1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

09 Trần Thùy Dung 25101997.Doc

41 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Bồi Dưỡng Kĩ Năng Đọc - Hiểu Trong Phân Môn Tập Đọc Cho Học Sinh Lớp 4 Theo Định Hướng Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
Tác giả Trần Thùy Dung
Người hướng dẫn GVHD: Lê Ngọc Sơn
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Bài Tập Lớn
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 287 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM MON BÀI TẬP LỚN MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM MON

Tên học phần: Phương pháp NCKH chuyên ngành GDTH

Mã học phần: LLP203

Mã lớp: K19 DLCTHA4 Học kì II, năm học 2021-2022

Trang 2

Điểm kết luận của bài thi Số phách

(Do HĐ chấm thi ghi)

Số phách

(Do HĐ chấm thi ghi)

Họ và tên SV: Trần Thùy DungNgày, tháng, năm sinh: 25/10/1997Tên lớp: K19 ĐHLT TIỂU HỌC

Họ, tên và chữ ký của giảng viên

thu bài thi

Trang 3

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Mục tiêu nghiên cứu 8

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 8

5.1 Đối tượng nghiên cứu 8

5.2 Khách thể nghiên cứu 8

4 Giả thuyết nghiên cứu đề tài 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 9

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 9

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 9

7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 9

PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH 10

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 “Đọc” trong phân môn Tập đọc ở tiểu học 10

1.1.2 Đọc - hiểu trong dạy học phân môn Tập đọc ở tiểu học 12

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đọc - hiểu của học sinh lớp 4 15

1.1.4 Nội dung chương trình phân môn Tập đọc lớp 4 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

1.2.1 Những thông tin khái quát về khảo sát thực tế 21

1.2.2 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 21

1.2.2.1 Thực trạng việc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu cho học sinh của giáo viên 21

1.2.3 Kết luận về điều tra thực trạng 22

Tiểu kết chương 1 23

2.1 Rèn kĩ năng đọc 25

2.1.2 Rèn kĩ năng đọc thầm 28

2.1.3 Rèn kĩ năng đọc diễn cảm 29

2.2 Rèn kĩ năng nhận diện ngôn ngữ để hiểu nội dung văn bản 32

2.2.1 Kĩ năng nhận diện từ mới 32

2.2.2 Kĩ năng nhận diện bố cục, thể loại của văn bản 34

2.2.3 Kĩ năng nhận diện và hiểu nghĩa câu chủ đề 37

2.3 Rèn kĩ năng vận dụng ý nghĩa giáo dục của bài tập đọc vào thực tiễn 38

Tiểu kết chương 2 39

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH

Bảng 1.1 Thống kê chương trình phân môn Tập đọc lớp 4

Bảng 3.1 Kết quả đánh giá khả năng đọc - hiểu của học sinh lớp 4 thông qua phiếu bàitập

Trang 6

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học Đây là phân

môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triểncho học sinh (HS) kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của HS bậc học đầu tiên ở trường phổ thông Mục đích của việc dạy đọc là giúp cho HS biết cách hiểu những điều đã đọc được, trang bị cho HS một công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản Chính nhờ cách hiểu văn bản mà HS dần dần có khả năng đọc rộng để tự học, tự bổ sung kiến thức cần thiết mà cuộc sống và việc làm của họ ở ngoài đời đòi hỏi và từ đó họ dần dần hình thành thói quen, hứng thú với việc đọc sách, việc tự học thường xuyên

Việc rèn kĩ năng đọc hiểu cho HS là tác động tích cực tới tư duy người đọc, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy các em suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh,… Ngoài ra còn giáo dục tính cách, thị hiếu, thẩm mỹ cho HS Nói một cách cụ thể, đọc - hiểu một bài Tập đọc có nghĩa

là HS biết tìm ra ý hay xác định nội dung của bài Để hướng dẫn HS tự rút ra nội dung chính của bài đọc, giáo viên (GV) có thể vận dụng nhiều phương pháp khác nhau Môn Tiếng Việt gồm các phân môn: Học vần; Tập đọc; Tập viết; Luyện từ

và câu; Chính tả, Kể chuyện; Tập làm văn Việc đọc - hiểu được tiến hành chủ yếu qua phân môn Tập đọc - một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ đối với bậc tiểu học mà đối với bất cứ cấp học nào.

Trường Tiểu học Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ là một ngôi

trường với bề dày lịch sử, đội ngũ GV giảng dạy nhiệt tình Nhưng HS của trường

đa số là học sinh dân tộc thiểu số nên việc truyền đạt kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho các em còn gặp nhiều khó khăn Kĩ năng đọc - hiểu một bài tập đọc của HS còn nhiều hạn chế dẫn đến chất lượng đọc - hiểu chưa cao.

