Không nằm ngoài cuộc cạnh tranh đó, với việc vận dụng lí thuyết về Marketing chiến lược Marketing tập trung, chiến lược kênh phân phối, vòng đời sản phẩm..., lí thuyết nhượng quyền thươn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt hơn Các doanh nghiệp buộc phải tự đổi mới mình để tồn tại và phát triển Do vậy họ đã không ngừng áp dụng những chiến lược Marketing khác nhau nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu đa dạng của khách hàng, mở rộng thị trường, khẳng định sức sống của doanh nghiệp mình Không nằm ngoài cuộc cạnh tranh đó, với việc vận dụng lí thuyết về Marketing (chiến lược Marketing tập trung, chiến lược kênh phân phối, vòng đời sản phẩm ), lí thuyết nhượng quyền thương hiệu (Franchise Theory), tiếp thị bên lề (Outside Marketing) và xu hướng về thế giới phẳng (The World is Flat), nhóm tác giả
đã phân đoạn thị trường và xác định khách hàng mục tiêu là thế hệ 8X, 9X - những người luôn có nhu cầu học tập, giao lưu, luôn muốn khẳng định bản thân, thể hiện cá tính, cái tôi của mình Để cung cấp cho họ những dịch vụ nhằm thoả mãn tốt nhất những nhu cầu đó đồng thời cũng để mở ra một hướng kinh doanh mới
Theo ước tính, trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam không ngừng tăng trưởng với tốc độ cao, trung bình trên 7%/năm Kinh tế phát triển, thu nhập người dân được nâng cao Bên cạnh đó là sự bùng nổ của công nghệ thông tin đặc biệt là sự phát triển của hệ thống mạng Internet toàn cầu đã thu hẹp khoảng cách địa lý giữa các vùng, miền, quốc gia Điều này đã ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến thế hệ 8X, 9X – Công dân @ Họ đã sớm bộc lộ là những con người của xã hội, của thời đại giao lưu, hội nhập Thời gian dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí ở bên ngoài của họ ngày càng nhiều hơn thời gian ở nhà Do vậy họ luôn cần một môi trường để giao tiếp, để khẳng định bản thân,
Trang 2sống năng động, những giờ học chồng chất, quỹ thời gian học sinh dành cho việc ăn uống ngày càng ngắn lại Những bữa ăn vội vàng ở những quán cổng trường hay trên đường đến trường ít được để ý đến vấn đề an toàn thực phẩm Hơn nữa, việc tụ tập ăn hàng quán trên đường hay ở cổng trường cũng là nguyên nhân gây ách tắc giao thông mỗi giờ tan học.
Mặt khác, cùng với nhịp sống sôi động của nền kinh tế thời mở cửa, những phụ huynh học sinh cũng dần sao nhãng việc làm bữa sáng, bữa trưa cho con em mình Mọi người đều có tâm lý ăn ngoài tiệm sẽ đỡ tốn kém thời gian, công sức Điều này đã tạo chỗ đứng cho các quán ăn nhanh bên đường ngày một phát triển Tuy nhiên, hiện nay, với sự xuất hiện của nhiều dịch bệnh và sự làm ăn vô trách nhiệm của không ít người vì chạy theo lợi nhuận
mà không quan tâm đến vấn đề an toàn thực phẩm thì món ăn đường phố đã bộc lộ rõ những hạn chế của nó
Bên cạnh đó, hiện nay các trường học cũng chưa thật chú trọng đến vấn
đề sinh hoạt, ăn uống của học sinh Không ít trường học vẫn coi đó là vấn đề ngoài nhà trường, do vậy họ không nghĩ đến sự cần thiết phải có một canteen trong trường cho những học sinh của mình
Nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, nhóm sinh viên lớp Quản trị kinh doanh K6 - Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Hải Phòng (nhóm E-Mast) đã quyết định chọn đề tài:
“Sky’teen - bước đột phá trong canteen trường học” trong chương trình
“sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2008.
2 Tình hình nghiên cứu
Thị trường đồ ăn nhanh và đồ uống đã có nhiều đề tài nghiên cứu trước đây nhưng chưa có một đề tài nào tập trung nghiên cứu vấn đề canteen trường học một cách có hệ thống
Trang 3“Sky’teen - bước đột phá trong canteen trường học” chính là một bước
đi mới trong việc nghiên cứu áp dụng mô hình canteen chuẩn trong hệ thống trường học Việt Nam do doanh nghiệp kết hợp với nhà trường xây dựng
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nhằm mục đích triển khai xây dựng một mô hình canteen chuẩn cho các trường phổ thông, trường đại học, cao đẳng, nơi mà học sinh có thể
ăn uống, giao lưu, giải trí, tìm kiếm thông tin, trao đổi kiến thức Mục tiêu của đề tài, trong giai đoạn đầu, đề xuất ý tưởng và giải pháp xây dựng mô hình canteen thí điểm ở một số trường phổ thông trong nội thành thành phố lớn, sau đó sẽ nhân rộng mô hình canteen cho các trường học theo phương thức nhượng quyền thương hiệu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng canteen trong các trường học ở Việt Nam, phạm vi nghiên cứu là một số trường tại nội thành Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời nghiên cứu tâm sinh lý, nhu cầu của học sinh, sinh viên thế hệ 8X, 9X (những người sinh ra trong thập kỷ 80
và 90 của thế kỷ XX), từ đó xây dựng một mô hình canteen theo hướng mở, hiện đại, phù hợp với nhu cầu của học sinh, sinh viên trong thời kỳ hội nhập
5 Phương pháp nghiên cứu
Thông qua phương pháp nghiên cứu điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích hệ thống, tổng hợp so sánh, nghiên cứu thực tiễn đề tài đã đánh giá được nhu cầu và xu hướng của giới trẻ hiện nay để cho thấy việc đưa ra mô hình canteen chuẩn trong các trường học là rất cần thiết và đưa ra giải pháp xây dựng, chuyển giao chuỗi canteen trường học
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài cho thấy tính hữu ích của việc có một hệ thống canteen chuẩn trong các trường học Bởi vì, canteen sẽ không chỉ đơn thuần là nơi ăn uống
Trang 4của học sinh mà nó còn là nơi để học sinh có thể giải trí, giao lưu, tìm kiếm thông tin, trao đổi kiến thức Bên cạnh đó, khi hệ thống canteen này ra đời
nó cũng góp phần làm giảm nỗi lo về bữa ăn, về an toàn thực phẩm cho học sinh của các bậc phụ huynh có con em đến trường, góp phần cùng nhà trường hướng các em đến với những hoạt động ngoại khoá thiết thực và bổ ích Mặt khác, đứng từ phía doanh nghiệp, sự ra đời, phát triển của canteen còn hứa hẹn mang lại doanh thu, lợi nhuận và sự thành công của một hướng kinh doanh mới
Chính vì những vấn đề lý thuyết và thực tiễn đã đặt ra ở trên, nhóm tác
giả E- Mast đã chọn “Sky’teen - bước đột phá trong canteen trường học”
làm đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp về mô hình canteen chuẩn trong trường học
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo đề tài có kết cấu thành 2 chương:
Chương 1 : Marketing và thị trường đồ ăn nhanh trong trường học
Chương 2 : Sky’teen - bước đột phá trong canteen trường học
Trang 5CHƯƠNG 1
MARKETING VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỒ ĂN NHANH TẠI VIỆT NAM 1.1 Một số lý thuyết cơ bản
1.1.1 Tổng quan về marketing
1.1.1.1 Sự ra đời của Marketing
Marketing xuất hiện từ khá lâu khi có sự cạnh tranh trong việc trao đổi, mua bán hàng hoá Đặc biệt khi nền đại công nghiệp cơ khí phát triển, thúc đẩy sản xuất tăng nhanh và làm cho cung hàng hoá có chiều hướng vượt cầu thì hành vi Marketing mới xuất hiện một cách rõ nét nhất Tuy nhiên, phải đến những năm đầu của thế kỉ XIX lý thuyết marketing mới xuất hiện lần đầu tại
Mỹ Đầu tiên chỉ là những bài giảng liên quan đến vấn đề tiêu thụ, sau đó ngày càng trở nên hoàn chỉnh và bao quát cả những hoạt động có trước tiêu thụ như: Nghiên cứu thị trường, khách hàng, thiết kế và sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của khách hàng, định giá và tổ chức hệ thống tiêu thụ.[3,7]Trên thế giới, ban đầu marketing chỉ chú ý đến việc tiêu thụ sản phẩm theo khả năng sản xuất chứ chưa thực sự chú ý đến nhu cầu của khách hàng
và chỉ được vận dụng trong các công ty sản xuất hàng tiêu dùng đóng gói, hàng tiêu dùng lâu bền và các công ty sản xuất thiết bị công nghiệp Tiếp theo, marketing được ứng dụng trong lĩnh vực sản xuất vật liệu như: thép, hoá chất, giấy và được đánh giá cao bởi các ngành hàng kinh doanh dịch vụ tiêu dùng, hàng không, ngân hàng, bảo hiểm Ngày nay, marketing được áp dụng không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn được áp dụng cả trong lĩnh vực chính trị, xã hội Đó là marketing hiện đại, với những quan niệm và mục tiêu khác hẳn quan niệm của marketing truyền thống: chỉ bán những cái thị trường cần chứ không chỉ bán những cái mình có thể sản xuất
1.1.1.2 Khái niệm marketing
Trang 6Marketing không phải là bán hàng, không phải là tiếp thị (chào hàng) như nhiều người lầm tưởng Marketing bao gồm rất nhiều hoạt động như nghiên cứu marketing, sản xuất ra hàng hoá phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, quy định giá cả, tổ chức và quản lý hệ thống tiêu thụ, quảng cáo, khuyến mại và sau đó đưa sản phẩm cho người tiêu dùng Đó chính là các bộ phận của marketing – mix: Sản phẩm (Product), Giá cả (Price), Kênh phân phối (Place), Xúc tiến thương mại (Promotion).
