1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

01_Đinh Nhật Anh_18111996.Doc

59 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Bồi Dưỡng Kĩ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Lớp 4 Theo Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
Tác giả Đinh Nhật Anh
Người hướng dẫn GVHD: Lê Ngọc Sơn
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Bài Tập Lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 354 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM MON BÀI TẬP LỚN MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC N[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM MON

Phú Thọ, tháng 3 năm 2023

Trang 2

Điểm kết luận của bài thi Số phách

(Do HĐ chấm thi ghi)

Số phách

(Do HĐ chấm thi ghi)

Họ và tên SV: Đinh Nhật AnhNgày, tháng, năm sinh: 18/11/1996Tên lớp: K19 ĐHLT TIỂU HỌC

Họ, tên và chữ ký của giảng viên

thu bài thi

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

2 Mục tiêu nghiên cứu.

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu.

4 Giả thuyết nghiên cứu đề tài.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu.

6 Phương pháp nghiên cứu.

7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu.

PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.

1 Cơ sở lí luận.

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2 Đặc điểm tâm, sinh lí học sinh lớp 4

1.3 Ý nghĩa của việc bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theo hướng phát triển năng lực người học

2 Cơ sở thực tiễn.

2.1 Văn miêu tả trong trường Tiểu học

2.1.1 Nội dung chương trình tập làm văn lớp 4

2.1.2 Thực trạng về việc bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

Trang 4

2.2 Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 4.

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC.

1 Rèn kĩ năng quan sát cho học sinh.

4 Rèn cho học sinh biết các sử dụng các phương tiện diễn cảm và biện pháp tu từ.

Trang 5

5 Rèn kĩ năng phát hiện và sửa lỗi.

3.3 Kiểm tra, đánh giá HS

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm và biện luận

3.4.1 Phân tích kết quả học tập của học sinh

3.4.2 So sánh sự tiến bộ của HS lớp TN với lớp ĐC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH

1 Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 4

Trang 8

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc Tiểu học đóng vai trò là tiền đề, nềntảng Vì vậy, phải chú trọng chăm lo hình thành cho các em những tri thức banđầu đúng đắn, vững chắc để làm cơ sở cho những bậc học cao hơn, góp phầnphát triển đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người mới Trong chươngtrình Tiểu học, môn Tiếng Việt là một trong hai môn chính có vai trò rất quantrọng Tiếng Việt là đối tượng mà học sinh cần chiếm lĩnh Đồng thời TiếngViệt cũng là một môn học hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng

sử dụng Tiếng Việt để học tập giao tiếp, góp phần rèn luyện các thao tác tưduy Môn Tiếng Việt gồm có bảy phân môn, trong đó phân môn Tập làm văn

là phân môn thực hành tổng hợp, được vận dụng các tri thức, kĩ năng củanhiều phân môn khác Nó có vị trí hết sức quan trọng trong chương trình Tiểuhọc Thông qua phân môn Tập làm văn nhằm rèn luyện cho học sinh các kỹnăng nghe, nói, đọc, viết để phục vụ cho việc học tập và giao tiếp Cũng từ đó

có thể trau dồi thái độ ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong côngviệc Bồi dưỡng tình cảm lành mạnh, tình yêu Tiếng Việt, tình yêu quê hươngđất nước Thông qua môn Tập làm văn, học sinh vận dụng và hoàn thiện mộtcách tổng hợp những kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt đã được học vào việc tạolập nên những bài văn hay, giàu tính nghệ thuật Trong phân môn Tập làm văn

ở lớp 4 văn miêu tả chiếm thời lượng lớn nhất so với các loại văn khác Trongdạy học văn miêu tả, kĩ năng viết văn có vị trí gần như quyết định đến sựthành công của bài làm văn miêu tả Học sinh không thể tạo nên một bài vănmiêu tả khi chưa biết kĩ năng viết văn là gì Chính kĩ năng này sẽ giúp các em

sử dụng tốt ngôn ngữ Tiếng Việt của mình để lột tả hết ý tưởng cá nhân và rèn

tư duy logic Đây sẽ là cơ sở để phác họa một cách chân thực và sinh độngnhất về đối tượng bằng lời văn của mình Thực tế việc dạy và học viết văn

Trang 9

miêu tả còn nhiều hạn chế Nguyên nhân chủ yếu là do việc rèn kĩ năng viếtbài văn miêu tả chưa đầy đủ, còn nhiều khiếm khuyết Giáo viên chưa nắm kĩcác kiến thức, yêu cầu giảng dạy Tập làm văn miêu tả cũng như yêu cầu giảngdạy các tiết rèn kĩ năng viết văn miêu tả Chưa hướng dẫn học sinh xây dựngbài văn đi theo một quy trình cụ thể, đảm bảo tính khoa học Việc hướng dẫnhọc sinh rèn kĩ năng viết bài văn miêu tả đều dựa vào kinh nghiệm giảng dạycủa mỗi GV Đồng thời, bản thân HS còn gặp rất nhiều khó khăn về kiến thứclẫn kĩ năng khi xây dựng một bài văn miêu tả Vì vậy bài văn miêu tả của HScòn mang tính liệt kê, lời văn lủng củng, thiếu ý hay sắp xếp ý một cách lộnxộn, chưa có sự liên kết giữa các ý và các câu Đại đa số các em viết văn cònkhô khan, việc sử dụng các từ ngữ còn vụng về, chưa biết sử dụng biện pháp

tu từ để gợi tả nên câu văn chưa có “hồn” tức là chất lượng học sinh giỏi vềmôn Tiếng Việt còn rất hạn chế, đặc biệt các em chưa được hướng dẫn quansát cụ thể, tỉ mỉ nên các em chỉ tưởng tượng để viết bài Hầu hết các em chưa

tự quan sát, tìm tòi khám phá ra được cái nổi bật của đối tượng, các em đang

tả để nói và viết những điều các em tự quan sát và tự cảm nhận được Nhữngtiết TLV viết văn miêu tả trở nên căng thẳng, khô khan, thiếu cảm xúc đã làmmất đi sự hứng thú trong học tập, sự sáng tạo và óc tưởng tượng phong phúcủa các em học sinh Từ những điều đã phân tích ở trên cho thấy việc rèn kĩnăng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 là vô cùng quan trọng và đặt lên hàngđầu Nó tạo nền móng vững chắc cho quá trình tích lũy của học sinh ở bậcquan trọng mà trong đó, người giáo viên Tiểu học chính là người thợ xây đặtnhững viên gạch đầu tiên cho tiến trình sau này của học sinh Vì những lí do

quan trọng nên tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theo hướng phát triển năng lực người học”

để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu.

