Hiện nay, trong các ấn phẩm của Tổng cục Thống kê như: Niên giám thống kê; ấn phẩm của các thống kê chuyên ngành, v.v, bên cạnh phần số liệu, Tổng cục Thống kê đã có phần giải thích thuậ
Trang 1TỔNG CỤC THỐNG KÊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI CẤP TỔNG CỤC
NGHIÊN CỨU BIÊN SOẠN
TỪ ĐIỂN THỐNG KÊ VIỆT NAM
Trang 2
II Qu¸ tr×nh nghiªn cøu vµ biªn so¹n tõ ®iÓn thèng kª 8
PhÇn II To¸n vµ Tin häc øng dông trong thèng kª 116
Trang 3Mở đầu
Số liệu thống kê có vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách, quản
lý và điều hành kinh tế ở cấp vĩ mô cũng như giúp cho các doanh nhân đưa ra những quyết định chính xác và kịp thời về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để sử dụng có hiệu quả số liệu thống kê đòi hỏi người sử dụng phải có kiến thức nhất định về kinh tế, xã hội và hiểu được khái niệm, định nghĩa, nguồn thông tin và phương pháp tính của các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội
Hiện nay, trong các ấn phẩm của Tổng cục Thống kê như: Niên giám thống kê; ấn phẩm của các thống kê chuyên ngành, v.v, bên cạnh phần số liệu, Tổng cục Thống kê đã có phần giải thích thuật ngữ, nội dung và phương pháp tính của một số chỉ tiêu theo từng lĩnh vực như: đơn vị hành chính, đất đai, khí hậu; dân số và lao động; nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp; thương mại, giá cả và du lịch; y tế, văn hóa, giáo dục; tài khoản quốc gia và ngân sách Nhà nước, v.v Tuy vậy, với hàng nghìn chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội được biên soạn và công bố hàng năm, Tổng cục Thống kê không thể đưa toàn bộ phần giải thích của tất cả các chỉ tiêu vào ấn phẩm, điều này đã gây không ít khó khăn cho người sử dụng số liệu thống kê
Với mục đích là giúp người sử dụng thông tin thống kê hiểu đúng, nhất quán về số liệu thống kê, đồng thời góp phần phục vụ cho yêu cầu phát triển công tác thống kê trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, trong chương trình nghiên cứu khoa học năm 2005, Tổng cục Thống kê đã tổ chức thực hiện đề tài: “Nghiên cứu biên soạn từ điển thống kê Việt Nam” trong hai năm 2006 - 2007 Đề tài do Tiến sĩ Đỗ Thức – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê làm chủ nhiệm, PGS, TS Tăng Văn Khiên làm phó chủ nhiệm, Ths Nguyễn Bích Lâm làm thư ký khoa học, Ths
Đinh Thị Thúy Phương làm thư ký hành chính với sự tham gia của lãnh đạo các
đơn vị thuộc Tổng cục Thống kê và các nhà khoa học trong và ngoài ngành
Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn để
biên soạn cuốn từ điển Thống kê Việt Nam, đồng thời Ban Chủ nhiệm đề tài đã biên tập, sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện giải thích các từ/ thuật ngữ (định nghĩa, khái niệm) trong khoa học thống kê, cũng như trong hoạt động thống kê, bao gồm các phần: lý thuyết thống kê, toán thống kê và tin học thống kê; thống
kê kinh tế và thống kê xã hội
Trang 4Sau hai năm triển khai nghiên cứu với sự hợp tác chặt chẽ của Viện Khoa học Thống kê, của các đơn vị trong Tổng cục, các chuyên viên, các nhà khoa học, đề tài đã hoàn thành nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của đề tài là các tập tài liệu giải thích từng thuật ngữ của danh mục các thuật ngữ đ−ợc sử dùng nhiều trong công tác thống kê Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài Nghiên cứu biên soạn từ điển thống kê Việt Nam nhằm điểm lại quá trình nghiên cứu biên soạn cuốn Từ điển Thống kê và bao gồm các nội dung chính sau:
1 Mục đích, nguyên tắc và yêu cầu của việc biên soạn từ điển
Thống kê;
2 Quá trình nghiên cứu và biên soạn từ điển thống kê;
3 Kết quả thực hiện đề tài
Biên tập, sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện bản giải thích các từ / thuật ngữ
để làm từ điển thống kê là công việc phức tạp Trong khuôn khổ đề tài khoa học quy mô không lớn chắc chắn kết quả nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Ban chủ nhiệm đề tài mong nhận đ−ợc ý kiến góp ý để chúng tôi hoàn thiện thêm
Ban chủ nhiệm đề tài
Trang 5I Mục đích, nguyên tắc, yêu cầu và phương pháp biên soạn
Từ điển Thống kê
1 Mục đích của việc biên soạn từ điển thống kê
Có nhiều định nghĩa về từ điển, chẳng hạn theo cuốn Đại bách khoa toàn
thư Xô viết thì “Từ điển là tập hợp từ (đôi khi cả hình vị hoặc cụm từ) sắp xếp
theo một trật tự nhất định, được dùng làm cẩm nang giải thích nghĩa của các
đơn vị miêu tả, cung cấp các thông tin khác nhau về các đơn vị đó hay dịch sang ngôn ngữ khác Hoặc cung cấp các thông tin về sự vật được các đơn vị miêu tả đó biểu đạt”1 Theo nhà ngôn ngữ học người Nga O X Ahmanova định
nghĩa một cách ngắn gọn: “Từ điển là sách miêu tả một cách hệ thống tổng thể
các từ của một ngôn ngữ” Theo cuốn Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học thì: “Từ
điển là sách tra cứu bao gồm các từ, ngữ được sắp xếp theo một trật tự nhất
định, giải thích ý nghĩa các đơn vị được miêu tả, cung cấp các thông tin khác nhau về chúng hoặc dịch chúng ra một ngôn ngữ khác, hoặc thông báo những kiến thức về các đối tượng do chúng biểu thị”2 Với những định nghĩa khác nhau
về từ điển, chúng tôi cho rằng mục đích nghiên cứu và biên soạn từ điển thống
kê nhằm cung cấp một tài liệu tra cứu qua tập hợp và sắp xếp một cách có hệ thống các thuật ngữ thống kê thuộc tất cả các chuyên ngành Do hạn chế về nguồn nhân lực, thời gian và nguồn kinh phí, vì vậy mục đích của việc nghiên cứu biên soạn từ điển thống kê tập trung đáp ứng hai nội dung chính sau đây:
a Cung cấp các khái niệm, định nghĩa chủ yếu của các từ, thuật ngữ thuộc phạm vi hoạt động thống kê kinh tế - xã hội;
b Đáp ứng nhu cầu tra cứu của người sử dụng và nhu cầu nghiên cứu của
đông đảo người sản xuất và sử dụng thông tin;
2 Nguyên tắc và yêu cầu của việc biên soạn từ điển
2.1 Nguyên tắc biên soạn từ điển thống kê
a Đảm bảo gọn, xúc tích rõ ràng: Biên soạn từ điển khác với biên soạn
sách giáo khoa, sách chuyên khảo hoặc tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn, vì vậy yêu cầu viết thật gọn là một trong những nội dung cần nhấn mạnh trong nguyên tắc biên soạn từ điển Từ điển là tài liệu tra cứu đặc biệt nên nguyên tắc gọn nhưng phải đảm bảo súc tích rõ ràng Mục đích và tâm lý của
1 V.G.Gak (Đại Bách khoa toàn thư Xô viết, xuất bản lần thứ 3
Trang 6người dùng từ điển nhằm đáp ứng yêu cầu hiểu biết một cách tổng quan nhưng không quá chuyên sâu một vấn đề, đồng thời không mất nhiều thời gian cho người tra cứu Gọn, súc tích rõ ràng là một nguyên tắc quan trọng khi biên soạn
từ điển thống kê vì đặc điểm của các thuật ngữ thường phản ánh luôn một chỉ tiêu thống kê kinh tế xã hội Nếu không xác định nguyên tắc này trong biên soạn dễ bị sa đà vào giải thích những nội dung liên quan tới sách chuyên khảo hoặc tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ
b Đảm bảo tính chuẩn hóa, không trùng lặp: Bất kỳ cuốn từ điển nào
đều phải đảm bảo tính chuẩn hóa và chính xác về lĩnh vực từ điển đó đề cập Trong nhiều trường hợp, cùng một thuật ngữ nhưng được giải thích với nội dung khác nhau do quan điểm và trình độ chuyên môn của người biên soạn từ điển
Đối với từ điển Thống kê, tính chuẩn hóa cần đảm bảo dựa trên chuẩn mực quốc
tế và tránh trùng lặp trong giải thích giữa các thuật ngữ hay chỉ tiêu có nội dung liên quan Nguyên tắc chuẩn hóa rất cần khi biên soạn từ điển thống kê hiện nay vì thống kê nước ta đang trong quá trình chuyển đổi phương pháp để phù hợp với xu thế chuyển đổi của nền kinh tế từ kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước
c Kết hợp hài hòa giữa chuẩn mực quốc tế với thực tiễn Việt Nam và
đảm bảo so sánh quốc tế: Chuẩn mực quốc tế là một trong những nguyên tắc