Theo định nghĩa marketing của Philip Kotler:
Marketing là sự phân tích, tổ chức, kế hoạch và kiểm tra những khả năng câu khách của một công ty cũng như những chính sách và hoạt động với quan điểm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của nhóm khách hàng đã chọn
[1,4]
Theo định nghĩa của John H Crighton (Australia)
Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh hay luồng hàng, đúng thời gian và đúng vị trí [1,4]
Theo giáo sư, tiến sĩ Trần Minh Đạo (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân)
Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người Cũng
có thể hiểu, marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.[1,10]Theo Abraham Maslow, có nhiều nhu cầu cùng tồn tại trong một cá thể, chúng cạnh tranh với nhau trong việc thoả mãn và các cá nhân sẽ thiết lập một trật tự ưu tiên cho các nhu cầu này theo mức độ quan trọng đối với việc thoả mãn chúng Có năm thứ bậc nhu cầu: Nhu cầu sinh lý (đói khát ); Nhu cầu
an toàn (muốn được bảo vệ, được yên ổn ); Nhu cầu xã hội (cảm giác thân
Trang 7mật, tình yêu, giao lưu); Nhu cầu được tôn trọng, được công nhận có địa vị xã hội; Nhu cầu tự hoàn thiện.[3,115]
Người làm marketing phải hiểu được khách hàng của mình, nghĩa là tìm
ra được nhu cầu và mong muốn thực sự của họ để từ đó cung ứng sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu đó trong những điều kiện cụ thể của thị trường, xã hội Nhưng nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người là
vô hạn, nó chỉ giúp nhà làm marketing xác định được chủng loại, đặc tính sản phẩm, dịch vụ, chứ chưa cho họ biết được quy mô thị trường cho loại sản phẩm, dịch vụ đó Do vậy, khi đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng người làm marketing phải quan tâm đến một khía cạnh khác của nhu cầu
thị trường – nhu cầu có khả năng thanh toán, “ở đâu có nhu cầu hợp lý, hợp
pháp và có khả năng thanh toán thì nhu cầu đó phải được đáp ứng”.[10]
Marketing có vai trò ngày càng quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ có marketing mới có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh
Chức năng của marketing là tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp Trong thời đại ngày nay, marketing hiện đại và quản trị kinh doanh theo quan điểm marketing là một phương pháp cốt yếu và phổ biến trong quản trị kinh doanh của các doanh nghiệp Và đặc biệt để có được thành công các doanh nghiệp nên áp dụng quan điểm marketing hướng đến sự kết hợp ba lợi ích: người tiêu dùng, nhà kinh doanh và xã hội (quan điểm marketing đạo đức – xã hội)
Theo quan điểm này, nhiệm vụ của doanh nghiệp là xác định đúng đắn những
nhu cầu, mong muốn và lợi ích của các thị trường mục tiêu trên cơ sở đó đảm bảo thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó một cách hữu hiệu và hiệu quả hơn
Trang 8các đối thủ cạnh tranh, đồng thời bảo toàn hoặc củng cố mức sống sung túc của người tiêu dùng và xã hội.[3,31]
1.1.3 Khái niệm thị trường mục tiêu, định vị thị trường
Thị trường, theo quan điểm của marketing, bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng trao đổi
để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó[3,16].
Phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và chiến lược định vị thị trường được coi là nội dung quan trọng nhất của lý thuyết marketing và là khâu không thể thiếu của tiến trình hoạch định chiến lược marketing
Đoạn thị trường là sự phân loại khách hàng tiềm năng thành nhiều nhóm khách hàng theo nguyên tắc chỉ tiêu rõ ràng [3,40]
Phân đoạn thị trường nhằm mục đích giúp doanh nghiệp xác định những đoạn thị trường mục tiêu hay thị trường trọng điểm đạt hiệu quả cao trong
kinh doanh Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có
cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, đồng thời các hoạt động marketing của doanh nghiệp có thể tạo ra ưu thế so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu kinh doanh đã định [3,188]
Tuy nhiên, khi nhu cầu của con người càng đa dạng, cạnh tranh càng gay gắt thì những phân đoạn thị trường càng trở nên hẹp hơn, sự điều chỉnh về sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu đó càng nhiều hơn, doanh nghiệp thường mạo hiểm với việc tạo ra những thị trường mục tiêu quá nhỏ Do vậy, theo W.Chan Kim và Reneé Mauborgne trình bày trong “Chiến lược đại dương xanh”, doanh nghiệp cần phải: vươn ra bên ngoài nhu cầu hiện tại Thay vì tập trung vào khách hàng hiện tại, cần quan tâm đến những người chưa mua hàng Thay vì tập trung vào sự khác biệt giữa các khách hàng, cần tìm hiểu một sự tương đồng trong đánh giá về giá trị của khách hàng Và hãy nghĩ đến hướng mở rộng hơn là phân nhỏ các phân đoạn thị trường Điều đó
Trang 9cho phép các công ty vươn ra ngoài nhu cầu hiện tại để tìm đến với những khách hàng mới.[14,123]
Sau khi đã xác định được thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải định vị sản phẩm của mình nhằm phân biệt với các đối thủ cạnh tranh
Định vị thị trường là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm chiếm được một vị trí đặc biệt và có giá trị trong tâm trí khách hàng mục tiêu Định vị thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải quyết định khuyếch trương bao nhiêu điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào giành cho khách hàng mục tiêu [3,196]
Thực chất của việc triển khai chiến lược định vị thị trường là xác định cho sản phẩm và doanh nghiệp một vị trí nhất định trên thị trường mục tiêu sao cho nó có một hình ảnh riêng trong tâm trí khách hàng và có khả năng cạnh tranh với các đối thủ trên cùng một thị trường mục tiêu
1.1.1.4 Chiến lược Marketing
Chiến lược marketing về cơ bản được triển khai xoay quanh bốn yếu tố của marketing – mix (4P): Sản phẩm (Product), Giá cả (Price), Kênh phân phối (Place), Xúc tiến thương mại hay truyền thông (Promotion) Tuy nhiên
do đặc thù của kinh doanh dịch vụ mà có thể triển khai bốn yếu tố này thành bảy yếu tố: Sản phẩm, Giá cả, Kênh phân phối, Xúc tiến thương mại, Con người (People), Quy trình (Process), Chứng minh thực tế (Physical evidence) Ngoài ra, khi nghiên cứu chúng ta cần trả lời thêm các câu hỏi theo dạng sau: What, Why, Where, Who, How, For Whom
Sau khi phân đoạn và lựa chọn thị trường mục tiêu, các doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình một chiến lược marketing phù hợp để phục vụ thị trường đó Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba kiểu chiến lược: marketing không phân biệt, marketing phân biệt và marketing tập trung Mỗi
Trang 10chiến lược marketing có những ưu, nhược điểm riêng phù hợp với đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ hoặc các doanh nghiệp muốn “bao phủ toàn bộ thị trường” thì chiến lược marketing tập trung được
áp dụng nhiều nhất Với chiến lược này, doanh nghiệp sẽ dồn sức tập trung vào một đoạn thị trường hay một phần thị trường nhỏ mà doanh nghiệp cho là quan trọng nhất và giành cho được vị trí vững chắc trên đoạn thị trường đó
Vị thế này trở thành bàn đạp tăng trưởng cho doanh nghiệp
Khi triển khai chiến lược marketing doanh nghiệp cần chú ý phát triển tất
cả các yếu tố của marketing – mix để có thể cung cấp cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ tốt nhất
Trong hệ thống marketing – mix, sản phẩm là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất Mỗi sản phẩm được chào bán đều được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau sắp xếp thành ba cấp độ cơ bản: sản phẩm ý tưởng, sản phẩm hiện thực
và sản phẩm bổ sung Mỗi cấp độ có vai trò riêng nhưng cả ba cấp độ mới tạo thành một sản phẩm hoàn chỉnh
Trang 11Khi cung ứng sản phẩm ra thị trường các doanh nghiệp phải biết được diễn biến chu kì sống của sản phẩm, đặc điểm của nó, đồng thời có những điều chỉnh chiến lược marketing cho phù hợp Về mặt lý thuyết, chu kì sống của sản phẩm có năm giai đoạn: giai đoạn tung sản phẩm vào thị trường (Thâm nhập); giai đoạn phát triển; giai đoạn chín muồi, giai đoạn bão hòa và giai đoạn suy thoái.
