sở thực tiễn về phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện và một số kinh nghiệm phát triểnBHXH TN đối với người lao động ở một số nước trên thế giới từ đó rút ra bài học kinhnghiệm cho phát t
Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 1.236,5 km², gồm 9 đơn vị hành chính, gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện Thành phố Vĩnh Yên là tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc, cách trung tâm Hà Nội 50 km và sân bay quốc tế Nội Bài 25 km, dễ dàng kết nối giao thông và phát triển kinh tế (UBND tỉnh Vĩnh Phúc, 2012).
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng có tọa độ địa lý 21 o 08’-
21 o 19’ độ vĩ Bắc và 105 o 09’ - 105 o 47’ độ kinh Đông Tỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với
Vĩnh Phúc có tỉnh, thành phố giáp các tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang phía Bắc, với đường ranh giới là dãy núi Tam Đảo và Sáng Sơn Phía tây, tỉnh giáp Phú Thọ qua ranh giới tự nhiên là sông Lô Phía nam, giáp Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng Phía đông, tỉnh tiếp giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh của Hà Nội (UBND tỉnh Vĩnh Phúc, 2012).
Vĩnh Phúc nằm trên tuyến quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, tạo thành cầu nối giữa vùng trung du miền núi phía Bắc và thủ đô Hà Nội Vị trí chiến lược của Vĩnh Phúc còn gần cảng hàng không quốc tế Nội Bài và các tuyến giao thông chính như quốc lộ số 5 kết nối với Hải Phòng, cùng trục đường 18 dẫn tới cảng nước sâu Cái Lân Do đó, phát triển kinh tế Vĩnh Phúc góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm và giảm áp lực về đất đai, dân số cho thủ đô Hà Nội Vĩnh Phúc đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ xã hội, du lịch và dịch vụ của khu vực phía Bắc, góp phần nâng cao năng lực phát triển của vùng KTTĐ Bắc Bộ.
Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng Châu thổ Sông Hồng và vùng gò đồi trung du, tạo nên đặc điểm địa hình đa dạng Địa hình của tỉnh thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chia thành ba vùng sinh thái chính: đồng bằng, trung du và vùng núi Vị trí địa lý phù hợp giúp Vĩnh Phúc phát triển nông nghiệp, du lịch và công nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương.
Vĩnh Phúc có tổng diện tích đất tự nhiên là 123.752,31 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 70,24% với diện tích 86.979,72 ha, phản ánh vai trò quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế địa phương Đất phi nông nghiệp chiếm 28% với diện tích 34.651,61 ha, phục vụ các hoạt động công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa Ngoài ra, diện tích đất chưa sử dụng là 2.170,98 ha, chiếm 1,75%, là nguồn tài nguyên cần được khai thác hợp lý trong tương lai để thúc đẩy phát triển bền vững của Vĩnh Phúc.
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014
STT Loại đất Diện tích (Ha) Cơ cấu (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 123.752,31 100,0
1 Đất nông nghiệp 86.979,72 70,24 Đất sản xuất nông nghiệp 50.014,84 40,42 Đất lâm nghiệp 32.439,49 26,21 Đất nuôi trồng thuỷ sản 4.360,08 3,52 Đất nông nghiệp khác 115,31 0,09
2 Đất phi nông nghiệp 34.651.61 28,00 Đất ở 8.727,75 7.05 Đất công nghiệp 18.692,49 15,1 Đất dịch vụ 7.209,17 5.83 Đất phi nông nghiệp khác 22,2 0,02
3 Đất chưa sử dụng 2.170,98 1,75 Đất bằng chưa sử dụng 736,43 0,60 Đất núi chưa sử dụng 1.214,78 0,98
Núi đá không có rừng cây 219,77 0,17
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2014)
Hiện trạng sử dụng đất ở Vĩnh Phúc cho thấy, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng trong sự phát triển của tỉnh Với hơn 70% trong tổng diện tích, lực lượng lao động khu vực nông thôn của tỉnh vẫn còn rất động Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển BHYT tự nguyện trên địa bàn tỉnh.
3.1.2.1 Dân số và nguồn lao động
Dân số trung bình năm 2013 của tỉnh Vĩnh Phúc khoảng 1.029.412 người, với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,52% Trong đó, dân số nông thôn chiếm đa số với 76,31%, nhưng do tác động của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh hơn Trong giai đoạn 2009-2013, dân số thành thị tăng trung bình 1% mỗi năm, trong khi dân số nông thôn chỉ tăng 0,003% mỗi năm, kéo theo tỷ trọng dân số thành thị từ 22,45% năm 2009 lên 23,69% năm 2013.
Bảng 3.2 Quy mô và cơ cấu dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2009-2013
Chỉ tiêu 2009 2010 2011 2012 2013 Tốc độ PTBQ (%)
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2013) Trong giai đoạn 2009-2013, dân số từ 15 tuổi trở lên tăng với tốc độ bình quân 1,49%/năm, cao hơn tốc độc tăng dân số chung (0,72%) Theo cơ cấu tuổi năm
2013, dân số từ 0-14 tuổi chiếm 22,65%, dân số từ 15 đến dưới 60 tuổi chiếm67,23%, dân số từ 60 tuổi trở lên là 10,12% (Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, 2013).
50,77 50,77 50,77 50,77 50,77 Đồ thị 3.1 Cơ cấu dân số Vĩnh Phúc xét theo nhóm tuổi
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2013)
Bảng 3.3 Quy mô lực lượng lao động phân theo khu vực, giới tính
Chỉ tiêu 2009 2010 2011 2012 2013 Tốc độ PTBQ (%)
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2013)
Năm 2013, lực lượng lao động của tỉnh Vĩnh Phúc đạt 613,2 nghìn người, chiếm tỷ lệ 59,57% trên tổng dân số Trong đó, có 607,35 nghìn người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên), phản ánh sự đóng góp quan trọng của nguồn nhân lực vào sự phát triển kinh tế của địa phương.
Trong đó: theo giới tính, tỷ lệ nam nữ giữ ổn định qua các năm, lao động nam chiếm 49,23% (tỷ lệ nữ chiếm 50,77%) Theo khu vực, lực lượng lao động tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn chiếm 79,92%, thành thị 20,08% (Bảng 3.3).
Năm 2013, tỷ lệ tham gia LLLĐ chung đạt 59%, phản ánh mức độ quan tâm đến học tập suốt đời của người dân Trong đó, tỷ lệ này tại khu vực nông thôn cao hơn so với thành thị, lần lượt là 61,65% so với 50,46%, chủ yếu do tỷ lệ người dân thành phố tham gia học tập cao hơn Điều này cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về khả năng tiếp cận và cơ hội học tập giữa hai khu vực, ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Tỷ lệ lao động đang làm việc so với tổng dân số trong độ tuổi lao động đã có xu hướng tăng trưởng từ 98,49% năm 2009 lên 99,05% năm 2013, cho thấy sự cải thiện rõ rệt về mức độ tham gia của lực lượng lao động vào thị trường việc làm Đồ thị 3.2 minh họa rõ nét sự tăng trưởng này trong tỷ lệ dân số tham gia lực lượng lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2013)
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động (LLLĐ) liên tục được nâng cao trong giai đoạn 2009-2013 Trong khoảng thời gian này, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng trung bình 7,88% mỗi năm, đạt hơn 117 nghìn người vào năm 2013 Mặc dù tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo có xu hướng tăng lên, đạt 13,8% năm 2013, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ lao động nam qua đào tạo, chiếm 24,6%.
Chất lượng lao động nông thôn thấp hơn nhiều so với chất lượng lao động thành thị Năm 2013 chỉ có 17% lao động nông thôn đã qua đào tạo so với ở thành thị là 27,5% Mặc dù tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo qua các năm có tăng(bình quân 11,75%/năm) nhưng vẫn rất hạn chế Điều này phần nào ảnh hưởng đến thu nhập và quyết định tham gia BHYT tự nguyện của họ.
Nam Nữ Thành thị Nông thôn
Nhà nước Ngoài nhà nước KV có vốn đầu tư nước ngoài
Bảng 3.4 Lực lượng lao động đã qua đào tạo theo giới tính, khu vực Đơn vị tính: %
Phân theo giới tính Phân theo khu vực
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2013)
Lao động trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm hơn 85% tổng số lao động đang làm việc So sánh năm 2009 và 2013, lao động ở khu vực này có xu hướng giảm 1,85%, trong khi khu vực kinh tế Nhà nước tăng nhẹ 0,02% Đồng thời, một phần lao động đã chuyển sang hoạt động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, phản ánh sự dịch chuyển trong cơ cấu lao động của nền kinh tế.
2013 tăng 1,83% so với năm 2009 (Bảng 3.5).
Bảng 3.5 Lao động đang làm việc phân theo thành phần kinh tế Đơn vị tính: Người
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc (2013)
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Cách tiếp cận và Khung phân tích
Luận án đã sử dụng một số phương pháp tiếp cận được tóm tắt tại bảng 3.7.
Bảng 3.7 Bảng tóm tắt phương pháp tiếp cận sử dụng
Phân tích giản hoá hệ thống các thành tố cơ bản nhằm nghiên cứu các chi tiết và tìm hiểu các loại quan hệ tồn tại giữa chúng.
Xác định mục đích tham gia BHXH trong mối quan hệ với các yếu tố ảnh hưởng:
- Yếu tố khách quan: điều kiện Kinh tế - xã hội, chính sách.
- Yếu tố chủ quan: nhận thức, giới tính, thu nhập…
Xác định các thể chế, các tác nhân tham gia vào hệ thống
Xem xét vai trò của các bên liên quan, đánh giá ảnh hưởng của mỗi tác nhân tới hệ thống BHXH TN, tìm ra giải pháp phù hợp.
Tiếp cận phân tích nguyên nhân
Phát hiện các mâu thuẫn, thiếu sót thông qua phân tích nguyên nhân, tìm ra giải pháp xử lý các hậu quả
Để thúc đẩy việc tham gia BHXH tự nguyện của người lao động, cần xác định rõ những nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến sự tham gia của họ Việc phân tích và hiểu rõ mối liên hệ giữa các nguyên nhân này giúp đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm tăng cường tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ Từ đó, các chính sách hỗ trợ, tuyên truyền và tạo điều kiện thuận lợi sẽ góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của người lao động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình qua hệ thống BHXH.