cần tuân thủ để đảm bảo so sánh quốc tế và tính thống nhất của các từ / thuật ngữ, đồng thời làm cơ sở để biên soạn phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê Giải thích các từ / thuật ngữ theo chuẩn mực quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra rất nhanh và sôi
động hiện nay
Mỗi đất nước có bản sắc văn hóa riêng, mỗi nền kinh tế có đặc trưng và trình độ phát triển ở các mức độ khác nhau, những vấn đề về lý luận thống kê cũng như hoạt động thống kê ở mỗi quốc gia đều phải tuân thủ những yêu cầu chung, song bao giờ cũng phải phù hợp với điều kiện thực tế ở mỗi nước Vì vậy mỗi từ / thuật ngữ phải giải thích theo chuẩn mực quốc tế kết hợp với những
ngôn ngữ và thực tiễn sinh động của đất nước Đảm bảo nguyên tắc kết hợp hài
hòa giữa chuẩn mực quốc tế với thực tiễn Việt Nam nhằm tránh việc rập khuôn
và sao nguyên bản nội dung giải thích về khái niệm, định nghĩa của quốc tế
d Đảm bảo tính thống nhất giữa các từ và thuật ngữ: Các chỉ tiêu
thống kê kinh tế-xã hội có mối liên hệ với nhau về khái niệm, định nghĩa và nội
Trang 7ngữ “Cán cân vãng lai” là một ví dụ, vì vậy khi giải thích khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ phải thống nhất giữa hai thuật ngữ này Nguyên tắc
đảm bảo tính thống nhất giữa các từ và thuật ngữ nhằm đảm bảo tính nhất quán
và xuyên suốt của cuốn từ điển Chẳng hạn nguyên tắc “Chờ phân bổ” là nguyên tắc hạch toán được dùng không chỉ trong thống kê tài khoản quốc gia
mà được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực của thống kê kinh tế, vì vậy khi giải thích nguyên tắc hạch toán trong khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cũng phải tuân thủ nguyên tắc này
e Các từ và thuật ngữ được sắp xếp theo từng lĩnh vực, chi tiết theo từng chuyên ngành, và trong từng chuyên ngành các từ, thuật ngữ được sắp xếp theo thứ tự A, B, C (Ví dụ: Lĩnh vực Thống kê kinh tế bao gồm: Thống kê Công nghiệp và Xây dựng; Thống kê Nông Lâm nghiệp và Thuỷ sản; Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả) Chi tiết theo từng chuyên ngành, (Ví dụ Thống
kê Công nghiệp và Xây dựng, phần Thống kê Công nghiệp để trước phần Thống
kê Xây dựng, tiếp theo là các từ và thuật ngữ thuộc phần thống kê công nghiệp
sẽ được sắp xếp theo thứ tự A, B, C, v.v…)
f Phạm vi biên soạn cuốn từ điển là các từ và thuật ngữ áp dụng trong thống kê kinh tế, thống kê xã hội, tin học và toán học ứng dụng trong thống kê Việt Nam (trên cơ sở danh mục từ và thuật ngữ) được Trưởng Ban Biên soạn Từ
- Nêu khái niệm, định nghĩa, giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ;
- Phương pháp tính tổng quát của một số chỉ tiêu thông dụng và quan
trọng;
- Đưa ví dụ minh họa đối với một số chỉ tiêu nếu phần định nghĩa và giải thích chưa rõ
- Khái niệm, định nghĩa và giải thích nội dung phải theo nghiệp vụ thống
kê Đối với các thuật ngữ, chỉ tiêu có thể mang nhiều nội dung thuộc các chuyên ngành khác nhau thì tập trung giải thích theo nội dung của thống kê là chính;
- Đối với một số khái niệm, thuật ngữ và chỉ tiêu có nhiều tên gọi, khi đó
Trang 8giống với nội dung giải thích của các chuyên ngành khác, khi đó lấy tên gọi của thống kê đồng thời ghi chú thêm các tên gọi khác;
- Chỉ lựa chọn các khái niệm, thuật ngữ và chỉ tiêu phổ biến, thông dụng mang đặc trưng của thống kê;
- Sau khi hoàn thành giải thích từng từ, cần chỉ rõ nguồn tài liệu tham khảo Ví dụ giải thích thuật ngữ sản lượng (nguồn: Mục 6.38 SNA 1993)
- Thuận tiện cho người sử dụng
3 Phương pháp biên soạn từ điển Thống kê
3.1 Tên của các từ/ thuật ngữ: Tên các từ / thuật ngữ đã đưa ra trong
bảng danh mục từ cần giải thích Tuy vậy, trong quá trình giải thích, nếu thấy tên đưa ra trong danh mục chưa chính xác, người giải thích có thể đề nghị sửa lại tên (chỉ đề nghị, không tự sửa)
3.2 Quy trình giải thích: Nhìn chung khó có thể đưa ra một khung
thống nhất quy định giải thích một từ/ thuật ngữ phải gồm những phần gì Quy trình giải thích khá linh hoạt, phụ thuộc vào từng từ/ thuật ngữ cụ thể Tuy nhiên, để đảm bảo tính nhất quán một từ/ thuật ngữ giải thích gồm các phần: (i) khái niệm / định nghĩa; (ii) Giải thích ý nghĩa của thuật ngữ; (iii) Một số quan
điểm xung quanh thuật ngữ; (iv) Phương pháp tính; (v) Ví dụ minh họa Tùy thuộc vào mỗi từ / thuật ngữ có thể phải thực hiện đầy đủ các phần nêu trên Có những từ / thuật ngữ chỉ cần nêu khái niệm, định nghĩa và giải thích ý nghĩa là
đủ Ngược lại có từ để hiểu được nội dung cần phải giải thích phương pháp tính
và đưa ra ví dụ minh họa
Việc tham khảo tài liệu tra cứu, các loại từ điển khác nhau về cùng một chủ đề là rất cần thiết để hiểu bản chất và các quan điểm khác nhau về cùng một khái niệm Mỗi từ điển, mỗi tài liệu tra cứu được viết trên các góc độ khác nhau vì vậy chúng bổ sung cho nhau, có thể tra cứu qua các ấn phẩm hoặc trên internet
Để minh họa cho quy trình biên soạn, chúng tôi đưa ra một số ví dụ cụ thể từ đơn giản đến phức tạp sau đây:
Ví dụ 1: Tỷ lệ hộ gia đình có đài (Radio) Giải thích thuật ngữ này gồm
hai ý: Đài là gì và tỷ lệ hộ gia đình có đài Cụ thể như sau:
Đài là một thiết bị có khả năng nhận tín hiệu của đài phát thanh, sử dụng
Trang 9các thiết bị khác như máy cát xét để nghe và ghi âm, đài có thể mang đi dược như đài bán dẫn sách tay, đài ở trên các xe ô tô, hoặc được lắp đặt tại một nơi trong ngôi nhà của họ
Tỷ lệ hộ có đài được tính bằng cách chia số hộ gia đình có đài cho tổng
số hộ gia đình
∗ Tỷ lệ người sử dụng internet (ở bất kỳ đâu) trong 12 tháng qua:
Tỷ lệ người sử dụng internet (ở bất kỳ đâu) trong 12 tháng qua được tính bằng cách chia tổng số người trong phạm vi nghiên cứu có sử dụng internet ở bất kỳ đâu trong 12 tháng qua cho tổng số người trong phạm vi nghiên cứu
Ví dụ 2: Giải thích thuật ngữ: “Lãi suất” - Đây là từ “đơn giản” chỉ cần
nêu định nghĩa; ý nghĩa của thuật ngữ; và một số quan điểm xung quanh thuật ngữ
Cụ thể giải thích thuật ngữ Lãi suất như sau Lãi suất là tỷ lệ của tổng số
tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định (Phần
định nghĩa) Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không
thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc chưa chi
tiêu khoản tiền họ cho vay (Phần ý nghĩa của thuật ngữ)
Có nhiều loại lãi suất như: lãi suất tiền vay; lãi suất tiền gửi; lãi suất tái
cấp vốn; lãi suất liên ngân hàng, v.v (Phần giải thích thêm)
John Maynard Keynes (1883-1946) lập luận rằng lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa Cung và Cầu về tiền Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh, cầu tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền
Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi suất là một hiện tượng thực tế, được xác định bởi áp lực của năng suất - cầu về vốn cho
mục đích đầu tư - và tiết kiệm (Hai khổ cuối là phần một số quan điểm xung quanh thuật ngữ )
Ví dụ 3: Giải thích thuật ngữ: “Lạm phát” - Đây là thuật ngữ phức tạp
hơn, bên cạnh đưa ra khái niệm, định nghĩa, ý nghĩa kinh tế, phương pháp tính còn phải so sánh hai phương pháp nếu hai phương pháp này không đồng nhất
Cụ thể giải thích thuật ngữ Lạm phát như sau
Trang 10Lạm phát: Chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ phần trăm tăng liên tục mặt bằng giá
chung của nền kinh tế theo thời gian (thường là tháng, quý, năm) (Phần định nghĩa)
• Có hai nét đặc trưng cần nhấn mạnh trong khái niệm lạm phát (Giải thích làm rõ thêm định nghĩa):
- Lạm phát là quá trình tăng giá trên cơ sở liên tiếp, không phải tăng giá một lần;
- Tăng mặt bằng giá chung của nền kinh tế, không phải tăng giá của một số loại hay một nhóm hàng hóa và dịch vụ cụ thể nào
• Các nhà kinh tế thường dùng hai chỉ tiêu để đánh giá lạm phát của nền kinh tế: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong
nước (Một số quan điểm xung quanh thuật ngữ và phương pháp tính)
- Chỉ số giá tiêu dùng biểu thị biến động về mức giá chung của một rổ hàng hóa và dịch vụ cố định dùng cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình (Xem công thức tính CPI trong phần chỉ số giá tiêu dùng)
- Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước biểu thị sự biến động về mặt bằng giá chung của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra trong lãnh thổ kinh tế của quốc gia Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước của năm t
được tính theo công thức sau:
GDPt theo giá thực tế ∑
=
n i
t i t
i Q P
1Chỉ số giảm
phát GDP của
năm t
= GDPt theo giá so sánh
x 100 =
∑
=
n i
t i
i Q P
1 0
Trang 11tiêu dùng chỉ phản ánh mức thay đổi giá của hàng hóa và dịch vụ do người tiêu dùng mua Thay đổi giá của hàng hóa và dịch vụ do Chính phủ và khối doanh nghiệp mua không biểu hiện trong chỉ số giá tiêu dùng;
- Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước chỉ bao gồm hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước, không bao gồm vật phẩm tiêu dùng nhập khẩu Thay đổi giá của vật phẩm tiêu dùng nhập khẩu không ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước nhưng lại ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng nếu chúng thuộc rổ hàng tính chỉ số giá tiêu dùng;
- Chỉ số giá tiêu dùng được tính trên rổ hàng hóa và dịch vụ có quyền số
cố định (dùng công thức Laspeyres), hàng hóa và dịch vụ của chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước thay đổi theo thời gian
• Do bản chất và kỹ thuật tính khác nhau nên chỉ số giá tiêu dùng và chỉ
số giảm phát tổng sản phẩm trong nước không bao giờ bằng nhau Sự khác biệt giữa hai loại chỉ số không lớn nếu lạm phát thấp và ổn định, nhưng có thể rất lớn nếu có thay đổi giá của những nhóm hàng hóa và dịch vụ chiếm quyền số lớn trong tính toán và có biến động lớn về giá hàng nhập khẩu so với giá hàng
hóa và dịch vụ sản xuất trong nước (So sánh hai phương pháp)
II Quá trình nghiên cứu và biên soạn Từ điển Thống kê
1 Quá trình hình thành danh mục từ / thuật ngữ
Danh mục các từ / thuật ngữ được hình thành trên cơ sở sau:
- Kết quả đề tài khoa học cấp Tổng cục về: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống từ chuẩn thống kê Việt Nam”3 Danh mục các thuật ngữ giải thích trong
đề tài này đã tham khảo cuốn Từ điển thống kê 1977;
- Danh mục các thuật ngữ đã giải thích trong cuốn: “Một số thuật ngữ thống kê thông dụng” xuất bản năm 2004;
- Danh mục các thuật ngữ thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia;
- Tham khảo Từ điển đối chiếu ba thứ tiếng để thống nhất tên gọi
Viện Khoa học Thống kê giúp Ban biên soạn từ điển thống kê đưa ra dự thảo danh mục các từ / thuật ngữ của từ điển và gửi danh mục dự thảo lần 1 cho các thành viên trong Tổ thường trực của Ban biên soạn từ điển thống kê rà soát, thêm, bớt Tổng số từ / thuật ngữ đưa ra trong dự thảo lần 1 khoảng 1606 từ / thuật ngữ (có 562 từ về tài khoản quốc gia của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế - OECD)
Trang 12
Trên cơ sở chỉ đạo của lãnh đạo Tổng cục, góp ý của các thành viên của
Tổ thường trực, Viện Khoa học thống kê đã chỉnh lý và ngày 12/7/2005 đã gửi bản dự thảo lần 2 với tổng số từ/ thuật ngữ khoảng 1620 để các thành viên trong
Tổ góp ý Số từ / thuật ngữ tăng lên do thêm phần thống kê tư pháp, tội phạm, thảm họa thiên tai
Tổ thường trực đã gửi danh mục các từ/ thuật ngữ theo chuyên ngành cho từng Vụ để lấy ý kiến góp ý, sau đó tổng hợp và đưa ra rà soát chi tiết từng từ / thuật ngữ của từng lĩnh vực trong Tổ thường trực Ban biên soạn và lãnh đạo các
Vụ trong Tổng cục đã có nhiều cuộc họp trao đổi và đề xuất danh mục các từ/thuật ngữ sẽ giải thích Kết quả của những cuộc họp là cơ sở để Trưởng ban Ban biên soạn từ điển thống kê đồng thời là Tổng cục trưởng Tổng cục Thống
kê quyết định danh mục từ/ thuật ngữ
2 Quá trình biên soạn
2.1 Giải thích từ /thuật ngữ: Danh mục từ / thuật ngữ được chia theo
từng lĩnh vực và giao cho các đơn vị có liên quan trong Tổng cục biên soạn, chẳng hạn như những từ/ thuật ngữ của phần công nghiệp và xây dựng giao cho
Vụ Thống kê công nghiệp và Xây dựng; từ/ thuật ngữ của phần thương mại, giá cả giao cho Vụ Thống kê Thương mại, dịch vụ và giá cả; từ/ thuật ngữ của phần tài khoản quốc gia giao cho Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia, v,v Sau khi các
Vụ biên soạn xong, trưởng các tiểu ban đọc, rà soát và biên tập lại với phân công cụ thể như sau: TS Đỗ Thức - Phó trưởng ban chịu trách nhiệm chung; PGS.TS Tăng Văn Khiên phụ trách phần lý thuyết thống kê và toán dùng trong thống kê; TS Trần Kim Đồng phụ trách phần thống kê kinh tế chuyên ngành (công nghiệp và xây dựng; nông, lâm nghiệp và thủy sản; thương mại giá cả); Ths Nguyễn Bích Lâm phụ trách phần thống kê kinh tế tổng hợp; CN Đào Ngọc Lâm phụ trách phần thống kê dân số lao động, xã hội và môi trường
Trong quá trình đọc, rà soát và biên tập trưởng các tiểu ban đã sửa và biên tập lại nhiều từ/thuật ngữ viết không rõ ràng Nhìn chung chất lượng viết của một số đơn vị không cao, với thời gian quá dài Trưởng các tiểu ban đã lọc ra những từ/ thuật ngữ viết không rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
đưa ra trao đổi trong Tổ thường trực của Ban biên soạn từ điển thống kê
Trang 132.2 Lấy ý kiến chuyên gia: Sau khi trưởng các tiểu ban đã rà soát, biên
tập xong, toàn bộ phần giải thích các từ / thuật ngữ được gửi cho các chuyên gia trong và ngoài ngành đọc, góp ý và sửa Có một số phần ý kiến chuyên gia khác biệt khá nhiều với nội dung biên soạn của các đơn vị và trưởng các tiểu ban như phần về thống kê xã hội, toán và tin học dùng trong thống kê
2.3 Đọc, sửa lại lần cuối: Sau khi đã có ý kiến của các chuyên gia,
trưởng các tiểu ban nghiên cứu và chỉnh sửa lại lần cuối nếu thấy những góp ý
và sửa chữa của chuyên gia là chính xác Kết thúc quá trình này cũng là sản phẩm cuối cùng của đề tài
III Kết luận và một số kiến nghị
1 KếT LUậN
Ban chủ nhiệm đề tài và cộng sự cũng là các thành viên trong Ban biên soạn từ điển thống kê đã hoàn thành mục tiêu và nội dung nghiên cứu trên cơ sở tham khảo và cập nhật các kiến thức mới về thống kê trong và ngoài nước, nội dung giải thích các từ và thuật ngữ được sử dụng theo các văn bản mang tính pháp quy của Nhà nước như: Luật thống kê, Luật đầu tư và các từ, thuật ngữ đã
được giải thích trong cuốn từ điển thuộc các chuyên ngành khác liên quan đến nghiệp vụ thống kê (ví dụ: Cuốn Từ điển toán kinh tế thống kê kinh tế lượng Anh - Việt; Từ điển Thống kê Việt - Pháp – Anh) với kết quả thực hiện, Ban Chủ nhiệm đề tài đã đưa ra bản giải thích của 1306 từ / thuật ngữ sau khi biên tập, sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện giải thích các từ/ thuật ngữ, bao gồm các lĩnh vực:
1 Những vấn đề chung về thống kê, bao gồm các phần: Lý thuyết thống kê; Tin học và toán học ứng dụng trong công tác thống kê;
2 Thống kê kinh tế, bao gồm các phần: Thống kê Công nghiệp và Xây dựng; Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản; Thống kê Thương mại, Dịch
Trang 14- Biên soạn từ điển là công việc phức tạp, đòi hỏi người biên soạn phải có kiến thức, có thời gian và tận tâm với công việc Quy trình biên soạn giao cho các đơn vị có liên quan với nghĩa “Mặt trận”, sau đó một số đơn vị chia cho chuyên viên biên soạn đã không đảm bảo chất lượng biên soạn Kiến nghị trong năm 2009, Tổng cục Thống kê nên lựa chọn một nhóm chuyên gia hay thành lập Ban chuyên trách để biên soạn từ điển thống kê trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Tổng cục đã được nghiệm thu chính thức (ngày 25/12/2008) và giao cho Viện Khoa học Thống kê (chủ trì) giúp lãnh đạo Tổng cục triển khai hoạt động này
- Để hoàn thiện cuốn từ điển Thống kê Việt Nam có tính khả thi và “thời
gian sử dụng lâu dài“, đề nghị Ban chuyên trách biên soạn từ điển thống kê cập
nhật thêm các từ và thuật ngữ mới liên quan đén công tác thống kê (Ví dụ: Thống kê phi chính thức; xuất khẩu lao động; v.v )
- Trong quá trình hoạt động của Ban chuyên trách biên soạn từ điển thống
kê nên tận dụng những chuyên gia có trình độ chuyên môn sâu trong từng lĩnh vực trong và ngoài ngành rà soát lại phần giải thích của từng từ và thuật ngữ
ii Thời gian thực hiện: năm 2009 (tháng 1 – 12/2009)
iii Kinh phí thực hiện: Đề nghị lấy kinh phí từ 2 nguồn, (i) Kinh phí Tổng cục Thống kê và (ii) Kinh phí Viện Khoa học Thống kê (trong khoản mục: Triển khai thực tế kết quả nghiên cứu các đề tài, nhiệm vụ KH&CN khác)
iv Sau khi biên soạn và phát hành cuốn từ điển thống kê, Tổng cục nên giao cho Viện Khoa học Thống kê chịu trách nhiệm tiếp thu ý kiến góp ý của
đông đảo người sử dụng để Tổng cục hoàn thiện trong những lần biên soạn sau
Trang 15PhÇn I
Lý thuyÕt thèng kª
Trang 16DANH MỤC THUẬT NGỮ LÝ THUYẾT THỐNG KÊ
Trang 1733 Đơn vị điều tra
34 Đối tượng điều tra
35 Địa bàn điều tra
36 Phương án điều tra thống kê
37 Thời điểm điều tra
38 Thời kỳ điều tra
39 Điều tra thử
40 Phúc tra
41 Điều tra toàn bộ
42 Tổng điều tra
43 Điều tra không toàn bộ
44 Điều tra chuyên đề
45 Điều tra trọng điểm
46 Điều tra chọn mẫu
47 Chương trình điều tra thống kê quốc gia
66 Chọn mẫu chùm (Chọn mẫu cả khối)
67 Sai số trong điều tra thống kê
Trang 1868 Sai số phi chọn mẫu
83 Danh mục hàng hoá và dịch vụ XNK
84 Danh mục các thành phần kinh tế
85 Danh mục nghề nghiệp
86 Danh mục chi tiêu theo mục đích chi của hộ gia đình
87 Danh mục chi tiêu theo mục đích chi của các đơn vị sản xuất
88 Danh mục giáo dục, đào tạo
Trang 19116 Khoảng biến thiên
117 Độ lệch tuyệt đối bình quân
128 Dãy số biến động theo thời gian (còn gọi là dãy số động thái)
129 Số bình quân theo thời gian
135 Phương trình hồi quy theo thời gian
136 Đặc điểm biến động thời vụ
137 Chỉ số thời vụ
Trang 20159 Liªn hÖ t−¬ng quan theo kh«ng gian
160 Liªn hÖ t−¬ng quan theo thêi gian
161 Liªn hÖ t−¬ng quan gi÷a hai tiªu thøc
162 Liªn hÖ t−¬ng quan gi÷a nhiÒu tiªu thøc
Trang 21173 Phân tích tương quan giữa 2 tiêu thức theo thời gian
174 Hệ số tương quan đơn theo thời gian
175 Dự báo thống kê
176 Dự báo dựa vào lượng tăng tuyệt đối bình quân
177 Dự báo dựa vào tốc độ phát triển bình quân
178 Dự báo bằng phương trình hồi quy
179 Dự báo theo phương pháp phân tích chuyên gia
180 Sai số mô hình
181 Sai số dự báo
182 Hàm logistic
Trang 22c đó có thu nhập cao hay thấp, mà phải trên cơ sở thu nhập bình quân tính
từ số liệu của nhiều hộ gia đình (nhiều ở đây là đảm bảo đủ lớn) thì mới có thể kết luận được thu nhập của hộ gia đình ở khu vực đó cao hay thấp
- Các hiện tượng và quá trình được nghiên cứu phải gắn với thời gian và không gian cụ thể
2 Thống kê kinh tế-xã hội là khoa học về hệ thống các phương pháp
nhằm nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế-xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể
Khi nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế-xã hội, thống kê học vận dụng các khái niệm, các phạm trù và các quy luật của chủ nghĩa duy vật lịch sử và kinh tế chính trị học
Trên quan điểm duy vật biện chứng, thống kê học nghiên cứu các hiện tượng kinh tế-xã hội không chỉ trong trạng thái tĩnh mà nghiên cứu cả quá trình vận động của chúng và mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau Các phương pháp và chỉ tiêu thống kê thể hiện các phạm trù của phép biện chứng duy vật như: quy luật lượng và chất, quy luật ngẫu nhiên và tất nhiên, nguyên nhân và kết quả,v.v trong đời sống xã hội
3 Hạch toán là việc ghi chép, tính toán một cách có hệ thống các hiện
tượng và quá trình kinh tế xã hội nhằm phục vụ công tác quản lý kinh tế, quản
Trang 23Xét về mặt phương pháp và mục đích phục vụ trực tiếp có hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, hạch toán kế toán và hạch toán thống kê
Hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật là việc ghi chép từng hoạt động có liên quan đến nghiệp vụ kỹ thuật bằng các phương pháp ghi báo trực tiếp, tổng hợp
đơn giản Tài liệu của hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật được tổng hợp và truyền đạt nhanh chóng để phục vụ kịp thời cho sự giám sát thường xuyên và trực tiếp của công tác chỉ đạo nghiệp vụ tại cơ sở và của các cơ quan cấp trên
Hạch toán kế toán là việc ghi chép một cách liên tục hiện tượng và sự biến động của các loại vốn và các nguồn vốn kinh doanh trên cơ sở chứng từ, sổ sách Hạch toán kế toán dùng các phương pháp như phương pháp ghi sổ kép, phương pháp tài khoản, phương pháp tổng kết tài sản,v.v để thu thập và tổng hợp số liệu phục vụ cho việc giám sát bằng đồng tiền quá trình sản xuất, kinh doanh, thực hiện kế hoạch Nhà nước, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và thực hành chế độ hạch toán kinh tế
Hạch toán thống kê là việc ghi chép và tính toán một cách tổng hợp các hiện tượng và quá trình kinh tế-xã hội số lớn Thống kê dùng các phương pháp như phương pháp phân tổ, lập các dãy số biến động, tính toán các chỉ tiêu tuyệt
đối, tương đối, bình quân,v.v phục vụ cho công tác lập và kiểm tra các kế hoạch dài hạn và hàng năm, công tác nghiên cứu kinh tế, lãnh đạo và chỉ đạo sản xuất, kinh doanh
4 Hoạt động thống kê là điều tra, báo cáo, phân tích và công bố các thông
tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội trong
điều kiện, địa điểm và thời gian cụ thể do tổ chức thông kê nhà nước tiến hành
5 Phổ biến thông tin thống kê là hoạt động nhằm truyền tải thông tin thống kê đã được tổng hợp, phân tích và dự báo đến với người sử dụng thông tin theo nhiều hình thức khác nhau
6 Công bố thông tin thống kê là một hình thức phổ biến công khai
thông tin thống kê của các cơ quan thống kê có thẩm quyền đã được thu thập, tổng hợp, phân tích và dự báo thống kê
7 Quản lý nhà nước về thống kê là việc chỉ đạo thực hiện chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch phát triển công tác thống kê, hệ thống chỉ tiêu và chương trình điều tra thống kê quốc gia; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thống kê; phổ biến, giáo dục pháp luật về thống kê; quản lý
Trang 24và công bố thông tin thống kê; xây dựng tổ chức thống kê, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thống kê; tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động thống kê; hợp tác quốc tế về thống kê; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về thống kê
8 Tổ chức thống kê Nhà nước là hệ thống các cơ quan trực thuộc bộ
máy nhà nước có chức năng quản lý các hoạt động thống kê bao gồm hệ thống thống kê tập trung và hệ thống thống kê bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao
9 Hệ thống tổ chức thống kê tập trung là hệ thống thống kê hành
chính được tổ chức theo ngành dọc gồm cơ quan thống kê trung ương và các cơ quan thống kê cấp tỉnh, thành phố; các cơ quan thống kê cấp quận, huyện, thị xã
và được quản lý tập trung theo quy định của Nhà nước
10 Số liệu thống kê là các thông tin bằng số về các hiện tượng và quá
trình kinh tế xã hội diễn ra trong phạm vi thời gian và không gian cụ thể Số liệu thống kê có được qua việc tổ chức thu thập, tổng hợp, phân tích và dự báo thống
kê
Số liệu thống kê bao gồm:
- Số liệu thống kê do các cơ quan, tổ chức thống kê nhà nước thu thập, tổng hợp và công bố theo quyền hạn được phân công, phân cấp thực hiện
- Số liệu thống kê do các đơn vị, tổ chức, cá nhân thu thập, tổng hợp phục
vụ cho những mục đích nghiên cứu riêng
11 Số liệu thống kê nhà nước Số liệu thống kê do các cơ quan, tổ chức