Từ những lí do đã nêu ra ở trên, tôi chọn đề tài Một số Biện pháp bồi dưỡng kĩ năng đọc - hiểu trong phân môn tập đọc cho học sinh lớp 4 theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới với mong muốn thông qua việc nghiên cứu lí luận, khảo

Trang 7

sát thực trạng đề xuất một số biện pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy học đọc hiểu văn bản cho HS lớp 4.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Khảo sát và đánh giá thực trạng dạy và học phần đọc - hiểu trong phân mônTập đọc cho HS khối 4 ở trường Tiểu học Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh PhúThọ

- Đề xuất các biện pháp rèn kĩ năng đọc - hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinhkhối 4 Tiểu học Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp rèn kĩ năng đọc - hiểu trong phân môn Tập đọc cho HS lớp 4

3.2 Khách thể nghiên cứu

- 90 HS lớp 4, Trường Tiểu học Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

- 03 GV dạy khối 4, Trường Tiểu học Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú

Thọ

4 Giả thuyết nghiên cứu đề tài

Nếu xây dựng một số Biện pháp bồi dưỡng kĩ năng đọc - hiểu trong phân môn tập đọc cho học sinh lớp 4 theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới thì

sẽ nâng cao năng lực sử dụng tư duy, từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

- Tìm hiểu, phân tích một số cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tàinghiên cứu

- Xây dựng một số biện pháp rèn kỹ năng đọc hiểu trong phân môn Tập đọc cho

Trang 8

đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu tài liệu, hệ thống hoá tài liệu xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

- Phân tích, tổng hợp

- Thống kê, phân loại

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát bằng phiếu Anket

- Quan sát

- Thống kê toán học

- Thực nghiệm sư phạm

7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn nghiên cứu

Phân môn Tập đọc trong chương trình Tiếng Việt lớp 4

7.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận, thực tiễn và vấn đề có liên quan đếnviệc định hướng bồi dưỡng, nâng cao khả năng đọc - hiểu cho HS lớp 4 Trường Tiểuhọc Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thông qua một phân môn Tập đọctrong môn Tiếng Việt

Trang 9

PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 “Đọc” trong phân môn Tập đọc ở tiểu học

Có nhiều định nghĩa về “đọc” Mỗi định nghĩa đề cập đến những khía cạnh khác nhau về hoạt động “đọc” Trong cuốn Cẩm nang dạy học tiếng Nga, Viện sĩ

M.R.Lơvôp định nghĩa: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức từ chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị không có âm thanh (ứng với việc đọc thầm).” [23, tr.7] Trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu, tác giả Nguyễn Thanh Hùng có nêu “Từ khi có ngôn ngữ theo chuẩn tắc chữ viết thì

“đọc trước hết là sự phát âm, ghép vần, đọc chữ Sau khi đọc thành thạo mới đọc đọc toàn bộ văn bản bao gồm câu, nhóm câu và tập hợp các đơn vị trên câu Lúc bấy giờ,

có thể vừa đọc thành lời đọc, giọng đọc để chuyển dịch toàn bộ kí hiệu tĩnh sang tín hiệu âm thanh của người đọc tương ứng, vừa có thể đọc thầm, đọc bằng mắt” [22, tr.24]

Tuy nhiên chúng ta có thể xem xét hoạt động “đọc” theo nghĩa sau:

“Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).” [7.tr 139]

Khái niệm này thể hiện một quan điểm đầy đủ, xem đó là quá trình giải mã hai bậc: chữ viết thành âm thanh và chữ viết thành nghĩa Như vậy, đọc không chỉ là “đánhvần”, phát âm thành tiếng theo đúng ký hiệu chữ viết, cũng không chỉ là quá trình nhậnthức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc Đọc chính là sự tổng hợp của cả hai quá trình này

Trong nhà trường, ta thường gặp hai loại hoạt động đọc là đọc thành tiếng, đọc thầm, gồm có các hình thức đọc đồng thanh, đọc cá nhân trong đó, hình thức đọc cá nhân phổ biến hơn Hình thức đọc đồng thanh thường được sử dụng ở lớp đầu cấp của

Trang 10

bậc tiểu học, đọc cá nhân thường được sử dụng ở các lớp 2 - 5 bậc tiểu học và các lớp bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông.

Trong đề tài này, tôi quan tâm đến hai hoạt động đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm

Đọc thành tiếng là hoạt động dùng mắt để nhận biết một văn bản viết, đồng thời sử dụng cơ quan phát âm phát ra thành âm thanh để người khác nghe được nội dung của văn bản đang được đọc Khi đọc, người đọc phải tiến hành các thao tác như: mắt nhìn vào dòng chữ cần đọc (từ trái sang phải), bộ não hoạt động (trên cơ sở những hiểu biết

về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp ) để nhận ra hình thức âm thanh của từng tiếng, từng

từ, hiểu được ý nghĩa của từ, của câu và đồng thời bộ máy phát âm phát ra thành tiếng