Tiếp cận có sự tham gia
Cùng phát hiện các vấn đề có sự tham gia thảo luận của cộng đồng
Việc sử dụng các công cụ để phát hiện các vấn đề trong thực tiễn giúp đảm bảo phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người lao động Điều này tạo điều kiện để phát triển các giải pháp bảo hiểm y tế tự nguyện hiệu quả trên địa bàn tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Nguồn: Mô tả của tác giả (2013)
Khung phân tích nghiên cứu đóng vai trò là hướng đi thống nhất của luận án nhằm đạt được mục tiêu đề ra Được xác định nhằm mô tả những ảnh hưởng cơ bản đến quyết định của người lao động trong việc tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Sử dụng khung phân tích giúp mô tả các giải pháp đưa ra một cách logic và phù hợp, thể hiện tính tất yếu của kết quả nghiên cứu về hành vi tham gia BHYT tự nguyện của người lao động Khung phân tích này được trình bày rõ nét trong sơ đồ 3.2, góp phần nâng cao tính hệ thống và minh chứng cho nội dung nghiên cứu.
Sơ đồ 3.2 Khung phân tích
3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu Để tiến hành đánh giá thực trạng phát triển chính sách BHXH TN đối với người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, chúng tôi tiến hành chọn điểm nghiên cứu tại tỉnh Vĩnh Phúc được tóm tắt tại bảng 3.8.
Tăng cường chất lượng hệ thống dịch vụ BHXH TN Nâng cao năng lực cán bộ BHXH
Hoạt động thông tin, tuyên truyền
Số lượng lao động tham gia
Cơ cấu đối tượng tham gia
Số lượ ng đại lý, cán bộ thu
Số tiề n thu, chi trả chế độ
Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động
PHÁT TRIỂN VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH
- Thủ tục tham gia Thời gian đóng Thời gian hưởng Mức đóng, mức hưởng Chế độ hưởng
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN ĐỐI VỚI
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
Bảng 3.8 Đặc điểm chính của chọn điểm nghiên cứu Điểm nghiên cứu Lý do Mục đích
Có điều kiện kinh tế phát triển
Số lượng đang tham gia đông
Số đối tượng thuộc diện tham gia lớn
Phỏng vấn 2 nhóm đối tượng là:
1: Đang tham gia BHXH TN
2: Chưa tham gia BHXH TN
Nghiên cứu nhằm xác định mức độ hài lòng và mong muốn của cộng đồng về việc tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN), từ đó hiểu rõ những khó khăn mà người dân gặp phải trong quá trình tham gia Kết quả phân tích giúp làm cơ sở để đề xuất các giải pháp phát triển phù hợp, nâng cao quyền lợi và mở rộng phạm vi tiếp cận của chính sách BHXHTN đến cộng đồng.
Có điều kiện tương đối phát triển
Số lượng đang tham gia đông
Số lượng thuộc đối tượng tham gia lớn
Vùng nông thôn có điều kiện phát triển thấp hơn
Số lượng đang tham gia thấp Tiềm năng thu hút tham gia lớn
Vùng nông thôn có ít điều kiện phát triển
Số lượng người tham gia đông Tiềm năng tham gia thấp
3.2.3 Nguồn tài liệu thu thập
3.2.3.1 Nguồn tài liệu thứ cấp
Nguồn thông tin cơ bản từ mô tả của tác giả năm 2013 đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp và phân tích dữ liệu Những nguồn này giúp đưa ra nhận xét chính xác về thực trạng nghiên cứu, đồng thời hỗ trợ đề xuất các giải pháp phù hợp với mục tiêu của luận án Việc sử dụng nguồn tin đáng tin cậy và chính xác là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng phân tích và đánh giá trong quá trình nghiên cứu.
Tài liệu thứ cấp cho luận án được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy như Cục Thống kê, Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc, Bảo hiểm xã hội các huyện, thành phố, thị xã, cùng với Sở liên quan Các nguồn này cung cấp dữ liệu chính xác, cập nhật và phù hợp để phân tích, nghiên cứu hiệu quả Việc sử dụng tài liệu thứ cấp từ các cơ quan này giúp đảm bảo tính khách quan, toàn diện cho luận án của bạn.
Kế hoạch và đầu tư của Sở Tài nguyên Môi trường cùng các ban ngành liên quan dựa trên số liệu từ các báo cáo, đề tài và công trình nghiên cứu về Vĩnh Phúc, đảm bảo tính chính xác và cập nhật Các nghiên cứu về BHYT tự nguyện trong nước và quốc tế đã được công bố trên các nhà xuất bản uy tín, có uy tín cao và đảm bảo chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả chính sách và phát triển bền vững địa phương.
Dưới đây là các câu chính thể hiện ý toàn bài phù hợp với quy chuẩn SEO: 1 "Nguồn số liệu này được sử dụng để đánh giá tổng thể thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu dựa trên phương pháp số lớn." 2 "Dữ liệu các năm trong giai đoạn nghiên cứu bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thu chi ngân sách, lực lượng lao động và cơ cấu đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện." 3 "Phân tích số liệu giúp xác định xu hướng biến động và thực trạng phát triển của khu vực qua các năm, thể hiện rõ qua các số liệu thu chi BHYT tự nguyện và số lượng lao động tham gia." 4 "Phương pháp số lớn được ứng dụng nhằm thể hiện chính xác các xu hướng biến đổi của các yếu tố kinh tế - xã hội trong khu vực nghiên cứu."