Các doanh nghiệp để bán được nhiều sản phẩm thu được lợi nhuận cao thì phải đẩy mạnh và kéo dài giai đoạn chín muồi của sản phẩm, bằng cách ngày một hoàn thiện về sản phẩm, bằng chiến lược giá, kênh phân phối và chương trình xúc tiến thương mại phù hợp Đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì vấn đề xúc tiến thương mại hay truyền thông (Promotion), con người (People), qui trình (Process) và chứng minh thực tế (Physical evidence) phải được đặc biệt quan tâm để tạo ra cho doanh nghiệp mình những lợi thế hơn hẳn đối thủ cạnh tranh
Thâm
nhập Phát triển
Chín muồi Bão hòa Suy thoái
Sơ đồ 1.2 Các giai đoạn chu kì sống của sản phẩm[10]
Thời gian
Trang 12Như vậy, việc nắm bắt và vận dụng những chiến lược marketing – mix và năm câu hỏi WH questions ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nó là chìa khoá dẫn các doanh nghiệp đến với thành công một cách nhanh chóng và bền vững nhất.
1.1.2 Kênh phân phối
1.1.2.1 Khái niệm kênh phân phối
Kênh phân phối là một tập hợp các công ty hay tư nhân tự gánh vác hoặc chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hoá cụ thể hay dịch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng [4]
1.1.2.2 Mô hình chung của kênh phân phối
Nếu các nhà sản xuất tự mình tiến hành hoạt động phân phối sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình ra thị trường thì họ sẽ không thu được hiệu quả cao cho công việc này Bởi lẽ doanh nghiệp ngoài lo đầu vào cho sản xuất còn phải tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, tức là tự tìm lấy thị trường khách hàng đảm bảo cho sản phẩm của doanh nghệp sẽ được tiêu thụ
Mặt khác hệ thống phân phối đều là cơ cấu cứng, cần rất nhiều thời gian để có thể xây dựng và khó thay đổi Ngoài ra, các nhà sản xuất khó kiểm soát được hoạt động của hệ thống kênh phân phối do các nhà phân phối trung gian thường bị lôi kéo, mời chào bởi các đối thủ cạnh tranh với doanh nghiệp
Như vậy, vai trò của các cấp trung gian là hết sức quan trọng
Hiểu một cách đơn giản là: kênh phân phối giúp thực hiện quá trình chuyển sản phẩm, dịch vụ, hàng hoá từ nơi sản xuất tới tận tay người tiêu
Sơ đồ 1.3: Mô hình kênh phân phối
Trang 13dùng cuối cùng thông qua các trung gian như cửa hàng, đại lý bán buôn bán lẻ…
Hiện nay theo ước tính, tại Việt Nam, đặc biệt là tại TP.HCM, bán lẻ hiện đại dưói hình thức là các siêu thị tự chọn, các cửa hàng, trung tâm thương mại… xuất hiện từ những năm 1994 và phát triển mạnh trong những năm gần đây Tốc độ tăng trưởng của kênh phân phối hiện đại này khoảng 15 – 20 %, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế khoảng từ 7 – 8 % Từ chỗ chỉ chiếm dưới 3 % thị trường bán lẻ, tỷ trọng kênh phân phối này đã tăng lên 10 – 25 % và tốc độ này đang ngày càng tăng cao(khoảng 30 – 40 %).[9]
Như vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình một chiến lược kênh phân phối phù hợp với phương trâm làm cho khách hàng biết và sử dụng nhiều sản phẩm của doanh nghiệp mình Phát triển kênh phân phối phù hợp với xu hướng chung của thị trường để tồn tại và phát triển bền vững là một trong những mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp thương mại
1.1.3 Lý thuyết về thương hiệu và nhượng quyền thương hiệu
(Trademark and Franchise Theories)
1.1.3.1 Tổng quan về thương hiệu
*Khái niệm của thương hiệu
Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về thương hiệu
Thương hiệu là một khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ của sản phẩm Thương hiệu gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và chỉ được ủy quyền cho nhà đại diện thương mại chính thức[,4]
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (World Itellectual Property Oganization) thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt để nhận biết một sản
Trang 14phẩm, một hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, được cung cấp bởi một tổ chức hoặc một cá nhân.
Theo hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế ITA (International
Trademark Association) thương hiệu bao gồm những từ ngữ, tên gọi, biểu tượng hay bất kỳ sự kết hợp nào giữa các yếu tố trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hoá của các nhà sản xuất hoặc người bán với nhau để xác định nguồn gốc của hàng hoá đó.[,7]
*Phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu hàng hoá
Ở Việt Nam, khái niệm thương hiệu thường được hiểu đồng nghĩa với nhãn hiệu hàng hoá Tuy nhiên vẫn có những điểm khác biệt cần làm rõ
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: nhãn hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký tự,
biểu tượng, hình vẽ, kiểu thiết kế,… hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định, phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một người bán hay một nhóm người bán với hàng hoá và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh
Sự tương đồng giữa hai khái niệm trên: đều là những từ ngữ, dấu hiệu, biểu trưng … dùng để xác định, phân biệt các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau Song ở khái niệm thương hiệu, ngoài yếu tố thương mại được nhấn mạnh, còn có sự xác định rõ ràng về nguồn gốc của hàng hoá Như vậy, chúng ta đã thấy sự có mặt của yếu tố pháp luật Khi một nhãn hiệu được khẳng định chắc chắn bằng việc đi đăng ký bảo hộ và được chấp nhận bảo hộ thì nhãn hiệu đó đã được chứng nhận độc quyền và thường được coi là thương hiệu
Chính vì vậy người ta thường gắn việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá với việc khai sinh ra một thương hiệu Tất nhiên, thương hiệu đó có thể lớn mạnh hay không còn tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiêp Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu nhưng
Trang 15có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hoá khác nhau Ví dụ: Toyota là một thương hiệu mạnh với nhiều nhãn hàng hoá khác nhau như: Camry, Innova,
*Các bộ phận cấu thành nên thương hiệu
Thương hiệu bao gồm hai phần chính:
Phần đọc được
Bao gồm các yếu tố có thể đọc được hoặc tác động vào thính giác của người nghe như tên công ty, tên doanh nghiệp, tên sản phẩm, câu slogan, đoạn nhạc, các yếu tố phát ra âm thanh khác
• Tên doanh nghiệp, tên sản phẩm, có thể gọi chung là tên nhãn hiệu
Đây là một yếu tố quan trọng của thương hiệu vì nó thể hiện khả năng phân biệt của hàng hoá một cách cụ thể nhất Dưới góc độ bảo hộ của pháp luật, tên nhãn hiệu được hình thành từ sự kết hợp của từ ngữ hay các chữ cái có khả năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp này với các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khác đã được bảo hộ
và không phụ thuộc vào các dấu hiệu loại trừ
Ví dụ: Aquafina – tên nước suối tinh khiết đóng chai
Sony – tên các sản phẩm điện tử
Yêu cầu của tên nhãn hiệu là: dễ nhớ, có ý nghĩa, dễ chuyển đổi, dễ thích nghi, đáp ứng yêu cầu bảo hộ
• Câu khẩu hiệu, câu slogan: là một đoạn văn ngắn truyền đạt thông tin
mô tả và thuyết phục về một nhãn hiệu hàng hoá Ví dụ: Alpenliebe -
Ngọt ngào như vòng tay âu yếm, Sunsilk - Cuộc sống là không chờ đợi,
Viettel - Hãy nói theo cách của bạn… Đây là cách ngắn nhất và dễ nhất
để sản phẩm đi vào tâm trí người tiêu dùng vì các câu slogan thường sử dụng vần điệu dễ nhớ và có ý nghĩa Khi sử dụng slogan ở nhiều quốc gia cần lưu ý đến yếu tố văn hoá và ngôn ngữ để có sự điều chỉnh cho
thích hợp Ví dụ: Slogan của Pepsi là “Pepsi mang bạn trở lại cuộc
Trang 16sống” dịch ra tiếng Trung Quốc gần như là “Pepsi mang tổ tiên của bạn
từ cõi âm trở về”.
