế hiện nay?” làm đề tài bài tập học kì của

mình

2 Tính mới của đề tài

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước, về pháp luật, về đạo đức

- Đánh giá một cách hệ thống, toàn diện thực trạng về sự kết hợp pháp luật với đạo đức trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

3 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu luận tập trung nghiên cứu, kiến giải một số khái niệm cơ bản của pháp luật, của đạo đức trong xây dựng và quản lý xã hội, từ đó đưa ra phương thức kết hợp giữa pháp luật và đạo đức để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay

4 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức Đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng một số phương pháp như: phương pháp phân tích tài liệu và phương pháp quan sát thực tế

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận được chia thành ba phần:

Phần I: Những vấn đề lý luận về chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức Phần II: Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật

Phần III: Liên hệ với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay

Trang 6

B NỘI DUNG

I Những vấn đề lý luận về chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức

1 Chuẩn mực pháp luật

1.1 Khái niệm pháp luật

Có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về pháp luật, nhưng có thể hiểu một cách chung nhất pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí nhà nước, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội

1.2 Bản chất của pháp luật

Tính giai cấp của pháp luật: Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị C.Mác và Ăngghen khi nghiên cứu về pháp luật tư sản đã đi đến kết luận: "Pháp luật tư sản chẳng qua chỉ là ý chí giai cấp tư sản được đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung của nó là điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quyết định" Bản chất giai cấp là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu pháp luật nào nhưng mỗi kiểu pháp luật lại có những nét riêng và cách biểu hiện riêng

Tính xã hội của pháp luật: Như đã nói ở trên, pháp luật do nhà nước -đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành bởi vậy dù ít hay nhiều, pháp luật vẫn mang tính xã hội Tính xã hội của mỗi hệ thống pháp luật phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi đất nước qua từng giai đoạn

2 Chuẩn mực đạo đức

2.1 Khái niệm chuẩn mực đạo đức

Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội

Chuẩn mực đạo đức là tổng hợp các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, trong đó xác định ít nhiều sự chính xác về tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái được phép, cái

Trang 7

không được phép hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của mỗi người, nhằm đảm bảo sự ổn định, giữ gìn trật tự, kỷ cương của xã hội

2.2 Các đặc điểm của chuẩn mực đạo đức

Chuẩn mực đạo đức là loại chuẩn mực xã hội bất thành văn, nghĩa là các quy tắc, yêu cầu của chúng không được ghi chép thành văn bản, mà nó tồn tại dưới hình thức là những giá trị đạo đức, những bài học về luân thường đạo lý, phép đối nhân xử thế giữa con người với nhau trong xã hội Chuẩn mực đạo đức đã được hình thành từ rất sớm và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc chi phối hành vi của con người Những chuẩn mực đạo đức thường được củng cố, gìn giữ và phát triển qua các hình thức truyền miệng, thông qua giáo dục từ gia đình, xã hội và được truyền từ đời này sang đời khác Ví dụ như việc học sinh, sinh viên thì phải lễ phép với thầy cô Không

có bất kì điều luật nào quy định, điều chỉnh hành vi mang tính bắt buộc, cưỡng chế về thái độ lễ phép của chúng ta Tuy nhiên, đó là sự điều chỉnh mang tính tự nguyện và thường là yêu cầu cao của xã hội đối với con người

Vì vậy, chuẩn mực đạo đức là một loại chuẩn mực bất thành văn nhưng nó lại tác động to lớn đến việc con người sẽ hành xử như thế nào trong nhiều trường hợp

Chuẩn mực đạo đức mang tính giai cấp, mặc dù tính giai cấp của nó không thể hiện mạnh mẽ, rõ nét như tính giai cấp của chuẩn mực pháp luật Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau đều có quan niệm đạo đức riêng cho mình Vì vậy, các quy phạm đạo đức có nhiều loại và chúng có sự tác động qua lại với nhau Giai cấp thống trị nắm quyền lực trong tay, họ cũng có quan niệm đạo đức riêng, nên có ưu thế nâng quan niệm đạo đức trở thành pháp luật

Chuẩn mực đạo đức được đảm bảo tôn trọng và thực hiện trong thực tế

xã hội là nhờ vào hai nhóm các yếu tố: các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan

Trang 8

- Các yếu tố chủ quan là các yếu tố tồn tại trong ý thức của mỗi cá nhân, chi phối và điều khiển hành vi đạo đức của họ, bao gồm: những thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi người; sự tự nguyện, tự giác của mỗi con người trong việc thực hiện hành vi đạo đức phù hợp với các quy tắc của chuẩn mực đạo đức; sức mạnh nội tâm, chịu sự chi phối bởi lương tâm của mỗi người

