Phần thứ nhất CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LỰA CHỌN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ NGÀNH CÔNG THƯƠNG Trong những năm qua, hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương đã góp phần quan trọng tro
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ KẾ HOẠCH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THỐNG KÊ PHỤC VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP VÀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA
BỘ CÔNG THƯƠNG
7981
HÀ NỘI, 6/2010
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ KẾ HOẠCH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG
KÊ PHỤC VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
VÀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA
BỘ CÔNG THƯƠNG
CƠ QUAN CHỦ QUẢN
BỘ CÔNG THƯƠNG
54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI
CƠ QUAN CHỦ TRÌ THỰC HIỆN
VỤ KẾ HOẠCH - BỘ CÔNG THƯƠNG
54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI THẠC SỸ NGUYỄN THANH HOÀ
HÀ NỘI, 6/2010
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong hệ thống chỉ tiêu quốc gia, được hình thành từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp và tồn tại suốt hơn nửa thế kỷ qua Mặc dù luôn được
bổ sung và cập nhật nhưng hệ thống chỉ tiêu ngành Công Thương còn bộc lộ những thiếu sót chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, một số chỉ tiêu và phương pháp tính vẫn còn những bất cập đòi hòi phải có sự thay đổi Trước và sau khi hợp nhất hai Bộ: Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp, hai ngành đều sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê nằm trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia để thu thập, chưa xây dựng và ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê riêng của ngành Vì vậy, nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương là vấn đề cấp bách cần phải được thực hiện Đồng thời, phù hợp với yêu cầu của Chính phủ tại Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê và nhiệm
vụ trước hết là đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê, trong đó có hệ thống chỉ tiêu của các Bộ, ngành
Cùng với hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương sẽ giúp Bộ Công Thương đánh giá một cách khoa học và chính xác sự đóng góp của ngành Công Thương đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ đó ngành Công Thương có thể đo lường, tính toán xác thực và khoa học sự tác động đối với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân trong cùng một phương pháp tính của hệ thống tài khoản quốc gia Đồng thời, hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương sẽ phản ánh sự phát triển của Ngành phục vụ công tác điều hành và quản lý nhà nước của Bộ Công Thương, của Chính phủ, các cấp và nhiều đối tượng dùng tin khác ở trong và ngoài nước Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu ngành Công Thương là cơ sở khoa học để Bộ Công Thương ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương
Trang 4Mục đích nghiên cứu của đề tài
Cùng với hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương sẽ giúp Bộ Công Thương đánh giá một cách khoa học và chính xác sự đóng góp của ngành Công thương đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ đó ngành Công thương có thể đo lường, tính toán xác thực và khoa học sự tác động đối với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân trong cùng một phương pháp tính của hệ thống tài khoản quốc gia Đồng thời, hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương sẽ phản ánh sự phát triển công nghiệp và thương mại phục vụ công tác điều hành và quản lý nhà nước của Bộ Công Thương, của Chính phủ, các cấp và nhiều đối tượng dùng tin khác ở trong và ngoài nước
Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu ngành Công thương là cơ sở khoa học để Bộ công thương biên soạn trình Thủ tướng Chính phủ ban hành
hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
(1) Đối tượng: Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về hệ thống chỉ tiêu thống kê nói chung và hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương nói riêng
(2) Phạm vi: Nghiên cứu ở phạm vi vĩ mô, phạm vi về thời gian trước
và sau khi sát nhập hai Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại thành Bộ Công Thương
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập và phân tích các thông tin cần thiết liên quan đến việc xây dựng các chỉ tiêu thống kê công nghiệp và thương mại
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước về thống kê công nghiệp và thương mại, cập nhật, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới
- Phương pháp phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp;
- Tổ chức hội nghị, hội thảo, xin ý kiến chuyên gia
Trang 5Nội dung nghiên cứu
- Chương I: Cơ sở khoa học của việc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống
kê ngành Công thương
- Chương II: Thực trạng việc tổng hợp và sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương thời gian qua
- Chương III: Đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương và
các giải pháp tổ chức thực hiện
Trang 6Phần thứ nhất
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LỰA CHỌN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU
THỐNG KÊ NGÀNH CÔNG THƯƠNG
Trong những năm qua, hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương
đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng thông tin về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, quản lý ngành của các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương trong việc phân tích, đánh giá, hoạch định chủ trương, chính sách phát triển ngành công nghiệp - thương mại, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch chương trình, các mục tiêu phát triển ngành công nghiệp - thương mại nói riêng và các mục tiêu kinh tế - xã hội lớn của Đảng và Nhà nước nói chung
Số liệu tổng hợp từ hệ thống chỉ tiêu không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà một phần đã đáp ứng yêu cầu so sánh quốc tế giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới Chất lượng thu thập thông tin cũng được nâng cao từng bước và phương pháp thu thập từ hệ thống chỉ tiêu được nghiên cứu cải tiến ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu chỉ đạo thực tiễn trừ trung ương đến địa phương và cơ sở
Tuy vậy, trước yêu cầu chuyển đổi cơ chế quản lý công nghiệp và thương mại khi hợp nhất hai ngành Công nghiệp và Thương mại thành ngành Công Thương với mục tiêu gắn sản xuất và lưu thông thành một thực thể hữu cơ; yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt sau khi Việt Nam
là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007 và yêu cầu
sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta với nền kinh tế nhiều thành phần thì hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công thương được xây dựng
và qua nhiều lần cải tiến từ năm 1996 đến nay đã bộc lộ những nhược điểm, thiếu sót
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương của Bộ Công Thương là một công cụ sẽ đánh giá một cách khoa học
Trang 7và chính xác tình hình phát triển của ngành, dự báo, để có cơ sở xây dựng chính sách phát triển ngành, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch Hay đánh giá
sự đóng góp của ngành đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân; ngoài ra, nó cho phép ngành có thể đo lường, tính toán xác thực và khoa học sự tác động đối với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân theo cùng một phương pháp tính của hệ thống Tài khoản quốc gia
Hiện nay, nhu cầu sử dụng thông tin thống kê ngành Công Thương đã tăng lên gấp bội cả về số lượng, chủng loại, đối tượng sử dụng, cả về nội dung thông tin: ngoài các cơ quan quản lý hoạch định chính sách các cấp, còn có các tổ chức, cá nhân khác thuộc các thành phần kinh tế, các lĩnh vực khác; ngoài nhu cầu trong nước, còn có nhu cầu của các tổ chức quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài Do vậy, để đáp ứng yêu cầu của cơ quan Nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách của ngành cũng như nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức có liên quan trong và ngoài nước, cần nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương phù hợp với Việt Nam và tương hợp với khu vực và thế giới là vấn đề cấp bách để đáp ứng nhu cầu thực tế trong công tác thống kê ngành mà trước hết là nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê của ngành Công Thương
- Về lý luận, cần tiến hành nghiên cứu làm rõ khái niệm, sự hình thành chỉ tiêu thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê để từ đó làm cơ sở cho việc xác định nội hàm của từng chỉ tiêu thống kê