• Đoạn nhạc: là một giai điệu ngắn đặc trưng cho nhãn hiệu Ví dụ: Khi
nghe đoạn nhạc: “Tell me when you will be there, tell me wonder, wonder, wonder…”người tiêu dùng sẽ liên tưởng ngay tới bia Heineken
Phần không đọc được:
Bao gồm các yếu tố không đọc được mà chỉ có thể cảm nhận bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng, logo, màu sắc, kiểu dáng bao bì hay các yếu tố nhận biết bằng mắt khác
• Logo: Tên thương hiệu được xem là yếu tố trung tâm của một thương
hiệu Nhưng bên cạnh đó, các yếu tố mang tính đồ họa như logo, biểu tượng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên giá trị thương hiệu, đặc biệt là khả năng nhận biết thương hiệu
Có nhiều loại logo và biểu tượng, chúng được biểu hiện dưới nhiều hình thức từ tên công ty cho đến nhãn hiệu hàng hoá Logo được sử dụng như một biểu tượng nhằm tăng cường nhận thức của công chúng đối với thương hiệu Nó càng trừu tượng thì càng khác biệt, độc đáo và do đó càng
dễ nhận diện, gợi nhớ
• Bao bì: cũng là một yếu tố quan trọng tạo dựng nên giá trị của thương
hiệu Sự liên hệ mạnh mẽ nhất của khách hàng đối với sản phẩm chính
là thông qua bao bì của nó Nhưng thông tin và dấu hiệu trên bao bì có thể tạo ra những liên kết hiệu quả đến thương hiệu
• Màu sắc: là màu biểu trưng của thương hiệu.
Ví dụ; Coca cola: màu đỏ, Pepsi: xanh dương, trắng và đỏ…
*Vai trò của thương hiệu
Trang 17Theo quan điểm của PGS.TS Vũ Chí Lộc - Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội được nêu trong “Vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế thế giới và khu vực”, thương hiệu có những vai trò như sau:
[5]
Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp
Đối với bất cứ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường, thương hiệu có vai trò to lớn sau:
• Thứ nhất, thương hiệu là tài sản vô hình và thậm chí vô giá của
doanh nghiệp Thương hiệu góp phần quan trọng tăng thu lợi nhuận trong tương lai bằng những giá trị tăng thêm của hàng hoá
• Thứ hai, thương hiệu giúp doanh nghiệp duy trì lượng khách
hàng truyền thống, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới, các khách hàng tiềm năng
• Thứ ba, thương hiệu sẽ giúp doanh nghiệp giảm các khoản chi
phí cho hoạt động xúc tiến thương mại, hoạt động Marketing
• Thứ tư, thương hiệu mang lại những lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp, giúp doanh nghiệp có điều kiện phòng thủ và chống lại các đối thủ khác
Vai trò của thương hiệu đối với người tiêu dùng
Thương hiệu chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong cạnh tranh trên thương trường khi nó có vai trò lớn đối với người tiêu dùng
• Thứ nhất, thương hiệu tạo lòng tin của người tiêu dùng về chất lượng,
về giá cả hàng hoá mà họ tiêu thụ, sử dụng Thương hiệu sẽ cho người tiêu dùng biết được nguồn gốc của sản phẩm, tin được rằng hàng hoá
đó có chất lượng bảo đảm và đã được kiểm chứng qua thời gian
Trang 18• Thứ hai, thương hiệu sẽ góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của người
tiêu dùng Thương hiệu được nhà nước bảo hộ sẽ ngăn ngừa tình trạng sản phẩm bị làm giả, làm nhái nhằm lừa gạt người tiêu dùng
• Thứ ba, thương hiệu khuyến khích tâm lý tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ
có thương hiệu nổi tiếng Tại các nước công nghiệp phát triển, tầng lớp những người tiêu dùng có thu nhập cao, họ không chỉ sẵn sàng trả tiền cho giá trị sản phẩm mà còn trả tiền cho sự hài lòng của mình khi mua được sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng
Vai trò của thương hiệu đối với nền kinh tế trong xu thế hội nhập
• Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, thương
hiệu thực sự là biểu tượng cho sức mạnh và niềm tự hào của quốc gia Một quốc gia có nhiều thương hiệu nổi tiếng với truyền thống lâu đời là biểu hiện của sự trường tồn và phát triển đi lên của quốc gia đó
• Thứ hai, trong bối cảnh nước ta chủ động hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới, việc xây dựng được các thương hiệu mạnh sẽ là rào cản chống lại sự xâm nhập của các hàng hoá kém phẩm chất, giá rẻ từ bên ngoài, bảo vệ thị trường nội địa
• Thứ ba, nếu thương hiệu của các sản phẩm Việt Nam được “ghi vào bộ
nhớ” của người tiêu dùng tại các thị trường nước ngoài sẽ củng cố uy tín cho sản phẩm Việt Nam và vị thế của Việt nam cũng ngày càng tăng trên trường quốc tế
1.1.3.2 Nhượng quyền thương hiệu và xu hướng phát triển của nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam
*Khái niệm nhượng quyền thương hiệu
Nhượng quyền thương hiệu là một phát triển tất yếu và là yêu cầu của kinh tế thị trường Mô hình này đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử các quốc gia có nền kinh tế phát triển
Trang 19Theo quan điểm của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh quốc tế (The International Franchise Association - IFA): “Nhượng quyền kinh doanh là
mối quan hệ được xác lập trên cơ sở hợp đồng giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền liên quan tới các khía cạnh như bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Bên nhận quyền hoạt động sản xuất kinh doanh dưới thương hiệu, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”[c4]
*Các hình thức nhượng quyền thương hiệu [c4]
Trong thực tiễn, mô hình nhượng quyền là một mô hình kinh doanh có rất nhiều cách thức
Nếu căn cứ vào tính chất, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và
bên nhận quyền, xét về cơ bản, theo quan điểm của Hiệp hội kinh doanh quốc tế, nhượng quyền thương mại có các hình thức sau đây:
* Nhượng quyền đơn nhất hay nhượng quyền trực tiếp (Unit franchising)
Hình thức nhượng quyền này được áp dụng khi bên nhượng quyền và bên nhận quyền cùng hoạt động trong phạm vi một quốc gia nhằm đảm bảo quyền kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của bên nhận quyền Hình thức này thường không được
ưu tiên lựa chọn áp dụng nếu như bên nhượng quyền và nhận quyền là những chủ thể kinh doanh ở tại những quốc gia khác nhau, có ngôn ngữ, văn hoá, hệ thống pháp luật, chính sách thương mại khác nhau
* Nhượng quyền mở rộng (Franchise developer agreement)
Thực chất của hình thức này là bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền trách nhiệm mở rộng và điều hành một số lượng đơn vị kinh doanh theo đúng thoả thuận phạm vi một lãnh thổ nhất định và không được nhượng quyền cho bên thứ ba Bên nhận quyền sẽ thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch
Trang 20đã được bên nhượng quyền định trước Mỗi đơn vị kinh doanh do bên nhận quyền thiết lập đều không có tư cách pháp nhân và hạch toán phụ thuộc vào bên nhận quyền.
* Nhượng quyền khởi phát (Nhượng quyền phụ - Master franchise)
Nhượng quyền khởi phát là nhượng quyền thương mại mang tính quốc
tế Nghĩa là bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia khác nhau Bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền, tiến hành kinh doanh theo
hệ thống các phương thức, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền và bên nhận quyền được phép nhượng quyền cho các bên thứ ba Điều này sẽ góp phần khai thác một cách triệt để tiềm năng kinh tế của các thị trường mới Tuy vậy, đi đôi với nó cũng là rủi ro cho toàn bộ hệ thống kinh doanh
Nếu căn cứ theo hình thức hoạt động kinh doanh thì nhượng quyền thương mại bao gồm:
* Nhượng quyền sản xuất (Processing franchise)
Là loại hình nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất và cung cấp ra thị trường các hàng hoá mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền Trong nhượng quyền sản xuất, bên nhượng quyền còn cung cấp cho bên nhận quyền những thông tin liên quan tới bí mật thương mại hoặc những công nghệ hiện đại, thậm chí là cả những công nghệ đã được cấp bằng sáng chế Ngoài
ra, bên nhượng quyền còn có thể hỗ trợ bên nhận quyền và một số khía cạnh như: hỗ trợ đào tạo, tiếp thị, phân phối và các dịch vụ hậu mãi
* Nhượng quyền dịch vụ (Service franchise)
Nhượng quyền dịch vụ là nhượng quyền trong các lĩnh vực hoạt động
có tính chất dịch vụ như: sửa chữa, bảo dưỡng ôtô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng Bên nhượng quyền đã xây dựng và phát triển thành công một (hoặc một số) mô hình dịch vụ nhất định mang thương
Trang 21hiệu riêng Bên nhận quyền sẽ được cung ứng các dịch vụ ra thị trường theo
mô hình và với thương hiệu của bên nhượng quyền
* Nhượng quyền phân phối (Distribution franchise)
Trong nhượng quyền phân phối, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền
và bên nhận quyền có những điểm gần giống như mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, tức là bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau
đó bán lại sản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp sản phẩm tới người tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nhượng quyền phân phối thường gặp trong các lĩnh vực như phân phối mỹ phẩm (Hệ thống cửa hàng phân phối mỹ phẩm VICHY, LO’Real ) hay phân phối nhiên liệu cho các loại xe máy, ôtô (cửa hàng phân phối dầu nhờn CASTROL, CALTEX, EXXON)
Trong thực tiễn của hoạt động nhượng quyền thương mại, các doanh nghiệp có thể có sự lựa chọn một hình thức kết hợp của các hình thức nhượng quyền đã nêu trên, phù hợp với khả năng của mình và hoàn cảnh kinh tế cũng như yêu cầu về mặt pháp lý của mỗi quốc gia
* Xu hướng phát triển của nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam: [6]
Sau hội nhập, Việt Nam phải mở cửa cho các thành viên được giao dịch thương mại tại đất nước mình và phải thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO Mô hình kinh doanh Nhượng Quyền Thương Hiệu là một trong những
dự báo được nhiều thương hiệu nổi tiếng trên thế giới quan tâm và có kế hoạch phát triển tại Việt Nam, đây là một khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt
Là một đất nước có nền kinh tế tăng trưởng cao suốt 5 năm qua, GDP bình quân 7,5%/năm, không có xung đột về tôn giáo, chính trị; một thị trường tiềm năng với dân số 84 triệu người, trong đó 70% số dân độ tuổi dưới 30, đa
số thích mua sắm, tiêu dùng Theo khảo sát của Tổng cục thống kê gần đây
Trang 22trong lĩnh vực tiêu dùng cho thấy, có 90% người tiêu dùng quyết định mua sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thông qua thương hiệu và theo số liệu của Hội nhượng quyền thương mại thế giới –WFC, năm 2006 Việt Nam được xếp là thị trường bán lẻ đứng thứ ba thế giới với sức mua khoảng 21 tỷ USD, có trên
70 hệ thống nhượng quyền đang hoạt động với tốc độ tăng trưởng mỗi năm khoảng 15 – 20%[6] Đây là xu hướng và cũng là cơ hội cho những doanh nghiệp Việt Nam muốn thử sức bằng các hình thức nhượng quyền
Những năm gần đây, hình thức “Nhượng quyền thương hiệu” không còn xa lạ và trở thành vấn đề gây chú ý đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Việt Nam Nhìn một cách tổng quan, hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam
đã khởi sắc, hứa hẹn một thị trường đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh các thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng như cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô, Vissan đã xuất hiện các thương hiệu mới như thời trang Foci, Nino Max, chuỗi cửa hàng G7, Nước mía siêu sạch Ngoài những thương hiệu trong nước, các thương hiệu nổi tiếng ở nước ngoài cũng tham gia thị trường nhượng quyền tại Việt Nam như KFC, Lotteria, Jollibee
đã chuyển nhượng thành công tại TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội Đặc biệt sau hội nhập, nhượng quyền thưong hiệu đang nóng lên từng ngày, nhiều tập đoàn lớn trên thế giới như Mc Donald’s, cà phê Starbucks, cửa hàng tiện lợi Seven-Eleven, tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Mỹ - WalMart đang có kế hoạch xâm nhập thị trường Việt Nam
Tóm lại, Việt Nam đang trong giai đoạn khởi động lĩnh vực nhượng quyền thương hiệu nên tiềm năng phát triển trong lĩnh vực này còn rất lớn và chắc chắn sẽ tăng trưởng mạnh trong vài năm tới Đây vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức cho các doanh nghiệp khi muốn tham gia vào thị trường này tại Việt Nam
Trang 231.1.4 Lý thuyết Tiếp thị bên lề (Outside Marketing Theory)
Làm thế nào để thu lợi nhuận từ những ý tưởng riêng biệt? Đó luôn là một câu hỏi khó trả lời khi mà những công cụ tiếp thị truyền thống ngày càng
tỏ ra kém hiệu quả, trong khi người tiêu dùng luôn đòi hỏi các công ty phải đưa ra những giải pháp mới lạ, độc đáo
Trong bài trả lời phỏng vấn do tạp chí E-xecutive thực hiện, Philip Kotler – chuyên gia tiếp thị hàng đầu thế giới, người sáng lập Trường quản lý Kellogg – đề cập đến việc làm thế nào để doanh nghiệp có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh, cũng như cách thức thu hút người tiêu dùng nhờ các ý tưởng “tiếp thị bên lề”
Theo Philip Kotler: Một công ty không thể chỉ sản xuất mãi một loại hàng hoá Người tiêu dùng sẽ cảm thấy nhàm chán hoặc các đối thủ cạnh tranh khác sẽ đưa ra những chủng loại tốt hơn Do đó, công ty cần thường xuyên tìm cách hoàn thiện các sản phẩm và dịch vụ của mình Tiếc rằng phần lớn các nỗ lực cải thiện này là không đáng kể và không đem nhiều lợi nhuận cho công ty Nhiệm vụ khó khăn thực sự là tìm cho được ý tưởng mới để thoả mãn nhu cầu thị trường… Ở đây chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm thành công từ sản phẩm iPod của hãng Apple Computer Hãy xem ý tưởng này xuất phát từ đâu? Trước tiên, Steave Jobs hợp nhất hai ý tưởng: một dụng
cụ xách tay nhỏ gọn và việc chọn lựa âm nhạc theo sở thích iPod đời mới, ngoài âm nhạc còn có khả năng lưu trữ và xem ảnh, xuất hiện trên thị trường cách đây không lâu Ý tưởng gần đây nhất là mở rộng chức năng của iPod đến việc truyền tải phim ảnh Như vậy, iPod là một chiếc máy nhỏ gọn, cộng thêm việc chọn nhạc, hình ảnh yêu thích, và tất cả chỉ “trên đầu ngón tay” Đó chính là bản chất của khái niệm “tiếp thị bên lề” Steave Jobs liên kết những ý tưởng rời rạc, thay vì đào sâu một ý tưởng (ví dụ như việc sản xuất đài siêu nhỏ hay vô tuyến siêu nhỏ), để tạo nên cả phần âm thanh và hình ảnh trong
Trang 24một thiết bị Tôi khẳng định rằng phần lớn những sản phẩm mới lạ được nảy sinh chính từ sự “giao thoa” giữa các ý tưởng.[15]
Như vậy, xét về bản chất, “tiếp thị bên lề” chính là chiêu thức mà các doanh nghiệp áp dụng để tự đổi mới mình thông qua việc tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm cung cấp, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng Nhiều khi, sự khác biệt cho sản phẩm được tạo ra nhờ việc áp dụng một mô hình kinh doanh nào đó đã thành công trên thế giới vào thị trường cung ứng của mình Ở Việt Nam, phương thức kinh doanh này đang được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng và bước đầu đã thu được kết quả nhất định Có thể kể đến các Cửa hàng một giá (theo mô hình Shop 1$ trên thế giới); thẻ thanh toán tự động trong các ngân hàng: Banknet, Visa…; mô hình các cửa hàng bán đồ ăn nhanh như: Gogo tea, KFC…Và mô hình Skyteen cũng là một sự lựa chọn hợp xu thế
