BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ ───── MÔN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒN[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: LUẬT DÂN SỰ
─────
MÔN: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI: VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (TIẾP)
GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY: LÊ THỊ HỒNG VÂN GIẢNG VIÊN PHỤ TRÁCH THẢO LUẬN: ĐẶNG LÊ PHƯƠNG UYÊN
NHÓM 6 – LỚP DS46A2
NĂM HỌC: 2022-2023
Trang 2MỤC LỤCVấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức 2
* Tóm tắt Bản án số 16/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh QuảngNgãi 2
* Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp caotại Đà Nẵng 2
1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực? 3
2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS
2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực? 3
3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao? 4
4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao? 4
5 Trong Bản án số 16, đoạn nào cho thấy, khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật? 5
6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao? 5
7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực? 5
8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng vô hiệu về hình thức 5
9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực? 6
10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao? 6
Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng 7
* Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long 7
Trang 31 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do
có vi phạm 7
2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ? 9
3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng) 9
4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao? 10
5 Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long 10
6 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm 11
7 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ 13
Vấn đề 3: Đứng tên giùm mua bất động sản 13
* Quyết định số 17/2015/DS-GĐT ngày 19/05/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhândân tối cao 13
1 Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao? 13
2 Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao? 14
3 Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam không? 14
4 Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? 14
5 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra
và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào? 15
6 Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có Án lệ chưa? Nếu có, nêu Án lệ đó 15
7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao 15
Vấn đề 4: Tìm kiếm tài liệu 16
Yêu cầu 1: Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật hợp đồng được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2019 đến nay (ít nhất 20 bài viết) Khi liệt kê, yêu cầu viết theo trật tự theo tên tác giả và việc liệt kê phải thỏa
Trang 4mãn những thông tin theo trật tự sau: 1) Họ và tên tác giả, 2) Tên bài viết trong ngoặc kép, 3) Tên Tạp chí in nghiêng, 4) Số và năm của Tạp chí, 5) Số trang của bài viết (ví dụ: từ tr 41-51) 16 Yêu cầu 2: Cho biết làm thế nào để biết được những bài viết trên 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 5Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức
* Tóm tắt Bản án số 16/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn: ông Võ Sĩ M và bà Phùng Thị N
Bị đơn: ông Đoàn C và bà Trần Thị L
Bị đơn đã thỏa thuận với nguyên đơn lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chonguyên đơn Thời điểm các bên thỏa thuận thì bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấyviết tay thể hiện nội dung thỏa thuận Khi thỏa thuận có phát sinh thay đổi các bên chỉthay đổi bằng lời nói và tiếp tục thực hiện hợp đồng bằng việc giao tiền, giao giấy chứngnhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, phía bị đơn chỉ đưa giấy chứng nhận quyền sử dụngđất nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng, do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơnphải làm thủ tục chuyển nhượng đất cho nguyên đơn Bị đơn kháng cáo yêu cầu tuyên bốhợp đồng này vô hiệu vì sai về mặt hình thức, nhưng Tòa không chấp nhận, vì các bên đãthực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch Do đó, Tòa án quyết định giao dịch vẫn cóhiệu lực, nguyên đơn được quyền sử dụng đất và có nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đồng thời, nguyên đơncũng phải thanh toán phần tiền còn lại cho phía bị đơn
* Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Nguyên đơn: Ông Mến và bà Nhiễm
Bị đơn: Ông Cưu và bà Lắm
Năm 2009, ông Cưu, bà Lắm và con trai là Linh lập hợp đồng thoả thuận chuyển nhượngquyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm một lô đất B khi được Nhà nướcgiao đất với giá chuyển nhượng là 90.000.000 vnd, sau đó vì không có lô B nên hai bênthống nhất ông Mến , bà Nhiễm giao thêm 30.000.000 vnd để lấy khu A Năm 2016, ôngCưu, bà Lắm được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó bị đơn đãgiao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này nhưng không chuyển nhượng Nay ôngMến, bà Nhiễm yêu cầu ông Cưu, bà Lắm phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trêncho họ Bị đơn có đơn phản tố yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu vì cho rằng tại thờiđiểm chuyển nhượng chưa có đất và hợp đồng không được công chứng, chứng thực
Trang 6Tại Toà án sơ thẩm, Toà công nhân hợp đồng chuyển nhượng là đúng Nhưng tuyên buộc
bị đơn chuyển nhượng đất là không thể thi hành án
Toà án phúc thẩm xác định hợp đồng này là vô hiệu do vi phạm về nội dung và hình thứccủa hợp đồng là không đúng Mặc dù , khi viết giấy chuyển nhượng chưa có vị trí lô đất
cụ thể nhưng đối tượng của hợp đồng hai bên hướng đến là 01 trong những lô đất tái định
cư mà ông Cưu, bà Lắm sẽ được nhà nước giao theo chính sách quy hoạch dân cư
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dâncấp cao tại Đà Nẵng quyết định chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấpcao tại Đà Nẵng, công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa 2 bên tuy có vi phạm về mặthình thức nhưng có hiệu lực căn cứ vào khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 và huỷ toàn bộ bản
án dân sự phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử lạitheo thủ tục phúc thẩm
1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?
Đoạn [3] phần Nhận định của Tòa án cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng,chứng thực:
“Bị đơn ông C, bà L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh L1 thừa nhận, vì biết thông tin gia đình bị đơn bị thu hồi đất sẽ được cấp ba lô đất tái định cư, trong đó có một
lô A và hai lô B, nên ngày 10/8/2009 nguyên đơn ông M, Bà N cùng phía bị đơn ông C,
bà L và anh Đoàn Tấn L1 thỏa thuận và lập “Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” (Bút lục 27) … Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Khoản 2 Điều 92
Trang 7“Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của giao dịch là đúng pháp luật nhưng buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn là không cần thiết, khi Tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật”.
3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao?
Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục Vì về
vấn đề thời hạn thực hiện giao dịch trên, hai bên cũng đã xác định là “từ khi xác lập giao dịch cho đến khi phía bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn”, do đó đây là giao dịch đang được thực hiện và được
xác lập vào ngày 10/8/2009, tức là trước khi Bộ luật này có hiệu lực nên căn cứ theoĐiểm b, Khoản 1, Điều 688, BLDS 2015 thì Tòa áp dụng Điều 129 là đúng quy định.Ngoài ra, thời điểm các bên thoả thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phía bịđơn chưa được cấp đất nhưng khi được cấp đất đã thay đổi thoả thuận bằng lời nói thànhchuyển nhượng thửa 877 và giao thêm tiền, giao đất, giao giấy chứng nhận quyền sử dụngđất do vậy có thể nói là các bên đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch này căn cứtheo khoản 2 Điều 129 BLDS 2015
4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao?
Tòa án áp dụng Điều 129, BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa
vụ là thuyết phục Vì bên cạnh yếu tố đó, những yếu tố khác theo quy định tại Điều 129cũng đã có căn cứ để xác định Theo Điều 502, BLDS 2015 và quy định khác có liên quannhư Khoản 3, Điều 167, Luật đất đai 2013 thì có thể xác định được hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất này đã vi phạm quy định về hình thức, ngoài ra nguyên đơnkhởi kiện yêu cầu bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất 877 cho mình, cũngchính là mong muốn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này được công nhận vềmặt pháp lý Vì lẽ đó, trường hợp này phù hợp với quy định tại Điều 129, BLDS 2015 khigiao dịch này vi phạm về mặt hình thức, nhưng các bên cũng đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa
vụ và có yêu cầu của bên nguyên đơn
Trang 85 Trong Bản án số 16, đoạn nào cho thấy, khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên
hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản
án đã có hiệu lực pháp luật?
Trong phần nhận định của Tòa án có nêu rõ: “Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều
129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm
2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của giao dịch là đúng pháp luật nhưng buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa
877 cho nguyên đơn là không cần thiết, khi Tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật.”
6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao?
Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án là hợp lí Tòa án đã áp dụng đúng theo quyđịnh của BLDS 2015 và giải quyết từng vấn đề phát sinh trong giao dịch này Căn cứ theoĐiều 502, BLDS 2015 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thànhvăn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, cũng như pháp luật khác cóliên quan Cụ thể như theo Khoản 3, Điều 167, Luật đất đai 2013 thì hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực Do
đó, Tòa xác định hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn vi phạm về hình thức là có căn cứ.Bên cạnh đó, Tòa cũng áp dụng Điều 129, BLDS 2015 về trường hợp giao dịch dân sự viphạm điều kiện có hiệu lực về hình thức nhưng vẫn được công nhận có hiệu lực, điều này
đã thể hiện được tầm nhìn bao quát của Tòa án khi xem xét kĩ tiến độ thực hiện nghĩa vụgiữa các bên Do Tòa đã công nhận hiệu lực của giao dịch này nên theo Khoản 2, Điều
129, BLDS 2015 các bên không phải thực hiện công chứng, chứng thực, nên việc buộc bịđơn làm thủ tục chuyển nhượng đất cho nguyên đơn là không cần thiết
7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?
Ở đoạn thứ 5, phần nhận định của Tòa án có nêu rõ: “Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2017, thời hiệu được áp dụng theo qui định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức.”
Trang 98 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu về hình thức cũngđược quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 132, BLDS 2015 Do đó, căn
cứ theo Khoản 2, Điều 132, BLDS 2015 thì hệ quả pháp lý của việc hếtthời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức làgiao dịch dân sự đó sẽ có hiệu lực
“2 Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.”
Như vậy, khi hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức thì hợpđồng có hiệu lực
9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?
Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều
132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực là:
“Tuy nhiên, từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/4/2017, đã quá thời hạn 2 năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Khoản
1 Điều 132 BLDS 2015 Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo Khoản 2 Điều 132 BLDS 2015.”
10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?
Trong quyết định số 93, việc tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục vì:
Nguyên đơn đã đưa 110.000.000 đồng cho bị đơn là đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa
vụ trong giao dịch Theo khoản 2 điều 129 BLDS 2015 “Giao dịch dân sự đã được xác lậpbằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bênhoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầucủa một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.” Mặt khác phía bị đơn đã hết thời hiệu là 2 năm, cũng không yêu cầu tuyên bố giao dịchdân sự vô hiệu giữa bị đơn và nguyên đơn vì thế giao dịch dân sự giữa bị đơn và nguyênđơn có hiệu lực Theo khoản 2 điều 132 BLDS 2015 “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1
Trang 10Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự cóhiệu lực.” Vậy nên việc tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấtngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực là có thuyết phục.
Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng
* Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Đông Phong Cần Thơ
Ngoài ra Tòa buộc ông Trương Văn Liêm, bà Nguyễn Thị Dệt phải trả cho Công ty
TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ do ông Nguyễn Thành Tơ thừa quyền và nghĩa vụ sốtiền là 4.880.000 đồng Buộc Công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ do ông NguyễnThành Tơ kế thừa có nghĩa vụ trả cho ông Trương Văn Liêm, bà Nguyễn Thị Dệt số tiền
*Giống nhau:
1 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017, Chương 2.
Trang 11- Hệ quả là không hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết hay xác lập và các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
- Có thể sẽ phát sinh bồi thường khi có lỗi giữa các bên
- Hợp đồng đang được thực hiện bị chấm dứt
* Khác nhau:
Tiêu chí phân
Căn cứ Từ điều 122 đến điều 131 BLDS 2015
Vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợpđồng được áp đặt tại thời điểm giaokết
- Mục đích và nội dung của hợp đồng
vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức
- Do giả tạo nhằm che giấu một hợpđồng khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ
- Do người chưa thành niên, người mấtnăng lực hành vi dân sự, người có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi,người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự xác lập, thực hiện
- Do bị nhầm lẫn
- Do bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép
- Do người xác lập không nhận thức vàlàm chủ được hành vi của mình
- Do không tuân thủ quy định về hìnhthức
Điều 423 đến Điều 427BLDS 2015
Không phải do vi phạmđiều kiện có hiệu lực củahợp đồng được áp đặt tạithời điểm giao kết Hợpđồng đã và đang ở tronggiai đoạn được thực hiện
- Do không có khả năng
- Do tài sản bị mất, hư hỏng
Hoàn cảnh Vi phạm quy định của luật trong quá
trình giao kết hợp đồng Vi phạm trong quá trìnhthực hiện hợp đồng
Phạm vi Hợp đồng vô hiệu toàn bộ khi phạm
vào điều cấm của luật, trái đạo đức xãhội; hợp đồng giả tạo nhằm che giấumột hợp đồng khác hoặc để trốn tránhnghĩa vụ với người thứ ba vô hiệu tuyệtđối
- Hợp đồng vô hiệu một phần: giaodịch dân sự vô hiệu từng phần khi một
Hợp đồng bị hủy bỏ toànbộ