3.2.3.2 Nguồn tài liệu mới (số liệu sơ cấp) Để có được số liệu sơ cấp, chúng tôi đã tiến hành thực hiện điều tra khảo sát trực tiếp, bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu các đối tượng thông qua phiếu điều tra.
- Người lao động chưa tham gia BHXH TN tại các điểm nghiên cứu
- Người lao động đã tham gia BHXH TN tại các điểm nghiên cứu
- Cán bộ trực tiếp phụ trách công tác BHXH TN tại tỉnh, địa phương. i) Xác định mẫu nghiên cứu
- Chọn mẫu nghiên cứu: theo công thức sau:
Trong đó: n là số đơn vị mẫu; t là độ cơ suất (hệ số tin cậy) là phạm vi sai số chọn mẫu; là phương sai dùng điều tra
Để đảm bảo phạm vi sai số chọn mẫu không vượt quá 0,06, cần xác định số đơn vị mẫu phù hợp dựa trên các yếu tố về độ tin cậy và phương sai Yêu cầu độ tin cậy của việc suy rộng tài liệu là 0,95, trong khi phương sai sử dụng trong điều tra là 0,324 Do đó, việc tính toán số mẫu cần thiết phải dựa trên các chỉ số này nhằm đảm bảo kết quả ước lượng chính xác và tin cậy cao trong nghiên cứu.
Với 4 điểm nghiên cứu được lựa chọn có sự khác nhau về vị trí địa lý và đặc điểm kinh tế xã hội, tác giả lựa chọn như sau: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên là vùng đồng bằng, có điều kiện kinh tế phát triển, phát triển du lịch, dịch vụ, số lượng tham gia BHXT TN lớn và đây là vùng có tiềm năng phát triển BHXH
TN cao Luận án lựa chọn khu vực huyện Bình Xuyên có nhiều xã thuộc vùng nông thôn và miền núi, vùng này có điều kiện phát triển kinh tế thấp hơn, số lượng tham gia BHXH TN chưa nhiều nhưng có tiềm năng thu hút người lao động tham gia BHXH TN cao vì có những xã đa số người dân làm nghề thủ công, thu nhập của họ tương đối cao Bên cạnh đó huyện Yên Lạc cũng là điểm mà nghiên cứu đề cập thuộc vùng nông thôn ít có điều kiện phát triển kinh tế nhưng số lượng người đã tham gia BHXH TN rất cao Ngược lại tiềm năng thu hút lại thấp (Bảng 3.9). Mục đích chọn mẫu như vậy để tìm hiểu xem các đối tượng tham gia và đối tượng chưa tham gia theo từng khu vực đang ở mức độ nào? Nhu cầu, sự đánh giá của các đối tượng đã tham gia và chưa tham gia BHXH TN theo từng khu vực ra sao? Ngoài ra chúng tôi còn phỏng vấn 20 cán bộ từ các đơn vị có liên quan như BHXH tỉnh, phòng Thu BHXH huyện, UBND tỉnh, huyện, xã, Hội Nông dân, Hội phụ nữ Nhằm có thêm thông tin về việc triển khai chính sách BHXH TN trên địa bàn tỉnh. Áp dụng công thức trên, luận án đã tính ra số mẫu tại bảng 3.9
Bảng 3.9 trình bày số mẫu được điều tra theo đơn vị hành chính, trong đó tổng số người tham gia khảo sát là X người, với số người đang tham gia là Y người và số chưa tham gia là Z người Thông tin này giúp đánh giá mức độ tham gia của các đơn vị hành chính khác nhau trong nghiên cứu, từ đó nâng cao hiệu quả và độ chính xác của kết quả khảo sát.
Số mẫu diện tham gia Số mẫu mẫu
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, tính toán của tác giả (2014)
Phương pháp thu thập số liệu bao gồm thiết kế bảng câu hỏi để khảo sát cả những đối tượng đã và chưa tham gia BHXH TN Bảng câu hỏi giúp thu thập thông tin cơ bản về cá nhân người phỏng vấn, thực trạng nhu cầu tham gia BHXH TN, mức độ hiểu biết về chính sách BHXH TN, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia, cũng như đề xuất giải pháp thúc đẩy người lao động tham gia BHXH TN (Phụ lục)
1) Bộ câu hỏi được phỏng vấn thử và có chỉnh sửa cho phù hợp.
Thực trạng phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Thực trạng phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại tỉnh Vĩnh Phúc
4.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI TỈNH VĨNH PHÚC
4.1.1 Thực trạng phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại tỉnh Vĩnh Phúc
4.1.1.1 Vai trò, vị trí các cấp trong phát triển hệ thống dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện i) Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc đã chủ động chuẩn bị cho việc thực thi Luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXH TN), khi luật có hiệu lực vào ngày 01/01/2008, bằng cách tổ chức các hội thảo với sự tham gia của các cấp chính quyền, sở ngành và đoàn thể để tuyên truyền và nâng cao nhận thức về BHXH TN Đồng thời, tỉnh nhanh chóng bổ sung nhân sự, tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ quản lý và nhân viên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, và triển khai các hoạt động truyền thông như logo, biển báo, tờ rơi, áp phích để vận động người lao động tham gia BHXH tự nguyện Để cụ thể hóa chính sách này, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Văn bản số 3219/UBND-KT2 ngày 21/7/2008, hướng dẫn triển khai BHXH TN trên địa bàn tỉnh ngay sau khi luật có hiệu lực.