- Về thực tiễn, cần phải nêu lên các căn cứ thực tế, các yêu cầu cấp thiết của chủ thể quản lý đối với hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công
Thương trong điều kiện hội nhập quốc tế
I Những cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu thống kê
1 Khái niệm chỉ tiêu thống kê
Trang 8Tại khoản 3, điều 3 của Luật Thống kê nước ta ban hành năm 2003 ghi
rõ khái niệm “chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng con số của nó phản ánh qui mô, tốc độ, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội
trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể”
Chỉ tiêu thống kê có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quản lý kinh tế nói chung và quản lý nhà nước của ngành Công Thương nói riêng Tuy nhiên, bản thân thống kê cũng không thể mô tả hoặc chụp ảnh một cách đơn thuần, cũng không đi sâu vào việc tính toán tất cả những gì nằm trong góc độ quan sát của nó mà không có bất kỳ sự lựa chọn nào Thống kê học đã xác định đối tượng của nó là: “nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng xã hội số lớn trong thời gian và địa điểm cụ thể” Chỉ thông qua hiện tượng “xã hội số lớn” mà không sa vào các hiện tượng riêng lẻ thì mới có thể thấy được xu hướng vận động của đối tượng cần phản ánh Vì thế, khi lựa chọn các chỉ tiêu thống kê của một ngành nào đó thì phải tuân theo định hướng nêu trên Muốn lựa chọn chỉ tiêu thống kê của một ngành thì cần phải dựa trên cơ sở xác định nhu cầu thông tin của cơ quan quản lý các cấp từ trung ương đến địa phương để từ đó lựa chọn ra các tiêu chí thông tin thiết yếu và cơ bản nhất Tuy nhiên, tiêu chí thông tin thường có rất nhiều, nhưng không phải bất kỳ tiêu chí nào cũng là chỉ tiêu thống kê Những thông tin phi cấu trúc, tức là các thông tin dưới dạng các bài viết thuộc nhiều thể loại, gồm: điều tra tình hình, phân tích, nhận định và dự báo về tình hình sản xuất công nghiệp hay các bài viết về các diễn biến thị trường hàng hoá trong và ngoài nước, thì không phải là chỉ tiêu thống kê Chỉ có những tiêu chí thông tin dưới dạng chữ số để từ đó xử lý thành các bảng biểu số liệu tổng hợp đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thì mới có thể được lựa chọn
làm chỉ tiêu thống kê
Để có các chỉ tiêu thống kê, thông thường các tổ chức thống kê phải dựa trên cơ sở phân tích tổng thể đối tượng cần phản ánh (doanh nghiệp, tập
Trang 9đoàn kinh tế, ngành hàng kinh doanh, ngành kinh tế, ) để chọn ra những đặc
điểm cơ bản nhất của từng đối tượng và gọi đó là tiêu thức thống kê Tiêu
thức thống kê có hai loại: tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức không được biểu hiện trực tiếp bằng con số, mà biểu hiện của nó dùng để phản ánh tính chất của đối tượng cần phản ánh Ví dụ: thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, dân doanh, ), giới tính (nam, nữ), Còn tiêu thức số lượng là tiêu thức được biểu hiện trực tiếp bằng con số Tiêu thức số lượng phản ánh những đặc trưng vốn có của đơn vị tổng thể thống kê thông qua việc cân, đong, đo, đếm được Ví dụ, số lượng sản phẩm sản xuất ra tại doanh nghiệp; số lượng sản phẩm hàng hóa được xuất khẩu hoặc tiêu thụ trên thị trường hàng ngày, tuần, tháng và cả năm của doanh nghiệp; số lao động đang làm việc các ngày trong tháng của doanh nghiệp; số lượng hạn ngạch hàng dệt may được phân phối trong tháng; số vụ buôn lậu được phát hiện trong tuần, Mỗi con số nêu trên gọi là lượng biến và đây là cơ sở để tổng hợp, phân tích, đánh giá các mặt của tổng thể cần phản ánh thông qua các phép tính thống kê như cộng, trừ, nhân, chia Nhiệm vụ của thống kê là
phải chỉ rõ bản chất, qui luật của của hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội
Vì vậy, cần tổng hợp các đặc điểm về lượng thành những con số của
một số lớn hiện tượng trong thời gian và địa điểm cụ thể, đó là chỉ tiêu thống
kê Hay nói cụ thể hơn, chỉ tiêu thống kê là những con số chỉ mặt lượng gắn
với mặt chất của hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể Ví dụ: khi nghiên cứu về lưu thông hàng hóa trên thị trường trong nước thì điểm đáng chú ý nhất khâu bán ra, vì đây chính là mục đích của kinh doanh thương mại Tuy vậy, trong khâu bán hàng lại thường có 2 nghiệp vụ,
đó là: bán buôn, nghĩa là bán hàng cho doanh nghiệp khác để tiếp tục chuyển bán và bán lẻ, nghĩa là bán trực tiếp hàng hóa (và dịch vụ tiêu dùng) cho
người tiêu dùng để sử dụng vào đời sống sinh hoạt hàng ngày không mang tích chất trực tiếp sản xuất hàng hoá Đối với từng doanh nghiệp thì việc phân biệt ở đây không có nhiều ý nghĩa Vì hàng đã được bán ra khỏi phạm vi của
Trang 10đơn vị, dù dưới hình thức bán buôn hay bán lẻ thì hàng cũng đã được chuyển hóa thành tiền và coi như đã kết thúc một vòng chu chuyển Thế nhưng, đối với phạm vi rộng lớn hơn, như ở một tỉnh hay cả nước thì lại khác Nếu chúng
ta cộng tất cả doanh số bán ra của các doanh nghiệp cả nước để đánh giá kết quả cung ứng hàng hóa cho xã hội thì con số đó không có nhiều ý nghĩa Bởi
vì chưa loại trừ được lượng hàng hóa bị tính trùng ở khâu bán buôn giữa các doanh nghiệp thương nghiệp với nhau Nghĩa là có một lượng hàng hóa vẫn còn quanh quẩn mà chưa ra khỏi khâu lưu thông Chỉ khi tổng hợp số liệu về hàng hóa bán lẻ của tất cả doanh nghiệp của toàn hệ thống đó lại thì mới cho chúng ta một con số có ý nghĩa Ở tầm quốc gia, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ từng tháng, quí và cả năm là chỉ tiêu thống kê rất quan trọng, bởi vì bán lẻ là khâu cuối cùng của lưu thông hàng hoá và cũng là điểm kết thúc của một quá trình tái sản xuất xã hội Chỉ tiêu thống kê này còn làm căn cứ để
thực hiện việc cân đối “tiền - hàng” hàng năm trên bình diện cả nước
Nguồn thông tin ban đầu để thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu thống kê thường rất sinh động và phong phú Những thông tin dưới dạng số liệu đó có thể được thu thập thông qua các loại sổ sách ghi chép trong quá trình hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hàng ngày của các cơ quan quản lý chuyên ngành Song nguồn thông tin quan trọng hơn là những số liệu được ghi chép trong các sổ sách, chứng từ, hóa đơn, vận đơn, phát sinh hàng ngày của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu và lưu thông hàng hoá - dịch vụ trên thị trường Những chỉ tiêu thống kê được thu thập, tổng hợp từ nguồn thông tin ban đầu như vậy gọi là chỉ tiêu thống kê sơ cấp Loại chỉ tiêu thống kê này có vai trò rất quan trọng, vì chúng phản ánh một cách cụ thể các diễn biến cũng như kết quả hoạt động sản xuất
và kinh doanh thương mại, đồng thời cũng làm cơ sở cho việc xử lý, phân tích, nhận định, đánh giá và dự báo tình hình của các cơ quan tổng hợp Những chỉ tiêu thống kê được thu thập, tổng hợp từ nguồn thông tin đã được tổng hợp từ trong các chỉ tiêu thống kê sơ cấp thì gọi là chỉ tiêu thống kê thứ
Trang 11cấp Ví dụ: chỉ tiêu xuất siêu, nhập siêu hoặc chỉ tiêu xuất khẩu bình quân đầu
người của cả nước, là những chỉ tiêu thống kê thứ cấp
Như vậy, chỉ có những tiêu thức số lượng, nghĩa là loại tiêu thức biểu hiện bằng con số thì mới được coi là chỉ tiêu thống kê
2 Khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê
Ở tầm quốc gia, tổ chức thống kê nhà nước có chức năng và nhiệm vụ phản ánh toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội thông qua việc theo dõi, tổng hợp, phân tích, đánh giá các nhân tố cấu thành tổng thể đó một cách liên tục, khoa học và khách quan Tuy vậy, như phần trên đã đề cập, thống kê không chỉ đơn thuần mô tả hoặc chụp ảnh một cách đơn giản, cũng không thể đi sâu tính toán tất cả những gì nằm trong góc độ quan sát của nó mà không có sự lựa chọn nào, trái lại, thống kê lựa chọn những thực tế đặc trưng, điển hình và quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất xã hội Hay nói cụ thể hơn là: thống
kê lựa chọn ra một hệ thống các chỉ tiêu thống kê ở tầm quốc gia và đi kèm theo đó là những qui định về tên gọi, phạm vi, phương pháp tính, kể cả qui định thống nhất biểu mẫu báo cáo, phân công đơn vị chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp báo cáo các chỉ tiêu thống kê
Theo Luật Thống kê năm 2003 thì khái niệm Hệ thống chỉ tiêu thống
kê được quy định như sau:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm các nhóm chỉ tiêu thống kê Mỗi
nhóm chỉ tiêu bao gồm nhiều các chỉ tiêu thống kê cụ thể Các chỉ tiêu thống
kê được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thông tin cho hoạt động quản lý nhà nước của các cấp, của doanh nghiệp, các tổ chức
Trang 12Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một tập hợp các chỉ tiêu qua đó có thể