Trang 10

- Nhằm giúp học sinh lớp 4 viết được một bài văn miêu tả đúng với yêucầu của đề bài, đầy đủ ba phần (mở bài, thân bài, kết bài), câu văn rõ ràng,chân thật, giàu hình ảnh, biết sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa phùhợp, thể hiện được tình cảm của người viết.

- Thiết kế và xây dựng được một số biện pháp bồi dưỡng kĩ năng viếtvăn miêu tả cho học sinh lớp 4 nhằm nâng cao năng năng lực phẩm chất củahọc sinh trong phân môn Tập làm văn

- Giúp học sinh và giáo viên đổi mới cách dạy và học Tập làm văn

3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu:

- Quá trình viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Quế Lâm.

- Quá trình bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theo địnhhướng phát triển năng lực người học

4 Giả thuyết nghiên cứu đề tài.

Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng trongchương trình Tập làm văn Tiểu học Nó góp phần vào việc bồi dưỡng cảmxúc, phát triển ngôn ngữ, tư duy lẫn khả năng sáng tạo cho học sinh Do đó đã

có nhiều công trình nghiên cứu về dạy và học viết văn miêu tả để nâng caochất lượng bài văn cho HS SGK TV lớp 4 (chương trình CCGD) ngoài việcchú trọng đến kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, sách còn chú trọng đến việc rèn kĩnăng quan sát, tìm ý, lập dàn ý cho HS Chương trình TLV miêu tả 4 (chươngtrình 2000), các nhà viết sách đã có sự đổi mới khi quan tâm đến việc rèn kĩnăng viết đoạn văn miêu tả bằng cách dành khá nhiều thời gian cho HS rènluyện kĩ năng này Nhưng việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả còn chưa đitheo một hệ thống rõ ràng, cụ thể Bên cạnh SGK nằm trong chương trình, còn

Trang 11

có một số sách tham khảo đề cập đến vấn đề dạy học văn miêu tả của các nhàngôn ngữ học Vũ Tú Nam – Phạm Hổ - Bùi Hiển – Nguyễn Quang Sángtrong cuốn “Văn Miêu tả và kể chuyện” chỉ mới đề cập đến những nét chungnhất của một bài miêu tả, nhưng vấn đề đưa ra con trừu tượng với giáo viên vàhọc sinh Vì thế giáo viên rất khó vận dụng vào quá trình dạy học văn miêu tả.Hai tác giả Lê Phương Nga - Nguyễn Trí viết cuốn “Phương pháp dạy họcTiếng Việt ở Tiểu học” Phần đầu cuốn sách bàn về những vấn đề chung củaviệc dạy tiếng Việt ở Tiểu học và sau đó đi sâu vào các phương pháp dạy vănmiêu tả, đề cập đến những tồn tại và đưa ra những kiến nghị trong dạy học cáckiểu bài văn miêu tả Tuy nhiên, những kiến nghị và giải pháp mà công trìnhđưa ra còn ở gốc độ khái quát, chưa vận dụng được vào thực tiễn dạy và họcvăn miêu tả ở nhà trường tiểu học hiện nay Hoàng Thị Thuyết, cuốn “Lí luậndạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” là sự vận dụng những thành tựu lí luận dạyhọc trên thế giới đồng thời kế thừa các quan điểm dạy học đã được thừa nhậntrong nước Phương pháp dạy học và các kĩ năng kiến thức Tiếng Việt trongsách được triển khai theo hướng tiếp cận tích hợp, cách tiếp cận giao tiếp, kếthợp với một số lý thuyết học tập tiếng khác trên thế giới Điểm mới trong sách

là tác giả đã đưa ra được quá trình làm văn viết cho học sinh nhưng tác giả lạikhông đề cập đến một quy trình rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho HS Tiểu học.Hoàng Hòa Bình, cuốn “Dạy văn cho học sinh tiểu học” (Nhà xuất bản Giáodục -1999), tác giả đã có những đề xuất giúp GV tiểu học để hướng dẫn HScảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học mà chưa đi sâu hướngdẫn quy trình viết một bài văn Nguyễn Trí, cuốn “Văn miêu tả và phươngpháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học” (Nhà xuất bản Giáo dục - 1996), tác giả

đã đề cập đến cách dạy văn miêu tả trong chương trình Tiểu học Tuy nhiêntác giả chưa nói về vấn đề cách học của học sinh, tự học như thế nào để tạocho mình vốn từ ngữ, vốn sống phong phú có thể áp dụng vào làm văn miêu

tả Trong các tài liệu trên đây, các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học phânmôn TLV trên phương diện vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương

Trang 12

pháp dạy học nói chung và văn miêu tả nói riêng nhưng chưa đi sâu nghiêncứu việc rèn kỹ 4 năng viết văn miêu tả ở một khối lớp cụ thể Do đó đề tài “Một số biện pháp bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theođịnh hướng phát triển năng lực người học” là một đề tài mới mẻ, mang tínhkhoa học, phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS lớp 4, góp phần nâng caonăng lực, kĩ năng viết văn miêu tả cho các em, đáp ứng yêu cầu nâng cao chấtlượng, hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả.