- Các yếu tố khách quan là những yếu tố tồn tại bên ngoài ý thức của mỗi người, nhưng lại luôn giữ vai trò chi phối, điều chỉnh hành vi đạo đức của

họ, bao gồm: sự tác động, ảnh hưởng của các thuần phong mỹ tục trong xã hội, hành vi hợp đạo đức của những người xung quanh tới ý thức và hành vi đạo đức của mỗi cá nhân; sức mạnh của dư luận xã hội trong việc định hướng

và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người

II Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật

Pháp luật và đạo đức xét dưới giác độ xã hội đều tồn tại dưới dạng ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ biện chứng Chúng là hai khái niệm độc lập với nhiều điểm khác biệt, nhưng với tư cách là hai loại quy phạm xã hội quan trọng nhất trong việc điều chỉnh hành vi của mỗi con người, pháp luật và đạo đức về cơ bản chúng vẫn hướng tới những chuẩn mực chung

1 Tác động của pháp luật với đạo đức

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước

Ở một số khía cạnh nhất định pháp luật có ưu thế nổi trội hơn so với chuẩn mực đạo đức Pháp luật không chỉ là sự ghi nhận các chuẩn mực đạo đức, mà còn là công cụ phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức một cách hữu hiệu bằng các biện pháp, chế tài cụ thể Pháp luật có vai trò to lớn trong việc duy trì, bảo vệ và phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội

Trang 9

Ví dụ hiện tượng bạo lực gia đình vẫn xuất hiện và tiến triển trong xã hội Rõ ràng, các hành vi bạo lực gia đình đã đi ngược với truyền thống thương yêu giúp đỡ nhau giữa các thành viên trong gia đình Để hạn chế cũng như triệt tiêu tình trạng bạo lực trên, bên cạnh việc sử dụng thiết chế đạo đức đảm bảo thông qua bằng dư luận xã hội thì nhà nước còn phải sử dụng công cụ pháp luật, cụ thể là Luật hôn nhân và gia đình, để định hướng đạo đức đi đúng quỹ đạo của nó

Pháp luật giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức của dân tộc, ngăn chặn sự thoái hóa, xuống cấp của đạo đức Một khi được thể chế hóa thành pháp luật, việc thực hiện những chuẩn mực đạo đức đó trở thành nghĩa vụ của toàn thể xã hội, các cá nhân, tổ chức dù không muốn cũng phải thực hiện theo Đặc biệt, bằng việc xử lý nghiêm những chủ thể có hành vi đi ngược với các giá trị đạo đức xã hội, pháp luật góp phần bảo vệ và giữ gìn các giá trị đạo đức của xã hội, ngăn chặn sự tha hóa, xuống cấp của đạo đức Ví dụ như giá trị đạo đức về truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo, pháp luật đã có nhiều chính sách để khuyến khích, ủng hộ việc đi học của trẻ em từ miền vùng đồng bằng đến cả miền núi

Pháp luật cũng có thể loại bỏ các chuẩn mực đạo đức đã lỗi thời, cải tạo các chuẩn mực đạo đức, góp phần tạo nên các chuẩn mực đạo đức mới, phù hợp hơn với tiến bộ xã hội Ví dụ như quan niệm “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” đã quá lỗi thời, không còn phù hợp nên đã được thay thế bằng các bộ luật để bảo vệ quyền trẻ em nói riêng và quyền con người nói chung

2 Tác động của đạo đức với pháp luật

Chuẩn mực đạo đức là nền tảng tinh thần để thực hiện các quy định của pháp luật Trong khi xây dựng và thực hiện pháp luật, dù muốn hay không giai cấp cầm quyền buộc phải tính đến yếu tố đạo đức nhằm tạo cho pháp luật một khả năng thích ứng, khiến cho nó dường như thể hiện ý chí chung của

Trang 10

mọi tầng lớp xã hội Có những quy phạm pháp luật, khi đã trở nên phổ biến trong xã hội, thành yếu tố thường trực trong hành vi xã hội của con người sẽ trở thành quy phạm đạo đức Ví dụ như nạn mại dâm có thể ảnh hưởng tới trật

tự quản lý hành chính nhà nước Từ chỗ nó là một vấn đề đạo đức, nó trở thành một vấn đề xã hội mang tính tệ nạn cao ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật

tự trị an cũng như làm suy giảm các giá trị đạo đức nhân văn cao cả Ví dụ:

Điều 26 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 quy định: “Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên thi hành với thiện chí” Nguyên tắc thiện chí là một trong những phạm trù

đạo đức cơ bản thể hiện tính trung thực cũng như tôn trọng việc thực hiện các cam kết quốc tế Hơn thế nữa, các quy phạm đạo đức này cũng được “luật hóa” trong các văn bản pháp lý khác nhau của Việt Nam như Bộ luật dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật thương mại, Bộ luật Hình sự,

Đối với việc hình thành pháp luật, những quan niệm, quy tắc đạo đức trái với ý chí của nhà nước sẽ trở thành tiền đề để hình thành nên những quy phạm thay thế chúng, từ đó cũng góp phần hình thành nên pháp luật Ví dụ quan niệm cổ truyền đòi hỏi con cái phải phục tùng cha mẹ, đến nỗi coi con cái như vật sở hữu của người có công sinh đẻ, nuôi dưỡng mình Cha mẹ có thể đánh đập, răn dạy con, có quyền cầm cố, từ bỏ con, trong khi con cái có nghĩa vụ không được làm trái lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ Quan niệm này trở thành tiền đề để hình thành Luật trẻ em, bảo vệ quyền và lợi ích của đứa trẻ khi được sinh ra và lớn lên

Đối với việc thực hiện pháp luật, những quan niệm, quy tắc đạo đức trái với ý chí của nhà nước sẽ cản trở thực hiện pháp luật trong thực tế Ngược lại, những quan niệm, quy tắc đạo đức được thừa nhận trong pháp luật góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn, bởi vì chúng đã ngấm sâu vào tiềm thức của nhân dân nên ngoài những biện pháp của nhà nước, chúng còn được đảm bảo thực hiện bằng thói quen, bằng

Trang 11

lương tâm và niềm tin của mỗi người, bằng dư luận của xã hội Ví dụ quan niệm con cái phải báo hiếu cha mẹ từ ngàn xưa đã được quy định một cách cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ

Việc thực hiện pháp luật cũng chịu tác động bởi ý thức đạo đức của từng cá nhân Người có ý thức đạo đức cao trong mọi trường hợp đều nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật Ngược lại, đối với những người có ý thức đạo đức thấp thì thái độ tôn trọng pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật cũng không cao,

họ dễ có các hành vi vi phạm pháp luật Ví dụ như tội trộm cắp tài sản đã được quy định trong Bộ luật hình sự, khi gặp một tài sản có giá trị không có người trông coi, thì người thiếu ý thức đạo đức cá nhân sẽ dễ nổi lòng tham

và thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

III Liên hệ với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay

Đạo đức và pháp luật là hai hình thái ý thức xã hội tham gia vào việc điều chỉnh hành vi con người, là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện quản lý xã hội Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc kết hợp pháp luật, chú trọng giáo dục đạo đức đi đôi với không ngừng tăng cường vai trò, sức mạnh của luật pháp trong quản lý xã hội Những nét đặc sắc trong

tư tưởng của Người về mối quan hệ biện chứng giữa đạo đức và pháp luật là cẩm nang quý để vận dụng vào công tác quản lý xã hội hiện nay Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức Ở Việt Nam hiện nay, vị trí cũng như vai trò mối quan hệ của pháp luật và đạo đức ngày càng được nhìn nhận đúng đắn, tích cực

* Mặt tích cực trong mối quan hệ pháp luật và đạo đức ở Việt Nam

Thứ nhất, tôn trọng, giữ gìn, phát huy đạo đức truyền thống tốt đẹp

của dân tộc đã trở thành một trong những nhiệm vụ của pháp luật Việt Nam

Trang 12

Để thực hiện được nhiệm vụ này rất nhiều văn bản pháp luật đã thế chế hóa việc tôn trọng, phát huy đạo đức truyền thống thành những nguyên tắc cơ bản của mình Chẳng hạn, một trong những lĩnh vực hoạt động rất cơ bản của

con người đó là lĩnh vực dân sự Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.”

Có thể nói trong lĩnh vực dân sự, việc phù hợp đạo đức xã hội trở thành một tiêu chí để đánh giá tính hợp pháp của các quan hệ xã hội Điều đó cũng nghĩa là pháp luật cho phép công dân được thực hiện nhiều hành vi mà pháp luật không cấm nhưng những hành vi này phải phù hợp với đạo đức xã hội

Thứ hai, hệ thống pháp luật Việt Nam phản ảnh khá rõ nét tư tưởng

nhân đạo, một tư tưởng đạo đức cơ bản của nhân dân ta

Yêu thương, giúp đỡ người khác là một truyền thống đặc trưng trong đời sống của người Việt, nó là sợi dây gắn kết các cá nhân xích lại gần nhau

Tư tưởng đạo đức quý báu này đã được thể hiện một cách sâu sắc, trở thành nguyên tắc chỉ đạo trong toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam mà trước hết nó được quy định trong các chính sách xã hội của Nhà nước

Xuất phát từ tư tưởng “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, thương binh, bệnh binh, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ Cụ thể tại điều 6 Pháp lệnh Ưu đãi người có công cách mạng năm 2020 quy định:

“Chăm lo sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng là trách nhiệm của Nhà nước và xã hội Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân quan tâm, giúp

đỡ và thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.”

Ngày đăng: 27/03/2023, 10:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w