phản ánh được đầy đủ các mặt, các tính chất quan trọng nhất của từng bộ phận, từng yếu tố cấu thành tổng thể Với những mục đích nghiên cứu khác nhau, hệ thống chỉ tiêu được cấu thành từ các nhóm chỉ tiêu tương ứng
Hệ thống chỉ tiêu thống kê có tác dụng lượng hoá các mặt quan trọng
nhất, cơ cấu khách quan và mối liên hệ cơ bản nhất của đối tượng nghiên cứu,
từ đó đưa ra những kết luận thích hợp
Hệ thống chỉ tiêu thống kê của mỗi nước được xây dựng phù hợp với yêu cầu của lý thuyết hệ thống, yêu cầu của so sánh quốc tế, tính hiện đại, tính hiệu quả và tính khả thi
Việt Nam đã tồn tại nhiều hệ thống hạch toán nền kinh tế quốc dân khác nhau (Hệ thống cân đối sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân - The Material Product System - MPS và hệ thống tài khoản quốc gia - SNA) Từ 1/1/1993 về trước, thống kê Việt Nam áp dụng hệ thống hạch toán theo MPS
Hệ thống chỉ tiêu này đã phát huy tác dụng tích cực trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp trước đây để làm chuẩn mực cho việc thu thập, xử lý, tính toán và báo cáo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp phục vụ cho các cơ quan Đảng, Nhà nước đề ra các mục tiêu chiến lược và đường lối chính sách phát triển kinh tế, đồng thời đáp ứng cho nhiều đối tượng cần sử dụng thông tin khác nhau Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đổi mới quản lý kinh tế, chuyển từ chế độ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, hệ thống chỉ tiêu này có nhiều nội dung không còn phù hợp từ
1993 ở Việt Nam, SNA được sử dụng thay thế cho MPS, nhằm kịp đáp ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế và xã hội trong nước cũng như quốc tế hiện nay
Tương ứng gắn với MPS hoặc SNA là các hệ thống chỉ tiêu khác nhau
Hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm không chỉ các chỉ tiêu có trong MPS hoặc
Trang 13SNA mà còn bao gồm các chỉ tiêu khác để phản ánh được toàn bộ quá trình sản xuất trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nó không ngừng được đổi mới và hoàn thiện cùng với sự phát triển của sản xuất và trình độ thống kê, yêu cầu
và trình độ quản lý
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu thống
kê phản ánh tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu của đất nước
Theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004
quy định: Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu thống
kê phản ánh tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu của đất nước để thu thập thông tin thống kê, phục vụ các cơ quan, lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là xương sống của hoạt động thống
kê và bộ máy thống kê Nhà nước, một mặt thể hiện yêu cầu cơ bản nhất, cấp thiết nhất của xã hội đối với công tác thống kê, mặt khác, làm căn cứ cho việc xây dựng các chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, chương trình điều tra thống
kê quốc gia, chế độ báo cáo thống kê cơ sở và sự phân công, phân nhiệm trong thu thập, tổng hợp và công bố số liệu thống kê
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được ban hành bao gồm danh mục chỉ tiêu, các phân tổ chủ yếu, kỳ hạn báo cáo và phân công thực hiện
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia mới nhất của Việt Nam được ban hành theo Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ gồm có 274 chỉ tiêu, chia thành 24 nhóm khác nhau Trong đó, nhóm thương mại trong nước có 4 chỉ tiêu, nhóm thương mại với nước ngoài có 9 chỉ tiêu, nhóm công nghiệp có 6 chỉ tiêu
Hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ, ngành, ngoài hệ thống chỉ tiêu thống kê
quốc gia chung cho nhiều lĩnh vực là hệ thống có phạm vi rộng, phản ánh tình
Trang 14hình kinh tế - xã hội chủ yếu của đất nước hoặc về các mặt sản xuất vật chất, dịch vụ, đời sống văn hóa, xã hội, đồng thời cũng phản ánh kết quả quá trình đổi mới khoa học kỹ thuật và hiệu quả của sản xuất xã hội trong từng tháng, quí và năm, trong thống kê kinh tế - xã hội còn có nhiều loại hệ thống chỉ tiêu thống kê như: hệ thống chỉ tiêu thống kê của từng ngành, từng lĩnh vực hoặc từng địa phương
Ở các Bộ, ngành và địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý sẽ xây dựng cho ngành, địa phương một hệ thống chỉ tiêu thống kê để phục vụ riêng cho ngành, địa phương mình, đồng thời cung cấp thông tin cho hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
Bộ Công Thương hiện nay chưa xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê riêng cho ngành, mà chủ yếu sử dụng chỉ tiêu thống kê của ngành Công Thương trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Bộ Công Thương cùng với Tổng cục Thống kê trao đổi thông tin, thu thập và tổng hợp số liệu Hệ thống chỉ tiêu thống kê này thời gian qua là một công cụ phục vụ cho yêu cầu quản
lý ngành công nghiệp và thương mại, là nhân tố không thể thiếu giúp Bộ thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được Thủ tướng chính phủ giao Ngoài ra nó cũng phục vụ các cơ quan quản lý nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển ngành Công Thương trong từng thời kỳ và kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, đồng thời cung cấp thông tin cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu
Như vậy, hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ Công Thương cũng là một tập hợp các chỉ tiêu thống kê chủ yếu nhằm phản ánh tình hình và kết quả sản xuất, kinh doanh của ngành Công Thương trong sự gắn kết với các ngành kinh tế - xã hội chung của đất nước từng tháng, quí và năm Trong đó có cả những chỉ tiêu được sử dụng từ Hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia và Hệ thống chỉ tiêu thống kê do Bộ tự ban hành để tổ chức thu thập
Trang 15Không phải bất cứ một tổ chức nào cũng có quyền được ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê Tại khoản 4 điều 3 của Luật Thống kê nước ta ban
hành năm 2003 ghi rõ: “Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành”
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành, còn hệ thống chỉ tiêu thống kê áp dụng cho Bộ, ngành
do Bộ trưởng hoặc thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ ký ban hành
Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra một khái niệm về Hệ thống chỉ tiêu ngành Công Thương như sau:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương là tập hợp những chỉ
tiêu thống kê chủ yếu, phản ánh tình hình phát triển công nghiệp và thương mại chủ yếu của đất nước trong từng thời kỳ, nhằm phục vụ việc đánh giá, phân tích thực trạng, dự báo tình hình, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển, quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển ngành công nghiệp và thương mại từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê về công nghiệp và thương mại của các tổ chức, cá nhân
Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương bao gồm danh mục chỉ tiêu, những phân tổ chủ yếu và kỳ hạn công bố của các chỉ tiêu hoặc nhóm chỉ tiêu thống kê chủ yếu của ngành Công Thương theo hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia và hệ thống chỉ tiêu do Bộ Công Thương ban hành
Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương là cơ sở để phân công, phối hợp trong hoạt động thống kê; là căn cứ để xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp do Bộ ban hành áp dụng cho các cơ quan thuộc Bộ, các doanh nghiệp thuộc Bộ; là căn cứ để xây dựng chương trình điều tra thống kê ngành Công Thương
II Căn cứ thực tiễn của việc lựa chọn chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương
Trang 16Việc lựa chọn chỉ tiêu thống kê phục quản lý nhà nước của ngành
Công Thương phải dựa trên các căn cứ thực tiễn khác nhau như: yêu cầu quản
lý nhà nước của Bộ Công Thương, nhu cầu sử dụng của các đối tượng dùng tin khác và từ hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia, đồng thời phải căn cứ vào khả năng đáp ứng của tổ chức thống kê các cấp
1 Căn cứ vào yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ Công Thương
Yêu cầu về các chỉ tiêu thống kê của chủ thể quản lý được xác định dựa trên các căn cứ chủ yếu như: phạm vi, chức năng nhiệm vụ, mục tiêu và phương pháp quản lý của chủ thể đó
- Phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương được xác định tại Điều 1 của Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ, đó là: thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm các ngành và lĩnh vực: cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, dầu khí, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác, lưu thông hàng hoá trong nước; xuất nhập khẩu, quản lý thị trường, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế, quản
lý cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quản lý nhà nước về các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
- Nhiệm vụ của Bộ Công Thương cũng được Chính phủ giao tại Điều 2 của Nghị định nêu trên, gồm có 35 nhiệm vụ
Trang 17Trong đó: các nhiệm vụ thuộc chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại được tập trung chủ yếu vào 6 nhiệm vụ chung đầu tiên (từ số 1 đến số 6) Cụ thể như sau:
+ Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, các dự thảo nghị quyết, nghị định, cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật khác về các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
+ Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển tổng thể; chiến lược, quy hoạch ngành và lĩnh vực; quy hoạch vùng, lãnh thổ và các chương trình phát triển, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình kỹ thuật - kinh tế, các dự án quan trọng và các văn bản quy phạm pháp luật khác trong phạm vi các ngành, lĩnh vực do Bộ quản
lý
+ Phê duyệt chiến lược, quy hoạch, các chương trình phát triển các ngành và lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, các vùng, lãnh thổ theo phân cấp và uỷ quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
+ Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản
lý của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công nghiệp và thương mại
+ Xây dựng tiêu chuẩn, ban hành quy trình, quy chuẩn, định mức kinh
tế - kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tổ chức quản lý, hướng dẫn, kiểm tra đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc ngành công nghiệp và thương mại theo danh mục do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định
Trang 18+ Chủ trì thẩm định hoặc phê duyệt, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư trong các ngành công nghiệp và thương mại thuộc phạm vi quản lý của Bộ
Từ nhiệm vụ thứ 7 đến thứ 15 là những nhiệm vụ thuộc công tác quản
lý các chuyên ngành về công nghiệp Cụ thể như: An toàn kỹ thuật công nghiệp; Cơ khí, luyện kim; Điện, năng lượng mới và năng lượng tái tạo; Dầu khí; Công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản (trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng); Hoá chất, vật liệu nổ công nghiệp; Công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác
Đối với việc phát triển công nghiệp và thương mại địa phương, trong Nghị định giành riêng nhiệm vụ thứ 16, bao gồm 6 khoản mục
Các nhiệm vụ còn lại từ thứ 17 đến 35 là qui định cho công tác quản lý chuyên ngành thương mại và các hoạt động chuyên môn khác, như: lao động, khoa học kỹ thuất, hợp tác và hội nhập quốc tế, quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống độc quyền, chống bán phá giá; về xúc tiến thương mại; xây dựng
và thực hiện cơ chế, chính sách hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế; ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế song biên và đa biên giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế theo phân công hoặc uỷ quyền của Chính phủ; thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước trực thuộc Bộ theo quy định của pháp luật và nhiệm vụ về thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu cực và xử lý vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực do Bộ quản lý theo quy định của pháp luật Quy định việc cấp, điều chỉnh, thu hồi, gia hạn giấy phép về điện, hoá chất, vật liệu nổ công nghiệp, sản xuất thuốc lá điếu và các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy đăng ký khác theo quy định của pháp luật
Trang 19Yêu cầu đối với công tác thông tin thương mại và công nghiệp được tập
trung và bao quát tại một nhiệm vụ, đó là: “ thu thập, tổng hợp, phân tích, xử
lý và cung cấp thông tin kinh tế, công nghiệp, thương mại, thị trường, thương nhân trong và ngoài nước phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức kinh tế”
Ngoài việc căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công Thương để lựa chọn xây dựng chỉ tiêu thống kê thì phương pháp quản lý ngành Công Thương hiện nay cũng tác động nhiều đến việc lựa chọn chỉ tiêu thống kê của
Bộ Công Thương Nhu cầu về các chỉ tiêu thống kê công nghiệp - thương mại nhiều hay ít, tăng hay giảm trong mỗi thời kỳ còn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp quản lý Phương pháp quản lý là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Hiện nay, chúng ta đang tiến hành quản lý kinh tế trên cơ sở chuyển sang hướng quản lý gián tiếp bằng công cụ kinh tế Nhà nước thống nhất quản lý ngành Công Thương bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển công nghiệp và thương mại Tiến tới giảm thiểu công cụ hành chính theo qui định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), như cấp giấy phép, hạn ngạch, Nhà nước điều tiết hoạt động công nghiệp - thương mại chủ yếu bằng biện pháp kinh tế và các công cụ khác như: giá cả, tài chính, tín dụng, thuế, hàng rào kỹ thuật, Cũng vì vậy, không thể yêu cầu các doanh nghiệp phải báo cáo đầy đủ, thường xuyên các thông tin nhạy cảm về ký kết hợp đồng kinh tế nói chung và hợp đồng xuất, nhập khẩu nói riêng, cũng như báo
cáo số liệu hàng hóa tồn kho tại các doanh nghiệp như thời bao cấp trước đây
Việc xác định chỉ tiêu thống kê phải căn cứ vào cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và quản lý nhà nước về sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại nói riêng, đặc biệt là thông qua cơ chế giám sát và điều hành nền kinh tế Nền kinh tế của Việt Nam hiện đang chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sau
Trang 20hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế thị trường đã có bước phát triển khá toàn diện, trong đó tuyệt đại bộ phận các yếu tố đầu vào và đầu
ra của nền kinh tế đều phải thông qua thị trường Tính tự chủ, chủ động của các chủ thể kinh tế được tôn trọng, nhất là tự chủ về tài chính, về lựa chọn hình thức sở hữu, ngành nghề, tự ra quyết định kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình Thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch Nền kinh tế hàng hoá phát triển với nhiều thành phần
tham gia Tăng cường tính tự chủ, năng động của doanh nghiệp không tách
rời sự tăng cường quản lý nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường Thực tế vừa qua đã cho thấy, đứng trước những diễn biến bất lợi bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước đã phát huy tính tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của thị
trường, bảo đảm được mục tiêu và lợi ích của nhà nước cũng như toàn xã hội
Một trong những nội dung cụ thể của cơ chế quản lý kinh tế của nước
ta là quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Ở trung ương, Bộ Công Thương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước ngành Công Thương trên phạm vi toàn quốc Đồng thời, ở địa phương, tỉnh và thành phố, quản lý công nghiệp - thương mại trên địa bàn thông qua hoạt động của Sở Công Thương
Dựa vào những đặc điểm về phương pháp quản lý nói trên, nhu cầu chỉ tiêu thống kê cần được xác định làm sao giúp cho chủ thể quản lý cập nhật kịp
thời những thông tin và đưa ra những biện pháp quản lý phù hợp
2 Căn cứ vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công tại Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ
Để triển khai thực hiện Luật Thống kê đã được Quốc Hội thông qua năm 2003, có hiệu lực thi hành đầu năm 2004, ngày 24 tháng 11 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ban hành Hệ
Trang 21thống chỉ tiêu thống kê quốc gia bao gồm 274 chỉ tiêu, chia thành 24 nhóm Đây là hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Đây còn là căn cứ để kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội và cung cấp thông tin thống kê cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước sử dụng Các nhóm chỉ đủ để phản ánh tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu của cả nước Phần nhiều trong số đó là chỉ tiêu sơ cấp, đồng thời cũng có những chỉ tiêu thứ cấp có thể sử dụng công bố được ngay Tuy vậy, về thời gian, tần suất công bố thông tin thống kê quốc gia cũng như số lượng các chỉ tiêu thống kê cũng chưa thể đáp ứng được nhu cầu thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước của các Bộ, ngành Vì vậy, Chính phủ yêu cầu Tổng cục Thống kê phối hợp với các Bộ, ngành trong việc xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê của từng Bộ, ngành Trước khi Bộ trưởng ký ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ, cần phải được sự thẩm định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Thống kê
Sau Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg nêu trên ra đời, ngày 15 tháng 8 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số 111/2008/QĐ-TTg ban hành chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, ngành Trong
đó, riêng Bộ Công Thương được giao nhiệm vụ báo cáo 3 chỉ tiêu thống kê thương mại, gồm:
+ Biểu số 71, ký hiệu 01 TM, tên biểu là: Số lượng chợ
+ Biểu số 72, ký hiệu 02 TM, tên biểu là: Số lượng siêu thị và trung tâm thương mại
+ Biểu số 73, ký hiệu 03 TM, tên biểu là: Số đơn vị có giao dịch thương mại điện tử ở mức độ hoàn chỉnh
Trang 22Nhiệm vụ nêu trên cũng là một trong những căn cứ để xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương
Ngoài ra, đề tài có tham khảo Dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia mới thay thế Hệ thống chỉ tiêu thống kê được ban hành theo Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg (hiện đang trình Thủ tướng Chính phủ)
3 Căn cứ vào mục tiêu tăng cường hơn nữa các chỉ tiêu thống kê phản ánh chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của ngành, sản phẩm
Công tác thống kê ngành Công Thương là lĩnh vực thống kê chuyên ngành trọng yếu cung cấp những thông tin không thể thiếu cho quản lý nhà nước các cấp và nhiều đối tượng dùng tin khác ở trong và ngoài nước Mặc dù
đã có một số đổi mới về hệ thống chỉ tiêu, phương pháp tính, tổ chức thu thập
và ứng dụng công nghệ thông tin nhưng so với yêu cầu thông tin phục vụ quản lý nhà nước và thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta,
hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương vẫn còn những hạn chế bất cập chưa theo kịp với chuẩn mực thông lệ quốc tế, đặc biệt là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của ngành cũng như của sản phẩm nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách đánh giá được chính xác
vị trí của ngành trong nền kinh tế quốc dân, so sánh ngành Công Thương của nước ta so với các nước trong khu vực hay tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đạt đến mức độ nào Vì vậy tăng cường các chỉ tiêu thống kê phản ánh chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của ngành và của sản phẩm là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng hệ thống chỉ tiêu
thống kê ngành Công Thương
4 Căn cứ vào nhu cầu sử dụng của các đối tượng dùng tin khác
Ngoài việc đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp,
hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương còn giúp ích cho nhu cầu của
Trang 23các đối tượng dùng tin khác Hiện nay ở nước ta, các đối tượng này cũng rất
đa dạng, bao gồm:
- Các Bộ, ngành tham gia quản lý nhà nước về công nghiệp, thương mại như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ y tế, Bộ Kế hoạch Đầu
tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước,
- Các tổ chức nghiên cứu và các tổ chức cung cấp thông tin, như: Viện Chiến lược và chính sách công nghiệp, Viện nghiên cứu công nghiệp - thương mại, Trung tâm thông tin công nghiệp - thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các trường đại học và các viện nghiên cứu khác,
- Các Hiệp hội ngành hàng, với số lượng hiện lên tới hơn 30 tổ chức đang rất cần thông tin thống kê công nghiệp và thương mại, như: Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội Da giày, Hiệp hội Hồ tiêu, Hiệp hội Chè, Hiệp hội Điều, Hiệp hội Cà phê - Ca cao, Hiệp hội chế biến xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, Hiệp hội Lương thực, v.v
- Các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, hiện nay số Thương
vụ của Việt Nam ở nước ngoài đã có mặt tại 56 nước và trong thời gian tới sẽ lên đến 60 nước
- Ngoài ra, còn có các cơ quan truyền thông đại chúng như: đài phát thanh, đài truyền hình, các báo và tạp chí, các bản tin và các website của các
cơ quan Bộ, ngành trung ương và địa phương
Tất cả các nhu cầu của các đối tượng trên đây cũng là căn cứ để xem xét khi xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương
5 Căn cứ vào khả năng đáp ứng của tổ chức thống kê các cấp
Tất cả những căn cứ nêu trên được xem như là những yếu tố tạo thành nhu cầu thông tin để xây dựng các chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương Tuy vậy, khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các tổ chức thống kê các cấp lại phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện thực tế hiện nay Cụ thể:
Trang 24- Hệ thống tổ chức thống kê của ngành Công Thương mới được hợp nhất từ hai Bộ (Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp) trước đây và chưa được củng cố và kiện toàn lại cho tương xứng với nhiệm vụ mới, cụ thể:
Ở Bộ Công Thương: tuy đã thành lập Phòng thống kê nhưng hiện nay lực lượng lao động rất “mỏng”, mới chỉ có 4 người phần lớn là người mới làm việc và chưa được đào tạo qua chuyên ngành thống kê Ngoài ra, nhũng người này còn làm các công tác khác ngoài thống kê như tổng hợp, theo dõi ngành, địa phương Nếu chia theo lĩnh vực được phân công thì chỉ có 1 người theo dõi lĩnh vực thương mại và số còn lại 3 người theo dõi lĩnh vực công nghiệp
Ở Sở Công Thương: số cán bộ thống kê cũng không nhiều, tính bình quân mỗi Sở chỉ có 1 người làm công tác thống kê Hiện nay, do các Sở Công Thương còn đang trong quá trình củng cố tổ chức nên đa số ở các Sở người làm công tác thống kê còn phải kiêm nhiệm thêm một số việc khác
Với điều kiện về con người ở cơ quan Bộ cũng như ở các Sở thì việc
mở rộng nội dung và số lượng các chỉ tiêu thống kê của Bộ Công Thương hiện nay là rất hạn chế
- Về tổ chức kênh thông tin thống kê của ngành Công Thương vẫn duy trì như cũ, cụ thể:
* Kênh trực tiếp thu thập thông tin:
Bộ Công Thương chỉ có thể tự tổ chức thu thập, xử lý thông tin thống
kê từ các kênh thông tin như sau:
+ Các báo cáo của các Tập đoàn kinh tế và các doanh nghiệp thuộc Bộ + Các thông tin được tổng hợp từ báo cáo thống kê của các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu cả nước theo chế độ báo cáo thống kê hiện hành
+ Các báo cáo do các Sở Công Thương gửi về hàng tháng
+ Một số thông tin thống kê được tổng hợp từ hồ sơ hành chính của các đơn vị Cục, Vụ, Viện, trực thuộc Bộ
Trang 25* Kênh gián tiếp:
Kênh thông tin thống kê chủ yếu về sản xuất công nghiệp và thương mại nội địa của cả nước của Bộ Công Thương được thu thập thông qua Tổng cục Thống kê, gồm:
+ Vụ thống kê công nghiệp
+ Vụ thống kê thương mại - dịch vụ - giá cả
Kênh thông tin thống kê xuất khẩu và nhập khẩu chủ yếu nhận từ Tổng cục Hải quan
Như vậy, việc đáp ứng yêu cầu về các chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào sự phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin thống kê giữa Bộ Công Thương với Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải
quan Sự phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin thống kê đã hình thành từ
nhiều năm nay do các Vụ đầu mối của các Bộ tự tổ chức, chưa có bất kỳ một văn bản qui định cụ thể về việc này Đây là một trong những hạn chế chủ yếu khi nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương
Trang 26Phần thứ hai THỰC TRẠNG VIỆC TỔNG HỢP VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ NGÀNH CÔNG THƯƠNG THỜI GIAN QUA
Với xu thế phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trong những năm gần đây, chỉ tiêu thống kê là một trong những công cụ quản
lý vĩ mô quan trọng, trở thành nguồn thông tin chính thức, tin cậy, được các
cơ quan Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương dùng làm cơ sở cho việc dự báo xu hướng phát triển, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Số liệu thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời đáp ứng ngày càng rộng rãi hơn nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Trong bối cảnh chung đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về thống
kê đã được ban hành là môi trường pháp lý cho hoạt động thống kê được tăng cường Hệ thống tổ chức thống kê tập trung, thống kê Bộ, ngành ngày càng được củng cố và được phân công nhiệm vụ cụ thể phù hợp với tình hình mới
Cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin của ngành thống kê đang từng bước được chú trọng và cải thiện Nhờ vậy mà chất lượng số liệu thống kê cũng như hiệu quả của công tác thống kê ngày càng được nâng cao trong cộng đồng thống kê khu vực và quốc tế Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương cũng ở trong xu thế đó, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của ngành công nghiệp và thương mại, hệ thống chỉ tiêu được hình thành từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung và tồn tại suốt hơn nửa thế kỷ qua, không ngừng đổi mới và hoàn thiện qua từng giai đoạn phát triển của đất nước Trước và sau khi hợp nhất hai Bộ: Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp, hai ngành đều sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê nằm trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia để thu thập, chưa xây dựng và ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê riêng của ngành, tuy nhiên hệ thống chỉ tiêu này chưa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu thông tin trong tình hình mới cũng như yêu cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh hợp nhất hai ngành Vì
Trang 27vậy, đòi hỏi phải nghiên cứu thực trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê của từng ngành, những yếu tố đã đáp ứng và chưa đáp ứng để xây dựng nên một hệ thống chỉ tiêu thống nhất, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý nhà nước cũng như người dùng tin Do hệ thống chỉ tiêu ngành Công Thương nằm trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, việc thu thập số liệu thời gian qua và trong thời gian tới ngành vẫn sử dụng hệ thống chỉ tiêu này Hàng tháng, quý, năm Bộ cùng với Tổng cục Thống kê thu thập, trao đổi và tổng hợp thông tin vì vậy, nghiên cứu thực trạng việc tổng hợp và sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương cũng là nghiên cứu thực trạng việc tổng hợp và sử dụng
hệ thống chỉ tiêu ngành Công Thương trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia nói chung
I Thực trạng việc tổng hợp hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương
1.1 Chế độ báo cáo thống kê định kỳ: áp dụng đối với loại hình
doanh nghiệp có số lượng quy mô lớn, hoạt động ổn định, có hệ thống hạch toán kế toán đầy đủ
- Chế độ Tổng công ty: Báo cáo tháng, năm
- Chế độ báo cáo doanh nghiệp nhà nước: báo cáo tháng, năm
Trang 28- Chế độ báo cáo doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: báo cáo tháng, năm
Riêng đối với hoạt động thống kê xuất nhập khẩu: trước năm 1996,
khi số lượng các doanh nghiệp chưa nhiều và nhờ việc thực hiện tương đối nghiêm túc các Quyết định 35/TCTK của Tổng cục Thống kê và Quyết định 11386/TM-XNK của Bộ Thương mại, đồng thời với việc chủ động theo dõi nắm tình hình và kết quả xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nên các chỉ tiêu thống kê đáp ứng khá đầy đủ Nguồn số liệu chủ yếu được thu thập từ các báo cáo định kỳ của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp trong cả nước thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo thống
kê thương mại áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp tham gia hoạt động
mua bán hàng hoá trong phạm vi cả nước, kể cả các Tổng công ty được thành
lập theo Quyết định 90 và 91 của Chính phủ và các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài (trừ hộ gia đình, hộ tiểu thương buôn bán nhỏ phải thông qua các cuộc điều tra không thường xuyên) Các văn bản qui định chế độ báo cáo thống kê áp dụng cho các doanh nghiệp thương mại gồm có:
+ Qui định số 11386 TM/XNK ngày 11 -12-1993 của Bộ Thương mại
về chế độ báo cáo chính thức áp dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất, nhập khẩu trong cả nước
+ Quyết định 35/TCTK ngày 1-4-1994 của Tổng cục Thống kê áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động thương nghiệp, gồm cả mua bán trong nước
và xuất, nhập khẩu, khách sạn, nhà hàng
+ Quyết định 373/TCTK ngày 10-9-1996 của Tổng cục Thống kê áp dụng riêng cho Tổng công ty nhà nước
+ Thông tư liên Bộ số 01/LB ngày 31-3-1997 của Tổng cục Thống kê -
Bộ Kế hoạch Đầu tư áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh
Trang 29Đến năm 2003, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đã ký 2 quyết định, gồm:
+ Quyết định số 62/2003/QĐ-BKH ngày 27-1-2003 của Bộ Kế hoạch Đầu tư về chế độ thống kê định kỳ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước và kèm theo đó là Quyết định số 156/2003/ QĐ-TCTK ngày 13-3-2003 của Tổng cục Thống kê ban hành qui định về hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê định
kỳ cho doanh nghiệp nhà nước Trong đó, về kinh doanh thương mại (chưa kể doanh nghiệp sản xuất công nghiệp) có các biểu và các chỉ tiêu như:
Biểu 1.4: báo cáo tháng về hoạt động thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ, Trong đó: chỉ tiêu “doanh thu của hoạt động thương nghiệp” được chia ra từng ngành hàng, gồm: lương thực, thực phẩm; hàng may mặc;
đồ dùng gia đình; văn hóa phẩm; phương tiện đi lại; xăng dầu; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy…Mỗi ngành hàng đều ghi rõ tổng doanh thu và
doanh thu bán lẻ Các ngành dịch vụ khác như: khách sạn, nhà hàng, dịch vụ
và du lịch thì báo cáo doanh thu thuần
Biểu 1.5: báo cáo tháng về xuất khẩu hàng hóa Trong đó: chỉ tiêu
“tổng trị giá xuất khẩu” được chia ra: xuất khẩu ủy thác cho doanh nghiệp khác và ủy thác cho doanh nghiệp khác xuất khẩu; chỉ tiêu “mặt hàng xuất khẩu” được ghi theo danh mục HS
Biểu 1.4: báo cáo tháng về nhập khẩu hàng hóa Trong đó: chỉ tiêu
“tổng trị giá nhập khẩu” được chia ra: “nhập khẩu ủy thác cho doanh nghiệp khác” và “ủy thác cho doanh nghiệp khác nhập khẩu”; chỉ tiêu “mặt hàng nhập khẩu” được ghi theo danh mục HS
+ Quyết định số 63/2003/-QĐ-BKH ngày 27-1-2003 của Bộ Kế hoạch Đầu tư về chế độ thống kê định kỳ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu áp dụng cho các doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn tư nhân, công ty cổ phần (ngoài cổ phần nhà nước), công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể Kèm theo quyết định trên là Quyết định số 158/2003/QĐ-TCTK ngày 14-3-
Trang 302003 của Tổng cục Thống kê ban hành qui định về hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê định kỳ cho các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu thuộc các thành phần nêu trên Các biểu và các chỉ tiêu báo cáo hàng tháng của các doanh nghiệp này cũng giống như đối với các doanh nghiệp nhà nước (đã được nêu trong Quyết định số 62 ở trên)
Từ năm 1996 trở đi, do Nhà nước mở rộng cho các thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh xuất - nhập khẩu và mua bán hàng hoá trên thị trường nội địa nên số doanh nghiệp kinh doanh thương mại tăng lên không ngừng, việc thu thập báo cáo thống kê trên phạm vi cả nước qua kênh gửi báo cáo thống kê bằng văn bản, giấy tờ theo con đường bưu điện gặp rất nhiều khó khăn Các báo cáo thường gửi về chậm dẫn đến việc thu thập, tổng hợp số liệu thống kê không được đầy đủ, chất lượng báo cáo thống kê sút giảm Số lượng doanh nghiệp kinh doanh xuất - nhập khẩu của cả nước từ chỗ chỉ có vài trăm, sau một thời gian đã tăng lên hàng ngàn đơn vị
Đứng trước tình hình đó, Tổng cục Thống kê cùng các đơn vị thống kê
ở các Bộ, ngành đã chuyển hướng thu thập thông tin bằng hình thức khác phù hợp hơn với tình hình mới Cụ thể: đối với thông tin xuất khẩu và nhập khẩu chuyển sang kênh thu thập từ tờ khai hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại cửa khẩu hải quan Các báo cáo thống kê của doanh nghiệp mặc dù vẫn quan trọng trong việc đánh giá tình hình chấp hành Luật thống kê, là căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp và là cơ sở để các cấp quản lý của doanh nghiệp dùng làm căn cứ tổng hợp báo cáo theo định kỳ hàng quí và cả năm Nhưng qua thực tế cho thấy: nếu xét trên các góc độ nội dung thông tin như tính chính xác, kịp thời, đầy đủ, tính chi tiết, cụ thể và cả tính bao quát của số liệu báo cáo thống kê tổng hợp được, thì kênh tổ chức thu thập thông tin từ nguồn hải quan có nhiều ưu thế nổi trội hơn kênh thu thập thông tin từ báo cáo bằng văn bản gửi qua đường bưu điện
Trang 31Vì vậy, từ năm 1996 đến nay, Tổng cục Thống kê và Bộ Công Thương đều lấy nguồn số liệu thống kê hàng hoá xuất, nhập khẩu từ Tổng cục Hải quan Tuy nhiên, để quản lý và điều hành hoạt động xuất, nhập khẩu của cả nước theo đúng qui định về chức năng nhiệm vụ, Bộ Công Thương cần nhiều thông tin mang tính chi tiết và cụ thể hơn nhằm phục vụ yêu cầu nghiên cứu, chỉ đạo sâu về chuyên môn nhưng Tổng cục Hải quan chưa cung cấp được cho Bộ Công Thương cũng như những Bộ, ngành khác, ví dụ, khi nghiên cứu
những mặt hàng xuất khẩu mới có tốc độ phát triển khá nhanh, đạt kim ngạch
lớn trong những năm gần đây nhằm đưa ra những chính sách, giải pháp đẩy mạnh đầu tư sản xuất và xuất khẩu thì rất khó khăn trong việc thu thập số liệu
vì những mặt hàng này không được bóc tách mà chỉ được thống kê trong nhóm “mặt hàng khác” của báo cáo định kỳ hàng tháng của Tổng cục Hải
quan Hay khi nghiên cứu giải pháp gia tăng xuất khẩu hàng hoá sang các thị trường mới nhưng lại thiếu số liệu về các thị trường có tiềm năng vì những số
liệu này được thống kê trong nhóm “các nước khác” - ngoài 40 nước đã báo cáo Đối với chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu hay nhập khẩu của các tỉnh, thành phố có qui mô xuất nhập khẩu nhỏ cũng ở trong tình hình tương tự Vì vậy,
đã làm hạn chế việc cung cấp thông tin cho lãnh đạo các cấp cũng như trong việc phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng tháng, quý, năm phục vụ cho công tác điều hành của ngành
Từ năm 2009, việc cung cấp nội dung thông tin về các chỉ tiêu thống
kê xuất khẩu và nhập khẩu từ Tổng Cục Hải Quan cho Tổng Cục Thống kê
và Bộ Công Thương đã có một số chuyển biến tích cực, nội dung chỉ tiêu thống kê được bổ sung, hoàn thiện thêm theo hướng vừa có tính cập nhật và chi tiết hơn
1.2 Điều tra
- Điều tra tháng thường áp dụng đối với loại hình doanh nghiệp có số
cơ sở lớn nhưng quy mô nhỏ, hoạt động không ổn định; và đối với loại hình
Trang 32cơ sản xuất kinh doanh cá thể: quy mô nhỏ, không ổn định; không có hạch
toán kế toán đầy đủ,… Hình thức điều tra có thể điều tra toàn bộ hoặc điều tra
mẫu Nếu điều tra mẫu, cần tăng tỷ lệ mẫu để đảm bảo tính đại diện
- Điều tra năm: toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở
lên và các doanh nghiệp ngoài nhà nước có dưới 10 lao động được chọn vào
mẫu điều tra
2 Tổ chức luồng thông tin 2.1 Trung ương
- Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm tổng hợp và công bố số liệu theo
hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia về lĩnh vực công nghiệp và thương mại sử
dụng chung cho các cấp hành chính
- Bộ Công Thương chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp thông tin từ các
doanh nghiệp: các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty thuộc Bộ, Vụ Kế hoạch
(phòng Thống kê) là đơn vị đầu mối tổng hợp, phân tích theo yêu cầu cụ thể
của Chính phủ, của Lãnh đạo Bộ, của các Bộ, ngành khác
Đối với lĩnh vực thống kê xuất nhập khẩu hàng hoá: Trước năm 1996,
Bộ Thương mại, nay là Bộ Công Thương trên cơ sở tổng hợp thông tin từ các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, cùng với Tổng Cục Thống kê
công bố số liệu về xuất khẩu và nhập khẩu
Từ năm 1996 đến năm 2008 hàng tháng, Tổng cục Hải quan cung cấp
số liệu xuất nhập khẩu cho Tổng Cục Thống kê và Bộ Công thương theo 3 kỳ,
mỗi kỳ 10 ngày, nội dung cung cấp 2 kỳ đầu có 2 chỉ tiêu chính là: số liệu
xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng, kỳ thứ ba có đầy đủ các chỉ tiêu theo hệ
thống chỉ tiêu nêu trên Từ năm 2009 đến năm nay, Tổng cục Hải quan cung
Trang 33cấp số liệu theo 2 kỳ, kỳ 1 chỉ gồm những chỉ tiêu chính, kỳ 2 có đầy đủ các chỉ tiêu theo hệ thống chỉ tiêu nêu trên
Do việc cập nhật số liệu Hải quan từ các địa phương còn chậm, trong khi yêu cầu báo cáo của các cấp lãnh đạo thường vào khoảng ngày 22-25 hàng tháng, vì vậy để có số liệu báo cáo kịp thời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì thành lập nhóm công tác về xuất nhập khẩu gồm có Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trên cơ sở số liệu của kỳ 1, ước số liệu cả tháng phục vụ yêu cầu thông tin kịp thời cho lãnh đạo các Bộ, ngành Vào khoảng ngày 10 của tháng tiếp theo, sau khi đã cập nhật đầy đủ, Tổng Cục Hải quan gửi các cơ quan nêu trên báo cáo chính thức của tháng trước đó với các số liệu đầy đủ theo hệ thống chỉ tiêu
Thu thập thông tin từ các đơn vị thuộc Bộ
Ngoài những chỉ tiêu thống kê công nghiệp và thương mại trong hệ thống các chỉ tiêu thống kê quốc gia, để phục vụ cho công tác quản lý, điều hành, một số chỉ tiêu thống kê liên quan đến ngành công nghiệp được Bộ Công nghiệp (trước đây) yêu cầu báo cáo theo tinh thần công văn số 4802/CV-KH ngày 23 tháng 10 năm 2003 quy định báo cáo hàng quý, 6 tháng, năm đối với các Tập đoàn, Tổng công ty, công ty thuộc Bộ
Theo quy định, Bộ nhận các chỉ tiêu thống kê thông qua báo cáo trực tiếp của các doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty thuộc Bộ hoặc từ báo cáo tổng hợp của Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty thuộc Bộ Định kỳ, báo cáo được gửi về Vụ Kế hoạch bằng văn bản, bằng fax, bằng email Do việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thống kê được cải thiện nên báo cáo của các đơn vị về cơ bản là đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu thu thập thông tin của Bộ, điển hình là các đơn vị như: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tổng công ty Thuốc lá
Trang 34Việt Nam, Tổng công ty Hóa chất Việt Nam, Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam…Vì vậy, công tác thu thập thông tin thống kê nói chung và tổng hợp các chỉ tiêu thống kê nói riêng đã thuận tiện hơn so với trước
Trên cơ sở các chỉ tiêu thống kê được các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty cung cấp, hàng tháng, Phòng Thống kê của Bộ tổng hợp số liệu, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm và đột xuất nổi bật trong tháng Do thời gian khẩn trương, số liệu thu thập là ước tính, số lượng chỉ tiêu thống kê báo cáo tháng ít nên phân tích đơn giản chỉ đề cập đến tình hình và kết quả tiến độ thực hiện các chỉ tiêu Hàng quý và hàng năm số chỉ tiêu thống kê nhiều hơn, có những năm trùng với năm cuối của kế hoạch 5 năm nên số lượng chỉ tiêu thống kê thu thập nhiều và phong phú hơn
Do phạm vi thu thập hẹp chỉ trong nội bộ các doanh nghiệp thuộc Bộ nên Bộ Công Thương không có đủ số liệu của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và kinh doanh thương mại thuộc các Bộ, ngành và các thành phần kinh tế khác cũng như số liệu của các doanh nghiệp địa phương, vì vậy,
để phân tích, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh thương mại của toàn ngành, Bộ sử dụng số liệu công bố từ Tổng cục Thống kê để phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức kinh tế theo quy định của Chính phủ Số liệu của các doanh nghiệp thuộc Bộ chỉ để phân tích trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể
Thu thập thông tin từ các Sở Công Thương
Tổng cục Thống kê là cơ quan thu thập và công bố các chỉ tiêu thống
kê công nghiệp và hoạt động kinh doanh thương mại từ các Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cả nước Để phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước, Bộ Công nghiệp (trước đây) đã ban hành công văn số 5303/CV-CNĐP ngày 24 tháng 11 năm 2003 về việc tăng cường công tác thống kê công nghiệp địa phương, trong đó chi tiết các chỉ tiêu thống kê cần
Trang 35thiết cho việc phân tích, đánh giá tình hình nhằm đáp ứng một cách tốt nhất, kịp thời nhất yêu cầu của Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo các địa phương trong công tác hoạch định chiến lược, chính sách và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về phát triển kinh tế địa phương Các chỉ tiêu thống kê từ các Sở Công Thương được thu thập chủ yếu qua biểu mẫu chế độ báo cáo thống kê định kỳ của Tổng cục Thống kê và của Bộ Công Thương Định kỳ, Bộ nhận được thông tin báo cáo của Sở Công Thương, về phần công nghiệp, Cục Công nghiệp địa phương là đơn vị đầu mối, phối hợp với Phòng Thống kê của Bộ cùng tổng hợp, phân tích theo yêu cầu cụ thể của Chính phủ, của Lãnh đạo
Bộ, của các Bộ, ngành khác và của địa phương
Các chỉ tiêu thống kê thu thập hàng tháng từ các Sở Công Thương tại
Bộ Công Thương tuy còn thiếu nhưng cũng đủ để phân tích, đánh giá một cách khái quát tình hình phát triển công nghiệp và hoạt động thương mại của địa phương Trong các báo cáo quý, số chỉ tiêu thống kê thường nhiều hơn, phong phú hơn vì thời điểm báo cáo thường trùng với các hội nghị thường kỳ của tỉnh ủy, thành ủy, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân địa phương nên việc chuẩn bị số liệu, đánh giá tình hình cũng chi tiết và sâu sắc hơn
Mặc dù cùng sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê của Tổng cục Thống
kê để thu thập số liệu nhưng số liệu được thu thập từ các địa phương của Bộ Công Thương thường không khớp với số liệu công bố của Tổng cục Thống
kê, thông thường số liệu thường cao hơn, nguyên nhân do cách tính toán, tổng hợp hoặc báo cáo của địa phương đôi khi còn tính trùng, hoặc tính thiếu Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi sử dụng số liệu để phân tích tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại của toàn ngành, Bộ vẫn phải sử dụng số liệu công bố chính thức của Tổng cục Thống kê có tham khảo thêm những chỉ tiêu khác từ số liệu của Bộ thu thập nhằm đáp ứng yêu cầu tốt nhất về số liệu của các báo cáo tháng, báo cáo quý hay báo cáo chuyên đề
Trang 36Tổng hợp và phân tích các chỉ tiêu thống kê là một công tác hết sức quan trọng trong công tác thống kê Thời gian qua, được sự quan tâm của Lãnh đạo Bộ, sự hợp tác từ các Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty, các Sở Công Thương nên các chỉ tiêu thống về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước của ngành Một số chỉ tiêu thống
kê đã được các doanh nghiệp chú trọng cung cấp đầy đủ hơn như: chỉ tiêu về thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản, tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, thu hút đầu tư nước ngoài, đổi mới doanh nghiệp Vì vậy, chất lượng phân tích trong các báo cáo thống kê hàng quý, hàng năm ngày một nâng cao, đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện hơn tình hình hoạt động của ngành
Ngoài các chỉ tiêu chung quy định trong hệ thống chỉ tiêu thống kê ban hành kèm theo Quyết định 305/QĐ- TTg đã nêu trên, các Tập đoàn, Tổng công ty, công ty thuộc Bộ còn xây dựng các chỉ tiêu thống kê mang tính chuyên ngành phục vụ yêu cầu quản lý điều hành của các cấp Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhu cầu của các cơ quan chức năng trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp Đến nay hầu hết quy hoạch, chiến lược phát triển các ngành của Bộ Công Thương đến năm
2020 đã được xây dựng và ban hành, là cơ sở, định hướng và mục tiêu phấn đấu để phát triển đồng bộ các ngành công nghiệp, thương mại góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại
Trang 37- Ở các địa phương, Sở Công Thương có chức năng và nhiệm vụ gần giống như Bộ Công Thương nhưng ở phạm vi hẹp hơn, chỉ trong phạm vi của tỉnh hoặc thành phố Các chỉ tiêu thống kê phục vụ cho nhu cầu quản lý hoạt động sản xuất và thương mại ở địa phương cũng tương tự như Bộ Công Thương
Sở Công Thương tổng hợp thông tin từ các doanh nghiệp ở địa phương, chủ yếu là doanh nghiệp trực thuộc Sở Tuy nhiên, do phạm vi thu thập của các Sở Công Thương hẹp, không có đủ số liệu của các doanh nghiệp ngoài Sở Công Thương và các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể nên trong thực tế Sở Công Thương vẫn thường sử dụng số liệu của Cục Thống kê địa phương
Hiện nay, các chỉ tiêu thống kê ngành công nghiệp tại các Sở Công Thương đã đầy đủ và chi tiết hơn trước do đó chất lượng phân tích trong các báo cáo thống kê hàng quý, năm đã có nhiều chuyển biến, đi đúng vào thực chất của tình hình, bảo đảm tính trung thực của số liệu Sở Công Thương các tỉnh, thành phố đã có sự phối hợp chặt chẽ với Cục Thống kê địa phương để thực hiện công tác thống kê trên địa bàn Vì thế nên số chỉ tiêu, độ chính xác của số liệu cao hơn trong cả báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất
Các chỉ tiêu thống kê thương mại trong nước được Cục thống kê địa phương thu thập từ báo cáo của các doanh nghiệp và từ kết quả của các cuộc điều tra thống kê Sở Công Thương sử dụng các chỉ tiêu thống kê thương mại chủ yếu từ các Cục thống kê địa phương thông qua mối quan hệ trao đổi, cung cấp thông tin theo cơ chế "xin" và "cho"
Hàng tháng, quý và năm Sở Công Thương báo cáo về Bộ các chỉ tiêu thống kê chủ yếu gồm: tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng hàng tháng của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, trong đó, chia ra: khách sạn nhà hàng, dịch vụ, thương nghiệp, du lịch; mặt hàng chủ yếu bán lẻ; chỉ số giá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (CPI) trên thị trường của địa phương tính cho từng nhóm hàng, gồm: nhóm hàng lương thực - thực phẩm, đồ uống và thuốc lá, nhóm hàng phi lương thực - thực phẩm, nhóm
Trang 38dược phẩm y tế, đồ dùng - dịch vụ khác, nhóm văn hóa giải trí - du lịch, nhóm thiết bị - đồ dùng gia đình, nhóm giáo dục, phương tiện đi lại - bưu điện, may mặc - mũ nón giày dép, nhà ở và vật liệu xây dựng
Tuy vậy, ngoài phần hạn chế về số lượng các chỉ tiêu thống kê và nội dung thông tin, các báo cáo do Sở Công Thương gửi về Bộ Công Thương không đều, thường rất chậm và không đầy đủ Vì vậy, để phục vụ cho công tác báo cáo và yêu cầu thông tin của Chính phủ, Lãnh đạo Bộ Bộ vẫn phải
sử dụng số liệu được công bố từ Tổng cục Thống kê
Đối với các chỉ tiêu thống kê về xuất khẩu, nhập khẩu của tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh hoặc thành phố thường được giao cho Cục thống kê địa phương thu thập Tuy vậy, cũng có một số địa phương do số doanh nghiệp không nhiều nên Sở Công Thương tự tổ chức thu thập, tổng hợp
số liệu từ tất cả các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu trên địa bàn Một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải phòng và thành phố Hồ Chí Minh do số lượng doanh nghiệp nhiều nên Cục thống kê vừa tự tổ chức thu thập báo cáo, vừa tham khảo hoặc sử dụng số liệu từ cơ quan Hải quan địa phương
Ở địa phương, các Sở Công Thương cũng có nhu cầu sử dụng các chỉ tiêu thống kê xuất nhập khẩu tương tự như ở Bộ Công Thương Hàng tháng, quí và năm Sở Công Thương báo cáo về Bộ các chỉ tiêu thống kê chủ yếu gồm: tổng kim ngạch xuất khẩu, tổng kim ngạch nhập khẩu; mặt hàng chủ yếu xuất khẩu và nhập khẩu; thị trường xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh
nghiệp đóng trên địa bàn Tuy nhiên, số liệu của các địa phương báo cáo
thường không trùng với số liệu tổng hợp từ Hải quan địa phương và Tổng Cục Hải quan do các Sở thường tổng hợp chưa đầy đủ các doanh nghiệp trên địa bàn vì vậy, khi cần sử dụng số liệu của địa phương, nếu địa phương đó Hải quan đã thống kê đầy đủ thì sẽ sử dụng số liệu của Hải quan, số liệu của địa phương cung cấp chỉ tham khảo hoặc dùng trong trường hợp Hải quan chưa thống kê được hoặc thống kê chậm
Trang 39II Thực trạng việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Công Thương thời gian qua
1 Thực trạng việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê công nghiệp 1.1 Phạm vi hoạt động thống kê công nghiệp
Theo danh mục phân ngành kinh tế Việt Nam 2007, phạm vi thống kê công nghiệp gồm hoạt động của các cơ sở kinh doanh thuộc các ngành kinh tế cấp 1: B Khai khoáng; C Công nghiệp chế biến, chế tạo; D: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí Trong
đó quy định bao gồm chi tiết tất cả các hoạt động khai khoáng; sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí
1.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê công nghiệp
Trong những năm qua, theo yêu cầu của từng thời kỳ, công tác thống
kê công nghiệp đã từng bước được hoàn thiện và phát triển phù hợp với quá trình đổi mới của đất nước
Thời kỳ 1955 đến năm 1985: là thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, đòi hỏi lượng thông tin vô cùng lớn, vừa phục vụ cho quản lý vi mô lẫn cả vĩ
mô Thống kê công nghiệp là một trong những chuyên ngành có chế độ báo cáo và điều tra khá hoàn chỉnh, mà đỉnh cao của sự hoàn chỉnh đó là chế độ báo cáo định kỳ cho các doanh nghiệp Nhà nước được ban hành theo Quyết định số 233-CP ngày 01/12/1970 của Chính phủ gồm 62 chỉ tiêu kinh tế cơ
sở, được thu thập từ 39 biểu báo cáo hàng tháng, quý, năm khác nhau Với khối lượng thông tin khá lớn và nặng nề, nhưng phù hợp cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung bao cấp của Nhà nước ta thời kỳ đó và đã được thực hiện một cách thuận lợi, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho mục tiêu quản lý Nhà nước
Trang 40Giai đoạn từ 1986 đến 1994: Với mục tiêu đổi mới hệ thống chỉ tiêu thống kê cơ sở nhằm đáp ứng thông tin tổng hợp phục vụ cho quản lý kinh tế
vĩ mô của Nhà nước Trọng tâm của đổi mới hệ thống chỉ tiêu là từng bước loại bỏ toàn bộ các chỉ tiêu phục vụ quản lý vi mô của cơ sở, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu chỉ phục vụ cho quản lý vĩ mô của Nhà nước Kết quả là từng bước giảm hệ thống chỉ tiêu thống kê Công nghiệp cơ sở từ 62 chỉ tiêu với 39 biểu mẫu báo cáo theo Quyết định 233-CP năm 1970, đến năm 1986 còn 38 chỉ tiêu với 21 biểu báo cáo (Quyết định số 13-TCKT/PPCĐ ngày 13/1/1986 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê) và năm 1994 còn 28 chỉ tiêu với 4 biểu báo cáo (Quyết định số 147-TCKT/PPCĐ của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê), đó là hệ thống chỉ tiêu tương đối phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ
mô nền kinh tế thị trường của Nhà nước
Giai đoạn từ 1995 đến 2000: Với mục tiêu đổi mới phương pháp tính toán và tổ chức thu thập thông tin, trọng tâm là đổi mới phương pháp tính các chỉ tiêu theo phương pháp luận của hệ thống tài khoản quốc gia và cải tiến cách thu thập thông tin từ cơ sở sao cho phù hợp với tổ chức sản xuất kinh doanh của cơ chế thị trường
Giai đoạn từ sau năm 2000 đến nay: tiếp tục hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính, nhưng trọng tâm là tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ của thống kê Công nghiệp quốc tế
Những chuẩn mực và thông lệ Thống kê Công nghiệp quốc tế là:
- Hệ thống chỉ tiêu thống kê thu thập từ cơ sở chỉ nhằm mục đích tính toán các chỉ tiêu thống kê phục vụ cho quản lý vĩ mô của Nhà nước và các nhà đầu tư, nghiên cứu Số liệu thường được tiếp cận trực tiếp từ kế toán các
cơ sở sản xuất gắn với sở hữu của cơ sở Nguyên tắc tính toán là toàn bộ đầu
ra được thị trường chấp nhận là kết quả của sản xuất, tương ứng với đầu vào của kết quả đó là chi phí sản xuất
- Vì sản phẩm đầu ra của công nghiệp rất đa dạng phong phú về mặt hàng và lại thay đổi rất nhanh về chất lượng, kiểu dáng, nên thống kê khối