- Nếu đề tài “ Một số biện pháp bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho họcsinh lớp 4 theo hướng phát triển năng lực người học” được triển khai thì hiệuquả dạy học môn Tập làm văn sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất một số biện pháp bồidưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theo định hướng phát triển

năng lực người học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng

Việt nói chung và dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng

- Điều tra, tìm hiểu thực trạng của việc viết văn miêu tả của học sinh

- Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học

sinh lớp 4 nhằm phát triển năng lực phẩm chất người học

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi, hiệu quảcủa các biện pháp được đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, tôi đã kết hợp sử dụng cácphương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Trang 13

Sử dụng các phương pháp so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóanhững nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điểu tra

Sử dụng một số câu hỏi để điều tra và thống kê việc nắm vững yêu cầu giảngdạy Tập làm văn miêu tả, việc viết văn miêu tả của học sinh

+ Phương pháp quan sát

Phương pháp này được sử dụng trong các tiết dự giờ, quan sát HS trong cáchoạt động khác…để đánh giá mức độ nắm kiến thức làm văn miêu tả của HS

+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm được sử dụng trong đọc, phân tích, nghiêncứu những bài văn của học sinh để từ đó biết được những ưu, nhược điểm,những hạn chế trong làm văn của học sinh

+ Phương pháp thu thập thông tin

Sử dụng trong thu thập ý kiến giáo viên, học sinh, thu thập tài liệu

+ Phương pháp thử nghiệm sư phạm

Phương pháp này được sử dụng trong khâu hoàn tất quá trình nghiên cứunhằm xem xét, xác nhận tính khả thi của một số biện pháp bồi dưỡng kĩ nănglàm văn miêu tả của học sinh lớp 4 mà đề tài nghiên cứu

- Phương pháp thống kê toán học

Khảo sát, xử lí các số liệu trong quá trình nghiên cứu

Trang 14

7 Giới hạn, phạm vi nghiêm cứu.

Phạm vi nghiên cứu:

Quá trình bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theo hướngphát triển năng lực người học của học sinh khối 4 trường Tiểu học Quế Lâm

Trang 15

PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH.

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.

1 Cơ sở lí luận

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

- Biện pháp Theo “Từ điển Tiếng Việt”, nhà xuất bản tổng hợp TP HCM[17 Tr 144] thì biện pháp là cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thực hiệnmột chủ trương

- Kĩ năng:

- Kĩ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn [17 Tr 985]

- Kĩ năng được hiểu như một khả năng của con người có thể hoàn thành cácnhiệm vụ trong những điều kiện mới dựa trên những tri thức và kinh nghiệm

đã được tích lũy và một loạt các kĩ xảo trong mối qua hệ mật thiết với nhau.Trong quá trình lĩnh hội và sáng tạo văn bản, kĩ năng và kĩ xảo luôn có mốiquan hệ biện chứng với nhau (Theo Lê A- Nguyễn Trí)

- Kĩ năng làm văn Kĩ năng làm văn là kĩ năng thông qua hệ thống kiến thức

đã có HS cảm nhận bằng sự tinh tế của bản thân mà có được những bài vănhay

- Con đường hình thành kĩ năng viết văn miêu tả Dựa trên lý thuyết về hoạtđộng, có thể khẳng định viết văn miêu tả là một hoạt động, và con đườngdạy văn miêu tả chính là dạy các thao tác tạo ra từng hành động của hoạtđộng viết văn miêu tả cho HS Yếu tố chủ yếu quyết định sự thành công củaviệc dạy văn miêu tả là sự thành thục của các thao tác trong từng hành động

Sự thành thục đó chính là HS đã có kĩ năng viết văn miêu tả

- Cơ sở của việc xác định các kĩ năng viết văn miêu tả Các kĩ năng viết vănmiêu tả được xác định dựa trên 4 giai đoạn của quá trình tạo lập văn bản, đó

là giai đoạn: định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa chương trình, kiểmtra Tương ứng với các giai đoạn là các nhóm kĩ năng viết văn miêu tả Việc

Trang 16

rèn luyện các nhóm kĩ năng này cần dựa trên sự phân giải kĩ năng lớn thànhcác kĩ năng bộ phận , phân giải các kĩ năng bộ phận thành từng thao tác để

có những biện pháp hợp lý nhằm hình thành và rèn luyện từng thao tác, từng

kĩ năng 7 bộ phận, tiến tới hình thành và rèn luyện kĩ năng lớn hơn - kĩ năngviết văn miêu tả cho HS

- Văn miêu tả:

- Khái niệm về văn miêu tả Theo “Từ điển Tiếng Việt”, miêu tả là “Dùng lờivăn hoặc nét vẽ mà biểu hiện cảnh vật hoặc nhân vật” [17 Tr 1175] Theosách Tiếng Việt 4: “ Văn miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bậtcủa cảnh, của người, của vật giúp người đọc, người nghe có thể hình dungđược các đối tượng ấy”.[12 Tr 140] Văn miêu tả là thể loại văn dùng ngônngữ để tả sự vật, hiện tượng, con người,…một cách sinh động, cụ thể như nóvốn có Đây là loại văn giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng, sáng tạo củangười viết Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, conngười bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Nhờ có văn miêu tả, conngười có thể lạc vào thế giới của những cảm xúc, những âm thanh, tiếngđộng, hương vị của những cánh đồng, khu rừng, làng quê…, thấy rõ tưtưởng, tình cảm của mỗi con người, mỗi sự vật Đó là sự kết tinh của cácnhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết thu lượm được khiquan sát cuộc sống Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào trong cuộc sống cũng

có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả nhưng không phải bất kỳ một sựviệc nào cũng trở thành văn miêu tả Miêu tả không chỉ đơn giản ở việc giúpngười đọc thấy rõ được những nét đặc trưng, những đặc điểm, tính chất,…không phải là việc sao chép, chụp lại một cách máy móc mà phải thể hiệnđược sự tinh tế của tác giả trong việc sử dụng ngôn từ, trong cách thể hiệncảm xúc, tình cảm của tác giả đối với đối tượng miêu tả Một bài văn miêu tảđạt được đỉnh của nó khi mà bằng những ngôn ngữ sinh động nào đó khiếncho người nghe, người đọc như cảm thấy mình đang đứng trước sự vật, hiệntượng đó và cảm thấy như được nghe, sờ những gì mà tác giả nói đến Khi

Trang 17

miêu tả lạnh lùng, khách quan nhằm mục đích thông báo đơn thuần thì đókhông phải là miêu tả văn học mà là theo phong cách khoa học

- Đặc điểm của văn miêu tả Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạyvăn miêu tả”, tác giả Nguyễn Trí đã nêu rõ ba đặc điểm của văn miêu tả: vănmiêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết;văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình; ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc,hình ảnh

+ Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của ngườiviết Mọi sự vật hiện tượng đều có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả.Trong văn miêu tả, sự vật và hiện tượng không được tái hiện theo kiểu saochép một cách máy móc, khô cứng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởngtượng, đánh giá hết sức phong phú Nó thể hiện cái nhìn, cái quan sát, cáchcảm nhận mới mẻ của người viết với đối tượng miêu tả Cái mới, cái riêngbắt đầu có thể chỉ là ở những quan sát và kết quả của sự quan sát, sau đó tiếnlên thể hiện cái mới, cái riêng trong tư tưởng, tình cảm đối với đối tượngmiêu tả Cùng một đối tượng quan sát nhưng giữa hai người sẽ có cái nhìn,cách cảm nhận, ý nghĩ, cảm xúc khác nhau Vì vậy mà văn miêu tả bao giờcũng mang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc chủ quan của người viết Đâychính là điểm khác biệt giữa miêu tả trong văn học và miêu tả trong khoahọc thường mang tính chính xác cao, nhưng lại thiếu cảm xúc, thiếu tâmhồn Dù đối tượng của bài văn miêu tả là gì đi chăng nữa thì bao giờ ngườiviết cũng đánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mỹ, cũng gữi gắm vàotrong đó những suy nghĩ, tình cảm hay ý kiến nhận xét, đánh giá, bình luậncủa bản thân mình Chính vì vậy mà trong từng chi tiết của bài văn miêu tảđều mang đậm dấu ấn chủ quan của người viết

+ Văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình Tính sinh động, tạo hình củavăn miêu tả thể hiện ở con người, phong cảnh, sự vật, đồ vật… được miêu tảhiện lên qua từng câu văn, đoạn văn như trong cuộc sống khiến người đọc,người nghe như được ngắm nhìn, được sờ, được nghe, được ngửi thấy những

Trang 18

gì mà tác giả đang cảm nhận Muốn bài văn miêu tả được sinh động thìngười viết phải tạo nên được những câu văn, những đoạn văn, bài văn sốngđộng, gây ấn tượng Điều quan trọng để có thể làm được điều đó, trước hếtngười viết phải có sự quan sát tỉ mỉ, ghi nhớ được những điều mình đã quansát được kết hợp với khả năng sử dụng ngôn từ một cách khéo léo, các biệnpháp tu từ

+ Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc, hình ảnh Đặc điểm nổi bật của văn miêu

tả là ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh Đây là đặc điểm làm nên sự khác biệtgiữa văn miêu tả với các thể loại văn khác như văn bản tự sự, văn bản trữtình hay văn nghị luận Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc bởi trong bàiviết bao giờ người viết cũng bộc lộ tình cảm, cảm xúc hay ý kiến nhận xét,đánh giá hay bình luận của người viết với đối tượng miêu tả Tình cảm đó cóthể là sự yêu mến, yêu quý, thán phục hay sự gắn bó với đối tượng đượcmiêu tả Ngôn ngữ văn miêu tả giàu hình ảnh bởi trong bài viết thường được

sử dụng từ ngữ gợi hình như: tính từ, động từ, từ láy hay các biện pháp tu từnhư: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,… chính điều này đã tạo cho ngôn ngữ trongvăn miêu tả có sự uyển chuyển, nhịp nhàng, diễn tả tốt cảm xúc của ngườiviết Hơn thế nó có tác dụng khắc họa được bức tranh miêu tả sinh động nhưcuộc sống thực Hai yếu tố giàu cảm xúc và giàu hình ảnh gắn bó khăng khítvới nhau làm nên đặc điểm riêng biệt và làm cho những trang văn miêu tảtrở nên có hồn, cuốn hút người đọc, gây ấn tượng mạnh mẽ và tác động sâusắc vào vị trí tưởng tượng cũng như của người đọc Trong cuốn “Rèn kỹnăng sử dụng Tiếng Việt” hai tác giả Đào Ngọc và Nguyễn Quang Ninh đãchĩ rõ ba đặc điểm của văn miêu tả Đó là: Văn miêu tả là một loại văn mangtính thông báo thẩm mỹ, trong văn miêu tả, cái mới, cái riêng phải gắn chặtvới tính chân thật; ngôn ngữ trong văn miêu tả bao giờ cũng giàu cảm xúc,giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh,… Như vậy, hai tác giả đó nêu thêmmột đặc điểm cũng rất quan trọng của văn miêu tả đó là, tính sáng tạo phảigắn chặt với tính chân thật Bởi miêu tả là “vẽ” lại những đặc điểm nổi bật

Trang 19

của cảnh vật, của người” nên sự vẽ lại đó phải đảm bảo đúng như đối tượngđang tồn tại trong cuộc sống Văn miêu tả phát huy trí tưởng tượng, sự sángtạo của người viết nhưng dựa trên những đặc điểm, tính chất thực sự vốn có.Một yêu cầu rất quan trọng đối với một bài văn miêu tả là văn miêu tả pháthuy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của người viết nhưng dựa trên những đặcđiểm, tính chất chân thực như nó vốn có Đó chính là sự cảm nhận theo chủquan của mỗi người, và nó làm nên sự khác biệt giữa các bài văn miêu tả.

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 4 với việc dạy học văn miêu tả.

Học sinh lớp 4 đã bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên Các em lớn nhanh, kíchthước và tổ chức cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành Hành vi và đờisống nội tâm của các em đang có những thay đổi rõ rệt Lứa tuổi này đượcgọi là lứa tuổi chuyển giao giữa trẻ con và người lớn Các em rất dễ xúcđộng Chính việc dâng cao cảm xúc đã làm các em thay đổi hoạt động sángtạo yêu thích, từ vẽ sang hình thức sáng tạo bằng lời nói So với vẽ và đặcbiệt là những bức vẽ hoàn thiện thì lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rấtnhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vậnđộng logic, sự phức tạp của sự kiện Lớp 4 là giai đoạn mà các em chuyển từnhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính, có mục đích Đối với HS lớp 4 tưduy trực quan đã được hình thành và bắt đầu chuyển dần sang tư duy trừutượng, khái quát Tư duy các em đã thay đổi về chất, biết tổng hợp các sựvật, hiện tượng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn so với các lớp đầu bậchọc Các em đã có khả năng phân tích, khái quát, biết phê phán và kiến thứclĩnh hội không chỉ một chiều Ở lứa tuổi này, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầuhoàn thiện, từ những hình ảnh cụ thể, trẻ tái tạo ra những hình ảnh mới.Tưởng tượng sáng tạo, phong phú tương đối phát triển, trẻ bắt đầu phát triểnkhả năng làm thơ, làm văn, vẽ,…Đặc biệt trí tưởng tượng của các em tronggiai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hìnhảnh, sự việc, hiện tượng để gắn liền với các rung động tình cảm Các em có

Trang 20

lòng say mê văn học, hứng thú với việc dùng câu văn của mình để bộc lộmột sự vật, một hiện tượng nào đó, có tình cảm và sự gắn bó với những đồvật, những loài vật và cây cối xung quanh Từ đó các em có nhu cầu bộc lộcảm xúc của mình trước những sự vật, sự việc mà bản thân mình tiếp xúchàng ngày Hoạt động sáng tạo yêu thích của các em được thể hiện rõ tronglàm văn Nếu được học theo một chương trình đúng, một phương pháp phùhợp thì các em tuổi này rất thích học văn Loại bài viết đam mê của các emthuộc về chủ đề tự do Có thể viết những xúc động từ trong lòng, được thảmình vào tưởng tượng, không ít học sinh đã làm được những bài khá hoànchỉnh và hấp dẫn như những sáng tác trẻ em thực sự.

1.3 Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.

Trẻ em chưa thể vẽ được những bức tranh hoàn thiện Các em chỉ biết dùnglời nói, câu văn để viết lại những điều mình quan sát, nhận xét sự vật dướicái nhìn của trẻ con Sự quan sát, nhận xét của các em còn thiên về cảm tính.Việc dạy văn miêu tả cho trẻ Tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng tâm hồn vàtạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quantrọng nhất là với thiên nhiên Góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, tình yêucái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ của trẻ Học văn miêu tả, học sinh cóthêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy, tình cảm, ngôn ngữ vàcuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội Lúc ấy trẻ sẽ bộc lộ đượccảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn, phát triển nhân cách của một con người

có ích cho xã hội Miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quantrọng trong chương trình TLV tiểu học lớp 4 Nó góp phần hình thành vàphát triển tư duy cho HS Tiểu học Học văn miêu tả, HS được rèn kĩ năngviết văn miêu tả gắn liền với quá trình tạo lập văn bản như : tìm hiểu đề, tìm

ý, lập dàn ý ; diễn đạt thành bài văn miêu tả Việc phân tích dàn bài, lập dàn

ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng trình bày, tranh luận góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh Tư duy hình

Trang 21

tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biệnpháp so sánh, nhân hoá

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Văn miêu tả trong trường Tiểu học

2.1.1 Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 4

Trong chương trình TLV lớp 4 học sinh được trang bị kiến thức cần thiết vềvăn miêu tả, về kĩ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả Các kiến thức nàyđược cung cấp qua các nội dung : Cấu tạo bài văn miêu tả, Luyện tập quansát, Luyện tập lập dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết và trả bàiviết Các nội dung này là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài vănmiêu tả: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật, miêu tả cảnh, miêu

tả người Ngoài ra nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4 còn có thêm cảnhững kiến thức lí thuyết sơ giản giúp HS nắm chắc về đặc điểm, kết cấu vàphương pháp làm bài của từng kiểu văn miêu tả Chương trình nhấn mạnhyếu tố thực hành, coi trọng việc rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng xâydựng đoạn văn HS được học cách viết đoạn văn với nhiều nội dung và cáckiểu khác nhau ở một số dạng bài miêu tả những đối tượng quen thuộc, gầngũi với học sinh Một khi kĩ năng xây dựng đoạn văn thành thạo, học sinh sẽchủ động, tự tin hơn khi xây dựng được một văn bản miêu tả hoàn chỉnh.Văn miêu tả chiếm vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 4 Ởlớp học này, HS được học kiểu bài: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả cảnh

và tả người Như vậy, mỗi kiểu bài đều được dành khá nhiều số tiết, nhằmgiúp HS luyện tập và làm bài tốt hơn Nghĩa là, HS có đầy đủ kiến thức và

kỹ năng làm được một bài văn miêu tả hay, sinh động, sáng tạo, giàu hìnhảnh và cảm xúc Tất cả các tiết học đều có kỹ năng làm văn, có nghĩa làchương trình Tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng đã chú trọngđến vấn đề rèn kỹ năng thực hành cho HS So với chương trình trước đây,chương trình hiện hành có số tiết dành cho Tập làm văn miêu tả nhiều hơn

mà kiểu bài thì ít hơn Chính vì vậy, hiện nay, HS có điều kiện để làm quen

Trang 22

và thực hành nhiều hơn Rèn luyện kỹ năng sản sinh văn bản là nội dung chủyếu của các tiết học văn miêu tả (có các loại kỹ năng: kỹ năng tìm ý, lập dàn

ý, lựa chọn từ ngữ, kỹ năng dựng đoạn và bài, kỹ năng đánh giá và chữa vănbản.) Chương trình SGK Tập làm văn 4 đã tạo ra cơ chế và phương phápdạy học văn miêu tả, chống lối dạy “sáo”, coi việc rèn luyện bộ óc, phươngpháp suy nghĩ, phương pháp tìm tòi, vận dụng kiến thức cho HS là điều cơbản nhất Với cơ chế này, nội dung dạy học văn miêu tả đã đề cao tính chânthực khi miêu tả cũng như diễn tả tình cảm, cảm xúc… Về phương pháp làmbài thì không có tiết dạy lí thuyết kiểu bài riêng, các kiến thức về lí thuyếtđược rút ra qua các tiết thực hành và là nội dung phải ghi nhớ ở cuối mỗi bàihọc Mỗi tiết học trong chương trình đều có nhiệm vụ và nội dung xác định,dạy mỗi loại tiết phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung và hoàn thànhtốt các nhiệm vụ đó

2.1.2 Thực trạng về việc bồi dưỡng kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

Việc dạy học văn miêu tả ở trường Tiểu học, bên cạnh có nhiều điểm tốt,mang lại một số hiệu quả nhất định, còn khá nhiều nhược điểm Khuyếtđiểm lớn nhất, dễ thấy nhất là bệnh công thức, khuôn sáo, máy móc thiếutính chân thực trong cả cách dạy và học văn miêu tả Đây là căn bệnh, ngay

từ năm 1973, Chủ tịch Phạm Văn Đồng đã nghiêm khắc chỉ ra: “Tôi nghĩrằng hiện nay trong nhà trường phổ thông chúng ta có hiện tượng dạy văntheo điệu “sáo” Đó là cách giảng dạy theo kiểu rất xưa, không chỉ ở nước ta

mà còn ở nhiều nước khác, nghĩa là cho học sinh học nhiều, yêu cầu họcsinh nhớ nhiều để bắt chước, rồi “làm văn” Mỗi bài văn miêu tả là sự kếttinh của những nhận xét tinh tế, là sản phẩm của sự tiếp thu và vận dụngnhững kiến thức đã học Đọc xong một bài văn của học sinh, chúng ta có thểthấy ngay kết quả dạy học của giáo viên Thực tế cho thấy giáo viên lớp 4 rất

sợ dạy văn miêu tả, học sinh cũng rất sợ học văn miêu tả Tại sao lại nhưvậy? Bên cạnh nguyên nhân GV nắm kiến thức chưa sâu, chưa chắc chắn

Trang 23

còn có những nguyên nhân về việc tổ chức thực hiện các kĩ năng viết vănmiêu tả Do quan sát, tìm ý là một hoạt động không thể thiếu trong việc dạy

và học văn miêu tả nên chương trình dành hẳn một tiết quan sát, tìm ý ở mỗikiểu bài văn miêu tả Tuy nhiên các tiết quan sát, tìm ý thường diễn ra khá

sơ sài, chưa đúng với trình tự của một tiết dạy quan sát, tìm ý Vì vậy, kiếnthức, kỹ năng mà GV cung cấp trong các tiết dạy quan sát, tìm ý chưa giúp

HS phản ánh được đầy đủ và chính xác đối tượng miêu tả Cạnh đó, GVchưa hướng dẫn được HS cách thức quan sát và tìm ý như thế nào cho tốtcũng như chưa chọn được trình tự quan sát, chi tiết nổi bật khi miêu tả, cáchthu nhận đặc điểm đối tượng, cách ghi ý Thông thường, hoạt động quan sát,tìm ý luôn được tổ chức trên lớp học HS chỉ được quan sát đối tượng trêntranh ảnh tĩnh với một giác quan duy nhất là thị giác Do đó các em thườngkhông phản ánh đầy đủ đặc điểm của các đối tượng được quan sát Giáo viênthường tỏ ra lúng túng khi dạy những tiết quan sát, những dạng bài cùng mộtloại sự vật có nhiều hình dạng khác nhau Để dễ dạy, giáo viên thường ép

HS lựa chọn đối tượng miêu tả theo ý mình hoặc theo các tư liệu sẵn cótrong bộ đồ dùng dạy học Có khi GV bỏ luôn tiết quan sát tìm ý thay bằngtiết viết bài văn, đọc bài văn mẫu Do vậy giờ học Tập làm văn luôn khôkhan, thiếu cảm xúc, làm mất đi hứng thú học tập, sự sáng tạo và trí tưởngtượng phong phú của các em Việc giúp các em có được vốn từ để miêu tảcũng rất thấp Việc cung cấp, mở rộng vốn từ đã được thực hiện ở các tiếtLuyện từ và câu Chương trình SGK tuy có sự liên kết giữa các phân mônvới nhau nhưng các ngữ liệu của các phân môn như Tập đọc, Luyện từ vàcâu, Chính tả chưa đồng bộ trong việc cung cấp các vốn từ phục vụ cho việcmiêu tả ở HS Các vốn từ cung cấp trong các ngữ liệu cũng không thật sựgần gũi với học sinh từng vùng, miền Giáo viên cảm thấy khó khăn khicùng một lúc vừa cung cấp kiến thức lại vừa cung cấp cho học sinh thêm cácvốn từ miêu tả trong khi thời gian một tiết học lại có giới hạn Vì vậy tìnhtrạng học sinh nghèo vốn từ, không có ý để miêu tả là phổ biến GV không

Trang 24

quan tâm đến việc hướng dẫn HS sử dụng các phép liên kết trong câu Nhiềuđoạn văn HS viết ra thường không chặt chẽ về ý, các câu rời rạc, lộn xộn cókhi mâu thuẫn nhau GV thường xuyên đọc văn mẫu cho HS chép Văn mẫu

ở đây thường là những bài văn do thầy cô tự sáng tác hay từ trong nhữngcuốn sách bài tập tham khảo Hình thức ở đây là đọc - chép Chứ không phải

là hướng dẫn học sinh biết trộm những lời lẽ câu văn hay để ghi vào cuốn sổtay Việc làm này ít tốn thời gian, ít tốn sức, dễ đạt được thành tích cao tronggiảng dạy, nhưng đem lại những hệ quả không lường Nó sẽ làm cụt ý tưởng,bào mòn sự sáng tạo và hình thành thói quen ỷ lại ở HS Như vậy, thực trạng

về rèn kĩ năng viết văn miêu tả của GV còn khá nhiều tồn tại, khó khăn GVchưa phát huy được chất lượng và hiệu quả của việc dạy học TLV viết vănmiêu tả

2.2 Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 4

Loại văn bản

Số tiết dạy Học kỳ I Học kỳ II Cả năm

Trang 25

* Tổng số 32 tiết 30 tiết 62 tiết

Như vậy, ta thấy số tiết học về văn miêu tả ở lớp 4 là 30 tiết trong tổng

số 62 tiết Tập làm văn, rõ ràng là văn miêu tả chiếm gần nửa số tiết học cảnăm lớp 4 (không kể những tiết ôn tập) Trong đó văn miêu tả kiến thức đượctrang bị cho học sinh bao gồm:

-Thế nào là miêu tả?

-Quan sát để miêu tả cho sinh động

-Trình tự miêu tả ( cảnh, đồ vật, con vật, cây cối, người)

-Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả (cảnh, đồ vật, con vật, cây cối,người)

Các kiến thức trên được cụ thể hoá qua hai loại bài : Loại bài hình thànhkiến thức và loại bài luyện tập thực hành

Loại bài hình thành kiến thức được cấu trúc theo 3 phần :

Nhận xét : Bao gồm một số câu hỏi, bài tập gợi ý học sinh khảo sát vănbản để tự rút ra một số nhận xét về đặc điểm loại văn, kiến thức cần ghi nhớ Ghi nhớ : Gồm những kiến thức cơ bản rút ra từ phần nhận xét

Luyện tập : Gồm từ 1 đến 3 bài tập thực hành đơn giản nhằm giúp họcsinh củng cố và vận dụng kiến thức tiếp nhận trong bài học

Loại bài luyện tập thực hành chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện các kỹnăng tập làm văn, do vậy nội dung thường gồm 3, 4 bài tập nhỏ hoặc 1 đề bàitập làm văn kèm theo gợi ý thực hành luyện tập theo hai hình thức : nói, viết

Trang 26

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC.

Trong phân môn Tập làm văn, kĩ năng có thể chia thành các nhóm sau đây: Nhóm kĩ năng giúp học sinh tiếp cận, chuẩn bị cho việc sản sinh ra ngônbản gồm có: Kĩ năng quan sát, phân tích đề bài, tìm ý và lựa chọn ý, xây dựngdàn ý

Nhóm kĩ năng viết văn bản: Dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn vănthành bài văn

Nhóm kĩ năng kiểm tra đánh giá (được dùng trong giai đoạn kiểm tra kếtquả bài làm của học sinh), gồm các kĩ năng: phát hiện lỗi, cách dùng từ, chính

tả, đặt câu, viết văn bản, lỗi về nội dung, cảm xúc…được thể hiện rõ nét trongbài làm của học sinh

Như vậy, bài tập làm văn của học sinh lớp 4 là sản phẩm của sự vận dụngtổng hợp các kiến thức và các kĩ năng tiếp nhận được trong quá trình học tậpcác môn học nói chung Do vậy, từ việc nắm ý tới việc diễn đạt thành văn, từvăn nói đến văn viết có một khoảng cách khá xa Vì thế bên cạnh việc bồidưỡng tình cảm, tâm hồn văn, tư tưởng, vốn sống cho học sinh qua các bài học

ở các phân môn Tiếng Việt, mỗi giáo viên phải chú trọng rèn luyện kĩ năngviết bài văn cho các em Việc rèn kĩ năng viết văn cho học sinh phải chú ý theotrình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm tâmsinh lí và tư duy của trẻ

1 Rèn kĩ năng quan sát cho học sinh

Quan sát là nhìn, là xem xét, nhận biết một vật, một người, một cảnh…

nào đó để phát hiện ra những nét khác biệt của đối tượng, nét đặc trưng riêngchỉ đối tượng mới có Việc quan sát không phải chỉ bằng mắt, mà còn bằng tai,bằng mũi, bằng lưỡi, bằng tất cả sự cảm nhận tinh tế khác của người viết

Trang 27

Với những đối tượng miêu tả khác nhau, việc quan sát cũng có những

sự khác nhau Vì thế khi quan sát cần chú ý:

- Lựa chọn thời điểm quan sát sao cho thích hợp với từng đối tượngmiêu tả

- Lựa chọn góc độ không gian để sao có thể quan sát được đối tượngmột cách đầy đủ nhất, chính xác nhất mọi phẩm chất của đối tượng

- Lựa chọn những chi tiết quan sát sao cho phù hợp với đặc trưng bảnchất cũng như những nét riêng của đối tượng miêu tả

Quan sát, mắt cho ta cảm giác về màu sắc (xanh, đỏ, vàng, ), hìnhdạng (cây cao, thấp, cái bàn hình vuông, hình chữ nhật ), hoạt động (con gàtrống khi đi cổ thường nghều cao, con ngan bước đi chậm chạp, lạch bạch ),dùng tay sờ vỏ bưởi thấy thế nào? Dạy học sinh quan sát chính là dạy cách

sử dụng các giác quan để tìm ra các đặc điểm của sự vật

Quan sát làm bài văn miêu tả, cần tìm ra những đặc điểm riêng củatừng đồ vật, con vật, cây cối và bỏ qua những đặc điểm chung Dạy quan sátcái bút chì của em Giáo viên hướng dẫn học sinh không chỉ nhận xét màu sắccủa vỏ bút chì, cần nhận ra những dòng chữ in trên vỏ, các đặc điểm khác của

vỏ mà chỉ riêng bút chì của em mới có

+ Nguyên tắc quan sát:

- Trình tự không gian: Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phậnhoặc ngược lại, quan sát từ trái sang phải, từ trên xuống dưới , hay ngoài vàotrong hoặc ngược lại

- Trình tự thời gian:

Quan sát theo diễn biến của thời gian từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc, từmùa này sang mùa khác, tháng này sang tháng khác, tuần này sang tuần khác,ngày này sang ngày khác…

Trang 28

- Trình tự tâm lý: Thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc mạnhcho bản thân (hứng thú hay khó chịu, yêu hay gét…) thì quan sát trước, các bộphận khác quan sát sau…

- Vị giác xúc và xúc giác, quan sát cảm nhận

Khi hướng dẫn học sinh quan sát một cánh đồng lúa chín Ngoài mắt racần biết huy động cả mũi (để phát hiện ra mùi hương lúa chín, mùi đất, mùirơm ), cả tai (để nghe, thu nhận những âm thanh như tiếng chim hót, tiếnggió rì rào, ) rồi cũng có thể sử dụng giác quan xúc giác để sờ, để nắm Quansát một chú lợn hay cảnh tấp nập ở đường phố, ở thôn xóm, một trận thi đấuthể thao ở địa phương…ngoài mắt ra cần huy động cả mũi, tai, tay…để ngửi,

để nghe, để sờ…

+ Quan sát tỉ mỉ nhiều lần

Muốn tìm ra ý của đoạn văn, học sinh phải quan sát kỹ, quan sát nhiềulần cảnh đó Tránh quan sát qua loa, nhìn lướt qua nó không tìm ra ý hay chobài văn

- Thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại:

Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hướng dẫn các em trả lờibằng nhiều chi tiết cụ thể, ngôn ngữ chính xác gợi hình ảnh

Đối với học sinh còn nhiều bỡ ngỡ trong công việc này cần có sự hướngdẫn cụ thể, tỉ mỉ một vài lần Đối với các em nên tách một số giác quan quantrọng, cần thiết cho việc quan sát cảnh, vật, người mà đầu bài yêu cầu và

Trang 29

hướng dẫn các em tập vận dụng các giác quan đó Trình tự tiến hành là: nêulên giác quan cần vận dụng (em hãy dùng mắt để quan sát chiếc cặp Em hãylắng tai nghe những tiếng động trên đường phố và nêu lên các nhận xét…) Emhãy xoa tay lên mặt cặp, sờ vào các bộ phận khác của cặp và nêu nhận xét Gợi

ý từ ngữ cần dùng để ghi chép các nhận xét (ví dụ: nên dùng từ gì để ghi màusắc cây cối hai bên đường? )

Ở mức độ cao hơn giáo viên hướng dẫn học sinh đi vào trọng tâm cảnhvật, con người và rèn luyện sự tinh tế khi quan sát Đó là sự phát hiện ranhững đặc điểm ít người nhận thấy Nằm trong nhà, nghe tiếng lá rụng ngoàithềm, Trần Đăng Khoa lên mười tuổi phát hiện “tiếng rơi rất khẽ như là rơinghiêng”

Với những yêu cầu của đề thì bài văn phải viết những cái gì? Cầnhướng dẫn cho HS hiểu các từ ngữ trong khi tìm hiểu về cách viết văn trongmỗi tiết học:

HS tập quan sát thực tế đối tượng

Yêu cầu của câu hỏi gợi mở:

Câu hỏi cần theo trình tự dàn bài chung

Câu hỏi càng tinh tế, càng chon lọc, tỉ mỉ thì càng phát huy khả năng quan sátcủa các em (Từ đó rèn cho HS kĩ năng, kĩ xảo quan sát tỉ mỉ, tinh tế.)

+ Phải cho học sinh quan sát trực tiếp cảnh, vật, và người

+ Học sinh phải được tự làm việc, tự quan sát, tự ghi chép là chính + Sự quan sát của học sinh được hướng dẫn bằng các câu gợi ý

- Quan sát gắn với ghi chép là chính

Quan sát gắn liền tưởng tượng, so sánh

Ngày đăng: 27/03/2023, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Hòa Bình - 1999, Dạy văn cho học sinh tiểu học, NXB Giáo dục,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho học sinh tiểu học
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
4. Lê Phương Nga (chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Hằng, Đỗ Thị Tuyết Nhung– 2005, Luyện Tập làm văn 4, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện Tập làm văn 4
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Thị Thanh Hằng, Đỗ Thị Tuyết Nhung
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2005
5. Lê Phương Nga (chủ biên), Trần Thị Minh Phương, Lê Hữu Tỉnh, Tiếng Việt 4 nâng cao, Tiếng Việt 5 nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 4 nâng cao, Tiếng Việt 5 nâng cao
Tác giả: Lê Phương Nga, Trần Thị Minh Phương, Lê Hữu Tỉnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Lê Thị Mai Phương (chủ biên), Võ Thị Ánh Hồng, Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi văn lớp 4, 5 bậc Tiểu học, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi văn lớp 4, 5 bậc Tiểu học
Tác giả: Lê Thị Mai Phương, Võ Thị Ánh Hồng
Nhà XB: NXB Trẻ
7.Lê Phương Nga- Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Lê A- Nguyễn Quang Ninh- Bùi Minh Toán cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A- Nguyễn Quang Ninh- Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB GD
9. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Hỏi- đáp về dạy học Tiếng Việt 4, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi- đáp về dạy học Tiếng Việt 4
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Trí – Lê A- Lê Phương Nga – 2000, Phương pháp dạy học Tiếng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng
Tác giả: Nguyễn Trí, Lê A, Lê Phương Nga
Năm: 2000
11. Nguyễn Trí- 2003, Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2003
11. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (tập 1 và tập 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (tập 1 và tập 2)
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
12. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) , Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (tập 1 và tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (tập 1 và tập 2)
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Nguyễn Minh Thuyết chủ biên cuốn Tiếng Việt thực hành, NXB ĐH QGHà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB ĐH QGHà Nội
14. Nguyễn Thái Hòa- Giáo trình phong cách học tiếng Việt- NXB ĐH Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm
15. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) , Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 (tập 1 và tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 (tập 1 và tập 2)
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) , Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, tập 1 và tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, tập 1 và tập 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) , Sách giáo khoa ngữ văn lớp 6, tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa ngữ văn lớp 6, tập 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Nguyễn Trại (chủ biên) , Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 5 (tập 1 và tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 5 (tập 1 và tập 2)
Tác giả: Nguyễn Trại
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. Nguyễn Trại (chủ biên) , Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 5 (tập 1 và tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 5 (tập 1 và tập 2)
Tác giả: Nguyễn Trại (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Nguyễn Lân (chủ biên), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam chủ biên. NXB tổng hợp TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và ngữ Việt Nam chủ biên
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. HCM
21. Nguyễn Trí- 1996, Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w