(1) UBND các huyện chỉ đạo cơ quan bảo hiểm xã hội huyện
- Bảo hiểm xã hội huyện chủ động phối hợp với UBND huyện, UBND các xã, thị trấn và các cơ quan liên quan tổ chức hội nghị để triển khai công tác BHYT tự nguyện đến từng xã, từng đại lý trên địa bàn huyện.
- Phối hợp với Văn phòng UBND huyện dự thảo văn bản chỉ đạo các cấp,thực hiện tốt công tác BHXH TN, trình UBND huyện trước ngày 20/02 hàng năm.
Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với Đài Phát thanh Truyền hình và Báo Vĩnh Phúc để xây dựng các phóng sự tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXH TN) đến mọi tầng lớp nhân dân Các hoạt động tuyên truyền đảm bảo triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách của Nhà nước về BHXH TN, góp phần mở rộng mạng lưới đối tượng tham gia, nâng cao ý thức tự giác bảo vệ quyền lợi của người dân.
Các tổ chức đoàn thể cấp huyện, xã cần tăng cường công tác tuyên truyền nhằm giúp hội viên, đoàn viên và người lao động hiểu rõ quyền lợi khi tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện Việc nâng cao nhận thức này góp phần thúc đẩy mở rộng mạng lưới tham gia BHYT tự nguyện, đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe toàn diện cho cộng đồng Chính vì vậy, các cơ quan, đơn vị cần phối hợp nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người nhận thức rõ lợi ích của việc tham gia BHYT tự nguyện.
UBND các xã, thị trấn cùng các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan BHXH nhằm triển khai hiệu quả công tác bảo hiểm y tế tự nguyện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp và thực hiện các hoạt động liên quan để đảm bảo mở rộng và nâng cao hiệu quả của chính sách BHYT tự nguyện tại địa phương.
- Chủ động phối hợp tổ chức tuyên truyền vận động người dân tham gia Hỗ trợ BHXH huyện tổ chức triển khai chính sách BHYT tự nguyện.
Chủ động tăng cường kiểm tra việc thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXH TN), theo dõi chặt chẽ tình hình thu chi và cấp sổ BHXH tự nguyện Thường xuyên phối hợp với các cơ quan liên quan để thực hiện các hoạt động kiểm tra, thanh tra về chế độ, chính sách BHXH TN nhằm đảm bảo quyền lợi của người tham gia Đồng thời, đề xuất các kiến nghị với UBND huyện để giải quyết các vấn đề liên quan đến BHXH thuộc thẩm quyền, đảm bảo công tác chính sách được thực thi hiệu quả và minh bạch.
Hàng năm, các cấp huyện, thị xã tại tỉnh Vĩnh Phúc đều gửi báo cáo về tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện lên Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Bảo hiểm xã hội các cấp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội tại địa phương, đảm bảo quyền lợi cho người dân Việc tổng hợp và đánh giá báo cáo giúp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các đơn vị, góp phần mở rộng coverage và nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội các huyện, thị xã, thành phố đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương ban hành các văn bản chỉ đạo và tổ chức các hội nghị phổ biến, triển khai chính sách bảo hiểm xã hội BHXH huyện phối hợp với phòng Lao động-Thương binh và Xã hội và các đoàn thể để tuyên truyền, vận động lao động trẻ em tham gia chính sách bảo hiểm xã hội Đồng thời, BHXH thường xuyên báo cáo tình hình, phản ánh các tồn tại và kiến nghị giải pháp nhằm thúc đẩy chính sách BHXH trở thành thực tiễn trong cuộc sống và nhận được sự chỉ đạo sát sao từ các cơ quan liên quan.
Trong quá trình triển khai BHXH tự nguyện tại tỉnh Vĩnh Phúc, đơn vị đã nhận được sự hỗ trợ chặt chẽ từ UBND tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố cùng các ngành, cơ quan, đoàn thể địa phương Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại sự thiếu đồng bộ và thống nhất giữa các cơ quan tổ chức trong quá trình thực hiện Việc cung cấp các văn bản hướng dẫn còn chưa kịp thời và công tác phối hợp tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện ở cấp xã, phường chưa được thực hiện đều đặn Ngoài ra, tại một số địa phương, sự phối hợp giữa UBND xã, phường, các hội đoàn thể như Hội nông dân, Hội phụ nữ với đại lý thu BHXH chưa nhanh chóng dẫn đến tình trạng người lao động chưa hiểu rõ lợi ích của việc tham gia BHXH tự nguyện.
4.1.1.2 Phát triển cơ cấu tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện
Hệ thống tổ chức và quản lý, triển khai Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Vĩnh Phúc được xây dựng thống nhất từ tỉnh đến huyện, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Giám đốc giao nhiệm vụ quản lý và tổ chức thu BHXH tự nguyện cho Phòng Thu Bảo hiểm xã hội tỉnh, kết hợp hỗ trợ từ các phòng ban khác để thực hiện Phòng Thu xây dựng kế hoạch thu hàng năm và phân công nhiệm vụ cho các huyện, thị và thành phố trực thuộc tỉnh nhằm đảm bảo triển khai hiệu quả chính sách BHXH tự nguyện.