1.1.5 Lý thuyết về Thế Giới Phẳng (The World Is Flat)
Toàn cầu hóa là chủ đề vốn phức tạp và thu hút sự quan tâm của dư luận với không ít những ý kiến trái ngược nhau, được Thomas L Friedman phân tích một cách độc đáo, với lập luận trung tâm về quá trình “trở nên phẳng” của thế giới Với mười nhân tố làm phẳng và ba sự hội tụ, tương lai tạo ra “những sự sắp xếp vĩ đại” góp phần đã, đang và sẽ làm phẳng thế giới Khái niệm “phẳng” ở đây đồng nghĩa với “sự kết nối” Những dỡ bỏ rào cản
về chính trị cùng với những tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng số đang làm cho thế giới “phẳng ra” và không còn nhiều trở ngại về địa lý như trước.[16]
Theo đó, thế giới phẳng là một thế giới mà sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin đã xóa nhòa mọi ranh giới địa lý giữa các quốc gia các vùng lãnh thổ trên thế giới, nó mở ra một kỷ nguyên mới mới - kỷ nguyên công nghệ số.[16]
Trang 25Chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng! Một thế giới mà cơ hội
và thách thức chia đều cho các bên Trong thế giới này, không chỉ các quốc gia như Mỹ, EU, Anh, Pháp; những tập đoàn kinh tế lớn như Dell, IBM, Wal-Mart, mà tất cả các cá nhân ở khắp mọi nơi trên hành tinh này (chỉ cần kết nối Internet và tiếp cận các công cụ của thế giới mới) có thể cộng tác với nhau trong những chuỗi cung toàn cầu để tạo ra những giá trị gia tăng lớn hơn Các quốc gia kém và đang phát triển đang đứng trước những vận hội có tính lịch
sử làm thay đổi toàn bộ nền kinh tế, chính trị, xã hội của mình Nổi lên trong
đó là sự bức phá ngoạn mục của Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… Chiếc
“bánh” toàn cầu hóa ngày càng trở nên to hơn nhưng đồng thời cũng khó chia hơn
Friedman đã đưa ra bảy nguyên tắc cho các công ty và tập đoàn muốn thành đạt trong môi trường kinh doanh mới Đáng chú ý, ông còn chỉ ra rằng, đây là lần đầu tiên trong lịch sử loài người, các cá nhân có thể vươn ra toàn cầu theo cách riêng của mình để làm việc và sáng tạo thông qua hàng loạt phương tiện mới của thế giới phẳng như công cụ tìm kiếm (google), phần mềm xử lý công việc (work flow), khả năng tải lên mạng (uploading), từ điển
mở Wikipedia
Cơ hội kinh doanh và thành công là rất nhiều! Nhiệm vụ của chúng ta
là phải nhanh tay “chộp” lấy phần béo bở đó
Hơn thế nữa thế giới phẳng cũng là một trong những cơ hội kinh doanh đem lại lợi nhuận đáng kể cho Sky’teen - giải pháp sẽ được đề cập ở chương 2
1.2 Tiềm năng thị trường
1.2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
Trang 26Trong suốt 4 năm từ 2003 đến 2006, Việt Nam luôn là một trong những nước dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế tại Châu Á Năm 2007 tiếp tục là một năm thành công của nền kinh tế nước nhà với nhiều thành tựu đáng kể.
Theo Tổng cục thống kê, tính tới ngày 31/12/2007:
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 tăng 8,48 % so với năm
2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2 – 8,5 %) Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB đánh giá: tăng trưởng kinh tế năm 2007 của Việt Nam đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong khu vực
Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện trong năm 2007 theo giá thực tế ước tính đạt 461,9 ngàn tỷ đồng, bằng 40,4 % GDP , tăng 15,8 % so với năm 2006
Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, tăng 69,3 % so với năm 2006, vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong đó vốn được cấp phép mới là 17,86 tỷ USD
Tuy nhiên, Chỉ số giá tiêu dùng 2007 lại cao nhất trong 10 năm trở lại đây Cũng theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng
12 đã tăng tới 2,91% so với tháng 11 Tính chung cho 12 tháng trong năm
2007, mức tăng của CPI đã lên đến hai con số (tăng 12,63%) nhưng theo cách tính chỉ số giá bình quân mới, CPI năm nay chỉ tăng 8,3%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Thu nhập bình quân đầu người 2007 đạt 793,5 USD, tăng 5,8 % so với năm 2006.[13]
Ngân hàng Thế giới - WB ngày 9/1/2008 công bố Báo cáo Triển vọng
Kinh tế toàn cầu 2008, trong đó dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 8,2%
năm 2008 và 8,3% năm 2009
Xét một cách tổng quan, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một xu thế phát triển và hội nhập lớn Đây là cơ hội để Việt Nam đột phá vươn lên trở thành quốc gia phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách
Trang 27thành công Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp đang có mặt tại Việt Nam phát triển ngoạn mục Cơ hội và thách thức đan xen tạo nên bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế đang hội nhập.
1.2.2 Thị trường đồ ăn nhanh tại Việt Nam
1.2.2.1 Thị trường thức ăn nhanh tại Việt Nam
Theo cùng nhịp độ phát triển sôi động của nền kinh tế Việt Nam với hơn 80 triệu dân, trong đó 65% là dân số trẻ ở độ tuổi dưới 35, thị trường thức
ăn nhanh cũng đã có những bước phát triển khả quan trong những năm gần đây
Theo số liệu khảo sát 14.134 người tiêu dùng ở 28 quốc gia của AC Nielsen vào cuối năm 2004 cho thấy châu Á là thị trường tiêu thụ thức ăn nhanh tăng trưởng nóng nhất trên thế giới Chỉ riêng khu vực châu Á Thái Bình Dương, có 30% người tiêu dùng ăn ở ngoài ít nhất 1 lần/tuần
Cụ thể tỷ lệ phần trăm dân số ăn ở ngoài gia đình ít nhất 1 tuần/lần là Hồng Kông 61%, Malaysia 59%, Philippines 54%, Singapore 50%.[11]
Cũng theo kết quả nghiên cứu của AC Nielsen, Việt Nam là thị trường
sơ khai của fastfood khi mới có khoảng 8% người tiêu dùng dùng thức ăn nhanh từ 1-3 lần/tháng Con số này quá ít so với các nước lân cận như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ có hơn 70% người tiêu dùng ăn thức ăn nhanh ít nhất 1 lần/tháng
Mặc dù chưa đến 10% dân số Việt Nam có thói quen sử dụng thức ăn nhanh nhưng với tốc độ phát triển của nền kinh tế và nhu cầu gia tăng trong cuộc sống hiện đại, thị trường thức ăn nhanh Việt Nam thực sự đang là mảnh đất khá màu mỡ cho các nhà đầu tư
Hiện KFC, Lotteria và Jollibee là 3 thương hiệu của nước ngoài đang kinh doanh fastfood khá thành công tại Việt Nam với các món chính là gà chiên, bánh mì kẹp thịt, khoai tây chiên và nước ngọt có gas Các cửa hàng
Trang 28này bình quân thu hút khoảng 200-300 khách/ngày và cao điểm có từ 400 đến trên 1.000 khách/ngày.[11]
KFC đã thành công với 19 cửa hàng ở Thành phố Hồ Chí Minh và 3 cửa hàng ở Hà Nội Lotteria phát triển với 18 cửa hàng, sắp tới Lotteria
sẽ mở chiến lược kinh doanh ra Hà Nội và các tỉnh miền Bắc để phục
vụ kiểu ăn “thời công nghiệp” Jollibee, loại thức ăn nhanh của Philippines do Công ty Tân Việt Hương tại Thành phố Hồ Chí Minh mua nhượng quyền cũng lần lượt chào hàng tại các siêu thị, trung tâm thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh… KFC đã mở thêm cửa hàng thứ tư tại Hà Nội Chuỗi cửa hàng ăn nhanh của Hàn Quốc, Lotteria, cũng mở cửa hàng thứ hai của mình tại Hà Nội trong quý 3/2007 và đã
có mặt tại Hải Phòng.[11]
Bên cạnh các thương hiệu thức ăn nhanh nổi tiếng du nhập vào Việt Nam và gia tăng rất nhanh trong thời gian gần đây như KFC; Manhattan; Chichken Town; Hollywood; Maman, hàng loạt các cửa hàng, cửa hiệu, tiệm
ăn, phục vụ các món ăn nhanh kiểu Việt Nam cũng nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường Nắm bắt tâm lý ngại vào những nơi sang trọng của một bộ phận dân cư người Việt có mức thu nhập trung bình, ổn định, các nhà kinh doanh Việt rất nhanh nhạy nắm bắt cơ hội để tạo dựng những thương hiệu ăn nhanh kiểu Việt Nam.[11]
Đáng chú ý trong các thương hiệu thức ăn nhanh của Việt Nam, mang phong cách Việt hiện nay là sự góp mặt của chuỗi cửa hàng ăn nhanh BAMIZON (một sản phẩm của Lý Thị sau thành công vang dội của Phở 24, kem GOODY)
Giống với những người anh em khác, Bamizon được thiết kế theo quy chuẩn riêng, mang một phong cách phục vụ chuyên nghiệp nhưng rất phù hợp với tâm lý khách hàng Việt Nam và không khói thuốc lá Định hướng đến
Trang 29cuối năm 2007, Bamizon sẽ có 5 cửa hàng tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh Sang năm 2008, Bamizon sẽ có mặt tại Hà Nội và năm 2009 sẽ theo chân Phở 24 ra thị trường nước ngoài.
BAMIZON phục vụ bánh mì đặc ruột, nướng ngay tại chỗ với các loại nhân như bì, thịt gà, xíu mại, bò kho, ragu, cà ri cùng các món tráng miệng chè đậu, khoai môn, bắp, bánh chuối, khoai mì, da lợn… Đối tượng khách hàng mà Bamizon hướng tới là giới văn phòng, gia đình và tuổi teen.[7]
1.2.2.2 Tiềm năng và xu thế phát triển đồ uống , nước giải khát
Tất nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường thức ăn nhanh khi lối sống công nghiệp hiện đại dần trở nên phổ biến, thị trường đồ uống, nước giải khát (thường đi kèm với đồ ăn nhanh) cũng không đứng ngoài cuộc chạy đua tăng trưởng và mở rộng thị phần tại Việt Nam
Là một trong 5 thị trường nước giải khát không cồn đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới, trung bình mỗi người Việt Nam uống khoảng 3 lít nước giải khát không cồn/năm, trong khi mức bình quân của người Philippines là
50 lít/năm Theo nghiên cứu mới đây của phòng nghiên cứu phát triển Cty Chương Dương, mỗi năm, người dân Việt Nam tiêu thụ khoảng trên 500 triệu lít nước ngọt có gas.[2]
Nhu cầu tiêu thụ nước giải khát không gas, đặc biệt là nước trái cây tại
VN tăng rất mạnh, đạt gần 30%/năm Kết quả bán hàng năm 2004-2005 của Cty Bidrico cho thấy, gần 50% người tiêu dùng thành phố đang chuyển sang các loại nước uống có chứa vitamin, ít ngọt, mùi vị tự nhiên
Trước sự thay đổi thị hiếu của thị trường, các doanh nghiệp sản xuất nước giải khát đã lập tức thay đổi cơ cấu sản xuất Các doanh nghiệp có tiếng trong lĩnh vực này như: Vinamilk, Tribeco, Wonderfarm đã tung ra thị trường nhiều loại nước trái cây: táo, xoài, nho, mãng cầu để đáp ứng nhu cầu khách hàng Hiện các doanh nghiệp kinh doanh nước giải khát đã tăng sản
Trang 30lượng trên mức 20% so với năm ngoái: Vinamilk tăng 30% sản lượng nước trái cây nhãn hiệu Fresh; Pesi tăng 30% sản lượng nước giải khát không gas Các nhà nhập khẩu cũng làm đa dạng thêm thị trường bằng những mặt hàng cùng loại có thương hiệu: Ligo, Welch's, Regain, Berri, Drwitt [2]
Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thức uống tiện dụng và có lợi cho sức khỏe đang tăng mạnh tại thị trường nước giải khát Việt Nam Thị trường này cũng còn nhiều tiềm năng lớn chờ đợi các nhà sản xuất đến khai thác, kinh doanh
Theo ước tính khoảng 2/3 thị phần bỏ ngỏ của thị trường nước giải khát
có nguồn gốc thiên nhiên đã nhường chỗ cho các loại nước uống: sữa đậu nành, nước ép rau má, cà rốt được sản xuất theo "công nghệ" thủ công Với giá thành bình dân nhưng chất lượng liệu có thực sự được đảm bảo? Các loại nước uống này thường được bày bán ở vỉa hè, có mặt ở hầu hết các khu dân
cư Với ưu thế "nguồn gốc thiên nhiên, giá thành rẻ", không ít người vẫn chấp nhận thưởng thức những món giải khát này ở những chiếc xe đẩy, quán nước vỉa hè với giá cực rẻ: 1.000 - 4.000 đồng/cốc
Tóm lại, trên cơ sở phân tích thực trạng bằng các phương pháp nghiên cứu hợp lý, theo nhận xét chủ quan của chúng tôi thị trường đồ ăn nhanh vẫn còn tiềm năng cần được khai thác bởi các doanh nghiệp, các tổ chức Đặc biệt, phân đoạn thị trường đồ ăn nhanh trong trường học thực
sự chưa được ai để ý tới – luôn ở trong tình trạng cầu vượt cung Do đó, chúng tôi xin được nêu ra giải pháp để khắc phục tình trạng này thông qua
mô hình canteen trong trường học.
Trang 31CHƯƠNG 2
SKY’TEEN BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG CANTEEN HỌC ĐƯỜNG
Sky’teen là tên dự án mà nhóm E-Mast (nhóm nghiên cứu đề tài này)
đang nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện Nội dung của dự án gồm 2 phần: mô
hình canteen và phong cách Sky’teen.
Mô hình canteen là hệ thống chuỗi canteen mà E-Mast dự kiến triển khai trong các trường học ở Việt Nam Giai đoạn đầu của dự án sẽ xây dựng thí điểm tại khu vực nội thành các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh… Đây là một hệ thống canteen đạt chuẩn về cơ sở vật chất, chất lượng và phong cách phục vụ Với phong cách trẻ trung, sôi nổi, đậm chất cá tính hy vọng hệ thống canteen này sẽ trở thành ngôi nhà thứ hai của học sinh, sinh viên
Phần hai của dự án là việc E-Mast sẽ xây dựng một cộng đồng ảo thông qua website www.skyteen.vn gắn kết các teenages trên cả nước vào đại gia đình skyteen Ở đó chúng tôi sẽ không chỉ tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí sôi nổi dành cho giới trẻ mà còn hướng họ vào những hoạt động mang tính nhân văn thực tiễn hơn Hy vọng với nhiều chương trình bổ ích của mình www.skyteen.vn sẽ là cầu nối của những tình bạn lớn, của những trái tim luôn nói lời yêu thương
Với Sky’teen nhóm tác giả E – Mast mong muốn xây dựng một hệ thống canteen và làm nên một phong cách teen với những bước đột phá:
- Về mô hình: Sky’teen là một hệ thống canteen mang đặc trưng, phong cách riêng (hiện đại, trẻ trung); đạt chuẩn về cơ sở vật chất và chất lượng phục vụ
- Về lợi ích: Khi sky’teen được triển khai sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho học sinh, phụ huynh, nhà trường mà còn mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp và xã hội
Trang 32+ Với học sinh, sinh viên: Sky’teen không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu
bổ sung năng lượng mà còn mở ra cho họ một thế giới mới kết nối những
+ Với phụ huynh học sinh: Phụ huynh học sinh
2.1 Sky’teen – mô hình canteen trong trường học
Với mọi người hiện nay khái niệm “Canteen” đã trở nên rất đỗi thân thuộc Ở Việt Nam, Canteen xuất hiện từ khá lâu, nó hiện hữu trong hầu khắp các nơi công cộng từ bệnh viện, công sở…đến trường học Trong trường học, Canteen là nơi học sinh, sinh viên bổ sung năng lượng, giải trí…Nó đã và đang trở thành một phần không thể thiếu đối với học sinh, sinh viên Việt Nam
Canteen giống như một nhà hàng được xây dựng trong khuôn viên trường học Đó không chỉ là nơi để học sinh, sinh viên bổ sung năng lượng
mà còn là nơi để họ giao lưu, giải trí, tìm kiếm và trao đổi thông tin
Theo xu thế phát triển hiện nay của ngành giáo dục Việt Nam các canteen không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng dich vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng Những canteen mang phong cách trẻ trung, hiện đại sẽ là sự lựa chọn số một của học sinh, sinh viên Tuy nhiên thực trạng canteen hiện nay ở nước ta còn nhiều vấn đề cần giải quyết
2.1.1 Thực trạng của canteen trong trường học ở Việt Nam
2.1.1.1 Đặc điểm khách hàng mục tiêu
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thị trường, đề tài đã xác định khách hàng mục tiêu để hướng tới là thế hệ 8X và 9X (là những người sinh ra trong những năm 80,90 của thế kỷ XX), mà trước tiên là học sinh phổ thông Đây là đối tượng khách hàng đang có nhu cầu cấp thiết về một canteen chuẩn (là mô hình canteen có cơ sở vật chất hiện đại, chất lượng phục vụ đảm bảo,
Trang 33đáp ứng tốt những nhu cầu của hoc sinh, sinh viên như bổ sung năng lượng trao đổi và tìm kiếm thông tin, giao lưu, giải trí ) trong trường học.
Được sinh ra trong nền kinh tế phát triển, trong sự giao lưu, hội nhập văn hoá, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, thế hệ 8X, 9X đã sớm tiếp cận với những công nghệ cao: Internet, điện thoại di động cao cấp; những thú vui: nhạc dance, game .; những trào lưu văn hoá mới: Unisex, Harajuku, Tomboy Họ đã tạo ra cho mình những cái tên riêng như: “Thế hệ mới”,
“Thế hệ @” và những xu hướng mới Đó là cả một thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp, các lĩnh vực khác nhau tìm hiểu, tập trung cung ứng sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu rất đa dang và phong phú của thế hệ này
Ngày nay, học sinh, sinh viên không thụ động tiếp thu kiến thức trong phạm vi gia đình, nhà trường như trước kia mà họ luôn có nhu cầu tự tìm hiểu, khám phá thông qua bạn bè, qua Internet… Do vậy, thời gian của họ phần lớn dành cho những hoạt động ở bên ngoài Theo một phóng sự điều tra của chuyên mục Cafe @ (Đài truyền hình kỹ thuất số VTC, 25/05/2007) thì 8X, 9X ngày nay dành phần lớn thời gian cho việc học ở trường, ở các lớp học thêm; ngoài ra họ còn cùng bạn bè tham gia các hoạt động online, offline, picnic, tham gia các hoạt động xã hội hay chỉ đơn giản vào các hàng quán ven đường ăn quà vặt Môi trường học tập, giao tiếp ngày càng được mở rộng đã tạo nên một thế hệ trẻ năng động, cá tính và đầy bản lĩnh Họ là những con người mới với những trào lưu mới Do vậy họ luôn có nhu cầu học tập, giao tiếp, thể hiện bản thân (mà theo “Thứ bậc nhu cầu” của Abraham Maslow, 8X, 9X đang nằm trong nhóm có nhu cầu ở thứ bậc thứ 3, thứ 4: Nhu cầu xã hội, Nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có địa vị xã hội) Hiểu được nhu cầu của họ, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau (các công ty kinh doanh trong lĩnh vực giải trí, truyền thông, các công ty thời
Trang 34trang .) không ngừng cung ứng sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu đó Ví dụ: Gói cước Mobi Q (Mobi Fone) – tin nhắn thoả thích, gửi niềm thương yêu, phục vụ nhu cầu kết nối của giới trẻ; hay “Thời trang xuân hè 2008” của Nino Max phục vụ cho nhu cầu thể hiện cá tính bản thân cho riêng 9X… Tuy nhiên, ít có doanh nghiệp quan tâm đến nhu cầu ăn uống của học sinh như một đoạn thị trường để hướng tới.
Kinh tế, khoa học công nghệ phát triển, đời sống người dân được nâng cao đã ảnh hưởng đầu tiên, mạnh mẽ nhất đến những học sinh thành thị Họ sớm tiếp cận với những phương tiện công nghệ hiện đại như máy vi tính, Internet, điện thoại di động để làm giầu kho tàng kiến thức của mình Ham học, muốn được tìm hiểu, khám phá, được giao tiếp, thể hiện tài năng là những đặc điểm nổi bật của 8X, 9X ngày nay Với kiến thức rộng, sự sáng tạo, những bộ trang phục hợp thời trang, hay điện thoại di động cao cấp… học sinh, sinh viên ngày nay càng muốn chứng tỏ mình, muốn khẳng định bản thân Đó là những nhu cầu tất yếu trong một xã hội phát triển năng động hiện nay Nhưng phần lớn học sinh lại chưa thật sự được quan tâm đến điều này trong trường học của các bạn Trường học mới chỉ giới hạn trong việc dạy các bạn kiến thức sách vở, hướng các bạn đến các hoạt động trong khuôn khổ nhà trường mà chưa quan tâm nhiều hơn nữa đến nhu cầu dinh dưỡng, nhu cầu giao tiếp, hoạt động ngoại khoá, hoạt động xã hội của các bạn
Theo điều tra của chúng tôi 20/3/2008 tại một số trường trung học phổ thông, đại học, cao đẳng trong nội thành Hải Phòng, học sinh, sinh viên ngày nay cần một nơi không tách khỏi nhà trường, có thể đáp ứng những nhu cầu
đa dạng của mình, từ nhu cầu dinh dưỡng đến các nhu cầu về xã hội, nhu cầu được công nhận Tuy nhiên hiện nay nhà trường, doanh nghiệp chỉ quan tâm
và cung ứng cho những khách hàng - học sinh, sinh viên những sản phẩm đơn
lẻ, đáp ứng một số nhu cầu riêng biệt trên các góc độ khác nhau Do vậy biết
Trang 35kết hợp những nhu cầu này để có chiến lược marketing phù hợp, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu đó sẽ tạo ra một thị trường tiềm năng lớn cho doanh nghiệp.
2.1.1.2 Sự cần thiết của canteen trong trường học
Cho đến nay không ai có thể phủ nhận được vai trò của canteen Tại Việt Nam canteen hiện hữu ở hầu hết những địa điểm như: bệnh viện, công sở Trong trường học, đó là nơi phục vụ nhu cầu ăn uống cũng như giải trí của đa số học sinh, sinh viên Canteen đã và đang trở thành một phần không thể thiếu của trường học Việt Nam Canteen đã giải quyết được nhu cầu hàng đầu của con người là hấp thụ dinh dưỡng và giải khát Bằng cách này canteen
đã góp phần quan trọng trong việc phát triển thể chất cũng như tăng cường khả năng tư duy học sinh Người phương tây có câu ngạn ngữ: “Sáng ăn cho mình, trưa ăn cho bạn, tối ăn cho kẻ thù” Câu ngạn ngữ trên đã nói lên tầm quan trọng của bữa ăn sáng Sau giấc ngủ dài, để bắt đầu ngày mới, con người cần có đủ năng lượng để sáng tạo Đặc biệt với lứa tuổi teen (từ 13 đến 19 tuổi), bữa sáng càng có vai trò quyết định tới sự phát triển trí tuệ và thể chất của các bạn Học sinh Việt Nam thường bắt đầu giờ học từ 7 giờ sáng, còn với sinh viên là 6h30 Tại thời điểm này, vì nhiều lý do chưa có thời gian ăn sáng trước giờ học Bữa sáng của những học sinh này thường bắt đầu từ thời điểm giờ ra chơi tiết 1 (7h45 đến 7h55) Nội quy trường học quy định: “Cấm học sinh ra khỏi phạm vi trường học nếu không có sự đồng ý của giáo viên và nhà trường” Học sinh không thể ra khỏi nhà trường để ăn sáng và thời gian ra chơi ngắn là hai lý do để canteen là sự lựa chọn duy nhất cho mỗi sáng của tuổi teen
Canteen không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cung cấp năng lượng
“bữa sáng” mà còn giải quyết nhu cầu ăn uống của học sinh và giáo viên