thống kê Nhà nước tiến hành thu thập, tổng hợp, cung cấp và quản lý theo quy
định của Luật Thống kê
12 Chất lượng số liệu thống kê được hiểu là mức độ đáp ứng các yêu
cầu: chính xác, kịp thời và đầy đủ số liệu thống kê
- Chính xác là phản ánh trung thực, khách quan tình hình thực tế đảm bảo
độ tin cậy cần thiết
- Kịp thời là cung cấp thông tin đúng lúc mà đối tượng sử dụng cần
- Đầy đủ được hiểu là đủ về nội dung và đúng phạm vi nghiên cứu
Trang 2513 Số liệu thống kê chính thức là số liệu thống kê được tổng hợp trên
cơ sở những thông tin thu thập được về các hiện tượng đã diễn ra và kết thúc trong phạm vi thời gian và không gian nhất định Số liệu thống kê chính thức là
số liệu cuối cùng và một hiện tượng chỉ có một số liệu chính thức
14 Số liệu thống kê ước tính là số liệu thống kê phản ánh hiện tượng
chưa kết thúc trong đó có một phần thông tin chính thức của hiện tượng thuộc phạm vi thời gian diễn ra đã kết thúc và một phần thông tin dự đoán của hiện tượng thuộc phạm vi thời gian chưa kết thúc (đang hoặc sẽ diễn ra)
15 Số liệu thống kê sơ bộ là số liệu thống kê được tổng hợp trên cơ sở
những thông tin về các hiện tượng đã diễn ra và đã kết thúc nhưng chưa có đầy
đủ số liệu theo không gian
16 Tổng thể thống kê là tập hợp số lớn các đơn vị hoặc phần tử cá biệt
cấu thành nên trong không gian cần quan sát về mặt lượng của chúng; các đơn
vị hoặc phần tử cá biệt này được gọi là đơn vị tổng thể
Xác định tổng thể thống kê là xác định phạm vi nghiên cứu và nó phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu
Căn cứ vào khả năng nhận biết tổng thể, người ta chia thành hai loại: tổng thể bộc lộ và tổng thể tiềm ẩn:
- Tổng thể bộc lộ là tổng thể có ranh giới rõ ràng, trong đó các đơn vị
tổng thể được biểu hiện cụ thể, và có thể xác định được Chẳng hạn, khi nghiên cứu nhân khẩu học ở một địa phương thì tổng số người của địa phương đó là tổng thể bộc lộ
- Tổng thể tiềm ẩn là tổng thể có ranh giới không rõ ràng trong đó các đơn
vị tổng thể không thể xác định được hết Chẳng hạn, khi nghiên cứu nhu cầu của
người đi bằng đường hàng không thì tổng thể những người sẽ đi theo đường hàng không là tổng thể tiềm ẩn
17 Đơn vị tổng thể là đơn vị hoặc phần tử cá biệt hình thành nên tổng
thể thống kê Chẳng hạn, khi nghiên cứu nhân khẩu học ở một địa phương thì tổng số người của địa phương đó là tổng thể, trong đó mỗi người là một đơn vị tổng thể
18 Đơn vị thống kê là đơn vị được xác định để tiến hành thu thập thông
tin thống kê Căn cứ theo hình thức thu thập thông tin là báo cáo thống kê định
Trang 26kỳ hay điều tra thống kê mà đơn vị thống kê được xác định là đơn vị báo cáo hoặc đơn vị điều tra
19 Tiêu thức thống kê là đặc điểm của đơn vị tổng thể được chọn làm
cơ sở để nghiên cứu thống kê Ví dụ: khi nghiên cứu về nhân khẩu học, các đặc
điểm về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn,v.v của người dân được
gọi là các tiêu thức thống kê
Theo hình thức biểu hiện, có tiêu thức số lượng và tiêu thức thuộc tính:
- Tiêu thức số lượng là tiêu thức có các biểu hiện trực tiếp bằng số như:
độ tuổi, mức năng suất lao động, tiền lương bình quân của công nhân; mức thu nhập của hộ gia đình v.v
- Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức không có biểu hiện trực tiếp bằng số như: nghề nghiệp, dân tộc, giới tính, tình trạng hôn nhân,v.v
Theo mục đích nghiên cứu, có tiêu thức chủ yếu và tiêu thức thứ yếu:
- Tiêu thức chủ yếu là tiêu thức trực tiếp phản ánh nội dung cơ bản cần nghiên cứu
- Tiêu thức thứ yếu là tiêu thức không trực tiếp phản ánh nội dung cơ bản cần nghiên cứu
Theo quan hệ nhân quả, có tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả:
- Tiêu thức nguyên nhân là tiêu thức mà sự thay đổi của nó ảnh hưởng
đến sự biến động của tiêu thức khác trong mối quan hệ đang nghiên cứu
- Tiêu thức kết quả là tiêu thức mà sự biến động của nó phụ thuộc vào sự thay đổi của tiêu thức nguyên nhân trong nghiên cứu
Ví dụ: khi nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất lao động và tiền lương thì năng suất lao động là tiêu thức nguyên nhân, còn tiền lương là tiêu thức kết quả
Tiêu thức thống kê chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên một đơn vị tổng thể gọi là tiêu thức thay phiên
Ghi chú: Trong từ điển Toán - Điều khiển học sử dụng thuật ngữ "dấu hiệu" và trong nhiều lĩnh vực khác đã sử dụng thuật ngữ "tiêu chí" đều có nội dung giống như tiêu thức
Trang 2720 Thông tin thống kê Thông tin thống kê là sản phẩm của hoạt động
thống kê, bao gồm số liệu thống kê và bản phân tích các số liệu đó
21 Hệ thống thông tin thống kê là tập hợp nhiều loại thông tin thống kê
khác nhau, có quan hệ với nhau và được tổ chức thành hệ thống theo những nguyên tắc nào đó
22 Sản phẩm thống kê là kết quả hoạt động thống kê được thể hiện
bằng các tập số liệu, biên soạn thành các bản báo cáo hoặc chuyên đề phân tích, các cuốn sách, để cung cấp, công bố theo các hình thức khác nhau phục vụ cho yêu cầu của các đối tượng sử dụng
23 Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số, phản ánh qui mô,
tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế-xã hội trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể
Chỉ tiêu thống kê được biểu hiện bằng những trị số cụ thể, khác nhau tùy theo điều kiện thời gian và không gian, đơn vị đo lường và phương pháp tính đã quy định Ví dụ: tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế năm 2002 là
536098 tỷ đồng; sản lượng lương thực có hạt cả nước năm 2002 là 36378 nghìn tấn,…
Theo nội dung phản ánh, có chỉ tiêu khối lượng và chỉ tiêu chất lượng
- Chỉ tiêu khối lượng phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu;
- Chỉ tiêu chất lượng phản ánh các đặc điểm về mặt chất của hiện tượng nghiên cứu
Tuy nhiên sự phân biệt giữa hai loại chỉ tiêu trên đây chỉ có ý nghĩa tương
đối
Theo hình thức biểu hiện, có chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị:
- Chỉ tiêu hiện vật biểu hiện bằng đơn vị đo lường tự nhiên, ví dụ: số lượng máy móc tính bằng cái, sản lượng lương thực tính bằng tấn, hoặc đơn vị
đo lường quy ước như: vải tính bằng mét vuông, nước mắm tính bằng lít quy theo độ đạm chuẩn, xà phòng tính bằng tỷ lệ chất béo, than tính bằng hàm lượng calo,v.v
Trang 28- Chỉ tiêu giá trị biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ, ví dụ: giá trị sản xuất công nghiệp, doanh thu tiêu thụ sản phẩm tính bằng đồng Việt Nam (nghìn đồng, triệu đồng, ); kim ngạch xuất, nhập khẩu tính bằng Đôla Mỹ
Theo đặc điểm về thời gian, có chỉ tiêu thời điểm và chỉ tiêu thời kỳ:
- Chỉ tiêu thời điểm phản ánh quy mô, tính chất, tỷ lệ, của hiện tượng tại một thời điểm xác định
- Chỉ tiêu thời kỳ phản ánh quy mô, tính chất, tỷ lệ, của hiện tượng tại một thời kỳ xác định
- Chỉ tiêu thời kỳ có quy mô phụ thuộc vào độ dài thời gian nghiên cứu
24 Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số, phản ánh
qui mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế-xã hội trong
điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể
Trong thống kê kinh tế-xã hội có nhiều loại hệ thống chỉ tiêu thống kê: hệ thống chỉ tiêu thống kê của từng ngành, từng lĩnh vực và hệ thống chỉ tiêu thống
kê chung của toàn nền kinh tế quốc dân hoặc chung cho nhiều lĩnh vực,v.v hệ thống chỉ tiêu thống kê chung cho toàn nền kinh tế quốc dân hoặc chung cho nhiều lĩnh vực là những hệ thống chỉ tiêu rộng hơn, đầy đủ hơn, phản ánh một cách toàn diện về các mặt sản xuất, dịch vụ, đời sống văn hóa, xã hội
25 Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là hệ thống chỉ tiêu thống kê
chung của toàn nền kinh tế quốc dân nhưng bao gồm những chỉ tiêu chủ yếu nhất phản ánh tình hình, xu thế phát triển, những mặt cân đối lớn, những quan
hệ chủ yếu của nền kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là căn cứ để xây dựng chiến lược, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội, phục vụ cho yêu cầu quản
lý vĩ mô của Nhà nước
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia còn là cơ sở để phân công, phân cấp thu thập, tổng hợp, cung cấp và công bố số liệu thống kê
26 Chế độ báo cáo thống kê là văn bản được ban hành bởi cơ quan có
thẩm quyền của Nhà nước yêu cầu các đơn vị phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê Chế độ báo cáo thống kê bao gồm:
- Các quy định về quyền lập và ban hành biểu mẫu báo cáo;
Trang 29- Các quy định về hình thức biểu mẫu và giải thích biểu mẫu báo cáo bao gồm: nội dung, phạm vi, phương pháp tính các chỉ tiêu báo cáo, danh mục các loại sản phẩm, hàng hoá vật tư,… ghi trong báo cáo;
- Các quy định về việc thực hiện chế độ báo cáo, đơn vị báo cáo, thời hạn báo cáo, đơn vị nhận báo cáo,…
Chế độ báo cáo thống kê hiện hành nước ta gồm: chế độ báo cáo thống kê cơ sở và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp
27 Chế độ báo cáo thống kê cơ sở là chế độ báo cáo dành cho các đơn
vị cơ sở trong đó bao gồm các doanh nghiệp nhà nước có hạch toán độc lập, đơn
vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp có sử dụng ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,… lập từ số liệu ghi chép ban đầu theo hệ thống biểu mẫu thống nhất và báo cáo cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên (quy định trong chế độ báo cáo);
28 Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp là chế độ báo cáo dành cho các
đơn vị thống kê các cấp bao gồm phòng thống kê quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh; thống kê các sở ngành của tỉnh, thành phố; cục thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và thống kê bộ, ngành lập từ số liệu đã được tổng hợp qua chế độ báo cáo thống kê cơ sở, từ kết quả các cuộc điều tra thống
kê hoặc từ các nguồn thông tin khác theo hệ thống biểu tổng hợp thống nhất để phục vụ cho yêu cầu quản lý từng cấp và tổng hợp số liệu thống kê ở cấp cao hơn (quy định trong chế độ báo cáo)
29 Biểu mẫu báo cáo thống kê là một loại bảng có nội dung được quy
định thống nhất để các đơn vị báo cáo ghi các số liệu thống kê cùng những chi tiết khác và báo cáo lên cấp trên
Biểu mẫu báo cáo thống kê có các chi tiết sau: tên và số hiệu biểu báo cáo, cơ quan lập và ban hành, ngày tháng của quyết định phê chuẩn biểu, thời hạn và phương thức gửi báo cáo, tên đơn vị báo cáo, tên đơn vị nhận báo cáo, các chỉ tiêu báo cáo, tên và chức vụ những người chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo
Trang 30Các biểu báo cáo thống kê được quy định trong chế độ báo cáo thống kê Biểu mẫu báo cáo lập và ban hành không đúng chế độ quy định phải coi là không hợp lệ
30 Chứng từ ban đầu là loại chứng từ được quy định theo chế độ để ghi
chép lần đầu tiên các hiện tượng kinh tế-xã hội phát sinh, nhằm phục vụ yêu cầu của các loại hạch toán (hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ) và yêu cầu quản lý kinh tế
31 Hồ sơ hành chính gồm những chứng từ, sổ theo dõi hoặc lưu trữ và
các báo cáo hành chính được thực hiện một cách thường xuyên; có hệ thống nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý hành chính và các yêu cầu khác
32 Điều tra thống kê là hình thức tổ chức thu thập thông tin thống kê
được tiến hành theo phương án điều tra, quy định rõ nội dung, phương pháp và
kế hoạch quy định riêng cho mỗi cuộc điều tra Đối tượng chủ yếu của điều tra thống kê là những hiện tượng không thể hoặc không cần thiết phải thực hiện theo chế độ báo cáo thống kê
Điều tra thống kê có thể tiến hành trong phạm vi cả nước hoặc trong phạm vi từng địa phương, có thể thu thập tài liệu về toàn bộ đối tượng điều tra (điều tra toàn bộ) hay một bộ phận của đối tượng đó (điều tra không toàn bộ) Nội dung của điều tra thống kê đề cập đến một hoặc nhiều chủ đề Cách tiếp cận tài liệu ban đầu trong điều tra có thể là đăng ký trực tiếp, phỏng vấn, hoặc dựa vào các tài liệu đã được ghi chép sẵn
Theo phạm vi thu thập số liệu điều tra thống kê được chia thành điều tra toàn
bộ và điều tra không toàn bộ
33 Đơn vị điều tra là đơn vị thuộc tổng thể nghiên cứu, mà ở đó tiến
hành thu thập các tài liệu, thông tin cần thiết ghi trong phiếu điều tra Ví dụ: trong cuộc điều tra mức sống dân cư, mỗi hộ gia đình được chọn ra để điều tra
là một đơn vị điều tra Thông tin thu được ở mỗi hộ gia đình sẽ được ghi vào phiếu điều tra
34 Đối tượng điều tra là đơn vị thuộc tổng thể nghiên cứu chứa đựng
các nội dung thông tin cần được tiếp cận để điều tra thu thập Cùng một hiện tượng nhưng mục đích điều tra khác nhau với cách tiếp cận thông tin khác nhau
sẽ có đối tượng điều tra khác nhau Xác định đúng đắn đối tượng điều tra sẽ
Trang 31các hiện tượng đó với các hiện tượng khác, tránh được tình trạng bỏ sót đơn vị hoặc điều tra không đúng đối tượng Ví dụ: đối tượng điều tra trong cuộc Tổng
điều tra dân số năm 1999 là nhân khẩu thường trú trong phạm vi cả nước vào 0 giờ ngày 1-4-1999
35 Địa bàn điều tra là một đơn vị địa danh mang tính chất quy ước tập
hợp các đơn vị điều tra ở liền kề nhau, thống nhất với nhau theo một số tiêu thức nào đó và được xác định rõ ràng, có ranh giới địa lý nhằm phục vụ trực tiếp cho việc đăng ký, tổ chức thu thập số liệu điều tra thống kê
36 Phương án điều tra thống kê Một loại văn bản được xây dựng trước
khi tiến hành điều tra quy định rõ cho từng cuộc điều tra về những vấn đề cần giải quyết hoặc cần hiểu thống nhất trước, trong và sau khi tiến hành điều tra Nội dung phương án điều tra thay đổi tùy theo mỗi cuộc điều tra, nhưng thường
có những vấn đề cơ bản sau:
- Xác định mục đích, yêu cầu điều tra;
- Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra;
- Xác định nội dung điều tra;
- Xác định thời điểm, thời gian điều tra;
- Quy định phương pháp điều tra, lược đồ điều tra, lược đồ chọn mẫu (nếu
là điều tra chọn mẫu);
- Quy định biểu mẫu điều tra và bản giải thích cách ghi chép cho từng biểu;
- Quy định thời gian tiến hành; phương thức tổ chức; phương pháp tổng hợp, phân tích và công bố kết quả điều tra,v.v…
37 Thời điểm điều tra là mốc thời gian được quy định để đăng ký thống
nhất toàn bộ các đơn vị được điều tra Quy định thời điểm điều tra vào lúc nào, tức là muốn nghiên cứu trạng thái của hiện tượng ở chính lúc đó, những biến
động xảy ra trước và sau thời điểm điều tra không được đăng ký
Thời điểm điều tra phải được xác định thích hợp với tính chất của mỗi loại hiện tượng, đồng thời thuận tiện cho việc tiến hành ghi chép số liệu (thường
được chọn vào lúc hiện tượng ít biến động nhất) Ví dụ: trong cuộc Tổng điều tra năm 1999, thời điểm điều tra được chọn là 0 giờ ngày 1-4
Trang 3238 Thời kỳ điều tra là khoảng cách và niên hạn thời gian được lựa chọn
để xác định phạm vi thu thập số liệu đối với các chỉ tiêu thời kỳ Ví dụ: điều tra kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2004, thì các chỉ tiêu tính trên phạm vi cả 12 tháng của năm 2004
39 Điều tra thử là hình thức điều tra thống kê chỉ tiến hành ở một số
đơn vị của tổng thể để rút kinh nghiệm nhằm sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện nội dung thông tin điều tra, xác định khả năng và điều kiện tổ chức thực hiện cuộc
điều tra
40 Phúc tra là tổ chức điều tra kiểm tra lại mức độ chính xác về thông
tin thu thập qua cuộc điều tra đã thực hiện nhưng không phải ở toàn bộ mà chỉ
là một số ít trong số các đơn vị đã điều tra Kết quả thu được dùng để đánh giá mức độ sai số phi chọn mẫu hoặc dùng để điều chỉnh số liệu chung của cuộc
điều tra (nếu cần thiết)
41 Điều tra toàn bộ là tiến hành thu thập số liệu thống kê trên tất cả các
đơn vị của tổng thể nghiên cứu Ví dụ: điều tra toàn bộ các doanh nghiệp quốc doanh của Hà Nội về chỉ tiêu giá trị sản xuất là tiến hành thu thập số liệu về chỉ tiêu này của tất cả các doanh nghiệp quốc doanh do thành phố Hà Nội quản lý
42 Tổng điều tra là loại điều tra toàn bộ có quy mô lớn, tiến hành trên
phạm vi cả nước và liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như tổng điều tra dân số và nhà ở; tổng điều tra nông nghiệp và nông thôn; tổng điều tra các đơn
vị kinh tế, hành chính và sự nghiệp Nội dung tổng điều tra bao gồm các chỉ tiêu thống kê quan trọng nhất mang tính chất chiến lược phục vụ cho việc hoạch
định các chính sách phát triển kinh tế xã hội tầm vĩ mô Tổng điều tra thống kê
do Thủ tướng Chính phủ quyết định với chu kỳ 5 năm hoặc 10 năm một lần
43 Điều tra không toàn bộ chỉ tiến hành thu thập số liệu ở một số đơn
vị nhất định trong tổng thể nghiên cứu Ví dụ: trong lớp có 50 học sinh, ta chọn
ra một số em nào đó để thu thập thông tin về một hay một só tiêu thức nào đó
Điều tra không toàn bộ có điều tra trọng điểm, điều tra chuyên đề và điều tra chọn mẫu
44 Điều tra chuyên đề là một loại điều tra không toàn bộ, trong đó chỉ
tiến hành thu thập số liệu ở một số ít đơn vị (thậm chí chỉ một đơn vị) thuộc đối tượng điều tra, nhưng đi sâu nghiên cứu chi tiết nhiều khía cạnh khác nhau của
đơn vị điều tra nhằm phục vụ cho yêu cầu riêng ở phạm vi hẹp như: điều tra
Trang 33cung cấp thông tin cho nghiên cứu khoa học; cho yêu cầu tiếp thị,v.v Kết quả
điều tra chuyên đề không được dùng để tính toán suy rộng cho tổng thể nghiên cứu
45 Điều tra trọng điểm là một loại điều tra không toàn bộ, trong đó chỉ
tiến hành thu thập tài liệu ở bộ phận chiếm tỷ trọng lớn có đặc điểm nổi trội nhất xét theo tiêu thức điều tra trong tổng thể chung nhằm nghiên cứu tính chất
điển hình của hiện tượng Ví dụ: điều tra năng suất lúa ở một tỉnh có năng suất lúa cao ở nước ta nhằm nghiên cứu tính chất điển hình về khả năng thâm canh tăng năng suất lúa ở một tỉnh trọng điểm (xét trên góc độ cả nước)
Cũng như điều tra chuyên đề kết quả của điều tra trọng điểm, không được
dùng để tính toán suy rộng cho toàn bộ tổng thể
46 Điều tra chọn mẫu là một loại điều tra không toàn bộ, trong đó chỉ
chọn ra một số đơn vị theo những nguyên tắc nhất định đủ để đảm bảo tính đại diện cho tổng thể chung (gọi là đơn vị mẫu) để tiến hành điều tra Thông tin thu
được dùng để tính và suy rộng cho toàn bộ tổng thể chung Ví dụ: khi điều tra mức sống dân cư ở một địa phương chỉ chọn ra một số hộ gia đình đại diện để thu thập số liệu, sau đó dùng thông tin thu được từ các hộ gia đình được chọn
điều tra để suy rộng cho toàn bộ hộ gia đình thuộc địa phương
Điều tra chọn mẫu có những ưu điểm cơ bản sau:
- Tiến hành nhanh gọn, bảo đảm tính kịp thời của số liệu thống kê
- Tiết kiệm nhân lực và kinh phí trong quá trình điều tra
- Có điều kiện mở rộng nội dung điều tra, thu được nhiều thông tin thống
kê, nhờ đó kết quả điều tra sẽ phản ánh được nhiều mặt, cho phép nghiên cứu các mối quan hệ cần thiết của hiện tượng nghiên cứu
- Giảm sai số phi chọn mẫu (sai số do cân, đong, đo, đếm, khai báo, ghi chép,v.v ) vì chỉ điều tra ít đơn vị nên khi tiền hành điều tra chọn mẫu sẽ có
điều kiện tuyển chọn điều tra viên tốt hơn; hướng dẫn nghiệp vụ kỹ hơn, thời gian dành cho một đơn vị điều tra nhiều hơn, tạo điều kiện cho các đối tượng cung cấp thông tin trả lời chính xác hơn
Điều tra chọn mẫu được vận dụng trong các trường hợp sau đây:
Trang 34- Thay thế cho điều tra toàn bộ trong những trường hợp quy mô điều tra lớn, nội dung điều tra cần thu thập nhiều chỉ tiêu, thực tế không đủ kinh phí và nhân lực để tiến hành điều tra toàn bộ
- Quá trình điều tra gắn liền với việc phá hủy sản phẩm như điều tra đánh giá chất lượng thịt hộp, cá hộp, đánh giá chất lượng đạn dược,…
- Thu thập những thông tin tiên nghiệm trong những trường hợp cần thiết nhằm phục vụ cho yêu cầu của điều tra toàn bộ Ví dụ: để thăm dò mức độ tín nhiệm của các ứng cử viên vào một chức vụ nào đó (bỏ phiếu bầu chính thức chính là điều tra toàn bộ)
- Thu thập số liệu để kiểm tra, đánh giá và chỉnh lý số liệu của điều tra toàn bộ Trong thực tế, điều tra toàn bộ thường có sai số do khai báo, ghi chép, nên ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng số liệu Điều tra chọn mẫu với quy mô nhỏ hơn để xác định mức độ sai số này, trên cơ sở đó tiến hành đánh giá độ tin cậy của số liệu và nếu ở mức độ cần thiết có thể phải chỉnh lý lại số liệu thu
được từ điều tra toàn bộ
47 Chương trình điều tra thống kê quốc gia là tập hợp các cuộc điều
tra thống kê khác nhau được Tổng cục Thống kê lập kế hoạch và trình Chính phủ duyệt đảm bảo thống nhất về mặt nội dung (thông tin thu thập và thời gian thực hiện với sự phân công đảm nhận giữa các ngành, các cấp một cách khoa học, không chồng chéo, không bỏ sót) nhằm đảm bảo có đủ những thông tin thống kê cần thiết phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô của Nhà nước và yêu cầu
so sánh quốc tế
48 Tổng thể chung là toàn bộ các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu
của một cuộc điều tra được xác định Ví dụ: khi tiến hành điều tra mức sống hộ gia đình ở một địa phương thì toàn bộ các hộ gia đình trong địa phương đó tạo thành tổng thể chung; khi tiến hành điều tra kết quả sản xuất của các doanh nghiệp thì toàn bộ các doanh nghiệp tạo thành tổng thể chung
49 Tổng thể mẫu là một bộ phận đơn vị của tổng thể chung được chọn
để trực tiếp thu thập thông tin cho cuộc điều tra chọn mẫu Ví dụ: trong điều tra mức sống hộ gia đình ở một địa phương thì các hộ gia đình được chọn ra từ tổng
số hộ gia đình của địa phương để tiến hành thu thập thông tin tạo thành tổng thể mẫu Tổng thể mẫu thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng thể chung
Trang 3550 Đơn vị mẫu là đơn vị của tổng thể chung được chọn để điều tra thực
tế Tập hợp các đơn vị mẫu thành tổng thể mẫu
51 Dàn chọn mẫu là danh sách tất cả các đơn vị của tổng thể chung với
những đặc điểm nhận dạng của chúng được sử dụng chọn vào tổng thể mẫu Trong quá trình điều tra, tổ chức chọn mẫu theo bao nhiêu cấp thì sẽ có bấy nhiêu loại dàn chọn mẫu Ví dụ: trong cuộc điều tra lao động-việc làm tiến hành theo lược đồ mẫu 2 cấp: cấp I là chọn ra xã, phường đại diện thì dàn chọn mẫu cấp I là danh sách các xã, phường; cấp II là chọn hộ gia đình đại diện thì dàn chọn mẫu cấp II là danh sách các hộ gia đình của xã, phường được chọn ở mẫu
cấp I
52 Cỡ mẫu là số lượng các đơn vị của tổng thể chung được chọn vào
tổng thể mẫu để tiến hành điều tra thực tế Đối với mỗi cuộc điều tra chọn mẫu cần xác định một cỡ mẫu vừa đủ Nếu cỡ mẫu lớn quá sẽ gây tốn kém và không bảo đảm tính kịp thời của số liệu điều tra, đồng thời sẽ không có điều kiện để chuẩn bị và tiến hành điều tra được tốt nên có thể làm cho sai số phi chọn mẫu (sai số do cân, đong, đo đếm, khai báo, ghi chép,…) tăng lên Ngược lại nếu cỡ mẫu quá nhỏ sẽ không đảm bảo tính đại diện của tổng thể mẫu làm cho kết quả suy rộng từ nó cho tổng thể chung có độ tin cậy không cao (vì sai số chọn mẫu lớn)
Tuỳ theo chỉ tiêu cần nghiên cứu, qui mô của đối tượng điều tra, cách chọn mẫu (chọn lặp hay không lặp), phương pháp tổ chức chọn mẫu (chọn mẫu một cấp hay mẫu nhiều cấp, chọn mẫu phân tổ hay chọn mẫu chùm, ) khác nhau mà có công thức tính cỡ mẫu khác nhau
Ví dụ: để điều tra suy rộng các chỉ tiêu bình quân với phương pháp tổ chức chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, cỡ mẫu được tính theo công thức sau:
- Với cách chọn có hoàn lại:
2
2 2
x
z n
σ ε
σ
z N
N z n
x +
=
Trong đó: n-Cỡ mẫu (số lượng đơn vị mẫu)
Trang 36N-Số lượng đơn vị tổng thể chung z-Hệ số tin cậy
εx- Phạm vi sai số chọn mẫu cho phép
σ2- Phương sai của tổng thể chung đối với tiêu thức cần điều tra
áp dụng công thức trên để tính cỡ mẫu, khó khăn nhất là tính phương sai của tổng thể chung (σ 2) vì trong thực tế không điều tra toàn bộ nên không thể
có phương sai của tổng thể chung Khó khăn trên được giải quyết bằng cách lấy phương sai của tổng thể chung của các cuộc điều tra tương tự trước đó đã thực hiện hoặc tổ chức điều tra mẫu nhỏ để có phương sai thay thế cho phương sai của tổng thể chung, và thậm chí có thể ước lượng độ lệch tiêu chuẩn qua chỉ tiêu khoảng biến thiên
Trong thực tế ít khi có thể áp dụng công thức trên để xác định cỡ mẫu cho các cuộc điều tra, mà thường dựa vào cỡ mẫu của các cuộc điều tra tương tự đã làm trước đó, trên cơ sở khả năng kinh phí cho phép mà xác định cỡ mẫu cần thiết cho mỗi cuộc điều tra Cách làm này tuy chưa phải là giải pháp tối ưu
nhưng có tính khả thi cao và phù hợp với tình hình thực tế
53 Phân bổ cỡ mẫu là việc xác định số đơn vị mẫu cho mỗi khu vực
hoặc mỗi tổ khác nhau khi tiến hành tổ chức chọn mẫu trên tất cả các khu vực hoặc tất cả các tổ Trong điều tra chọn mẫu thường sử dụng các phương pháp phân bổ cỡ mẫu sau:
a Phân bổ mẫu tỷ lệ thuận với quy mô tổng thể
Công thức xác định số đơn vị mẫu (nj) của từng tổ j như sau:
Trang 37Nj-Số đơn vị thuộc tổng thể chung của tổ j;
wj-Tỷ trọng của tổ j so với tổng thể
Cách phân bổ mẫu tỷ lệ thuận với quy mô thường được áp dụng khi quy mô của các tổ tương đối đồng đều, phương sai và chi phí cho các tổ không khác nhau nhiều Cách phân bổ này có ưu điểm: dễ làm, không phải tính lại theo quyền số thực tế khi suy rộng kết quả là chỉ tiêu bình quân hoặc tỷ lệ cho tổng thể Tuy nhiên, khi quy mô của các tổ khác nhau nhiều thì phân bổ tỷ lệ thuận với quy mô dễ làm cho các tổ có quy mô nhỏ thường không đủ số lượng mẫu để
đại diện cho tổ đó, ngược lại các tổ có quy mô lớn lại "thừa" cỡ mẫu Mặt khác, việc tổ chức điều tra cũng như kinh phí cần thiết cho điều tra ở các tổ có quy mô lớn sẽ rất nặng nề, còn việc tổ chức điều tra cũng như kinh phí cần thiết cho
điều tra ở các tổ có quy mô nhỏ lại quá nhẹ nhàng
b Phân bổ mẫu tỷ lệ với căn bậc hai của quy mô tổng thể
Công thức tính số đơn vị mẫu (nj) của tổ j như sau:
Trang 38Công thức xác định số đơn vị mẫu (nj) của tổ j như sau:
∑
=
= M
1 j
2 j j
2 j j j
S N
S N
S - Phương sai của tổ thứ j theo chỉ tiêu nghiên cứu
Công thức trên cho thấy quy mô mẫu của các tổ tỷ lệ thuận với quy mô và phương sai của chúng Tổ có phương sai lớn sẽ được phân nhiều đơn vị mẫu hơn
tổ có phương sai nhỏ, tổ có quy mô lớn sẽ được phân nhiều đơn vị hơn các tổ có quy mô nhỏ
d Phân bổ mẫu tối ưu
Đây là cách phân bổ mẫu tối ưu đầy đủ hơn vì nó không những đề cập tới
sự khác biệt về quy mô, sự biến động của chỉ tiêu được nghiên cứu giữa các tổ
mà còn đề cập tới khả năng kinh phí của từng tổ Công thức phân bổ mẫu tối ưu
j
2 j j
j
2 j j j
c / S N
c / S N
n
Trong đó: cj-Chi phí điều tra cho tổ j
Công thức trên cho thấy quy mô mẫu của các tổ tỷ lệ thuận với quy mô và phương sai của chúng Mặt khác tỷ lệ nghịch với căn bậc hai của chi phí có thể
có để thực hiện điều tra trên phạm vi của tổ Vì vậy, phương pháp phân bổ mẫu này thường được áp dụng khi quy mô, phương sai và khả năng kinh phí của các
tổ tương đối khác nhau
e Phân bổ mẫu có ưu tiên cho các tổ được đánh giá là quan trọng
Cách phân bổ mẫu này thường được áp dụng khi có sự khác nhau đáng kể giữa các tổ về hàm lượng thông tin cần thiết Theo nguyên tắc này, các tổ có hàm lượng thông tin thấp được phân bổ cỡ mẫu nhỏ Tư tưởng này thường ứng dụng trong điều tra các doanh nghiệp Các doanh nghiệp thuộc tổ có quy mô lớn
Trang 39(có sản lượng hoặc số lượng công nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng
hoặc tổng số công nhân của các doanh nghiệp) thì theo tỷ lệ chọn mẫu lớn hơn
Ngược lại, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn thì tỷ lệ chọn mẫu nhỏ hơn
Tóm lại, phân bổ mẫu trong thực tế cần dựa vào việc phân tích đặc điểm
cụ thể của các chỉ tiêu thống kê cần thu thập ở từng tổ Mặc khác, cũng cần xét
tới điều kiện thực tế diễn ra ở từng tổ Điều này đặc biệt cần lưu ý trong khi
phân bổ cỡ mẫu cho điều tra nhiều cấp
54 Chọn lặp và chọn không lặp
- Chọn lặp (hay chọn nhiều lần hay chọn hoàn lại) là một cách lấy mẫu,
trong đó các đơn vị được chọn vào mẫu sau khi nghiên cứu lại được trả lại về
tổng thể chung để tham gia vào quá trình chọn mẫu tiếp theo Như vậy, số đơn
vị trong tổng thể chung sẽ không thay đổi trong suốt quá trình lựa chọn (mỗi
đơn vị được chọn rồi vẫn có khả năng được chọn lại) và xác suất được lựa chọn
của mỗi đơn vị đều bằng nhau Nếu gọi L là số khả năng thiết lập tổng thể mẫu
n từ N đơn vị thì L được xác định theo công thức:
L = Nn (N là số lượng các đơn vị của tổng thể chung)
- Chọn không lặp (hay chọn một lần hay chọn không hoàn lại) là một
cách lấy mẫu, trong đó mỗi đơn vị được chọn rồi sau khi nghiên cứu không
được trả về tổng thể chung và không có khả năng được chọn lại Số đơn vị tổng
thể chung sẽ giảm dần trong quá trình chọn từng đơn vị và xác suất được lựa
chọn của mỗi đơn vị là không bằng nhau Trong chọn không lặp, số khả năng
thiết lập mẫu được tính bằng công thức:
! n
! N C
=
Trong thực tế, nếu quy mô của tổng thể chung khá lớn và quy mô của
tổng thể mẫu chọn ra chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng thể chung thì
phương thức chọn lặp và không lặp có kết quả sai lệch nhau không đáng kể Đặc
biệt khi quy mô của tổng thể chung là vô hạn, còn quy mô tổng thể mẫu là hữu
hạn thì hầu như không còn sự khác biệt giữa hai phương thức lấy mẫu trên nữa
55 Chọn với xác suất đều và xác suất không đều
- Chọn mẫu với xác suất đều là một cách chọn mẫu đảm bảo mỗi đơn vị
thuộc hiện tượng nghiên cứu đều có cơ hội được chọn vào mẫu như nhau
Trang 40Phương pháp chọn mẫu với xác suất đều thường không lưu ý đến sự khác biệt giữa các đơn vị tổng thể Phương pháp này tổ chức đơn giản và thuận lợi hơn so với chọn mẫu với xác suất không đều Nó thường được sử dụng trong các trường hợp:
+ Các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu tương đối đồng đều nhau theo tiêu thức nghiên cứu
+ Không biết trước sự khác biệt giữa các đơn vị điều tra
- Chọn mẫu với xác suất không đều là một cách chọn mẫu trong đó các
đơn vị có thể được chọn vào mẫu với các xác suất khác nhau Chọn mẫu với xác suất không đều sẽ khó khăn hơn vì cần phải có thêm những thông tin tiên nghiệm về quy mô, kích thước của hiện tượng nghiên cứu và tính toán phức tạp hơn Chọn mẫu với xác suất không đều được sử dụng khi các đơn vị điều tra có
sự khác nhau lớn về quy mô
56 Ước lượng là dựa vào kết quả tính toán được về một tham số nào đó
của tổng thể mẫu đã điều tra để suy luận thành tham số đó của tổng thể chung, hay còn gọi là ước lượng các tham số của tổng thể chung từ các tham số của tổng thể mẫu
57 Ước lượng không chệch Tham số θ' của tổng thể mẫu được gọi là
ước lượng không chệch của tham số θ của tổng thể chung nếu M(θ') = θ (kỳ vọng toán của θ' bằng θ)
58 Ước lượng hiệu quả Tham số θ' của tổng thể mẫu được gọi là ước
lượng hiệu quả của tham số θ của tổng thể chung nếu nó có phương sai nhỏ nhất
so với mọi tham số khác được xây dựng trên cùng mẫu đó
59 Ước lượng vững Tham số θ' của tổng thể mẫu được gọi là ước lượng
vững của tham số θ của tổng thể chung nếu θ' hội tụ theo xác suất đến θ khi n tiến tới ∞ Tức là với mọi ε dương, bé tuỳ ý, ta luôn có:
1 ) '
60 Chọn mẫu ngẫu nhiên là một cách chọn mẫu trong đó các đơn vị
của tổng thể mẫu được lấy ra từ tổng thể chung hoàn toàn ngẫu nhiên, không có
sự sắp xếp nào và đồng thời không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan nào Cách thức đơn giản nhất của chọn ngẫu nhiên là rút thăm Ví dụ: có 100 hộ gia đình