để mọi người cùng nghe Đọc thành tiếng là hoạt động chuyển văn bản ngôn ngữ viết thành văn bản ngôn ngữ âm thanh Hoạt động đọc thành tiếng được tổ chức thường xuyên trong nhà trường, nhất là ở Trường Tiểu học Căn cứ vào yêu cầu và chất lượng đọc, hoạt động đọc thành tiếng trong nhà trường hướng đến đạt được hai mức độ: đọc đúng (đọc chính xác, đọc lưu loát văn bản) và đọc diễn cảm (đọc biểu cảm được giọng điệu, ngữ điệu của văn bản) Thật ra, việc phân chia này chỉ là sự phân chia tương đối, nhằm tạo điều kiện để tìm hiểu sâu các hoạt động đọc đó để nâng cao hiệu quả của việc đọc Bởi vì muốn đọc diễn cảm, trước hết người đọc phải đọc đúng và trong đọc đúng người đọc đã phải đảm bảo có sự diễn cảm Đọc thầm là hình thức đọc không thành tiếng, người đọc dùng mắt để nhận diện ngôn ngữ trong văn bản và vận dụng năng lực tư duy để thông hiểu và tiếp nhận nội dung thông tin của văn bản Trong cuộcsống hàng ngày, khi đọc bất kỳ văn bản nào nếu như không có nhu cầu đọc thành tiếng(cho người khác cùng nghe) thì chủ yếu người ta dùng hình thức đọc thầm Đọc thầm chỉ được thực hiện khi đã biết đọc thành tiếng một cách thành thạo Khi đọc thầm, do không phải phát âm thành tiếng nên người đọc đỡ hao tốn sức lực hơn, tốc độ nhanh hơn, người đọc có điều kiện tập trung tư tưởng để suy ngẫm, tìm hiểu ý tứ, nội dung

văn bản được đọc Vì thế, đọc thầm giúp người đọc thông hiểu, tiếp nhận tốt hơn nội

dung thông tin của văn bản Đọc thầm cũng là hoạt động được tổ

chức phổ biến ở bậc học tiểu học, nhất là khi HS đã đảm bảo thành thạo việc đọc thànhtiếng (sử dụng phổ biến nhất đối với HS lớp 3 - 5)

Việc hiểu sâu hai hoạt động này đối với khoá luận là cơ sở khoa học để tìm hiểuthực trạng việc tổ chức hoạt động đọc - hiểu thông qua phân môn Tập đọc ở Trường

Trang 11

Tiểu học, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng đọc - hiểu phù hợp với đối tượng HS của một Trường Tiểu học cụ thể

1.1.2 Đọc - hiểu trong dạy học phân môn Tập đọc ở tiểu học

Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn

bản đọc Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, đọc hiểu: kết quả đọc thầm

phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là toàn bộ những gì

được đọc Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc, bắt đầu từ việc hiểu

nghĩa từ Việc chọn từ nào để giải thích phụ thuộc vào nhiều đối tượng học sinh (địa

phương – thuộc dân tộc nào ) Giáo viên phải có hiểu biết về từ địa phương cũng như

có vốn từ mẹ đẻ của vùng dân tộc mình dạy học để chọn từ giải nghĩa cho thích hợp, đồng thời phải chuẩn bị sẵn sàng giải đáp cho học sinh về bất cứ từ nào trong bài mà học sinh yêu cầu Trên thực tế, con người đọc để đọc và đọc để hiểu ý nghĩa của các loại văn bản “Hiểu” chính là nhu cầu của con người nhằm nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí

lẽ của văn bản bằng sự vận dụng trí tuệ Hiểu là khát vọng nắm vững tri thức nhân loại

đã tích luỹ qua thời gian để phát triển cá nhân và xã hội ngày càng văn minh tiến bộ hơn Đọc là tiền đề của vấn đề đọc - hiểu, muốn có văn hoá đọc một cách thực chất thì phải hiểu thấu đáo những gì đã đọc

Như tâm lý – ngôn ngữ học đã chỉ ra, để hiểu và nhớ những gì được đọc, người đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng như nhau có thể và cần sang lọc để giữ lại những từ chìa khóa, những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản Đó là những từ giúp ta hiểu đượcnội dung của bài Trong những bài khóa văn chương đó là những từ “dùng đắt”, tạo nên giá trị nghệ thuật của bài Tiếp đó cần hướng học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan trọng của bài, những câu nêu ý chung của bài Với các từ khóa văn chương, học sinh cần nắm được các hình ảnh, chi tiết nghệ thuật tiêu biểu nhất, “hiểu” hay là cảm thụ tác phẩm văn chương Đó là sự thông hiểu ở một tầng bậc khác, đó không chỉ là hiểu nghĩa của ngôn

từ mà còn là những gì đằng sau nó, hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng [18, tr 117]

Từ đó ta có thể thấy được đọc hiểu không chỉ là đọc thông hay đọc lưu

loát mà còn là việc đọc và hiểu được nghĩa của câu từ, nội dung bài đọc hay là giá trị nghệ thuật của một số yếu tố trong bài đọc Ngoài ra việc đọc hiểu không chỉ đơn thuần là việc tìm hiểu bài đọc mà phải là tăng cường chất lượng đọc Để từ đó học sinh mới có thể thông hiểu nội dung văn bản ở mức tuyết đối nhất, cụ thể nhất từ câu đoạn, giá trị nghệ thuật của một số yếu tố

Trang 12

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để lĩnh hội tri thức và bồi dưỡng tâm hồn Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe, và dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc.

Hiểu là trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?, tức là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát được nội dung và có thể vận dụng vào đời sống

Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt.Khi đọc một văn bản, người đọc hiểu ở mức độ trưởng thành là phải thấy được:

+ Thể loại của văn bản, nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của cấu trúc văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng;

+ Thấy được tư tưởng, ý đồ, mục đích của tác giả gửi gắm trong tác phẩm;

+ Đối với văn bản là tác phẩm văn học: cảm nhận được giá trị đặc sắc của các hình tượng, yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản

Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của người đọc Đọc hiểu tác phẩm văn chương là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệthuật Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động.Quá trình đọc hiểu được diễn ra theo hai cách:

+ Thứ nhất: Đi từ nghĩa chung (nội dung tổng thể) của văn bản đến nghĩa của từng bộ phận trong văn bản (ý nghĩa đoạn, nghĩa của câu, nghĩa của từ) rồi từ đó khái quát nên chủ đề, tư tưởng, đích của văn bản Cách dọc hiểu này thường dành cho những người đọc có trình độ văn hoá cao và có nhiều kinh nghiệm sống

+ Thứ hai: Đi từ nghĩa bộ phận nhỏ trong văn bản (từ, câu, đoạn) đến nghĩa chung, nội dung tổng thể (đại ý, chủ đề), đích của văn bản Cách thứ hai thường là cách đọc – hiểucủa những người đọc có trình độ và kinh nghiệm sống hạn chế (đang học phổ thông và tiểu học)

Qua hai cách đọc - hiểu trên thì việc dạy đọc - hiểu cho học sinh ở bậc Tiểu học cụ thể

là học sinh lớp 4 về cơ bản là dạy theo cách phân tích thứ hai, song trong giai đoạn

Trang 13

cuối lớp 4 đã có những bài dạy đọc - hiểu phối hợp cả hai cách phân tích trên để học sinh bước đầu làm quen với đọc - hiểu nhanh và dần chuyển từ cách đọc - hiểu chậm sáng cách đọc - hiểu nhanh hơn.

Phân môn Tập đọc ở tiểu học đặt ra hai yêu cầu cơ bản đó là rèn kĩ năng đọc (còn gọi là luyện đọc) và rèn kĩ năng hiểu (còn gọi là tìm hiểu bài) cho HS Ngữ liệu dạy học phân môn

Tập đọc của sách giáo khoa trong chương trình Tiếng Việt tiểu học gồm một số thể loại văn

bản: văn bản nghệ thuật, truyền thông, nhật dụng… Yêu cầu đọc - hiểu đối với HS được đặt

ra ở tất cả các thể loại văn bản này, với các mức độ khác nhau:

Đối với văn bản nghệ thuật (bao gồm văn miêu tả, truyện, thơ…), HS phải hiểu và cảmnhận được nội dung tường minh, ý nghĩa và các tín hiệu nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong đó như: tứ thơ, nhân vật, chi tiết, hình ảnh, từ ngữ, cảm xúc, thủ pháp nghệ thuật

Ví dụ 1: Bài Ông Trạng thả diều (SGK Tiếng Việt 4 - tập 1) yêu cầu HS tìm được

những chi tiết nói lên tư chất thông minh, sự ham học và chịu khó của Nguyễn Hiền, giải thích vì sao chú bé Hiền lại được gọi là “ông Trạng thả diều” Hiểu được nội dung của bài tập đọc là ca ngợi chú bé Nguyễn Hiền thông minh, có ý chí vượt khó nên đã

đỗ trạng nguyên khi mới 13 tuổi

Ví dụ 2: Bài Trăng ơi…từ đâu đến? (SGK Tiếng Việt 4 - tập 2) qua bài thơ HS biết

được tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật so sánh để miêu tả hình dạng và màu sắc của trăng Vầng trăng được tác giả gắn với các đối tượng cụ thể như sân chơi, quả bóng, lời mẹ ru, chú cuội, đường hành quân, chú bộ đội… Hiểu được tình cảm gắn bó của nhà thơ với trăng, lòng yêu mến và tự hào về quê hương đất nước

Đối với các văn bản khác (văn bản nhật dụng, hành chính, truyền thông…) HS phải hiểu được những thông tin chính, cách thức tác giả truyền đạt thông tin, cấu tạo hình thức của thể loại văn bản đó để có thể ứng dụng vào thực tiễn

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đọc - hiểu của học sinh lớp 4

1.1.3.1 Các yếu tố chủ quan

Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm

lý Các em đang từng bước tham gia vào các hoạt động, các mối quan hệ của đời sống

xã hội Mặc dù vậy, do đang quá trình phát triển, nhất là phát triển về tâm lý, HS tiểuhọc chưa đầy đủ, hoàn thiện về ý thức, phẩm chất, năng lực như một công dân trưởngthành trong xã hội Các em đặc biệt cần sự bảo trợ, giúp đỡ của gia đình, nhà trường và

Trang 14

xã hội để dần hoàn thiện ý thức, phẩm chất, năng lực Mặt khác, cũng do đặc điểm tâm

lý đang trong quá trình phát triển, HS tiểu học thường ở trong thế dễ thích nghi, nhanhtiếp thu cái mới nhưng còn thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủđích Những yếu tố mang tính chủ quan sẽ có ảnh hưởng đến quá trình HS đọc hiểu.Dưới đây là một số yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến quá trình đọc - hiểu các bài Tậpđọc của HS lớp 4

- Yếu tố tri giác: Tri giác là quá trình thu thập, giải nghĩa, lựa chọn và tổ chứccác thông tin từ giác quan Ở bậc tiểu học, quá trình tri giác của HS thường thể hiệntính trực quan và mang màu sắc cảm tính Chính vì vậy, khi tiếp xúc với tác phẩm làđối tượng hiển hiện bằng ngôn ngữ, không trực quan rõ ràng, sinh động, HS sẽ gặpnhiều khó khăn trong quá trình thu thập, giải nghĩa nội dung, ý nghĩa của tác phẩmcũng như lựa chọn thông tin từ tác phẩm để định hướng cho hành động của cá nhântrong thực tế Nắm được đặc điểm trên, GV cần vận dụng một cách hiệu quả phươngpháp dạy học trực quan, gắn việc dạy đọc- hiểu với việc sử dụng các phương tiện dạyhọc trực quan hỗ trợ để HS dễ dàng hơn trong việc tiếp nhận nội dung, ý nghĩa, đặc sắcnghệ thuật của tác phẩm đó

- Khả năng chú ý: Khả năng chú ý là năng lực tập trung sự chú ý vào công việcđang làm hoặc chú ý vào những thông tin được trao đổi của con người Ở người, sựchú ý được phân thành hai loại: chú ý không chủ định (loại chú ý không có mục đích

tự giác, không có biện pháp nào mà vẫn chú ý vào đối tượng); chú ý có chủ định (sựđịnh hướng hoạt động do bản thân chủ thể đặt ra nhằm quan sát, ghi nhận đối tượng vì

một mục đích nào đó) Ở lứa tuổi HS tiểu học, khả năng chú ý đã xuất hiện và được

tăng cường dần theo quá trình tham gia các hoạt động giáo dục ở nhà trường và hoạtđộng khác bên ngoài cuộc sống Khả năng chú ý giúp HS tập trung vào các hoạt độnghọc tập, rèn luyện kĩ năng Tuy nhiên, ở lứa tuổi này, chú ý có chủ định chưa cao, khảnăng kiểm soát, điều khiển sự tập trung chú ý còn hạn chế Chính vì vậy, HS thườngthích những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn Nó khiến sựtập trung chú ý của các em được nâng cao hơn, dẫn đến hiệu quả hoạt động học tập tốthơn Nắm được đặc điểm này, khi tổ chức giờ học, nhất là giờ học Tập đọc (với đặcthù chỉ có văn bản), GV cần linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp để HS tập trung,

chú ý tốt vào bài học, đạt được hiệu quả cao trong giờ học

- Năng lực ngôn ngữ: Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp, được con người sử

Trang 15

dụng để liên lạc hay giao tiếp với nhau, cũng như chỉ chính năng lực của con người cókhả năng sử dụng một hệ thống như vậy Năng lực ngôn ngữ của con người phụ thuộcvào nhiều yếu tố: trình độ, vốn sống, kinh nghiệm, môi trường sống, môi trường giaotiếp… Và nó cũng là kết quả của một quá trình rèn luyện Đối với HS, đặc biệt HS tiểuhọc, ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với quá trình nhận thức của họ Nhờ có ngônngữ mà tri giác, tư duy, tưởng tượng của HS phát triển, được biểu hiện cụ thể thôngqua ngôn ngữ nói và viết Cũng nhờ có ngôn ngữ mà HS rèn luyện được sự tự tin, khảnăng thuyết phục người khác, khả năng thuyết trình trước đám đông… Trong học mônTiếng Việt (đặc biệt là học tập đọc), năng lực ngôn ngữ giúp HS có sự cảm thụ tốt giátrị nội dung, ý nghĩa, nghệ thuật của một tác phẩm Tuy nhiên, ở lứa tuổi tiểu học, khảnăng sử dụng ngôn ngữ đang được hoàn thiện dần nên về cơ bản HS chưa thật thuầnthục về cách sử dụng các yếu tố từ ngữ, còn hạn chế về vốn từ, về cách đặt câu và tạolập văn bản Hơn nữa, đối với đối tượng là HS người dân tộc thiểu số, do hoàn cảnh,điều kiện sống và môi trường giao tiếp có nhiều khó khăn nên khả năng sử dụng tiếngphổ thông (tiếng Việt) của các em có nhiều hạn chế Thực trạng này gây khó khăn cho

HS trong học tập, trong giao tiếp Nắm được những đặc điểm này, GV cần có phươngpháp hướng dẫn, rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho HS tiểu học nói chung, HS tiểu học

là người dân tộc thiểu số nói riêng nhằm nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ cho các

em, hướng đến việc đạt được mục tiêu học tập tốt nhất

1.1.3.2 Các yếu tố khách quan

- Yếu tố gia đình: Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó vớinhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệnuôi dưỡng, quan hệ giáo dục… Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tácđộng mạnh mẽ đến xã hội Với một đứa trẻ, gia đình là một yếu tố tác động hết sứcquan trọng đến việc hình thành và phát triển tư duy và nhân cách Một gia đình có nềntảng giáo dục tốt sẽ hình thành những đứa trẻ có khả năng tư duy, có nhân cách tốt.Trong học tập, HS tiểu học cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của gia đình Gia đình nào

có sự quan tâm đến việc học tập, có truyền thống học tập thì gia đình đó con cái cũngquan tâm đến học tập và có quá trình phấn đấu trong học tập tốt hơn Xét riêng về góc

độ đọc sách, gia đình có mối quan tâm và có sự định hướng cho con cái về việc đọcsách thì các em sẽ được tăng cường về nhu cầu đọc sách, từ đó mà rèn luyện đượcnăng lực đọc, năng lực tiếp nhận những thông tin hữu ích từ sách, bồi dưỡng kiến thức

Trang 16

và hoàn thiện nhân cách của bản thân Ở lứa tuổi HS tiểu học, nhu cầu tìm hiểu thếgiới qua sách, nhu cầu chiếm lĩnh tri thức khoa học khá lớn Vì thế, trong gia đình, nếuđược cha mẹ quan tâm và tạo điều kiện, HS có thể được tiếp cận với một lượng tri thứckhoa học lớn từ sách Và đây là một kênh quan trọng để nâng cao năng lực học tập củacác em ở trường Quan trọng hơn là HS được tạo hứng thú đọc sách

- Yếu tố nhà trường: Nhà trường là một cơ sở giáo dục có chức năng đào tạocon người về trí dục, đức dục và thể dục Nhiệm vụ của nhà trường là tạo ra những sảnphẩm người có học thức và có văn hoá Nhà trường là yếu tố giữ vai trò quan trọnghàng đầu trong việc đào tạo và phát triển con người Trên thực tế, ở những nhà trườngđược đầu tư về môi trường giáo dục, chất lượng dạy và học, đầu tư về cơ sở vật chất,nhà trường chú trọng tập trung phát triển thư viện tạo điều kiện cho HS có không gianriêng để đọc học tập, để đọc sách thì người học sẽ có điều kiện, cơ hội để phát triển vềnăng lực học tập, năng lực cảm thụ Nhất là trong nhà Trường Tiểu học Việc đổi mớiphương pháp trong dạy học nói chung, dạy học môn Tiếng Việt nói riêng kết hợp vớiviệc bố trí một thư viện có nhiều đầu sách, truyện; tổ chức các hoạt động ngoại khoáliên quan đến việc đọc sách sẽ góp phần kích thích nhu cầu đọc, tìm hiểu, rèn luyệnnăng lực tư duy, năng lực cảm thụ cho HS Riêng đối với Trường Tiểu học phần lớn là

HS người dân tộc thiểu số, việc tăng cường tiếng Việt cho HS càng trở nên quan trọngnhằm nâng cao chất lượng học tập của các em Vì vậy, GV cần không ngừng đổi mớiphương pháp giảng dạy để phù hợp với chương trình, đối tượng HS, linh hoạt trong sựkết hợp, phối hợp các hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm mục đích nângcao chất lượng học tập, chất lượng đọc - hiểu cho HS

1.1.4 Nội dung chương trình phân môn Tập đọc lớp 4

SGK Tiếng Việt 4 (tập 1, 2) có 10 chủ điểm Trong mỗi chủ điểm, phân môn Tậpđọc được bố trí theo thời lượng là 2 tiết/tuần Việc bố trí thời lượng như vậy cho thấy vị tríquan trọng của phân môn Tập đọc trong môn Tiếng Việt lớp 4

Phân môn Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ của phân môn này là hìnhthành năng lực đọc ở HS Năng lực đọc ở đây gồm đọc và hiểu văn bản Cấu trúc của phân môn Tập đọc, từ chủ đề, chủ điểm đến nội dung bài, hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài tập đọc đều hướng đến mục đích giúp HS hình thành năng lực đọc và năng lực tư duy, nắm bắt nội dung, ý nghĩa, giá trị của văn bản

Trang 17

Chương trình phân môn Tập đọc lớp 4 (chương trình giáo dục tiểu học hiện hành) gồm

những bài cụ thể sau:

Bảng 1.1 Thống kê chương trình phân môn Tập đọc lớp 4

Thương người như

thể thương thân

Dế Mèn bênh vực kẻ yếu Tô Hoài

Truyện cổ nước mình Lâm Thị Mỹ Dạ

Măng mọc thẳng

Những hạt thóc giống Truyện dân gian

Khmer

Trên đôi cánh ước mơ Điều ước của vua Mi-đát Thần thoại Hi Lạp

Người ta là hoa đất Bốn anh tài Truyện cổ dân tộc Tày

Vẻ đẹp muôn màu

Khúc hát ru những em bé lớn

Những người quả cảm Bài thơ về tiểu đội xe không

Khám phá thế giới Dòng sông mặc áo Nguyễn Trọng Tạo

Tình yêu cuộc sống

Con chim chiền chiện Huy Cận

Nam

Với đặc điểm nội dung như vậy, phân môn Tập đọc lớp 4 hướng đến mục tiêu hình

thành năng lực đọc hiểu cho HS, thông qua đọc để nắm bắt được những giá trị nhân văn trong vẻ đẹp của con người, của cuộc sống, của tinh thần chiến đấu, lao động dựngxây quê hương, đất nước, từ đó nuôi dưỡng được tình yêu với con người và khát vọng làm những điều có ý nghĩa cho quê hương, đất nước Đồng thời, HS được rèn luyện về kĩ năng cảm thụ văn học, làm tốt các bài tập làm văn dạng cảm thụ văn học, chuẩn bị cho việc học văn học ở bậc học THCS

Kĩ năng đọc cho trình độ học sinh lớp 4 được chia thành các kĩ năng bộ phận như sau:

a, Về đọc thông:

Đọc thành tiếng: Có kĩ năng đọc đúng; đọc diễn cảm

Có kĩ năng đọc thầm, đọc lướt

Trang 18

+ Đọc các văn bản khoa học, nghệ thuật, báo chí có độ dài khoảng 250 chữ, tốc độ 90

-100 chữ/phút

+ Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 3 (khoảng 100 -120 chữ/phút)

+ Biết đọc diễn cảm đoạn văn, đoạn thơ phù hợp với nội dung từng đoạn

b, Về đọc hiểu:

Hiểu nghĩa của từ, câu

Hiểu nội dung của đoạn văn, văn bản

Hiểu nghĩa bóng của từ, hàm ý của câu

Hiểu giá trị nghệ thuật, ý nghĩa thẩm mỹ của văn bản văn học

Hiểu ý nghĩa của văn bản

Biết liên hệ nội dung văn bản với hiện thực và đời sống cá nhân

Nhận biết dàn ý của bài học; hiểu nội dung chính của từng đoạn trong bài, nội dung của cả bài

Biết phát hiện một số từ ngữ, hình ảnh, chi tiết có ý nghĩa trong bài văn, bài thơ được học

Biết nhận xét các nhân vật trong tác phẩm văn chương

Biết vận dụng ý nghĩa bài học để trao dồi kỹ năng sống

c, Về ứng dụng kĩ năng đọc: Đọc thuộc lòng; biết tra cứu tư liệu

Chuẩn kiến thức trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học cũng được xác định kĩ năng đọc cần đạt với học sinh lớp 4 như sau:

- Đọc trôi chảy bài văn (khoẳng 100 tiếng/ phút); biết đọc diễn cảm bài văn đoạn thơ; hiểu nội dung, ý nghĩa của bài đọc

- Thuộc một số bài thơ, đoạn văn ngắn, đoạn thơ trong sách giáo khoa

- Biết dùng từ điển học sinh, sổ tay từ ngữ …để phục vụ cho việc học tập

Từ chuẩn kiến thức kĩ năng đọc - hiểu ở lớp 4, có thể xác định mục đích, yêu cầu dạy tập đọc ở lớp 4 như sau:

- Củng cố, phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở các lớp 1,2,3; tăng cường tốc độ đọc, biết đọc lướt để chọn thông tin nhanh; bước đầu biết đọc diễn cảm

- Phát triển kĩ năng đọc hiểu lên mức cao hơn: nhận biết đề tài, cấu trúc của bài ; biết tóm tắt bài; nắm và vận dụng một số kinh nghiệm như đề tài, cốt truyện, nhân

Trang 19

vật, tính cách … để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ (yêu cầu trọng tâm).

- Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người để góp phần hình thành nhân cách của con người mới Nội dung các bài tập đọc trong sách Tiếng Việt 4 phản ánh một số vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất, sở thích, thú vui lành mạnh, … của con người thông qua ngôn ngữ văn học và những hình tượng giàu chất thẩm mĩ và nhân văn, do đó có tác dụng mở rộng tầm hiểu biết, tầm nhìn về tự nhiên và đời sống, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho học sinh

Với chuẩn kiến thức kĩ năng đọc và đặc biệt là đọc hiểu cho học sinh lớp 4 đặt

ra một trong những yêu cầu cần thiết trong việc dạy đọc hiểu cho học sinh Sao cho phù hợp và cung cấp đúng và đủ kiến thức kĩ năng để học sinh có thể lĩnh hội, vận dụng và thông hiểu được hết nội dung văn bản được học Ứng với từng bài đọc để đưa

ra những kĩ năng phù hợp và cần thiết nhất Phân môn Tập đọc lớp 4 rèn cho học sinh các kĩ năng đọc, nghe, và nói theo các chủ điểm Nội dung các bài Tập đọc trong sách giáo khoa phản ánh một số vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất, sở thích…của con người thông qua ngôn ngữ văn học và những hình tượng giàu thẩm mĩ và tính nhân văn Từ đó, giúp học sinh mở rộng hiểu biết về tự nhiên - xã hội, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và nhân cách

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Những thông tin khái quát về khảo sát thực tế

- Thời gian khảo sát: Tháng 10 năm 2022

- Địa điểm tiến hành khảo sát thực tế: Trường Tiểu học Hùng Quan, huyệnĐoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

- Khách thể được tiến hành khảo sát:

+ GV dạy khối lớp 4: 3

+ HS khối lớp 4: 90

- Hình thức khảo sát: sử dụng Phiếu trưng cầu ý kiến đối với GV và HS

1.2.2 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4

1.2.2.1 Thực trạng việc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu cho học sinh của giáo viên

Để tìm hiểu thực trạng giáo viên hướng dẫn học sinh lớp 4 đọc - hiểu trong giờTập đọc, tôi đã tiến hành trưng cầu ý kiến 10 giáo viên đang dạy khối 4 trường Tiểu

Trang 20

học Trường Tiểu học Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về nhận thức, quanđiểm của họ cũng như các biện pháp họ đã sử dụng để rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho

HS Các câu hỏi như sau :

“Theo thầy/cô, hoạt động đọc - hiểu có vai trò quan trọng thế nào trong giờ Tập đọc lớp 4?”

“Theo thầy (cô), hoạt động đọc hiểu có vai trò như thế nào trong giờ dạy học Tập đọc

“Thầy/cô thường gặp những khó khăn nào khi tổ chức và hướng dẫn học sinh lớp 4 đọc - hiểu

Thầy/ cô đã sử dụng những phương pháp nào để hướng dẫn HS đọc - hiểu văn bản trong giờ tập đọc”

1.2.2.2 Thực trạng đọc - hiểu của học sinh khối 4

Để tìm hiểu thực trạng đọc - hiểu trong phân môn Tập đọc của HS lớp 4 Đốitượng HS mà tác giả khoá luận trưng cầu ý kiến là 3 lớp, gồm 90 HS: Lớp 4A (30 HS),lớp 4B (30 HS), lớp 4C (30 HS)

Khi được hỏi: “Trong giờ tập đọc, em thích hoạt động nào? Với các đáp án cụ

thể: A Đọc, tìm hiểu từ khó; B Đọc, tìm hiểu từ khó, tìm hiểu ý nhĩa của bài; C Đọc,tìm hiểu từ khó, tìm hiểu ý nghĩa, tìm hiểu những chi tiết hình ảnh; D Trình bày nhữngsuy nghĩ, ý kiến của cá nhân em về ý nghĩa của bài tập đọc” Có 21/90 (23,3%) HS trảlời “Đọc, tìm hiểu từ khó, tìm hiểu ý nghĩa của bài”; 60/90 (66,7%) HS trả lời “Đọc,tìm hiểu từ khó, tìm hiểu ý nghĩa, tìm hiểu những chi tiết hình ảnh hay”; 9/90 (10%)

HS trả lời: “Trình bày thêm suy nghĩ, ý kiến cá nhân của em về ý nghĩa của bài tậpđọc” Điều này cho thấy hầu hết HS hứng thú với hoạt động tìm hiểu bài, tìm nhữngchi tiết nghệ thuật gây ấn tượng nhưng một số HS vẫn còn e ngại đối với việc nêu ýkiến, quan điểm cá nhân về bài học

Khi được hỏi: “Theo em, mức độ khó của các câu hỏi trong phần tìm hiểu bài tập đọc như thế nào?” thì có 50/90 (55%) học sinh trả lời là bình thường, 40/90 (40%)

em học sinh trả lời là khó

Khi được hỏi: “Em thường gặp khó khăn nào khi đọc và tìm hiểu bài tập đọc?”

thì có 50/90 (41,7%) HS trả lời là tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của văn bản; 15/90(16,66%) HS trả lời là tìm hiểu hình ảnh, chi tiết nghệ thuật giọng điệu của văn bảnbản; 25/90 (22,5%) HS trả lời là trình bày thêm ý kiến cá nhân về văn bản

Ngày đăng: 27/03/2023, 09:34

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w