4.1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực thực thi chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện
Theo báo cáo của BHXH tỉnh Vĩnh Phúc (2014), số cán bộ, viên chức làm công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn có sự tăng đáng kể qua các năm, từ 20 người năm 2008 lên 39 người năm 2013, trung bình tăng 10,9% mỗi năm Tuy nhiên, chỉ chiếm khoảng 13,49% tổng số cán bộ, viên chức của ngành, với số cán bộ phụ trách thu BHXH tự nguyện rất ít, phòng Thu BHXH tỉnh bố trí chỉ 2 cán bộ, còn mỗi huyện chỉ có 1 cán bộ kiêm nhiệm các công việc khác Trong tổng số cán bộ làm công tác thu, cán bộ phụ trách thu BHXH tự nguyện của toàn tỉnh vào năm 2013 chỉ có 14 người, chiếm 35,9%.
Bảng 4.1 Số lượng cán bộ, viên chức cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc (2008 - 2013) Đơn vị tính: Người
Năm 2008 Năm 2010 Năm 20 13 Tốc độ
3 Cán bộ làm công tác thu
Cán bộ thu BHYT tự nguyện 9 45,00 14 35,90 14 35,90 124,72 Đại lý thu BHYT tự nguyện 36 105 134 192,93
70 Để thực hiện tốt công tác chuyên môn của ngành bảo hiểm nói chung cũng như công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao thì cần phải có sự phối hợp của nhiều yếu tố, bên cạnh yếu tố số lượng cán bộ, viên chức thì không thể không xem xét, nghiên cứu tới trình độ của đội ngũ viên chức mà trình độ đội ngũ này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả công việc của những viên chức trực tiếp làm công tác BHXH Qua số liệu BHXH tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp tại đồ thị 3.1, trong tổng số cán bộ, viên chức của cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc năm 2013 thì số lượng cán bộ có trình độ đại học chiếm 75,99% tương đương 212 người, trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm 12,90% (36 người), trình độ trên đại học chiếm trên 11,11% (31 người). Đồ thị 4.1 Cơ cấu trình độ cán bộ, viên chức của cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc năm 2013
Một số cán bộ trẻ của BHXH tỉnh dù được đào tạo chính quy nhưng chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác tuyên truyền BHXH tự nguyện Điều này dẫn đến việc họ còn thiếu hiểu biết sâu về chính sách BHXH tự nguyện, đồng thời thiếu kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết trong công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHYT tự nguyện Do đó, cần tăng cường đào tạo chuyên môn và kỹ năng truyền thông cho đội ngũ cán bộ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, góp phần thúc đẩy tỷ lệ người dân tham gia BHYT tự nguyện.
4.1.1.4 Phát triển hoạt động tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện
Nhận thức rõ vai trò của công tác tuyên truyền, cơ quan BHXH các huyện đã tích cực thực hiện các hoạt động như cung cấp văn bản, tờ rơi, phổ biến pháp luật qua sóng phát thanh, truyền hình, báo chí của tỉnh và ngành Đồng thời, trang thông tin điện tử diễn đàn BHXH tỉnh Vĩnh Phúc được sử dụng để hỗ trợ tra cứu văn bản pháp quy về chính sách chế độ BHXH, nâng cao nhận thức của người dân Công tác phối hợp với các cơ quan đoàn thể và đài phát thanh truyền hình nhằm tuyên truyền các chế độ, chính sách, pháp luật về BHYT tự nguyện cũng đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng cao ý thức và hiểu biết của cộng đồng Hoạt động tuyên truyền BHYT tự nguyện tại tỉnh Vĩnh Phúc đã được thể hiện rõ nét qua các báo cáo tổng hợp hàng năm của cơ quan BHXH tỉnh, như đã nêu trong Bảng 4.2.
Bảng 4.2 Các hoạt động tuyên truyền của bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
Cung cấp văn bản Văn bản 7.500 1.000 1.200 1.300 1.400 40,00 108,01 Cung cấp tờ rơi tuyên truyền Ấn phẩm 3.000 5.000 5.000 8.000 10.000 129,10 141,42
Biển quảng cáo, panô, áp phích Biển 10 15 15 25 40 122,47 163,30
Mặc dù số lượng hoạt động tuyên truyền ngày càng tăng qua các năm (Bảng 4.2), nhưng hiệu quả còn hạn chế do hình thức tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng thiếu sáng tạo, cứng nhắc và chưa tạo được ấn tượng mạnh với công chúng Nội dung tuyên truyền chưa đi sâu, chưa đa dạng và chưa được truyền tải một cách rộng rãi, sâu sắc đến các tầng lớp dân cư Ngoài ra, công tác tổ chức thực hiện còn thiếu chủ động, chưa thường xuyên, liên tục và chưa đảm bảo sự thống nhất, dẫn đến hiệu quả tuyên truyền chưa cao.
4.1.2 Phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
4.1.2.1 Phát triển về số lượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
4.2.1 Ảnh hưởng của chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện tới sự phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
Các yếu tố chính sách BHXH tự nguyện có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và mở rộng phạm vi bao phủ của BHXH cho người lao động Nội dung chính sách cần phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của người dân để nâng cao tính khả thi trong quá trình triển khai Thủ tục tham gia, thủ tục hưởng, mức đóng và mức hưởng là những yếu tố nội tại quyết định đến sự tham gia của NLĐ vào BHXH tự nguyện Hạn chế về chế độ của BHXH tự nguyện ảnh hưởng trực tiếp đến việc tham gia BHYT tự nguyện của người lao động, từ đó tác động đến hiệu quả của chính sách.
Việc thiết kế 2 chế độ Hưu trí và Tử tuất trong chính sách pháp luật về BHXH
Bảo hiểm xã hội TN đáp ứng nhu cầu của phần lớn người lao động tham gia, nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình khi về già hoặc gặp rủi ro tử vong Chế độ hưu trí và tử tuất của BHXH TN được quy định tương tự như BHXH BB, tạo sự liên thông thuận tiện giữa các loại hình bảo hiểm, giúp người lao động dễ dàng chuyển đổi từ BHYT tự nguyện sang BHXH bắt buộc Chính quy định này phù hợp với đặc điểm của thị trường lao động hiện nay, thúc đẩy sự tham gia rộng rãi và linh hoạt của người lao động vào hệ thống an sinh xã hội.
Theo kết quả điều tra, đa số ý kiến từ người lao động, cán bộ làm công tác bảo hiểm xã hội và cơ quan BHXH đều đồng tình rằng phương án đề xuất cần bổ sung các chế độ ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Những chế độ này giúp người lao động nhận thức rõ hơn về lợi ích trước mắt và lâu dài khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Thêm các chính sách này sẽ tăng cường mức độ hấp dẫn và sự tin tưởng của người dân đối với hệ thống BHXH, góp phần thúc đẩy sự tham gia ngày càng cao hơn, như đã thể hiện rõ trong đồ thị 4.5.
Hầu hết người lao động tham gia BHXH tự nguyện tại Việt Nam đều hướng tới lợi ích lâu dài, vì chỉ với hai chế độ hưu trí và tử tuất, quyền lợi sẽ chỉ nhận được sau ít nhất 20 năm đóng góp Do đó, cần nghiên cứu triển khai thêm các chế độ như ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, nơi mức đóng góp thấp nhưng mang lại lợi ích thiết thực nhờ khả năng san sẻ rủi ro và tài chính rõ ràng Mặc dù khoản đóng góp hàng tháng vào quỹ BHXH có thể tăng, lợi ích đem lại cho NLĐ vẫn rất lớn và rõ ràng thể hiện qua các biểu đồ, như Đồ thị 4.5, đề xuất mở rộng thêm các chế độ hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện để nâng cao quyền lợi và sự bảo vệ toàn diện cho người tham gia.
Chỉ có 1,93% người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện dưới 30 tuổi, do đó, độ tuổi tham gia giới hạn không phù hợp với đặc điểm của nông dân và lao động tự do Kết quả điều tra cho thấy, để đủ thu nhập và tham gia bảo hiểm này, người lao động thường phải trên 30 tuổi, chiếm tỷ lệ 98,07% Do đó, nếu chỉ dựa vào độ tuổi lao động chung, nông dân và lao động tự do sẽ không có đủ số năm đóng bảo hiểm tương đương 75% lương tháng bình quân trong toàn bộ quá trình đóng BHXH, như thể hiện trong Đồ thị 4.6 về cơ cấu đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo độ tuổi tại Vĩnh Phúc.
Theo khoản 2, Điều 9 nghị định số 190/2007/NĐ - CP ngày 28/12/2007 của Chính phủ, người lao động đủ 60 tuổi đối với nam hoặc 55 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 5 năm so với quy định, vẫn có thể tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện để đủ 20 năm đóng, qua đó được hưởng chế độ hưu trí Hiện nhiều người lao động chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng vẫn có nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện để đảm bảo quyền lợi về chăm sóc sức khỏe và chế độ hưu trí trong tương lai.
Khi hết tuổi lao động, người lao động sẽ không còn đủ điều kiện để tham gia BHXH bắt buộc Dù mong muốn tham gia BHYT tự nguyện, họ vẫn sẽ không được chấp thuận sau thời điểm nghỉ việc Chính quy định này là một trong những nguyên nhân gây trở ngại lớn cho sự phát triển của BHYT tự nguyện tại Việt Nam Việc hạn chế này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng mạng lưới bảo hiểm y tế tự nguyện và giảm quyền lợi của người dân trong việc chăm sóc sức khỏe Do đó, cần có chính sách linh hoạt hơn để thúc đẩy sự tham gia của người nghỉ hưu vào BHYT tự nguyện, góp phần nâng cao bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Hộp 4.1 Giới hạn tuổi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đa số đều có ý kiến tích cực về mức đóng, với 81,67% ý kiến cho rằng mức đóng hiện hành là hợp lý Chỉ một phần nhỏ, 6,8%, cho rằng mức đóng còn cao Tuy nhiên, có tới 69,46% ý kiến đánh giá mức hưởng từ BHXH tự nguyện chưa thực sự hợp lý, cho thấy cần xem xét điều chỉnh chính sách để đảm bảo quyền lợi tốt hơn cho người tham gia.
Đối tượng chưa tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đa số cho rằng mức đóng hiện tại quá cao so với thu nhập của họ, chiếm tỷ lệ 60,95%, khiến họ không đủ khả năng tham gia Trong khi đó, 33,34% ý kiến cho rằng mức đóng là hợp lý, nhưng họ vẫn chưa có ý định tham gia do thiếu thông tin về BHXH tự nguyện Một số người biết về mức hưởng, nhưng cho rằng mức hưởng chưa hợp lý, đặc biệt khi họ nghĩ rằng nếu phải đóng đủ 20 năm để nhận lương hưu như hiện tại, gửi tiết kiệm sẽ lợi hơn so với việc tham gia BHXH tự nguyện.
Tôi sinh ngày 7/5/1957 và là giáo viên trường tiểu học, đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được 14 năm 6 tháng Khi có thông báo về chế độ nghỉ hưu và chế độ BHXH, tôi đã đề nghị cơ quan BHXH huyện cho phép tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí Tuy nhiên, đề nghị của tôi không được chấp nhận do tôi chưa đủ 15 năm đóng BHXH theo quy định của Luật.
Theo Trần Thị Thu,Giáo viên trường tiểu học Sơn Lôi huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Hợp lý số Nông nghiệp Phi NN số Nông nghiệp Phi NN
Bảng 4.11 Ý kiến đánh giá của người lao động về mức đóng, hưởng về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện
Chỉ tiêu Tổng Đang tham gia Tổng Đơn vị tính: Người
Theo đánh giá của người lao động về chế độ đóng và hưởng bảo hiểm y tế tự nguyện theo lĩnh vực hoạt động, lao động phi nông nghiệp có mức độ hài lòng cao hơn so với lao động nông nghiệp (Bảng 4.11) Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khác biệt rõ rệt trong nhận thức và trải nghiệm của các nhóm lao động về chính sách này Việc hiểu rõ các đánh giá này giúp điều chỉnh chính sách phù hợp, nâng cao hiệu quả bảo hiểm y tế tự nguyện cho từng lĩnh vực hoạt động.
4.2.2 Ảnh hưởng của thông tin tuyên truyền tới sự phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
Thông tin tuyên truyền là điều kiện cần thiết để duy trì sự phát triển của bất kỳ xã hội nào trong lịch sử Tại tỉnh Vĩnh Phúc, BHXH đã phối hợp với các cơ quan như BHXH các huyện, hội nông dân, hội phụ nữ và đài phát thanh để tuyên truyền chính sách BHXH tự nguyện Tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền còn chưa đồng bộ, với các hình thức như tờ rơi, biển quảng cáo, pano, áp phích còn đơn điệu và cứng nhắc, dẫn đến hiệu quả chưa cao trong thu hút người lao động tham gia và nâng cao nhận thức về chính sách BHXH tự nguyện.
4.2.2.1 Khả năng tuyên truyền các nguồn thông tin
Tại tỉnh Vĩnh Phúc, hiện chưa thành lập bộ máy chuyên trách để thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền tại các cơ quan BHXH huyện, thành phố trực thuộc tỉnh Thay vào đó, đa số cán bộ đảm nhiệm kiêm nhiệm công tác này, chiếm tỷ lệ 64,29%, gây hạn chế về hiệu quả và khả năng phối hợp trong hoạt động tuyên truyền chính sách BHXH Việc thiếu bộ máy chuyên trách đang ảnh hưởng đến công tác truyền thông và nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của BHXH và BHYT tại địa phương.
Bảng 4.12 Đội ngũ cán bộ và người làm công tác tuyên truyền bảo hiểm xã hội tự nguyện cấp xã, phường, thị trấn Đơn vị tính: %
Tỷ lệ đơn vị có CB phụ 55,56 trách tuyên truyền 46,15 47,06 47,37 48,28
- Đã qua đào tạo dài hạn 20,00 16,67 25,00 22,22 21,43
- Đã qua đào tạo ngắn hạn 80,00 83,33 75,00 77,78 78,57
4.2.2.2 Ảnh hưởng tuyên truyền về phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện
Nội dung tuyên truyền về BHXH tự nguyện còn chưa sát với thực tế và chưa đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của đa số đối tượng, chủ yếu tập trung vào nghĩa vụ mà bỏ qua quyền lợi của người tham gia Việc xây dựng nội dung phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, còn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng Đánh giá tính phù hợp của nội dung tuyên truyền và mức độ nhận biết của cán bộ cấp huyện, xã, thị trấn về chính sách BHYT tự nguyện cho thấy các cán bộ đã có sự quan tâm và hiểu rõ về đối tượng, tuy nhiên vẫn còn 25% cán bộ cấp xã không biết hoặc không quan tâm đến đối tượng thụ hưởng, trong khi chỉ có 40% cán bộ xã có nhận thức đầy đủ về chính sách BHXH tự nguyện.
Lỗ hổng lớn trong việc xây dựng nội dung tuyên truyền gây ra chệch lệch với thực tế đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, khiến hiệu quả của chiến dịch phát triển BHXH tự nguyện bị hạn chế đáng kể (Bảng 4.13).
Bảng 4.13 Mức nhận biết và đánh giá của cán bộ về đối tượng thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện
Chỉ tiêu Cán bộ cấp tỉnh, huyện Đơn vị tính: %
Cán bộ cấp xã Đối tượng thụ hưởng
- Không quan tâm 0 15 Đánh giá đúng đối tượng thụ hưởng
- Lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa đủ thời gian quy định
4.2.2.3 Ảnh hưởng của kênh truyền thông tin tới sự phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện