1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề Tài : Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kiểm soát chất lượng điều tra thống kê

83 722 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kiểm soát chất lượng điều tra thống kê
Tác giả Nguyễn Thị Việt Hồng
Trường học Tổng Cục Thống Kê
Chuyên ngành Khoa học Thống kê
Thể loại Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song chất lượng số liệu thống kê là một vấn đề lớn, phức tạp, vì vậy phạm vi của một đề tài chưa thể giải quyết được tất cả các vấn đề, vì vậy trong chương trình nghiên cứu năm 2006, Lãn

Trang 1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI CẤP TỔNG CỤC

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG ĐIỀU TRA THỐNG KÊ

Chủ nhiệm: NGUYỄN THỊ VIỆT HỒNG

7878

21/4/2010

HÀ NỘI - NĂM 2009

Trang 2

Mục lục

Lời mở đầu 2

Phần một: chất lượng điều tra và kinh nghiệm kiểm soát chất lượng điều tra của một số nước 5

I Chất lượng điều tra thống kê 5

1 Khái niệm điều tra thống kê 5

2 Sai số trong điều tra thống kê và các nhân tố ảnh hưởng 7

3 Kiểm soát chất lượng điều tra thống kê 10

II Kinh nghiệm kiểm soát chất lượng điều tra của một số nước 12

1 Kinh nghiệm của Thống kê Thuỵ Điển 13

2 Kinh nghiệm của Cơ quan Thống kê Quốc gia úc 17

3 Kinh nghiệm của Canada 18

Phần hai : Thực trạng chất lượng điều tra thống kê trong những năm gần đây 23

I Sơ lược lịch sử ứng dụng điều tra thống kê ở Việt Nam 23

II Thực trạng chất lượng Điều tra Thống kê 27

1 Một số thông tin liên quan đến cuộc khảo sát thăm dò ý kiến 28

2 Thực trạng chất lượng điều tra thống kê 29

Phần Ba: Đề xuất giải pháp nhằm kiểm soát chất lượng điều tra thống kê 46

I Quan điểm kiểm soát chất lượng điều tra 47

II Các giải pháp kiểm soát chất lượng điều tra thống kê 50

1 Những giải pháp gián tiếp liên quan đến qui trình điều tra 50

2 Những giải pháp trực tiếp liên quan đến qui trình điều tra 53

Kết luận và Kiến nghị 70

Tài liệu tham khảo 73

Phụ lục 1 74

Phụ lục 2 75

Phụ lục 3 77

Trang 3

Lời mở đầu

Trong những năm gần đây, chất lượng số liệu thống kê luôn nhận được sự quan tâm, chú ý của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các Bộ/ngành cũng như của những đối tượng sử dụng tin khác trong và ngoài nước Đặc biệt đối với ngành Thống kê, kiểm soát và nâng cao chất lượng số liệu thống kê luôn được coi là yếu

tố quyết định nhằm nâng cao vị thế của ngành, phục vụ tốt công tác quản lý, hoạch

định chính sách của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn mới, xây dựng được lòng tin của những đối tượng cung cấp và sử dụng thông tin thống kê

Thông tin thống kê có được từ hai nguồn chủ yếu là điều tra thống kê và báo cáo thống kê định kỳ Từ những năm 90 trở lại đây, hình thức thu thập số liệu qua

điều tra thống kê có xu hướng ngày càng tăng do những ưu điểm nổi trội của chúng Riêng ngành Thống kê thực hiện hàng chục cuộc điều tra mỗi năm, kinh phí

và nguồn nhân lực chi tiêu cho công tác này là vô cùng lớn, trách nhiệm của ngành Thống kê ngày càng nặng nề Trước tình hình đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ/ngành trong việc cung cấp thông tin đầu vào, có sự cảm thông và chia sẻ của xã hội cả về những khó khăn, vất vả cũng như những thành công Trách nhiệm với chất lượng số liệu điều tra thống kê không phải của riêng ngành Thống kê, song với chức năng là người trực tiếp sản xuất ra số liệu thống kê, trong nhiều năm qua, ngành Thống kê đã thường xuyên quan tâm và có những giải pháp cụ thể để kiểm soát và nâng cao chất lượng số liệu thống kê nói chung và chất lượng điều tra nói riêng

Các cuộc điều tra thống kê không ngừng được nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện theo hướng đổi mới cả về nội dung, phạm vi và phương pháp điều tra, chất lượng số liệu đã có nhiều cải thiện so với những năm trước đây Tuy nhiên, so với yêu cầu thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý và điều hành của các Bộ/ngành theo cơ chế mới và so sánh quốc tế, những bất cập vẫn còn nhiều Hơn nữa, do xu hướng phát triển của thời đại, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, khái niệm

về chất lượng số liệu thống kê không còn bó hẹp trong phạm vi độ chính xác, tính kịp thời mà đã được mở rộng thêm trên nhiều khía cạnh mới với mục tiêu ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người sử dụng Trong điều kiện đổi mới hiện nay, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, đặc biệt là từ khi Việt Nam ra nhập WTO năm 2006, ngành Thống kê cũng phải hoạt động trong môi trường hoà nhập,

Trang 4

không thể tách rời với các tổ chức thống kê quốc gia khác và quốc tế Điều này đòi hỏi phải có quan điểm đổi mới nhận thức về chất lượng số liệu thống kê Để đáp ứng được yêu cầu của công tác thống kê trong tình hình mới, nhận thức được đầy

đủ vai trò của chất lượng số liệu, năm 2004 và 2005, Tổng cục Thống kê đã thực

hiện đề tài:“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm quản lý và nâng cao chất

lượng thông tin thống kê” do Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng, nguyên Tổng cục trưởng

Tổng cục Thống kê làm chủ nhiệm Song chất lượng số liệu thống kê là một vấn đề lớn, phức tạp, vì vậy phạm vi của một đề tài chưa thể giải quyết được tất cả các vấn

đề, vì vậy trong chương trình nghiên cứu năm 2006, Lãnh đạo Tổng cục Thống kê

đã giao cho Viện Khoa học Thống kê tiếp tục nghiên cứu vấn đề này qua đề tài:

“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kiểm soát chất lượng điều tra thống kê”

Mục tiêu của đề tài: nhằm đề xuất các giải pháp khoa học mang tính khả thi

để tăng cường kiểm soát chất lượng điều tra thống kê trong tương lai

Phạm vi nghiên cứu: hiện nay, điều tra thống kê được ứng dụng ở hầu hết

các lĩnh vực Nhiều cơ quan, bộ/ngành, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế tiến hành điều tra thống kê nhằm thu thập số liệu phục vụ công tác quản lý vĩ mô, hoạch

định chính sách của Đảng và nhà nước và các mục đích khác Tuy nhiên, phần lớn các cuộc điều tra thống kê, đặc biệt là những cuộc điều tra có qui mô lớn trong phạm vi toàn quốc đều do Tổng cục Thống kê thực hiện Vì vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chủ yếu đề cập đến những vấn đề liên quan trực tiếp đến các cuộc điều tra thống kê do Tổng cục Thống kê thực hiện

Phương pháp nghiên cứu: đây là vấn đề đã được nhiều người quan tâm

nghiên cứu và có nhiều tài liệu đã công bố Vì vậy, chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu: dựa trên các tài liệu trong và ngoài nước kết hợp với việc khảo sát,

đánh giá thực trạng chất lượng điều tra thống kê do Tổng cục Thống kê thực hiện trong một số năm gần đây Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát chất lượng điều tra trong thời gian tới

Quá trình thực hiện, Ban chủ nhiệm đề tài đã kế thừa kết quả nghiên cứu của các đề tài trước, tham khảo tài liệu của các tổ chức thống kê nước ngoài, tranh thủ nhiều ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực điều tra từ các vụ nghiệp vụ của Tổng cục Thống kê qua các chuyên đề khoa học Đồng thời, đề tài còn thực hiện một cuộc khảo sát nhỏ nhằm thăm dò ý kiến đánh giá một số vấn đề

Trang 5

liên quan đến chất lượng điều tra thống kê trong một số năm gần đây của lãnh đạo cục, các phòng nghiệp vụ tại một số Cục Thống kê trong cả nước Dựa trên kết quả nghiên cứu các thành viên tham gia, Ban chủ nhiệm đề tài đã tóm tắt nội dung chủ

yếu để trình bày trong “Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài” Báo

cáo được chia làm ba phần chính:

• Phần một: Chất lượng điều tra và kinh nghiệm kiểm soát chất lượng điều tra của một số nước

• Phần hai: Thực trạng chất lượng điều tra thống kê trong những năm gần đây

• Phần ba: Đề xuất giải pháp nhằm kiểm soát chất lượng điều tra thống kê Mặc dù Ban chủ nhiệm đề tài đã cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi sai sót, hơn nữa đây là vấn đề đã và đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu, nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm thực hiện điều tra thống kê, Ban chủ nhiệm đề tài mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của các chuyên gia, đồng nghiệp trong và ngoài ngành để có thể bổ sung, sửa chữa và hoàn thiện thêm đề tài

Ban chủ nhiệm đề tài xin trân trọng cảm ơn sự tham gia nhiệt tình của các

đồng nghiệp thuộc Viện Khoa học Thống kê, các vụ nghiệp vụ của Tổng cục Thống

kê như: Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng; Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp

và Thuỷ sản; Vụ Thống kê Lao động và Dân số; Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường và Ban Lãnh đạo của 22 Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc trung

ương

Trang 6

Phần một

chất lượng điều tra và kinh nghiệm kiểm soát

chất lượng điều tra của một số nước

I chất lượng điều tra thống kê

Chất lượng điều tra thống kê là một khái niệm khó có thể định nghĩa và đo lường được một cách cụ thể Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nó đã trở thành chủ

đề chủ yếu được bàn luận nhiều trong các tổ chức thống kê quốc gia và quốc tế, đặc biệt là tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển Nhiều dự án liên quan đến điều tra thống kê và đánh giá chất lượng điều tra đã được hình thành và thu hút sự tham gia nhiệt tình của các nhà nghiên cứu và giới chuyên môn thống kê Trong phần này, chúng tôi trình bày tóm tắt một số vấn đề chung liên quan đến chất lượng điều tra

và kinh nghiệm kiểm soát chất lượng điều tra thống kê của một số tổ chức thống kê quốc gia

1 Khái niệm điều tra thống kê

Điều tra thống kê được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau nên trong thực

tế tồn tại nhiều khái niệm về điều tra thống kê Để phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin trích dẫn ba khái niệm về điều tra như sau:

• Nếu xem xét trên giác độ tổng quát, điều tra thống kê được hiểu: "là việc tổ

chức một cách khoa học theo một kế hoạch thống nhất việc thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện cụ thể

về không gian và thời gian"( 1 )

• Nếu xét theo hình thức thu thập thông tin: "Điều tra thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê theo phương án điều tra"(2)

• Nếu xem xét điều tra thống kê theo một quá trình nghiên cứu, theo Dalenius: "Điều tra chính là một nghiên cứu thống kê được thực hiện nhằm

đo tính các tham số của tổng thể thông qua những đặc tính của chúng"

Trang 7

Một nghiên cứu có thể được coi là một cuộc điều tra nếu thoả mãn những yêu cầu sau đây:

ắ Nghiên cứu tập trung vào nhiều mục tiêu của một tổng thể;

ắ Dựa vào những đặc tính có thể đo lường được để nghiên cứu tổng thể;

ắ Mục tiêu của quá trình nghiên cứu là làm rõ tính chất của tổng thể dựa trên ít nhất một chỉ tiêu có liên quan đến các đặc tính có thể đo lường

được

ắ Xác lập một hệ thống các quan sát đối với tổng thể;

ắ Chọn được một mẫu từ hệ thống phù hợp với một thiết kế mẫu được xác

định theo phương pháp xác suất và xác định được một quy mô mẫu (qui mô mẫu có thể bằng quy mô của tổng thể nếu là điều tra toàn bộ)

ắ Các quan sát được tiến hành theo mẫu được chọn phù hợp với quy trình tính toán

ắ Dựa vào phương pháp tính có thể áp dụng một quy trình ước lượng các tham số của tổng thể từ mẫu thu được

Cả ba khái niệm trên tuy xem xét điều tra thống kê ở các góc độ khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau, trong đó có những điểm chung là:

• Tổ chức thu thập thông tin ban đầu theo một kế hoạch thống nhất và dựa vào những phương pháp khoa học để nghiên cứu tổng thể

• Kế hoạch, phương án điều tra gồm nhiều công đoạn được qui định/sắp xếp theo một qui trình nhất định, trong đó bao gồm cả khâu tổng hợp và công

Trang 8

kiểm soát chất lượng của một cuộc điều tra cụ thể cũng cần chú ý nhấn mạnh đến những biện pháp cụ thể khác nhau Đối với các cuộc điều tra toàn bộ chỉ xuất hiện một loại sai số điều tra là sai số phi chọn mẫu Với các cuộc điều tra chọn mẫu, sai

số điều tra bao gồm cả hai loại: sai số chọn mẫu và sai số phi chọn mẫu Tuy nhiên, mức độ sai số điều tra thống kê tuỳ thuộc vào nhiều nguyên nhân, song sai số phi chọn mẫu thường lớn hơn nhiều so với sai số chọn mẫu nên khi lập kế hoạch điều tra cần phải hết sức chú ý đến đặc điểm này

2 Sai số trong điều tra thống kê và các nhân tố ảnh hưởng

Trong thực tế, người ta phân sai số điều tra thống kê thành hai loại: sai số chọn mẫu và sai số phi chọn mẫu, trong đó sai số phi chọn mẫu gồm có sai số hệ thống và sai số biến thiên

• Sai số chọn mẫu: sai số phát sinh do số liệu được thu thập và tổng hợp chỉ dựa vào một bộ phận các đơn vị của tổng thể thống kê được chọn ra theo một cơ chế ngẫu nhiên nào đó Đối với một cuộc điều tra chọn mẫu, sai số chọn mẫu không thể loại bỏ được mà chỉ có thể hạn chế theo mục tiêu đề ra cho một cuộc điều tra Đó là bản chất của điều tra chọn mẫu(3)

• Sai số phi chọn mẫu: sai số phát sinh trong quá trình chuẩn bị, tổ chức điều tra và xử lý số liệu thu thập được Nói một cách khác nó là sai số không phải

do việc chọn ngẫu nhiên một bộ phận của tổng thể điều tra gây ra(4)

Sai số phi chọn mẫu xuất hiện chủ yếu là do sử dụng những định nghĩa và khái niệm một cách thiếu hệ thống, bảng hỏi không thoả mãn, có thiếu sót trong phương pháp thu thập số liệu, cách trình bày bảng biểu, mã hoá và không đủ phạm

vi của đơn vị mẫu Những sai số này thường là không thể dự đoán trước được và cũng không dễ dàng hạn chế được chúng Trái với sai số chọn mẫu, sai số phi chọn mẫu có thể tăng lên cùng với việc tăng thêm kích thước cỡ mẫu Nếu việc hạn chế sai số phi chọn mẫu một cách không thích đáng thì có thể dẫn đến thiệt hại nhiều hơn là sai số chọn mẫu trong các cuộc điều tra quy mô lớn

Thông thường sai số chọn mẫu có thể đo tính được nếu các cuộc điều tra chọn mẫu tuân thủ đúng theo lý thuyết chọn mẫu Sai số phi chọn mẫu là rất đa

Trang 9

dạng và khó đo lường một cách cụ thể Hiện nay có nhiều nhà thống kê trên thế giới đã tốn nhiều công sức để nghiên cứu, xây dựng phương pháp, công thức để lượng hoá các loại sai số phi chọn mẫu, song những loại sai số này chủ yếu vẫn

được đánh giá theo phương pháp chuyên gia và mang tính chất tương đối

Có nhiều nguồn dẫn đến sai số trong điều tra thống kê nhưng chủ yếu khi

đánh giá về sai số điều tra, cần chú ý đến những nguồn sai số như sau:

• Sai số phạm vi do xác định phạm vi điều tra chưa phù hợp, gồm: bỏ quên,

bỏ sót và tính trùng đơn vị điều tra Sai số phạm vi được coi là một trong những sai số điều tra quan trọng do chúng ảnh hưởng nhiều đến số liệu đầu

ra của một cuộc điều tra

• Sai số do không trả lời xảy ra khi đơn vị tổ chức điều tra không nhận được

phiếu điều tra hoặc phiếu điều tra không được điền đầy đủ thông tin cần

điều tra Không trả lời dẫn đến việc phải qui đổi số liệu dựa trên cơ sở của những thông tin khác thu được từ cuộc điều tra, do đó làm tăng độ chệch của số liệu vì giữa các đối tượng điều tra bao giờ cũng có những đặc điểm khác nhau Hơn nữa, không trả lời sẽ làm tăng sai số chọn mẫu khi số liệu qui đổi được sử dụng như những số liệu thu thập được của một cuộc điều tra

• Sai số do cân, đo, đong, đếm xảy ra khi thông tin thu được sai lệch so với giá trị thực tế Sai số này có thể là do người cung cấp thông tin, người phỏng vấn, bảng hỏi, phương pháp thu thập, hoặc hệ thống sổ sách của người cung cấp thông tin thiếu chính xác Tuy nhiên trong thực tế những sai số này có thể xảy ra một cách ngẫu nhiên hoặc có thể là sai số hệ thống do một số nguyên nhân khó lường trước được

• Sai số do xử lý phiếu điều tra xảy ra trong quá trình kiểm tra, mã hoá phiếu

điều tra, quá trình nhập tin, qui đổi và tạo bảng tổng hợp số liệu đầu ra Cũng tương tự như sai số do đo lường, sai số do xử lý làm gia tăng độ chệch của số liệu Vì vậy cần thiết phải tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến loại sai số này cả trong quá trình điều tra để có biện pháp hiệu chỉnh phù hợp, chẳng hạn do trong quá trình điều tra thay đổi cán bộ đã

được đào tạo về chuyên môn điều tra, thay đổi thủ tục điều tra giữa chừng

Trang 10

• Sai số do khâu chọn mẫu khi thực hiện những cuộc điều tra chọn mẫu Trong thực tế những sai số này có thể bao gồm cả những sai số do việc tính toán thiếu cẩn thận của những người tham gia quá trình tính toán số liệu liên quan đến mẫu điều tra

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những nguồn sai số trên là do:

• Xác định mục đích, phạm vi, đối tượng điều tra không đầy đủ, thiếu chính xác

• Nhận dạng sai hoặc bỏ sót đơn vị điều tra do khái niệm, định nghĩa không

rõ, chưa phù hợp với thực tế hoặc do khâu lập danh sách, vẽ sơ đồ, lập bảng

kê không được kiểm soát tốt

• Chưa đánh giá, kiểm tra tốt về tính phù hợp và chất lượng của những dàn mẫu sử dụng trong một cuộc điều tra chọn mẫu Chưa tuân thủ theo đúng lý thuyết chọn mẫu

• Sử dụng phương pháp phỏng vấn không thích hợp, dụng cụ đo lường thiếu chính xác

• Bảng hỏi không phù hợp; giải thích các thuật ngữ, chỉ tiêu không nhất quán, không rõ ràng, sử dụng các bảng phân loại, phân ngành không tốt, mã hoá phiếu điều tra không đúng

• Tuyển chọn và tập huấn cho điều tra viên không bảo đảm

• Kinh phí chi trả cho điều tra viên thấp, một phần do định mức của nhà nước chưa phù hợp, một phần do việc quản lý và sử dụng kinh phí điều tra chưa chặt chẽ

• Đạo đức nghề nghiệp và ý thức của cán bộ tham gia điều tra chưa tốt

• Thời gian dành cho công tác thu thập và xử lý số liệu không hợp lý, chưa cân đối với nguồn lực

• Công tác tuyên truyền chưa được chú ý, thiếu sự ủng hộ và hợp tác của người cung cấp thông tin

Trang 11

Từ những nguồn và nguyên nhân dẫn đến sai số trong điều tra thống kê nêu trên, chúng ta thấy sai số điều tra thống kê có thể xảy ra ở tất cả các khâu, các quá trình liên quan đến một cuộc điều tra

3 Kiểm soát chất lượng điều tra thống kê

Kiểm soát chất lượng điều tra là để xem xét sản phẩm cuối cùng được sản xuất ra có phù hợp với mục tiêu ban đầu đặt ra đối với một cuộc điều tra hay không Đặc biệt trong khâu này cần chú ý xem xét mức độ đáp ứng các tiêu chí phản ánh chất lượng điều tra thống kê Làm tốt công tác này giúp người dùng tin hiểu được tốt hơn số liệu công bố, đồng thời cơ quan thống kê cũng hoàn thiện

được chất lượng của những cuộc điều tra sau Trong phần này chúng tôi xem xét chất lượng điều tra thống kê trên ba góc độ

Thứ nhất: nếu xem xét trên góc độ mục tiêu của điều tra thống kê là tạo ra

những số liệu thống kê nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của người dùng tin thì chất

lượng điều tra có thể được hiểu là chất lượng số liệu đầu ra của một cuộc điều tra Chính vì vậy, xét trên quan điểm này, các tiêu thức dùng để đánh giá chất

lượng điều tra sẽ trùng với các tiêu thức đánh giá chất lượng số liệu thống kê nói chung

Những tiêu thức để đánh giá chất lượng số liệu thống kê của Tổng cục Thống

kê trong những năm tới đã được đề cập tương đối chi tiết trong đề tài: “Nghiên cứu

đề xuất các giải pháp nhằm quản lý và nâng cao chất lượng thông tin thống kê”

Trong đó có luận bàn đầy đủ về cơ sở khoa học và thực tiễn của việc lựa chọn những tiêu thức đánh giá chất lượng số liệu thống kê có thể áp dụng đối với thống

kê Việt Nam, đó là: tính phù hợp, tính chính xác, tính kịp thời, khả năng tiếp cận,

khả năng giải thích, tính chặt chẽ và lôgic.

Sử dụng các tiêu thức đánh giá chất lượng số liệu thống kê để đánh giá chất lượng điều tra không có nghĩa là đồng nhất “chất lượng điều tra thống kê” với “chất lượng số liệu thống kê” bởi vì: phạm vi số liệu điều tra thống kê hẹp hơn số liệu thống kê nói chung do số liệu thống kê được thu thập và tổng hợp trên nhiều nguồn khác nhau (từ điều tra thống kê, từ báo cáo thống kê định kỳ, từ hồ sơ hành chính ) Trong đó, chất lượng số liệu gắn với điều tra thống kê chủ yếu chỉ liên quan đến quá trình điều tra Chất lượng số liệu thống kê ngoài việc gắn với chất

Trang 12

lượng quá trình điều tra còn bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chính sách bảo mật thông tin, cơ chế chính sách khai thác thông tin của chính phủ Hơn nữa, hoạt

động điều tra thống kê cũng chỉ là một bộ phận trong những hoạt động của cơ quan thống kê trong việc sản xuất ra số liệu Vì vậy kiểm soát chất lượng số liệu điều tra thống kê cũng bao gồm phạm vi hẹp hơn kiểm soát chất lượng số liệu thống kê

Chất lượng số liệu điều tra được đánh giá qua nhiều tiêu thức và vấn đề đặt ra

ở đây là tiêu thức nào chiếm ví trí quan trọng, cần được ưu tiên Đồng thời giữa những tiêu thức này cũng có những mâu thuẫn nhất định, chẳng hạn như: tính chính xác có thể mâu thuẫn với tính kịp thời hoặc tính phù hợp, đầy đủ của số liệu Vì vậy, trong thực tế cần cân nhắc để hài hoà giữa việc cung cấp số liệu điều tra bảo

đảm chất lượng với những điều kiện thực tế cho phép

Thứ hai : nếu xem xét trên góc độ của quá trình sản xuất thông tin, chất

lượng điều tra có thể được hiểu là chất lượng của từng khâu thuộc quá trình điều tra: từ khâu chuẩn bị, thu thập số liệu đến các khâu tổng hợp, xử lý kết quả và công

bố số liệu điều tra Để có thể nói một cuộc điều tra là chất lượng thì từng khâu, từng công đoạn của quá trình điều tra phải đảm bảo hạn chế tối đa mức độ sai sót Chính việc đánh giá kiểm soát chất lượng tại từng khâu công việc sẽ tạo điều kiện

để đảm bảo chất lượng số liệu đầu ra của một cuộc điều tra Nếu như chúng ta chỉ

đặt vấn đề kiểm soát chất lượng số liệu đầu ra mà buông lỏng kiểm soát chất lượng từng công đoạn điều tra thì chỉ là hình thức, không hiệu quả

Đối với người dùng tin, phần lớn họ cho rằng mức độ sai số của số liệu

điều tra chính là tiêu thức thể hiện chất lượng mà sai số điều tra là một hàm của sai số chọn mẫu và sai số phi chọn mẫu Như vậy, sai sót dẫn tới suy giảm chất lượng số liệu điều tra có thể xảy ra từ bất kỳ khâu nào của quá trình điều tra và một loạt các vấn đề liên quan như: khái niệm, phân loại, chọn mẫu, thu thập, tính toán, ước lượng, xử lý, phân tích dữ liệu và trình bày kết quả phân tích và những tài liệu liên quan đến quá trình điều tra

Thứ ba, nếu xét hoạt động điều tra thống kê là một mắt xích trong bộ

máy hoạt động chung của cơ quan thống kê thì chất lượng điều tra thống kê chỉ

có thể có được trong một hệ thống hoạt động có chất lượng Vậy theo quan

điểm này thì kiểm soát chất lượng điều tra thống kê tức là kiểm soát chất lượng toàn bộ Chất lượng số liệu điều tra không phải chỉ gắn với các khâu trong điều

Trang 13

tra hoặc chỉ là công việc của một đơn vị tổ chức điều tra mà nó là sản phẩm của cả một hệ thống hoạt động có chất lượng và hiệu quả

Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO trong lĩnh vực thống kê là nhằm thực hiện quản lý chất lượng toàn bộ, trong đó xác định rõ nhiều tiêu chuẩn về chất lượng của hoạt động và tổ chức bộ máy của một tổ chức/cơ quan thống kê Tuy nhiên, những tiêu chuẩn này hiện nay chưa được biết đến nhiều và chưa được áp dụng trong các cơ quan quản lý của nhà nước nói chung và các cơ quan thống kê nói riêng của nhiều nước trên thế giới và khu vực

Như vậy, chất lượng điều tra thống kê cần được đánh giá và kiểm soát trên cả ba mặt, đó là: chất lượng của số liệu đầu vào và đầu ra của một cuộc điều tra; chất lượng của các khâu điều tra và chất lượng của cơ quan, đơn vị thực hiện điều tra

II Kinh nghiệm kiểm soát chất lượng điều tra của một số nước

Tính đến nay, nhiều nước có tổ chức thống kê phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Thuỵ Điển, Canada, úc đã có nhiều thành công trong hoạt động kiểm soát chất lượng số liệu thống kê nói chung và số liệu điều tra nói riêng Trong đó, Thụy

Điển là nước đi đầu trong việc nghiên cứu thuộc lĩnh vực này Năm 1999, Thụy Điển đó đề xuất thành lập nhúm “Chỉ đạo chất lượng” nhằm cải tiến chất lượng trong Hệ thống Thống kờ Chõu Âu(5) và Thuỵ Điển được bầu làm chủ tịch của nhóm “Chỉ đạo chất lượng”

Những năm gần đây, nhiều nước đang phát triển cũng dần tiếp cận với quan

điểm chất lượng mới dựa trên cơ sở nghiên cứu và kinh nghiệm của các nước phát triển Để phục vụ mục đích nghiên cứu, Ban chủ nhiệm đề tài đã tìm kiếm thông tin

và nghiên cứu tài liệu của một số nước đi đầu trong lĩnh vực kiểm soát chất lượng

điều tra Trong báo cáo này, chúng tôi xin lựa chọn, giới thiệu tóm tắt kinh nghiệm kiểm soát chất lượng của ba nước: Thụy Điển, Canada và úc là ba quốc gia có phương pháp quản lý chất lượng tốt mà Thống kê Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm để vận dụng vào điều kiện của Việt Nam trong thời gian tới Ngoài kinh nghiệm của ba nước trên, Ban chủ nhiệm đề tài cũng mong muốn đưa thêm kinh

Trang 14

nghiệm của những nước trong khu vực có trình độ thống kê tương tự như của Việt Nam Song, vì nguồn tài liệu giới hạn nên chúng tôi không thể giới thiệu trong báo cáo

Kinh nghiệm của những nước chúng tôi lựa chọn để giới thiệu là điển hình cho ba cách thức quản lý chất lượng điều tra thống kê khác nhau nhưng họ đều đạt

được kết quả tốt trong hoạt động này Mục đích giới thiệu ở đây chỉ để tham khảo, không có ý đề xuất cho Tổng cục Thống kê theo riêng một mô hình quản lý của nước nào Những giải pháp cụ thể đối với Thống kê Việt Nam, Ban chủ nhiệm đề xuất trong phần ba của báo cáo tổng hợp trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng

điều tra thống kê do Tổng cục Thống kê thực hiện trong một số năm gần đây

Với mỗi phần trình bày về kinh nghiệm của từng nước, trước khi đề cập đến phương pháp quản lý chất lượng điều tra thống kê, chúng tôi xin tóm tắt một số đặc

điểm về tổ chức và chức năng của cơ quan thống kê nước đó, giúp người đọc có thêm thông tin để đối chiếu so sánh với điều kiện của Việt Nam

1 Kinh nghiệm của Thống kê Thuỵ Điển

Từ năm 1994, Cục Thống kờ Thụy Điển với vai trũ là Viện Thống kờ Quốc

gia, chịu trỏch nhiệm cung cấp khoảng 55% số liệu thống kờ chớnh thống, 24 cơ quan khỏc chịu trỏch nhiệm 45% cũn lại Đồng thời, Cục Thống kờ Thụy Điển cũng chịu trỏch nhiệm với những vấn đề chung liờn quan đến thụng tin thống kờ bao gồm phương phỏp luận, nguyờn tắc xuất bản, nguyờn tắc cung cấp tài liệu và phối hợp hoạt động

Quan điểm kiểm soỏt chất lượng, Cơ quan Thống kờ Thụy Điển quan niệm

rằng: chất lượng số liệu điều tra thống kờ được quyết định bởi chất lượng của quỏ trỡnh điều tra Về cơ bản cú thể núi rằng: khụng bảo đảm năng lực của quỏ trỡnh sản xuất sẽ tạo ra những sản phẩm cú chất lượng thấp Chất lượng số liệu đầu ra của một cuộc điều tra đạt được trờn cở sở cỏc quỏ trỡnh điều tra khụng ngừng được cải tiến Tuy nhiờn chất lượng quỏ trỡnh lại phụ thuộc vào chất lượng của chớnh bộ mỏy

tổ chức thống kờ Cơ quan Thống kờ Thụy Điển ỏp dụng cỏc phương phỏp để kiểm soỏt chất lượng điều tra cụ thể là:

Trang 15

1.1 Sử dụng danh sách các công việc cần kiểm tra: phương pháp này tuy

đơn giản nhưng rất quan trọng nhằm tránh bỏ sót công việc và giúp cho các hoạt động ít phụ thuộc vào ý chủ quan của cá nhân tham gia Tại Thuỵ Điển, sử dụng danh sách các công việc cần kiểm tra thực sự là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các khâu điều tra, kể cả việc ra quyết định liên quan đến điều tra thống kê của các cấp lãnh đạo, các ấn phẩm xuất bản

1.2 Sử dụng các phương pháp điều tra tốt nhất hiện hành: phương pháp

điều tra tốt nhất hiện hành được thể hiện trong tài liệu điều tra mô tả các bước thực hiện của qui trình điều tra và cách thức hoạt động được đánh giá là phù hợp nhất trong thời hiện tại Ở đây, khái niệm “phương pháp tốt nhất” không có nghĩa là phương pháp đó thực sự hoàn hảo, mới nhất của quốc tế, mà là phương án điều tra tốt nhất đang được sử dụng trong thời kỳ tiến hành điều tra Nói một cách khác, sử dụng phương pháp tốt nhất hiện hành nhấn mạnh đến việc sử dụng các phương pháp đáng tin cậy đã được biết đến và khuyến khích việc thay đổi qui trình điều tra để đạt kết quả tốt hơn Phát triển việc sử dụng các phương pháp tốt nhất hiện hành là một trong những cố gắng bảo đảm chất lượng tại cơ quan Thống kê Thụy Điển từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX Trong 10 năm gần đây, Thống kê Thụy Điển đã triển khai nhiều phương pháp tốt nhất hiện hành, chủ yếu là những vấn đề thuộc phương pháp luận, bao gồm

cả trong lĩnh vực thiết kế mẫu và thiết kế bảng hỏi

1.3 Điều tra đánh giá chất lượng: Cục Thống kê Thụy Điển cùng với Ban

chỉ đạo điều tra hàng năm đã thực hiện cuộc điều tra để đánh giá sự thay đổi về chất lượng điều tra Đánh giá chất lượng dựa theo các tiêu thức chất lượng áp dụng đối với thống kê chính thống và một phần điều tra này là để thu được những thông tin định hướng quan trọng liên quan tới chất lượng của toàn bộ quá trình Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo điều tra là phải cố gắng đưa ra được những thay đổi về chất lượng và giải thích nguyên nhân của những thay đổi đó Sau đó sẽ có một chuyên gia về phương pháp luận xem xét lại những đánh giá này

Trang 16

1.4 Điều tra lấy ý kiến của nhân viên cơ quan thống kê: từ những năm đầu

của thập kỷ 90, hàng năm, Cục Thống kê Thụy Điển đã tiến hành điều tra đội ngũ nhân viên cơ quan Cuộc điều tra này có số lượng câu hỏi khá lớn nhằm đánh giá môi trường làm việc của cơ quan Các câu hỏi thường tập trung vào việc nhận thức của nhân viên về những vấn đề có khả năng ảnh hưởng đến môi trường làm việc, sức khoẻ, phát triển, cạnh tranh và những vấn đề liên quan đến lãnh đạo của cơ quan

1.5 Điều tra sự hài lòng của khách hàng: Cục Thống kê Thụy Điển đã

thực hiện điều tra để tính chỉ số hài lòng của khách hàng; tham khảo ý kiến đánh giá về cơ quan thống kê và sự hợp tác của các đối tượng cung cấp thông tin vì mục đích thống kê trong tương lai Tuy nhiên, công việc này có một số vấn đề còn tồn tại như: khó thu được câu trả lời tốt nhất, tỷ lệ không trả lời cao Do có sự sai lệch khác nhau liên quan tới những sai sót ban đầu nên việc tính tốc độ thay đổi (số tương đối %) có khả năng chính xác hơn so với cách tính về mức thay đổi (số tuyệt đối) Nhưng điều này không đáng lo ngại vì trong thực tế người ta thường quan tâm nhiều đến sự thay đổi về số tương đối hơn là quan tâm đến số tuyệt đối

1.6 Thực hiện đánh giá nội bộ: mục tiêu của phương pháp này là nâng cao

chất lượng điều tra và sử dụng kinh phí có hiệu quả Kết quả của quá trình đánh giá có thể đưa ra được những đề xuất có ý nghĩa cho sự nghiệp phát triển chung của ngành Để thực hiện công việc này, mỗi điều tra viên phải điền đầy đủ thông tin trong bảng tự đánh giá gồm hơn

100 câu hỏi liên quan đến chất lượng và hiệu quả chi phí, như: công dụng của sổ tay điều tra và phương pháp tốt nhất hiện hành, khả năng của cán bộ, tài liệu soạn thảo, những cố gắng cải tiến chung và các khái niệm sử dụng trong từng công đoạn Nhân viên thực hiện đánh giá được huấn luyện theo một chương trình tập huấn đặc biệt Đến hết năm 2004, danh sách nhân viên đánh giá của Thụy Điển đã là 50 người Mỗi nhóm gồm 3 thành viên thuộc các nghiệp vụ khác nhau sẽ đảm nhiệm những lĩnh vực cụ thể Yêu cầu đối với các thành viên là phải am hiểu chủ đề, phương pháp thống kê và công nghệ thông tin Thành viên nào đang

Trang 17

tham gia điều tra thì không được là thành viên của nhóm đánh giá Qua kinh nghiệm của Thụy Điển thì đây thực sự là một phương pháp cần được quan tâm để nâng cao chất lượng điều tra thống kê

1.7 Sử dụng các chuyên gia có kiến thức về lĩnh vực chất lượng: công

việc của chuyên gia chất lượng là trợ giúp đội ngũ nhân viên thực hiện nhiệm vụ cải tiến các hoạt động trong những lĩnh vực liên quan đến chất lượng điều tra Cục Thống kê Thụy Điển đánh giá cao vai trò của những chuyên gia này và những khoá tập huấn, đào tạo chuyên gia chất lượng cơ bản đã mang lại nhiều lợi ích cho ngành Những chuyên gia được đào tạo đã trở thành các nhà quản lý có đủ kỹ năng cần thiết trong việc thực hiện công tác quản lý Thụy Điển có kế hoạch tiến hành đào tạo khoá chuyên gia mới, các chuyên gia về chất lượng sẽ không chỉ giúp đỡ cho nhóm công tác mà còn tham gia vào việc quản lý chất lượng nói chung của ngành

1.8 Quản lý, cải tiến các quá trình điều tra thống kê: để có được số liệu

thống kê, người ta có thể sử dụng nhiều cách thực hiện khác nhau trong cùng một hệ thống Sở dĩ có hiện tượng này do có sự khác nhau về phương pháp sử dụng, kinh phí thực hiện và sự hợp tác của người cung cấp thông tin Hiện nay, Cục Thống kê Thụy Điển đã quyết định cải tiến, phân công trách nhiệm phối hợp giữa các bộ phận tương đối cụ thể, chẳng hạn như:

• Bộ phận phương pháp luận sẽ phối hợp trong việc thiết kế mẫu và ước lượng, thiết kế và thử nghiệm bảng hỏi trong các cuộc điều tra

• Bộ phận phỏng vấn sẽ phối hợp trong việc thu thập thông tin của các cuộc điều tra

• Một bộ phận của “Phòng điều tra cá thể và hộ gia đình” sẽ thu thập số liệu thuộc lĩnh vực này

• Bộ phận thông tin sẽ kết hợp trong việc phổ biến kết quả điều tra Thụy Điển cố gắng để cho nhân viên thống kê hiểu rằng công việc của họ chính là một phần trong sản phẩm tạo ra của Cơ quan Thống kê và mọi cuộc điều tra đều góp phần tạo nên hình ảnh của ngành

Trang 18

2 Kinh nghiệm của Cơ quan Thống kê Quốc gia úc

Hiện nay, Cơ quan Thống kê Quốc gia úc được tổ chức theo mô hình thống

kê tập trung hai cấp: thống kê trung ương và thống kê vùng/lãnh thổ, có nhiệm vụ thu thập và cung cấp những thông tin thống kê có chất lượng cao, khách quan và kịp thời phục vụ công tác hoạch định chính sách, các cuộc họp của Chính phủ, phục

vụ nghiên cứu và các nhu cầu dùng tin khác Như vậy, mô hình tổ chức của Cơ quan Thống kê Quốc gia úc tương tự như mô hình tổ chức của Cơ quan Thống kê Việt Nam Vì vậy chúng ta có thể học tập được phần nào kinh nghiệm quản lý chất lượng của họ

Cơ quan Thống kê Quốc gia úc thực hiện quản lý chất lượng thông tin thống

kê theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng toàn bộ, tức là quản lý tất cả các khâu của quá trình điều tra thống kê, bao gồm: thu thập, xử lý, tổng hợp, công bố và lưu trữ kết quả Quá trình điều tra thống kê và mọi hoạt động của cơ quan đều được quán triệt tinh thần phục vụ nhu cầu của người dùng tin với chất lượng cao Các tiêu thức

đánh giá chất lượng đều được cụ thể hoá trong từng khâu công tác và từng lĩnh vực của hoạt động thống kê

Phương pháp quản lý luôn được coi là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công Hiện tại, một số phương pháp quản lý chất lượng điều tra chủ yếu được thực hiện tại cơ quan Cơ quan Thống kê Quốc gia úc, đó là:

2.1 Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với người sử dụng tin để nắm bắt kịp

thời nhu cầu dùng tin của các đối tượng sử dụng tin chính Tạo điều kiện cho người dùng tin tham gia vào việc đánh giá chất lượng số liệu điều tra thống kê và lắng nghe ý kiến đóng góp về chất lượng của những đối tượng sử dụng tin

2.2 Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, liên lạc với người cung cấp thông tin,

động viên đối tượng điều tra cung cấp thông tin chính xác và kịp thời Tôn trọng và tin tưởng vào người cung cấp thông tin, đồng thời giữ bí mật tuyệt đối về những thông tin mà người trả lời đã cung cấp

2.3 Coi phương pháp luận là nhân tố cơ bản để bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất của số liệu điều tra Trong thực tế, nếu có sự không phù hợp

Trang 19

về mặt phương pháp luận do Vụ Phương pháp Chế độ đưa ra thì Hội đồng cấp cao của cơ quan sẽ bàn bạc giải quyết theo tinh thần khách quan và lấy mục tiêu bảo đảm chất lượng thông tin thống kê để quyết định phương

án giải quyết hợp lý

2.4 Đề cao vai trò và trách nhiệm cá nhân của cán bộ điều tra: luôn động

viên, khuyến khích và nhắc nhở mọi người hướng tới chất lượng của số liệu điều tra và tin tưởng vào chất lượng của công việc mình làm Có chính sách cụ thể nhằm động viên và thu hút đội ngũ cán bộ làm công tác thống kê

2.5 ứng dụng tin học ở mức cao nhất trong từng công đoạn của điều tra

thống kê Phần lớn thông tin thống kê đầu ra đều được cung cấp miễn phí trên mạng để tạo điều kiện thuận lợi cho người dùng tin cho việc đính chính nếu phát hiện ra có sai sót sau khi công bố số liệu điều tra

2.6 Tiến hành tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm trong từng giai đoạn

điều tra, chẳng hạn: trong khâu thu thập thông tin, nếu một cuộc điều tra

mà số phiếu thu về dưới 80% tổng số phiếu phát ra thì cuộc điều tra đó

được coi là không thành công, cần phải xem xét, tìm hiểu nguyên nhân và rút kinh nghiệm

3 Kinh nghiệm của Canada

Cơ quan Thống kê Quốc gia Canada có nhiệm vụ đáp ứng mọi nhu cầu thông tin thuộc tất cả lĩnh vực và các cấp chính quyền của Canada Đồng thời, để có thể

đáp ứng được nhu cầu số liệu lập pháp, Thống kê Canada đã cố gắng phát triển và công bố những thông tin một cách trung thực, khách quan thỏa mãn các nhu cầu

đột xuất, các vấn đề chính sách công chủ yếu và quá trình chủ yếu của các hiện tượng kinh tế, xã hội và môi trường Mục tiêu của Thống kê Canada là cung cấp những thông tin làm cơ sở thực tế cho việc hoạch định chính sách của chính phủ và của các cơ quan, tổ chức và bộ/ngành khác nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh

tế, xã hội của đất nước

Quản lý chất lượng điều tra thống kê có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình quản lý chung của tổ chức Thống kê Canada

Trang 20

Đặc trưng quan trọng của việc quản lý chất lượng điều tra là phải cân đối được giữa mục tiêu chất lượng với các nguồn lực về tài chính và nhân lực Quản lý chất lượng không phải là phấn đấu đạt được mức độ chất lượng cao nhất bằng bất kỳ giá nào, mà cần được hiểu là phải đạt được mức cân bằng phù hợp giữa số lượng và chất lượng của thông tin theo các chương trình điều tra và phải có sự cân đối với các nguồn lực Thách thức được đặt ra cho mỗi chương trình cụ thể là làm thế nào

để có được sự cân bằng phù hợp giữa nhu cầu của khách hàng, chi phí, khối lượng thông tin phải thu thập và cân đối giữa các tiêu thức đánh giá chất lượng điều tra Thống kê Canada phấn đấu quản lý chất lượng trong tất cả các công đoạn điều tra và số liệu sản xuất ra Chất lượng của số liệu điều tra được xây dựng trên nền tảng sử dụng những phương pháp khoa học, điều chỉnh những nhu cầu của khách hàng cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, với kinh phí, sự thay

đổi của những hiện tượng kinh tế – xã hội thực tế cần đo tính và khả năng cung cấp

số liệu của người trả lời

Để đạt được thành công trong công tác kiểm soát chất lượng điều tra thống kê, Cơ quan Thống kê Canada đã sử dụng phương pháp quản lý chất lượng theo sáu tiêu thức đánh giá, đó là:

3.1 Quản lý tính phù hợp: bao gồm quá trình xác định các loại thông tin mà

cơ quan thống kê cần phải đáp ứng và mức các nguồn lực được phân bổ cho mỗi chương trình điều tra Mục đích của quá trình quản lý tính phù hợp chủ yếu là chuyển những nhu cầu của người sử dụng thành các chương trình kế hoạch và những quyết định về ngân sách của Cơ quan Thống kê Canada

Để thực hiện được điều này, các chương trình điều tra và sản phẩm điều tra phải đáp ứng cơ bản và thường xuyên những nhu cầu thông tin quan trọng nhất của đất nước Do những nhu cầu này phát triển theo thời gian, nên cần phải thiết lập được kế hoạch để điều chỉnh thường xuyên nhu cầu của khách hàng và để thực hiện những điều chỉnh khác nếu cần thiết

3.2 Quản lý tính chính xác: trong phạm vi giới hạn của những chương trình,

quản lý tính chính xác đòi hỏi phải nhận được sự chú ý đặc biệt trong cả

ba giai đoạn chủ yếu của quá trình điều tra: thiết kế, thực hiện và đánh giá Đây là nhân tố cơ bản để cân bằng những mâu thuẫn trong việc phát

Trang 21

triển các chương trình thống kê Đánh giá tính chính xác, tức là cần đánh giá xem độ chính xác đã đạt được ở mức nào Mặc dù đây là vấn đề cuối cùng của quá trình điều tra, nhưng cần có sự cân nhắc trong giai đoạn thiết kế vì việc đo lường tính chính xác thường đòi hỏi những thông tin

được ghi chép trong quá trình thực hiện điều tra Chính sách thông báo cho người sử dụng những thông tin về chất lượng số liệu và phương pháp luận mà cơ quan Thống kê Canada đã và đang sử dụng đòi hỏi cần phải quan tâm đánh giá tính chính xác ít nhất trong bốn lĩnh vực của tất cả các cuộc điều tra là:

• Đánh giá những thông tin thu được từ điều tra qua việc so sánh với những thông tin của tổng thể mục tiêu, đối với những tổng thể toàn bộ

và đối với những tổng thể con có ý nghĩa

• Đánh giá sai số của điều tra chọn mẫu nếu sử dụng điều tra chọn mẫu Sai số chuẩn, hoặc hệ số biến thiên cần được cung cấp cho việc tính toán các chỉ tiêu thống kê chủ yếu Các phương pháp sử dụng để có thể tính được sai số chuẩn hoặc gần giống với sai số chuẩn cần được chỉ rõ đối với những ước tính thống kê không được cung cấp về sai số chuẩn cụ thể

• Đánh giá tỷ lệ không trả lời, hoặc phần trăm của những số liệu thống

kê được tính bằng cách qui đổi để chỉ ra phần tính toán thêm của bộ số liệu thống kê đã được báo cáo

• Xem xét lại các trường hợp thiếu chính xác và thiếu tính thống nhất nghiêm trọng của kết quả điều tra Điều này được thực hiện đối với những trường hợp xảy ra trong quá trình điều tra, ví dụ như: nếu câu hỏi không thể hiểu được nhiều sẽ dẫn đến những ước tính sai của những chỉ tiêu cụ thể Đồng thời nó cũng được thực hiện với các trường hợp thiếu sự thống nhất giữa kết quả điều tra và dãy số có thể

so sánh được khác

3.3 Quản lý tính kịp thời: tính kịp thời là một nhân tố quan trọng được

Canada kiểm soát trong nhiều năm nay để cảnh báo những tình trạng ngày càng xấu đi Chúng được kiểm soát thông qua viêc lập kế hoạch để biết được sự quá trễ về thời gian không cho phép, đồng thời cũng để biết

Trang 22

được những trường hợp bảo đảm tốt về yêu cầu thời gian Thống kê Canada có thông báo trước về ngày tháng công bố thông tin điều tra chủ yếu Điều này không những giúp cho người sử dụng số liệu thiết lập được

kế hoạch của họ mà còn đưa ra được các nguyên tắc hoạt động trong nội

bộ cơ quan và điều quan trọng hơn là giảm bớt được những quan điểm làm ảnh hướng đến việc công bố số liệu của một số trường phái do lợi ích cá nhân Việc thay đổi ngày, tháng công bố số liệu cũng cần được theo dõi thường xuyên

3.4 Quản lý khả năng giải thích: trong trường hợp các file số liệu điều tra sử

dụng dưới dạng micro, thông tin có liên quan đến việc sắp xếp các bản ghi và hệ thống phân loại/mã hóa được sử dụng để mã hóa số liệu trong file dữ liệu là công cụ quan trọng để người sử dụng có thể hiểu và sử dụng

được số liệu Bất kỳ được thể hiện ở đâu, các file dữ liệu nên được cung cấp theo sự định dạng chung mà có thể đọc được bằng các chương trình thống kê phổ biến như SAS và SPSS Các tiêu chuẩn và những hướng dẫn của Thống kê Canada được xuất phát từ chính sách thông báo cho người

sử dụng biết được về chất lượng số liệu và phương pháp luận sử dụng Việc cung cấp thông tin về chất lượng số liệu và phương pháp luận của sản phẩm điều tra thống kê được sắp xếp theo các yêu cầu và có hướng dẫn cụ thể

3.5 Quản lý khả năng truy cập số liệu: chính sách phổ biến rộng rãi và hệ

thống cung cấp thông tin quyết định chủ yếu về khả năng truy cập dữ liệu Các nhà quản lý chương trình có trách nhiệm thiết kế sản phẩm, lựa chọn hệ thống cung cấp phù hợp, và bảo đảm tính đầy đủ của số liệu điều tra thống kê bao gồm cả hệ thống danh mục kèm theo Việc phổ biến thông tin thống kê của Canada là nhằm làm cho thông tin sản suất ra

được sử dụng ở mức đối đa nhưng chi phí cho việc phổ biến thông tin không ảnh hưởng đến khả năng thu thập và xử lý số liệu Chiến lược của Canada là đưa số liệu điều tra chủ yếu trở thành hàng hóa công cộng,

được cung cấp miễn phí thông qua một số thông tin đại chúng như: báo chí, internet, các trung tâm nghiên cứu thông tin và các thư viện Tuy nhiên, đối với những đối tượng khai thác thông tin ngoài những thông tin

đã được phổ biến thì cần phải trả một khoản chi phí nhất định

Trang 23

3.6 Quản lý tính chặt chẽ của số liệu: có ba phương pháp bổ sung lẫn nhau

được sử dụng trong việc quản lý tính chặt chẽ của Thống kê Canada

Phương pháp thứ nhất là phát triển và sử dụng các cấu trúc có sẵn, các

khái niệm, chỉ tiêu và phân loại chuẩn để bảo đảm tính nhất quán trong

tất cả các cuộc điều tra Phương pháp thứ hai là bảo đảm quá trình tính

toán không có sự mâu thuẫn giữa các nguồn số liệu, ngay cả trong trường hợp những số liệu được đo tính có cùng một khái niệm thống nhất Việc phát hiện và sử dụng những kết cấu, phương pháp luận và những hệ thống phân loại chung trong việc thu thập và xử lý số liệu là tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu này Tuy nhiên, không thể bảo đảm được một cách hoàn hảo về sự thống nhất giữa các nguồn số liệu khác nhau, hoặc loại trừ hết được những thay đổi ngẫu nhiên do lấy mẫu hoặc do sai

số trong quá trình điều tra Phương pháp thứ ba phân tích số liệu và tập

trung vào việc so sánh và tổng hợp số liệu từ các nguồn khác nhau hoặc qua các thời kỳ khác nhau để cố gắng phát hiện ra các trường hợp có sự thay đổi hoặc không thống nhất quá giới hạn cho phép Những trường hợp như vậy cần có sự giải thích hoặc nếu có thể được thì hiệu chỉnh lại cho

đúng Sự hiểu biết và nhận thức về chuyên môn đóng vai trò quan trọng bởi nó cung cấp cơ sở cho việc thiết lập tính chặt chẽ hoặc nhận biết tính chặt chẽ của số liệu Sự phản hồi của những đối tượng sử dụng bên ngoài cơ quan và những phân tích số liệu chỉ ra được các vấn để cần giải quyết

về tính chặt chẽ của số liệu hiện tại cũng là một nhân tố quan trọng trong quá trình phân tích tính chặt chẽ của số liệu Nếu có vấn đề không chặt chẽ về số liệu xảy ra có thể dẫn đến việc điều chỉnh số liệu lịch sử

Trang 24

Phần hai Thực trạng chất lượng điều tra thống kê trong những năm gần đây

I Sơ lược lịch sử ứng dụng điều tra thống kê ở Việt Nam

Ngành Thống kê Việt Nam đã ra đời và phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau của dân tộc: Thời kỳ tiền khởi nghĩa và kháng chiến chống Pháp từ năm

1946 đến 1954; Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc 1955-1975; Thời kỳ đất nước thống nhất từ sau tháng 4 năm 1975 đến nay ở mỗi thời kỳ lịch sử, công tác thống kê cũng có những đặc

điểm và trình độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều đã sử dụng đến điều tra thống kê

• Thời kỳ 1946 - 1954, công tác thống kê rất khó khăn, lực lượng rất mỏng, do vậy điều tra thống kê được sử dụng rất hạn chế, chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực: tiểu thủ công nghiệp, đất và sản lượng một số cây lương thực, mạng lưới chợ nông thôn, đời sống của các giai cấp ở nông thôn… và số kỳ điều tra trong năm cũng từ một đến hai lần, chủ yếu là điều tra toàn bộ ở vùng tự

do

• Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Miền Bắc, công tác thống kê phát triển và lớn mạnh rất nhiều, khâu thu thập số liệu thống kê được quan tâm nhiều hơn Cùng với việc tăng cường chế độ báo cáo thống kê định kỳ, điều tra thống kê được mở rộng ở nhiều lĩnh vực và số kỳ

điều tra trong năm cũng tăng lên Trong nông nghiệp có nhiều cuộc điều tra chọn mẫu và điều tra toàn bộ về năng suất, diện tích sản lượng lúa, rau màu

và một số cây công nghiệp, cây lâu năm, điều tra chăn nuôi một số con gia súc, gia cầm… Mỗi cuộc điều tra trong nông nghiệp thường được tiến hành

từ một đến hai kỳ trong một năm Ngành Công nghiệp ngoài điều tra sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo chu kỳ một năm hai kỳ, còn tiến hành các cuộc điều tra chuyên sâu với ngành sản xuất cá, muối, gỗ, điều tra không

định kỳ theo chuyên đề như: điều tra cơ khí, điều tra cấp bậc thợ trong một

số ngành… Hầu hết các cuộc điều tra trong công nghiệp đều được tiến hành

Trang 25

bằng điều tra toàn bộ Ngành Thương nghiệp đã áp dụng điều tra trong lĩnh vực tiểu thương, điều tra mạng lưới chợ nông thôn…Trong lĩnh vực xây dựng

và vận tải, điều tra thống kê đã được thực hiện để thu thập thông tin của khu vực cá thể và các hợp tác xã kiêm xây dựng hoặc vận tải

Đặc biệt thời kỳ này điều tra thống kê đã phát triển đáng kể trong lĩnh vực thống kê xã hội, nhất là dân số lao động, thu chi hộ gia đình dân cư Ngoài điều tra toàn bộ như: Tổng điều tra Dân số, Điều tra Lực lượng lao

động, điều tra chọn mẫu được ứng dụng nhiều hơn, chẳng hạn như: Điều tra sinh, chết; Điều tra Biến động Dân số hàng năm; Điều tra Thu chi Hộ gia

đình…Mặc dù điều tra thống kê được sử dụng nhiều hơn, rộng rãi hơn, nhưng nhìn chung thì thời kỳ này công tác thống kê vẫn sử dụng hình thức thu thập thông tin theo chế độ báo cáo định kỳ là chủ yếu, thu thập thông tin bằng hình thức điều tra chiếm không nhiều và chỉ hạn chế ở một số lĩnh vực Trong lĩnh vực thống kê kinh tế, điều tra thống kê chỉ được sử dụng để thu thập thông tin thuộc khu vực kinh tế nhỏ ngoài quốc doanh, mà khu vực này chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể được thu thập theo chế độ báo cáo thống kê định kỳ vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng

Sở dĩ giai đoạn này điều tra thống kê chưa được sử dụng rộng rãi là vì đây là thời kỳ của cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung bao cấp, nền kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể (hợp tác xã) nên dễ thu thập thông tin bằng chế

Trang 26

ắ Giai đoạn từ sau 1986 đến nay: là giai đoạn đổi mới sâu sắc và toàn diện, nền kinh tế từng bước chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, từ chủ yếu là thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể sang nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và kinh

tế tư nhân đa sở hữu phát triển nhanh chóng cả về số lượng và qui mô Công tác thống kê đòi hỏi cũng phải đổi mới toàn diện cả về hệ thống chỉ tiêu, phương pháp tính toán và hình thức tổ chức thu thập thông tin

Đặc điểm của công tác thống kê trong giai đoạn này là chuyển đổi phương pháp luận và hình thức thu thập thông tin phù hợp với nền kinh

tế thị trường và theo các chuẩn mực của thống kê quốc tế

Về hình thức thu thập thông tin đã và đang từng bước mở rộng phạm

vi điều tra thống kê so với thời kỳ trước đây Điều tra thống kê không chỉ áp dụng với hình thức sản xuất nhỏ lẻ, phân tán thuộc khu vực ngoài quốc doanh

mà còn áp dụng với cả khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Mặt khác với yêu cầu thông tin của nền kinh tế thị trường không chỉ phục vụ quản lý của Nhà nước ở tầm vĩ mô,

mà còn phải đáp ứng nhu cầu thông tin của nhiều đối tượng dùng tin khác như: các nhà đầu tư, các đơn vị sản xuất kinh doanh cơ quan nghiên cứu, giảng dạy, các tổ chức quốc tế…Nhu cầu thông tin thống kê rất phong phú, đa dạng, đối tượng cung cấp thông tin cũng hết sức phức tạp, hình thức thu thập thông tin chủ yếu bằng chế độ báo cáo định kỳ không còn phù hợp và không thể đáp ứng

được yêu cầu Trước tình hình đó, ngành Thống kê đã thực hiện đổi mới khâu thu thập số liệu theo hướng tinh giảm chế độ báo cáo, tăng cường hình thức thu thập thông tin ban đầu bằng điều tra thống kê và đặc biệt là chủ động áp dụng

điều tra chọn mẫu Hướng đổi mới này là phù hợp và có hiệu quả nhất trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Qua nhiều năm đổi mới phương pháp luận thống kê, nhất là thời gian từ sau năm 1995 đến nay, khối lượng thông tin thống kê được thu thập qua điều tra ngày càng tăng và chiếm vai trò chủ yếu so với khối lượng thông tin thu thập bằng chế

độ báo cáo thống kê định kỳ Đến nay, điều tra thống kê đã được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực và hầu hết các khu vực kinh tế (kể cả khu vực kinh tế nhà nước), cả nước mỗi năm tiến hành từ 200 đến gần 250 cuộc điều tra các loại, trong đó Tổng

Trang 27

cục Thống kê trực tiếp thực hiện từ 30 đến 35 cuộc tổng điều tra và điều tra qui mô lớn, thường xuyên, quan trọng với phạm vi toàn quốc, cụ thể là:

(i) Đã hình thành và ổn định ba cuộc tổng điều tra do Thủ tướng Chính phủ quyết định:

• Tổng điều tra Dân số và Nhà ở, 10 năm một lần vào những năm tận cùng là số 9;

• Tổng điều tra Nông nghiệp và Nông thôn, 5 năm một lần vào những năm tận cùng là 1 và 6;

• Tổng điều tra Cơ sở kinh tế, Hành chính, Sự nghiệp, 5 năm một lần vào những năm tận cùng là 2 và 7

(ii) Đã hình thành và ổn định các cuộc điều tra hàng năm và nhiều năm thuộc các lĩnh vực thống kê chuyên ngành như:

• Điều tra Lập bảng cân đối liên ngành sản phẩm (I/O) 5 năm một lần

• Thống kê Nông, Lâm nghiệp, Thuỷ sản: Điều tra Năng suất, diện tích,

dản lượng lúa; Điều tra một số cây công nghiệp chủ yếu; Điều tra cây lâu năm; Điều tra đàn gia súc, gia cầm; Điều tra đánh bắt thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản, phương tiện đánh bắt thuỷ sản…

• Thống kê Công nghiệp - Xây dựng: Điều tra mẫu công nghiệp cá thể và

doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Điều tra mẫu doanh nghiệp xây dựng; Điều tra xây dựng của hộ gia đình dân cư và xã phường

• Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả: Điều tra mẫu doanh nghiệp

và cơ sở cá thể kinh doanh thương nghiệp, kinh doanh khách sạn, nhà

Trang 28

hàng; Điều tra mẫu hoạt động du lịch; Điều tra giá tiêu dùng, giá của người sản xuất…

• Thống kê Dân số và Lao động: Điều tra mẫu biến động dân số; Điều

tra sinh chết; Điều tra lao động việc làm…

• Thống kê Xã hội & Môi trường: Điều tra dinh dưỡng trẻ em (5 năm

một lần), Điều tra người tàn tật (lồng ghép trong KSMS)

II Thực trạng chất lượng Điều tra Thống kê

Chất lượng điều tra thống kê được hiểu là chất lượng những thông tin đầu ra của quá trình điều tra Để có được kết quả điều tra tốt thì cần phải quản lý tất cả các hoạt động, các khâu liên quan đến điều tra, tức là phải quản lý chất lượng toàn bộ, gồm chất lượng của hệ thống bộ máy tổ chức điều tra; chất lượng của quá trình điều tra và chất lượng của những thông tin đầu vào Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ xin đề cập sâu đến thực trạng chất lượng của quá trình điều tra thống kê và

đánh giá chất lượng thông tin đầu vào qua đối tượng cung cấp thông tin(6)

Trong quá trình nghiên cứu, Ban chủ nhiệm đề tài đã tham khảo ý kiến của một số lãnh đạo các vụ nghiệp vụ trong Tổng cục Thống kê có thực hiện điều tra thông qua các chuyên đề khoa học; lãnh đạo cục và phòng của 22 Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương qua “Phiếu thăm dò một số thông tin về điều tra thống kê” (chi tiết xem phần phụ lục 3)

ủng hộ quan điểm “Kiểm soát chất lượng toàn bộ” và sự lựa chọn sáu tiêu

thức đánh giá chất lượng đã đề xuất của Ban chủ nhiệm đề tài: “Nghiên cứu đề xuất

các giải pháp nhằm quản lý và nâng cao chất lượng thông tin thống kê”, chúng tôi

đã thiết kế phiếu khảo sát để tham khảo thông tin ở hầu hết các khía cạnh liên quan

đến chất lượng thuộc tất cả các khâu của quá trình điều tra, chẳng hạn như: khâu chuẩn bị điều tra; điều tra tại địa bàn; xử lý, tổng hợp và công bố kết quả Song, trong khuôn khổ của báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu, không thể truyền tải

( 6

) Về những vấn đề liên quan đến chất lượng của tổ chức thống kê đã được giải quyết trong đề tài: “Nghiên cứu

đề xuất các giải pháp nhằm quản lý và nâng cao chất lượng thông tin thống kê” và Dự án 00040722: “Hỗ trợ

giám sát phát triển kinh tế – xã hội”

Trang 29

được hết các ý kiến đánh giá của các chuyên gia, Ban chủ nhiệm đề tài tổng hợp một số ý kiến hiện đang được nhiều người quan tâm, chia sẻ trong vấn đề này

1 Một số thông tin liên quan đến cuộc khảo sát thăm dò ý kiến

Mục đích: có được những số liệu cụ thể về thông tin đánh giá thực trạng một

số vấn đề liên quan đến chất lượng điều tra thống kê tại các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương

Đối tượng trả lời: lãnh đạo Cục Thống kê tỉnh/thành phố, các trưởng/phó

phòng nghiệp vụ của Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương

Đơn vị được chọn khảo sát: Cục Thống kê của 22 tỉnh/thành phố trực thuộc

Trung ương, theo 8 vùng kinh tế, cụ thể:

• Vùng Đồng Bằng Sông Hồng: khảo sát tại 4 tỉnh (Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Ninh Bình);

• Vùng Đông Bắc: khảo sát 4 tỉnh (Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Phú Thọ);

• Vùng Tây Bắc: khảo sát 2 tỉnh (Điện Biên, Hoà Bình);

• Vùng Bắc Trung Bộ: khảo sát 2 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An);

• Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: khảo sát 2 tỉnh (Đà Nẵng, Phú Yên);

• Vùng Tây Nguyên: khảo sát 2 tỉnh (Gia Lai, Lâm Đồng);

• Vùng Đông Nam Bộ: khảo sát 3 tỉnh (Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh);

• Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: khảo sát 3 tỉnh (Bạc Liêu, Trà Vinh, Cần Thơ)

Nội dung khảo sát gồm: phiếu khảo sát được thiết kế gồm 29 câu hỏi

gồm các chỉ tiêu nhận dạng đối tượng được thăm dò ý kiến; đánh giá một số vấn

đề liên quan đến các cuộc điều tra thống kê như: mức độ phù hợp về số lượng các cuộc điều tra được tiến hành hàng năm; những trở ngại và mức độ trở ngại khi tiến hành điều tra; những vấn đề có thể xảy ra trong quá trình thực hiện điều tra; khả năng bảo đảm chất lượng của từng khâu trong quá trình điều tra và khả năng cải

Trang 30

thiện chất lượng điều tra trong các khâu; khả năng cải thiện chất lượng điều tra trong điều kiện không cần tăng thêm kinh phí; một số vấn đề liên quan đến chọn mẫu và mong muốn của người cung cấp thông tin đối với các cuộc điều tra thống

kê trong tương lai

Phương pháp điều tra: đối tượng điều tra tự điền thông tin vào phiếu và gửi lại Ban chủ nhiệm đề tài qua đường bưu điện

2 Thực trạng chất lượng điều tra thống kê(7)

2.1 Những ưu điểm và kết quả đạt được

• Các cuộc điều tra thống kê đều được các cơ quan có thẩm quyền ra quyết

định thực hiện nên mang tính pháp lý cao, Tổng cục Thống kê được tổ chức theo hệ thống ngành dọc nên công tác tổ chức và chỉ đạo có nhiều thuận lợi Tuy đây không phải là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng điều tra thống kê nhưng đóng góp rất quan trọng trong việc huy động nguồn lực và kinh phí cũng như sự ủng hộ của các cấp, các ngành trong quá trình thực hiện điều tra thống kê Phần lớn các cuộc điều tra được tiến hành theo đúng trình tự: xác định mục tiêu (dựa vào nhu cầu thông tin của các đối tượng dùng tin); xây dựng phương án, biểu mẫu, tài liệu hướng dẫn điều tra; tập huấn cán bộ tham gia điều tra; điều tra thực địa; kiểm tra và làm sạch phiếu trước khi nhập tin; tổng hợp, phân tích và công bố kết quả Một số cuộc điều tra đã nhận được sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật từ chuyên gia quốc tế có kinh nghiệm, được tiếp cận với nguồn tài liệu phong phú từ các tổ chức thống kê quốc gia và quốc tế nên phần nào đã bảo đảm được tính thống nhất và hài hoà với quốc tế (đặc biệt là các cuộc Điều tra Mức sống Dân cư; Tổng điều tra Dân số, Điều tra Doanh nghiệp; Tổng điều tra Cơ sở kinh tế, Hành chính

và Sự nghiệp )

• Điều tra thống kê đã thay thế chế độ báo cáo thống kê định kỳ ở một số lĩnh vực không có điều kiện hoặc khó có thể thực hiện theo chế độ báo cáo thống

kê định kỳ, chẳng hạn: khu vực kinh tế tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước

ngoài, khu vực hộ gia đình và các đơn vị sự nghiệp, tôn giáo Số lượng các

( 7

) Báo cáo được tổng hợp từ phiếu khảo sát thông tin tại các Cục Thống kê và các chuyên đề khoa học thuộc đề tài

Trang 31

cuộc điều tra tăng, phạm vi điều tra được mở rộng thể hiện sự quan tâm ngày

càng nhiều đối với lĩnh vực này (Kết quả khảo sát cho thấy: 68,9% người

được hỏi cho là số lượng cuộc điều tra được tiến hành ở Tổng cục Thống kê

hiện nay là vừa đủ so với yêu cầu ; chỉ có 12,2% người được hỏi cho là quá nhiều) Phần lớn các cuộc điều tra được lập kế hoạch hàng năm giúp cho việc

cân đối các nguồn lực cho từng cuộc điều tra được tốt hơn, giảm thiểu các sai sót trong điều tra

• Bước đầu các cuộc điều tra được bố trí sắp xếp hợp lý hơn, từng bước khắc phục được sự phân tán, trùng chéo giữa các cuộc điều tra thống kê, giảm bớt

áp lực công việc do dồn nhiều cuộc điều tra vào cùng một thời điểm, ví dụ:

ghép các cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm của từng chuyên ngành ở các thời điểm điều tra khác nhau thành một cuộc điều tra doanh nghiệp thống nhất; hợp nhất các cuộc điều tra cá thể của các chuyên ngành hàng năm thành cuộc điều tra cơ sở kinh tế cá thể 1/10 hàng năm Việc làm này vừa

tiết kiệm chi phí về tài chính, nhân lực, vừa tạo ra nguồn thông tin ban đầu phong phú và có độ tin cậy cao hơn do tính đồng bộ và thống nhất các khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu và thời điểm điều tra Chu kỳ các cuộc

điều tra và thời điểm triển khai cũng được sắp xếp hợp lý hơn: ổn định chu kỳ

các cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 10 năm; Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thuỷ sản; Tổng điều tra Cơ sở Kinh tế, Hành chính Sự nghiệp 5 năm; Điều tra Lập bảng cân đối liên ngành (điều tra I/O) 5 năm;

Điều tra Mức sống Dân cư 2 năm, sắp xếp các cuộc điều tra nông nghiệp, dân số ở các thời điểm 1/4 và 1/7…

• Cỏc cuộc Tổng điều tra, điều tra hàng năm đều thành lập được Ban chỉ đạo điều tra cỏc cấp (BCĐ); xõy dựng được kế hoạch cụng tỏc cụ thể của địa phương, phõn cụng rừ ràng trỏch nhiệm của cỏc thành viờn BCĐ cũng như tổ thường trực; cú lịch họp BCĐ, tổ thường trực, họp giao ban với cỏc lực lượng giỏm sỏt, kiểm tra Tranh thủ được sự lónh đạo của cấp uỷ, chớnh quyền Huy động được tổng lực hiện cú của ngành Thống kờ và lực lượng tham gia của cỏc ngành liờn quan Tăng cường cụng tỏc thanh tra, kiểm tra trong quỏ trỡnh điều tra Sớm đưa ra được cỏc quyết định chỉ đạo nghiệp vụ

Trang 32

để chỉ đạo những trường hợp bất thường xảy ra hoặc chưa lường trước được trong cụng tỏc chuẩn bị

• Điều tra thống kê đã cung cấp nguồn thông tin đa dạng giúp cho việc tổng hợp, tính toán thêm nhiều chỉ tiêu thống kê kinh tế – xã hội tổng hợp, nâng cao tính đầy đủ của số liệu thống kê trong những năm gần đây Điều này có nghĩa hơn khi Việt Nam ngày càng chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường, mọi ưu thế của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp cho công tác thống kê không còn

• Nguồn thông tin thu thập từ các cuộc điều tra thống kê thường rất phong phú, lại đảm bảo tính đồng bộ về thời gian, không gian cũng như về các khái niệm, định nghĩa và các phân loại chuẩn hoá khác, cải thiện được tính kịp thời và tính lô gíc, chặt chẽ của số liệu điều tra thống kê Điều tra thống kê trong thời gian qua đã cung cấp được nguồn thông tin cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách được kịp thời và đa dạng hơn, ví dụ:

9 Thông tin từ cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở: cung cấp những thông tin về thực trạng dân số (số dân, tháp tuổi, cơ cấu dân số, phân

bố dân cư, sinh, chết, tăng dân số…), thông tin phản ánh tình trạng hôn nhân, kế hoạch hoá gia đình, trình độ văn hoá, hộ gia đình, thực trạng nhà ở của dân cư, cung cấp số liệu để tính toán nhiều chỉ tiêu tổng hợp

9 Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thuỷ sản: cung cấp những thông tin về thực trạng sản xuất ngành nông lâm nghiệp, thuỷ sản, tình hình đất và sử dụng đất nông nghiệp, thông tin cơ bản về hộ gia đình nông thôn, cơ cấu ngành nghề trong nông thôn, cơ sở hạ tầng như

đường giao thông, trạm y tế trường học, điện nước, thông tin liên lạc của các thôn, xã Đồng thời cung cấp những thông tin để đánh giá trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, nông nghiệp…

9 Điều tra Doanh nghiệp: cung cấp bộ thông tin tương đối đầy đủ về thực trạng và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cả nước, thông tin về chi phí để tính hệ số chi phí trung gian, thông tin

về tài sản cố định để tính hệ số đổi mới tài sản cố định trong một số

Trang 33

ngành kinh tế, thông tin về vốn đầu tư phục vụ cho nghiên cứu phân tích vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư

9 Khảo sát Mức sống Dân cư: cung cấp thông tin nhằm phân tích đánh giá mức sống dân cư, phân tích kết quả thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, tình trạng chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, thực trạng và khả năng học hành, tiếp cận với văn hoá tinh thần của người dân…

• Công tác tuyên truyền cho các cuộc tổng điều tra và điều tra lớn đã được quan tâm hơn thông qua các hình thức như: tờ rơi, panô, áp phích, quay phim, truyền hỡnh, bỏo chớ ), tạo được khí thế sôi động trong ngày đầu ra quân, đồng thời đó tạo điều kiện cho điều tra viờn dễ tiếp cận hơn với cỏc đối tượng điều tra

• Cụng tỏc xử lý số liệu điều tra được cải thiện rừ rệt: cỏc cuộc điều tra thống

kờ hiện nay hoặc được tổ chức nhập tin theo mụ hỡnh “xử lý tập trung”, tức

là nhập tin tại ba trung tõm tớnh toỏn của ngành thống nhất theo chương trỡnh nhập tin chung, sau đú truyền số liệu về Trung tõm Tớnh toỏn Trung ương của Tổng cục Thống kờ Hoặc theo mụ hỡnh “nửa tập trung, nửa phõn tỏn”, tức là khõu nhập tin được thực hiện tại cỏc Cục Thống kờ địa phương sau đú truyền số liệu về Trung Trung tõm Tớnh toỏn Trung ương của Tổng cục Thống kờ Mặc dự nhập tin theo mụ hỡnh nào, thỡ số liệu đều được kiểm soỏt lỗi từ khõu nhập tin, kịp thời phỏt hiện cỏc sai sút cũn tồn tại trong quỏ trỡnh ghi chộp thụng tin trờn phiếu điều tra, tạo ra nguồn số liệu gốc ban đầu đảm bảo chất lượng, làm cơ sở tốt cho việc tổng hợp, phõn tớch kết quả

• Tổng hợp và phân tích kết quả: đây là quá trình chuyển dữ liệu từ dạng thô thành những thông tin có thể sử dụng được, là khâu cuối cùng thể hiện mức

độ thành công và hiệu quả của một cuộc điều tra Những năm gần đây, nhận thức về vai trò của số liệu thống kê cùng sự phát triển của công nghệ thông tin nên công tác tổng hợp và phân tích số liệu điều tra được cải thiện rõ rệt Phần lớn các báo cáo kết quả tổng hợp điều tra đã cố gắng khai thác nguồn thông tin đầu vào một cách hiệu quả để phục vụ việc phân tích Báo cáo phân tích của nhiều cuộc điều tra được xuất bản thành sách, phục vụ các yêu cầu

sử dụng tin khác nhau Đặc biệt có nhiều cuộc điều tra đã nhận được sự giúp

Trang 34

đỡ về mặt kỹ thuật phân tích số liệu điều tra của các tổ chức quốc tế, chuyên gia nước ngoài nên chất lượng báo cáo tổng hợp và phân tích số liệu điều tra

được người dùng tin đánh giá cao Các báo cáo phân tích đã cơ bản thực hiện

được các bước trong quy trình phân tích, bao gồm: xác định vấn đề cần giải quyết, tìm kiếm lời giải đáp thông qua kiểm nghiệm và luận giải số liệu đầu

ra và cuối cùng là truyền tải thông tin đến người dùng tin

2.2 Những bất cập và tồn tại ảnh hưởng đến chất lượng điều tra

Mặc dù công tác điều tra thống kê trong những năm qua đã có nhiều tiến bộ, tạo ra được những bộ số liệu thống kê tương đối tốt, khẳng định được lợi thế so với chế độ báo cáo thống kê trong khâu thu thập thông tin ban đầu, nhưng điều tra thống kê nói chung vẫn còn những tồn tại cần nhanh chóng khắc phục để nâng cao hơn nữa chất lượng, đó là:

• Về kế hoạch điều tra: chưa có kế hoạch dài hạn cho các cuộc điều tra (trừ

các cuộc tổng điều tra đã được ban hành theo Luật Thống kê), chưa ban hành được chương trình điều tra thống kê quốc gia, chủ yếu các cuộc điều tra được duyệt theo kế hoạch hàng năm Làm như vậy tuy có những mặt tích cực trong việc kiểm soát chất lượng như phần trên đã phân tích, nhưng việc tra cứu, tham khảo thông tin giữa các cuộc điều tra rất khó khăn, đôi khi gây trùng/chéo về thông tin, lãng phí về nguồn lực ngay cả trong nội bộ Tổng cục Thống kê Vì vậy ảnh hưởng lớn đến tính chủ động trong khâu tổ chức

điều tra, nản lòng đối tượng cung cấp thông tin và cuối cùng là ảnh hưởng

đến chất lượng điều tra

• Về tổ chức: hiện nay, tất cả cỏc cuộc điều tra đều do cỏc vụ nghiệp vụ tiến

hành từ khõu đầu đến khõu cuối Cỏch làm này cũng cú ưu điểm là cỏc vụ nghiệp vụ sẽ đưa ra được những vấn đề cần điều tra sỏt với thực tế hơn, thuận tiện cho cụng tỏc chỉ đạo nghiệp vụ Tuy nhiờn, thực tế cũng đó bộc lộ nhiều yếu điểm do khụng cú bộ phận điều phối chung nờn khụng cõn đối được cụng việc và nhu cầu thụng tin một cỏch tổng thể, cú tư tưởng “mạnh

ai người ấy làm”, gõy ỏp lực cụng việc đối với những bộ phận thực hiện nhiều cuộc điều tra trong một năm; thu thập thụng tin trựng/chộo do tớnh chất cục bộ,thiếu sự phối hợp và tin tưởng lẫn nhau trong cựng một cơ quan

Trang 35

Điều này gõy lóng phớ nghiờm trọng về kinh phớ và sức lao động, nhưng nguy hại hơn là làm cho số liệu khú so sỏnh, mõu thuẫn với nhau

• Về thời điểm điều tra và thời gian thu thập thông tin: những năm gần đây,

Tổng cục Thống kê đã chú ý đến việc sắp xếp thời điểm tiến hành của các cuộc điều tra, nhưng vẫn còn những thời điểm chưa hợp lý, thực hiện nhiều cuộc điều tra (cả trong kế hoạch và ngoài kế hoạch) gây áp lực lớn về thời gian và nhân lực cho thống kê các địa phương, nhất là đối với thống kê cấp huyện, quận Hiện tại những thời điểm như 1 tháng 4 và 1 tháng 7 hàng năm

là thời điểm thường có nhiều cuộc điều tra cả ở trung ương và địa phương

được triển khai

Trên thực tế, các Cục Thống kê không chỉ thực hiện các cuộc điều tra

từ Tổng cục Thống kê, mà còn phải thực hiện một số cuộc điều tra theo yêu cầu của địa phương Việc thực hiện điều tra ở cấp Trung ương được phân tán theo các vụ thống kê chuyên ngành, đến cấp tỉnh/thành phố được giao cho một

số phòng nghiệp vụ, nhưng đến cấp huyện/quận thì chỉ duy nhất có một phòng thống kê với số cán bộ từ 4 đến 5 người thực hiện Nếu tại thời điểm có nhiều cuộc điều tra cùng triển khai thì việc thực hiện ở cấp huyện, quận là rất khó khăn

Trong lĩnh vực nông nghiệp, thời gian và thời điểm điều tra về diện tích, năng suất sản lượng cây trồng, điều tra chăn nuôi, điều tra thuỷ sản không phù hợp với yêu cầu của chế độ báo cáo hiện hành cũng như yêu cầu thông tin phục

vụ quản lý của nhà nước Ví dụ: kết quả điều tra gia súc, gia cầm chỉ có vào

thời điểm 1tháng 4 và 1 tháng 10 hàng năm, điều tra thuỷ sản vào ngày 1 tháng

1, trong khi đó yêu cầu thông tin cần có để làm báo cáo lại theo quí, 6 tháng, 9 tháng và năm

Để hoàn thành tốt phiếu điều tra, điều tra viên cần có một khoảng thời gian cần thiết để thu thập thông tin, nhưng qua khảo sát thực tế, trong các cuộc

điều tra được tiến hành vừa qua, có 50% số người được phỏng vấn trả lời là không đủ thời gian thu thập thông tin cho phiếu điều tra

• Về phiếu điều tra: phiếu điều tra là một trong những vấn đề quan trọng, liên

quan trực tiếp đến chất lượng điều tra Số liệu khảo sát cho thấy, phiếu điều

Trang 36

tra trong các cuộc điều tra do ngành Thống kê thực hiện trong thời gian qua

được thiết kế tương đối tốt (61,11% số người được hỏi cho rằng các phiếu

điều tra thiết kế thuận tiện cho việc điền thông tin) Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng điều tra trong thời gian tới, phần lớn các ý kiến đều cho rằng cần phải cải tiến hơn nữa Trong đó, nội dung phiếu điều tra cần cải tiến đầu tiên vì nội dung phiếu điều tra còn nặng nề, có những chỉ tiêu đưa ra rất khó thu thập hoặc có thu thập được thì độ tin cậy của thông tin cũng không bảo đảm,

đặc biệt là những thông tin nhạy cảm về doanh thu, tài sản, thuế trong Điều tra Doanh nghiệp, Điều tra Vốn đầu tư; Khảo sát mức sống dân cư; Tổng điều tra Cơ sở Kinh tế, Hành chính, Sự nghiệp Kết quả khảo sát cho thấy: 59,21% số người được hỏi trả lờilà nội dung phiếu điều tra quá nhiều, gây trùng lắp thông tin và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng điều tra viên tự điền phiếu điều tra, thậm chí có có 47,78% trả lời đây

là nguyên nhân chính của tình trạng tự điền phiếu Ví dụ: Điều tra Doanh

nghiệp ngoài hệ thống chỉ tiêu phản ánh, mục tiêu chính của cuộc điều tra

là thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, còn đựơc cài đặt nhiều thông tin của nhiều lĩnh vực quản lý khác nhau như: tai nạn lao động, đào tạo nghề, đầu tư và hoạt động nghiên cứu đổi mới khoa học công nghệ, môi trường đầu tư, công nghệ thông tin… Một số cuộc điều tra kinh tế, đơn vị điều tra là doanh nghiệp, đều thực hiện điều tra các chỉ tiêu

về vốn kinh doanh, tài sản cố định, lao động, doanh thu, lãi/lỗ, nộp ngân sách… Một số cuộc điều tra liên quan đến hộ gia đình, đều hỏi về số nhân khẩu, số lao động, thu nhập…

Việc trùng lặp nội dung thông tin giữa các cuộc điều tra vừa gây lãng phí về kinh phí và nhân lực vừa ảnh hưởng đến tâm lý, sự hợp tác với cơ quan thống kê của đối tượng cung cấp thông tin, tạo nên sự hoài nghi về chất lượng số liệu của các đối tượng dùng tin Trong khi đó, một số cuộc điều tra lại chưa đáp ứng được yêu cầu thông tin phục vụ công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất, không thay đổi kịp thời so với sự phát triển của đất nước Đặc biệt

là trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn: chỉ tập trung điều tra các nhóm cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm và lâu năm có giá trị xuất khẩu, không điều tra các cây rau đậu, cây ăn quả, cây đặc sản; chưa có

số liệu điều tra về các hoạt động dịch vụ nông, lâm nghiệp ở các vùng khác

Trang 37

nhau; không có cuộc điều tra nào về tình hình phát triển nông thôn hàng năm

và điều tra thuỷ sản chưa cập nhật được những vấn đề mới của xã hội

• Giải thích các thuật ngữ và chỉ tiêu trong phiếu điều tra: có tới 75,56%

người được hỏi cho rằng khâu này cần phải hoàn thiện thêm Trong số các vấn đề cần được hoàn thiện về giải thích phiếu, 97% ý kiến cho rằng cần phải

có khái niệm sử dụng trong thực hành phù hợp với thực tế hơn, dễ nhận dạng hơn 90% ý kiến đề cập là cần thống nhất phương pháp tính của các chỉ tiêu

giống nhau trong các cuộc điều tra Hiện nay, do khái niệm và tên gọi của

một số chỉ tiêu giữa các cuộc điều tra không thống nhất nên các địa phương thu thập và báo cáo với Tổng cục những con số rất khác nhau về phạm vi, gây khó khăn cho công việc tổng hợp và so sánh số liệu Đơn vị tính của các chỉ tiêu trong phiếu điều tra cũng có vấn đề cần phải xem xét vì có chỉ tiêu lấy đơn vị tính không phù hợp với thực tế thường sử dụng, đặc biệt là các chỉ tiêu sản phẩm liên quan đến danh mục sản phẩm do Tổng cục Thống kê đã ban hành, ảnh hưởng đến chất lượng số liệu do phải qui đổi và khó khăn khi

xử lý, tổng hợp Nhiều khi tài liệu hướng dẫn không rõ ràng, một số vấn đề cần giải thích thì không rõ trong khi một số vấn đề không cần thiết lại được giải thích dài dòng gây khó hiểu thêm

Điều tra thử nghiệm: công việc này giúp nhận biết được những câu hỏi diễn

đạt không có nghĩa, điều chỉnh trình tự câu hỏi, cách trình bày, cách ghi chú bảng hỏi và nguyên nhân của những vấn đề trong quá trình điều tra do thiếu hiểu biết và thiếu hợp tác của đối tượng cung cấp thông tin Đồng thời điều tra thử nghiệm cũng phát hiện thêm những vấn đề cần được bổ sung trong

điều tra chính thức Giúp cho Ban chỉ đạo điều tra hoạch định được thời gian phỏng vấn, hoàn thiện tài liệu điều tra cũng như các công việc cần quan tâm chỉ đạo tại địa bàn cho phù hợp với thực tế hơn khi tiến hành điều tra chính thức

Mặc dù trong những năm gần đây, điều tra thống kê của Việt Nam đã tiếp cận dần với các phương pháp điều tra tiên tiến, nhận thức được vai trò của điều tra thử nghiệm, song công tác này chủ yếu được thực hiện với những cuộc tổng điều tra và một số cuộc điều tra chọn mẫu có sự hỗ trợ của

dự án nước ngoài Tuy nhiên, công tác điều tra thử nghiệm của một số cuộc

Trang 38

điều tra chưa thực sự mang lại hiệu quả do nguồn kinh phí, công tác chuẩn bị

và thực hiện điều tra thử nghiệm chưa tốt Kết quả điều tra thử nghiệm chưa thực sự là những thông tin tiên nghiệm để rút kinh nghiệm cho điều tra chính thức, gây lãng phí và ảnh hưởng đến chất lượng điều tra

• Về qui trình và phương pháp thu thập thông tin: nhiều cuộc điều tra chưa

xây dựng được qui trình, phương pháp điều tra (trừ một số cuộc tổng điều tra

và các cuộc điều tra có qui mô lớn) Do đó, khi triển khai xuống các địa phương, qui trình thực hiện không thống nhất, nhiều địa phương làm tắt hoặc gộp một số công đoạn của quá trình điều tra, thậm chí còn không rà soát danh sách đơn vị điều tra, không tiến hành điều tra tại cơ sở mà điều tra viên

tự ý ghi phiếu hoặc sao chép từ phiếu điều tra của kỳ trước Kết quả khảo sát

cho thấy khoảng 50% ý kiến trả lời là có nghe thấy hoặc biết về việc điều tra viên tự diền thông tin vào phiếu điều tra

Một số cuộc điều tra có đưa ra qui trình, qui định trong phương án nhưng có những qui định chưa phù hợp với thực tế, thiếu tính khả thi và luôn phải thay đổi, bổ sung trong quá trình thực hiện điều tra Sự thay đổi, bổ sung nội dung trong phương án điều tra sau khi triển khai đã gây khá nhiều khó khăn cho chỉ đạo và điều tra viên ở các địa phương và đôi khi triển khai không kịp đối với tất cả địa bàn dẫn tới hiện tượng thông tin thu thập thiếu thống nhất, không bảo đảm chất lượng Thời gian qui định cho các khâu công việc quá ngắn, trong thực tế hầu như không bao giờ thực hiện được

đúng kế hoạch, ví dụ có cuộc điều tra qui định lập danh sách chỉ trong 10

ngày hoặc thời gian thu thập thông tin và nhập tin chỉ 1 tháng, không có thời gian làm sạch phiếu điều tra

Hiện nay, phần lớn các cuộc điều tra thường áp dụng phương pháp

điều tra trực tiếp do có ưu điểm bảo đảm số liệu thu được có tính chính xác cao Tuy nhiên, nếu lạm dụng hình thức này đối với tất cả các cuộc điều tra

là chưa phù hợp với điều kiện thực tế do chưa có đội ngũ điều tra viên chuyên nghiệp đặt tại cơ sở xã/phường, chủ yếu công việc điều tra là do cán

bộ thống kê nhà nước ở cấp huyện, quận đảm nhận

• Công tác tuyển chọn điều tra viên: tuyển chọn điều tra viên có tác động trực

tiếp đến chất lượng của cuộc điều tra Ngành Thống kê được tổ chức theo

Trang 39

ngành dọc nên rất thuận lợi cho công tác tuyển chọn điều tra viên Điều tra viên có nghiệp vụ thống kê thường quen chịu đựng gian khổ ở địa bàn, có khả năng công tác độc lập cũng như làm việc theo từng nhóm/đội tốt, có kinh nghiệm trong công tác dân vận để thuyết phục đối tượng điều tra Một

số cuộc điều tra đã tổ chức thành các đội chuyên nghiệp, làm trong thời gian dài (có khi kéo dài trên 12 tháng) đã tạo ra đội quân chất lượng cao, thu thập được số liệu chính xác hơn, đảm bảo tính thống nhất của số liệu Tuy nhiên,

sử dụng đội ngũ điều tra viên chuyên nghiệp mà chủ yếu là cán bộ thống kê cũng có những hạn chế nhất định: không có thời gian để làm đúng trách nhiệm của điều tra viên, dẫn đến điều tra chậm, nhiều khi chủ quan không

làm theo đúng quy trình, quy định của phương án Số liệu khảo sát cho thấy:

thời gian qua, công tác tuyển chọn điều tra viên cho các cuộc điều tra chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu (81,11% số người được hỏi cho rằng việc tuyển chọn điều tra viên chưa đáp ứng được yêu cầu và 94,52% ý kiến cho rằng cần phải hoàn thiện thêm công tác này)

Chọn điều tra viờn là trưởng thụn hoặc tổ trưởng dõn phố cũng cú những bất lợi do phần lớn họ ở độ tuổi trờn 55, khả năng tiếp thu nội dung phiếu điều tra bị nhiều hạn chế Những địa bàn thuộc vựng nỳi cao huy động lực lượng điều tra viờn là rất khú khăn nờn ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng điều tra Trỡnh độ nhận thức, đạo đức, sức khỏe, sự nhiệt tình công tác; tuổi và giới tính của điều tra viên khụng phự hợp với đối tượng điều tra cũng là một vấn đề Số liệu khảo sát cho thấy: 98,89% ý kiến cho rằng kinh

nghiệm làm điều tra của điều tra viên là vấn đề cần được chú ý đầu tiên khi tuyển chọn điều tra viên; trình độ văn hoá, khả năng giao tiếp và ý thức trách

nhiệm là ba vấn đề được 97,78% ý kiến đề cập ; tiếp theo là tình trạng sức khỏe của điều tra viên (91,11%) và người địa phương sở tại cũng là một yếu

tố cần được chú ý (74,44% ý kiến đánh giá)

• ý thức và trách nhiệm của điều tra viên: một tồn tại trong các cuộc điều tra

thống kê hiện nay tuy không phổ biến nhưng cần được khắc phục, đó là hiện tượng điều tra viên tự ý điền thông tin vào phiếu điều tra, khảo sát cho thấy 47,78% số người được hỏi nghĩ hoặc có nghe thấy sự phàn nàn về vấn

đề này, số liệu tuy dưới 50%, không phải là số cao nhưng cũng là báo động

Trang 40

cho Ngành Thống kê cần tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp khắc phục

tồn tại này Kết quả điều tra cho thấy ý thức chưa tốt của điều tra viên là

nguyên nhân đầu tiên dẫn đến hiện tượng tự điền thông tin (86,05% trả lời về nguyên nhân này); thứ đến là do chỉ tiêu khó thu thập hoặc điều tra viên muốn làm nhanh để tăng thêm thu nhập (48,84% ý kiến); đồng thời nội dung

trùng lắp giữa các cuộc điều tra là nguyên nhân thứ ba (34,88%); cuối cùng

là một số nguyên nhân khác như: không gặp được người cung cấp, đặc biệt là

ở những hộ vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn; đối tượng điều tra không thể cung cấp nội dung thông tin theo đúng yêu cầu; đối tượng điều tra không hợp tác, trình độ của điều tra viên thấp, chưa làm tốt công tác thanh tra và kiểm tra, còn vị nể,

• Thu thập thông tin tại địa bàn: một số địa bàn, có trường hợp điều tra viên

không trực tiếp thu thập thông tin tại hộ mà tập trung các hộ lại để kê khai như vậy là không bảo đảm qui trình điều tra (xảy ra với các tỉnh miền núi trong Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thuỷ sản 2006), triển khai điều tra chậm Công tác chỉ đạo một số nơi cũng nặng về đôn đốc tiến độ, chưa quan tâm đúng mức cho việc kiểm tra sớm phiếu điều tra để phát hiện

và kịp thời uốn nắn các sai sót của từng điều tra viên, dẫn đến tình trạng làm nhanh, vượt so với tiến độ yêu cầu nhưng chưa đảm bảo chất lượng số liệu Một số tổ trưởng chưa thực hiện tốt trách nhiệm kiểm tra phiếu của các điều tra viên nên phiếu không được kiểm tra kịp thời, những sai sót hệ thống không được uốn nắn

Nhiều điều tra viên không nghiên cứu kỹ phương án, chưa hiểu đúng khái niệm của chỉ tiêu cần thu thập dẫn đến hiện tượng mâu thuẫn thông tin

ghi trong phiếu Chưa thu thập đủ các thông tin phát sinh Ví dụ: nhiều điều

tra viên khai thiếu các thông tin về ngày sinh, hoạt động chiếm thời gian lao

động, diện tích đất của hộ đang sử dụng và cho thuê; ở một số địa bàn có nhiều hộ có các thông tin về đất đi thuê, đi mượn nhưng lại không có hộ nào cho thuê, cho mượn

Cụng tỏc tập huấn kỹ năng ứng xử, đạo đức nghề nghiệp chưa được chỳ trọng Thiếu thời gian thực tập cho điều tra viờn Xử lý sai phạm trong

Ngày đăng: 18/04/2014, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Năm 1999: “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình điều tra chọn mẫu”. Chủ nhiệm: CN. Lê Văn Dụy, cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình điều tra chọn mẫu”
5. Đề tài Năm 2005: “Một số vấn đề phương pháp luận thống kê”- Chủ nhiệm: TS. Tăng Văn Khiên, cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phương pháp luận thống kê
6. Đề tài: “ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm quản lý và nâng cao chất l−ợng thông tin thống kê". Chủ nhiệm - TS. Lê Mạnh Hùng, năm 2004 – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm quản lý và nâng cao chất l−ợng thông tin thống kê
11. Tài liệu dịch: “Đảm bảo chất l−ợng số liệu tại Cục Thống kê Thụy Điển” – Lars Lyberg, Báo cáo trình bày tại hội nghị FCSM, ngày 15-16 tháng 12 năm 2004, Bethesda, MD, Mü Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo chất l−ợng số liệu tại Cục Thống kê Thụy Điển
Tác giả: Lars Lyberg
Nhà XB: Báo cáo trình bày tại hội nghị FCSM
Năm: 2004
12. Tài liệu của đoàn khảo sát tại Cơ quan Thống kê Quốc gia Australia về: “Quản lý chất l−ợng số liệu thống kê”, t ừ ngày 18/6/2005 đến 26/6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất l−ợng số liệu thống kê
13. Tài liệu khai thác trên các trang internet: http://www.statistics.gov.uk/ vàhttp://www.childinfo.org/mics/mics3/docs/ws1/Presentations/Logistics/Survey%20Quality%20Control.ppt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu khai thác trên các trang internet
1. Giáo trình lý thuyết thống kê, Tr−ờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà XB Thống kê, Hà Nội 2006 Khác
2. Một số vấn đề về phương pháp luận thống kê – NXB Thống kê, Hà Nội 2005 Khác
3. Luật Thống kê n−ớc Cộng hoà - Xã hội - Chủ nghĩa Việt Nam, 2004 Khác
7. Chương trình hành động thực hiện định hướng phát triển thống kê Việt Nam đến năm 2010 số 310/TCTK –VP, ngày 2 tháng 5 năm 2003 Khác
8. Guideline For Measuring Statistical Quality, London : Office for National Statistics Version 1.1, Crown copyright 2004 Khác
9. Statistics Canada’s Quality Assurance Framework 2002 Khác
10. Statistics Canada: Quality Guideline, fourth Edition – Ocotber 2003 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm