1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)

1,4K 554 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa GLH-0,2A(GLH-1500) và GLH-0,3A(GLH-1800)
Tác giả TS. Phạm Đức Việt, Ks. Lê Văn Kết, Ks. Nguyễn Đức Thật, K.s. Bùi Thanh Kỳ
Người hướng dẫn PGS.TSKH. Phan Thanh Tịnh
Trường học Viện Cơ Điện Nông Nghiệp và Công Nghệ Sau Thu Hoạch
Chuyên ngành Khoa học Công nghệ Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo tổng hợp dự án cấp nhà nước
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 1.362
Dung lượng 22,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

án năm 2007 đợt I thuộc Chương trình “Nhiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” mã số KC.07/06-10 sản xuất thử nghiệm cấp

Trang 1

VIỆN CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP & CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

BÁO CÁO TỔNG HỢP DỰ ÁN CẤP NHÀ NƯỚC:

HOÀN THIỆN THIẾT KẾ, CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO

VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT 02 KIỂU MÁY LIÊN HỢP

THU HOẠCH LÚA GLH-0,2A(GLH-1500)

VÀ GLH-0,3A(GLH_1800) MÃ SỐ: KC.07.DA02/06 – 10

Chủ nhiệm dự án: TS PHẠM ĐỨC VIỆT

Chủ trì thực hiện chuyên đề: TS PHẠM ĐỨC VIỆT

Thuộc cơ quan: VIỆN CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP & CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

Những người phối hợp thực hiện:

Trang 2

VIỆN CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP

&CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội ngày 26 tháng 06 năm 2010

BÁO CÁO THỐNG KÊ KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN SXTN

I THÔNG TIN CHUNG

1 Tên dự án: Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất

02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa 0,2A(1500) và 0,3A(GLH-1800)

Thuộc chương trình: Khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước KC.07/06-10 “ Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phụ vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn”

Fax: 04.3869131 E-mail: pham.ducviet0@gmail.com

Tên tổ chức đang công tác: Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch

Địa chỉ tổ chức:126 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội

Địa chỉ nhà riêng: 30 Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội

Trang 3

3 Tổ chức chủ trì dự án:

Tên tổ chức chủ trì đề tài: Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch

Điện thoại: 04.38689187 Fax: 04.3869131 E-mail: Website:

Địa chỉ: 126 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội

Họ và tên thủ trưởng tổ chức: PGS.TSKH Phan Thanh Tịnh

Số tài khoản: 931.01.056

Ngân hàng: Kho bạc Đống Đa – Hà Nội

Tên cơ quan chủ quản đề tài: Bộ Khoa học và Công nghệ

II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN

1 Thời gian thực hiện đề tài/dự án:

- Theo Hợp đồng đã ký kết: từ tháng 12/ năm 2007 đến tháng 05/ năm 2010

- Thực tế thực hiện: từ tháng 12/ năm 2007 đến tháng 06/ năm 2010

- Được gia hạn (nếu có):

Trang 4

Tổng SNK

H

Nguồn khác

- Lý do thay đổi (nếu có): 1 Công ty TNHH một thành viên máy kéo & máy

NN không thực hiện Vì vậy khoản mua cẩu trục để lắp ráp không thực hiện

(viện đã được đầu tư từ dư án ADB) Dự án đề nghị đưa việc sử dụng kinh phí

đó là kinh phí tiết kiệm trừ vào khoản thu hồi (400 trăm triệu)

3 Các văn bản hành chính trong quá trình thực hiện đề tài/dự án:

(Liệt kê các quyết định, văn bản của cơ quan quản lý từ công đoạn xác định nhiệm vụ, xét chọn,

phê duyệt kinh phí, hợp đồng, điều chỉnh (thời gian, nội dung, kinh phí thực hiện nếu có); văn

bản của tổ chức chủ trì đề tài, dự án (đơn, kiến nghị điều chỉnh nếu có)

Số

TT

Số, thời gian ban

Máy kéo & Máy

NN

hiện dự án SXTN cấp NN

TT phát triển cơ điện NN Viện CĐNN & CNSTH

Trang 5

án năm 2007 (đợt I) thuộc Chương trình “Nhiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” mã số KC.07/06-10

sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước

không tham gia thực hiện dự án

Công ty TNHH một thành viên Máy kéo & Máy

Nội dung tham gia chủ yếu

Sản phẩm chủ yếu đạt được

Ghi chú*

Trang 6

về công nghệ

Tổ chức chế tạo, sản xuất

và lắp ráp máy GLH-0,3A

Các quy trình công nghệ, lắp ráp cho các chi tiết và cụm chi tiết chính của máy GLH-0,3A

Không thực hiện theo công văn ngày 31/3/20

Tổ chức chịu trách nhiệm

về công nghệ

Tổ chức chế tạo, sản xuất

và lắp ráp máy GLH-0,2A

Các quy trình công nghệ, lắp ráp cho các chi tiết và cụm chi tiết chính của máy GLH-0,2A

- Lý do thay đổi: Do Công ty TNHH một thành viên Máy kéo và Máy nông nghiệp thay đổi tổ chức Đồng thời thay đổi kế hoạch sản xuất của công ty Vì vậy, Công ty TNHH một thành viên Máy kéo và Máy nông nghiệp xin không thực hiệ dự án Công văn ngày 31/3/2008

5 Cá nhân tham gia thực hiện đề tài, dự án:

(Người tham gia thực hiện đề tài thuộc tổ chức chủ trì và cơ quan phối hợp, không quá 10 người kể cả chủ nhiệm)

Nội dung tham gia chính

Sản phẩm chủ yếu đạt được

Ghi chú*

1 Phạm Đức Việt Phạm Đức Việt Chủ nhiệm dự

án

thị trường phía Nam, chuyển giao máy vào sản xuất

Trang 7

5 Vũ Hoàng

Thành

Vũ Hoàng Thành

Thư ký dự án, tham gia vào hoàn thiện thiết kế,xây dựng quy trình công nghệ , tổ chức sản xuất và chuyển giao máy vào sản xuất

xuất, tiếp thị thị trường, chuyển giao máy GĐLH vào sản xuất

và chỉ đạo chế tạo sản xuất

xưởng chế tạo

dụng vận hành, bảo trì, sủa chữa, bảo dưỡng máy

Trang 8

- Lý do thay đổi: Bùi Quốc Viêt, Tô Hồng Nhạ, Nguyễn Tất Giang, Phạm Văn Huấn, là thanh viên của Công ty TNHH một thành viên Máy kéo Máy nông nghiệp không tham gia

- Nguyễn Đức Thật, Bùi thanh Kỳ, Nguyễn Xuân Mận là kỹ sư, cán bộ kỹ thuật của Trung tâm phát triển cơ điện nông nghiệp, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch Bổ sung thay cho các cán bộ của Công ty TNHH một thành viên Máy kéo Máy nông nghiệp

nghiên cứu ứng dụng máy

liên hợp thu hoạch lúa ở Việt

Nam với Viện Cơ giới hóa

nông nghiệp Tỉnh Quảng

Đông TQ Trao đổi với các

đoàn ra và vào

9/2008 ký kết văn bản hợp tác nghiên cứu ứng dụng máy liên hợp thu hoạch lúa ở Việt Nam với Viện Cơ giới hóa nông nghiệp Tỉnh Quảng Đông TQ Trao đổi với các đoàn ra và vào cho tới thời điểm này là 2 đoàn vào và 4 đoàn ra

7 Tình hình tổ chức hội thảo, hội nghị:

1 Hội thảo Tổ chức 01 hội thảo về hoàn thiện

thiết kế 02 loại máy thu hoạch lúa GLH -0,2A & GLH-0,3A, tại Viện

: Kết quả nghiên cứu thiết kế hoàn thiện máy GLH -0,2A & GLH-0,3A

Vĩnh Phúc; (2) Chương mỹ, Hà Nội

Trang 9

- Tổ chức 02 lớp tập huấn về sửa chữa, điều khiển (lái máy) máy GĐLH

- Tổ chức 01lớp cho cán bộ công nhân tại xưởng về chế tạo, lắp ráp, sản xuất máy GĐLH

- Lý do thay đổi (nếu có):

8 Tóm tắt các nội dung, công việc chủ yếu:

(Nêu tại mục 15 của thuyết minh, không bao gồm: Hội thảo khoa học, điều tra khảo sát trong nước và nước ngoài)

(Các mốc đánh giá chủ yếu)

Theo kế hoạch

Thực tế đạt được

Người,

cơ quan thực hiện

ty TNHH một thành viên Máy kéo và Máy NN.*

6 Đào tạo đội ngũ công

Trang 10

Thành, Lê Văn Kết, Nguyễn Đức Thật, Bùi Thanh Kỳ Viện

CĐNN&CNSTH

2008-2010

Phạm Đức Việt, Vũ Hoàng Thành, Lê Văn Kết, Viện

III SẢN PHẨM KH&CN CỦA ĐỀ TÀI, DỰ ÁN

1 Sản phẩm KH&CN đã tạo ra:

a) Sản phẩm Dạng I: Danh sách số lượng máy chuyển giao vào sản xuất ở

Trang 11

Số lượng, nơi công bố

1 “Giới thiệu máy liên hợp

thu hoạch lúa” số

11/2007

NN & chế biến nông lâm sản

2 “Một số kết quả hoàn

thiên thiết kế, máy gặt

đập liên hợp thu hoạch

Trang 12

hóa khâu thu hoạch lúa”

số 23/2010

NN & chế biến nông lâm sản

- Lý do thay đổi (nếu có):

d) Kết quả đào tạo:

Số lượng

Số

TT

Cấp đào tạo, Chuyên

hoạch

Thực tế đạt được

Ghi chú

(Thời gian kết thúc)

- Lý do thay đổi (nếu có):

đ) Tình hình đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng:

Ghi chú

(Thời gian kết thúc)

SHTT ngày 20/4/2010

SHTT ngày 15/7/2009

Số:40134/QĐ Lý do thay đổi (nếu có):

e) Thống kê danh mục sản phẩm KHCN đã được ứng dụng vào thực tế

( Phụ lục 1)

2 Đánh giá về hiệu quả do dự án mang lại:

a) Hiệu quả về khoa học và công nghệ:

Hiện nay chế tạo, sản xuất máy GĐLH phải nhập khẩu những loại phụ tùng như vòng bi, xích cao su, hệ thống thủy lục và động cơ, hộp số di động chuyên dụng, dao cắt…không sản xuất linh kiện thay thế, mà chỉ sản xuất các chi tiết lắp ráp máy Máy của dự án đã được “chuẩn hóa”, nhưng

Trang 13

tỷ lệ nội địa hóa nhìn chung còn thấp, chỉ khoảng 30-40% Trên thực tế về

cơ bản cũng chỉ là máy lắp ráp Phần chế tạo chủ yếu là các chi tiết cơ khí Hiện tại thương hiệu và uy tín của Viện ở phía Bắc là một trong những đơn vị cung cấp và phân phối máy GĐLH Dự án đã kết hợp với các Trung tâm khuyến nông ở các tỉnh để trang bị máy GĐLH cho các hộ nông dân được Trung tâm hỗ trợ, với giá cả hợp lý

Điểm yếu nhất là khả năng tài chính không đủ đáp ứng nhu cầu, nếu không được nhà nước hỗ trợ thì thị trường (sức mua) cũng hạn hẹp Trong khi đó với Viện (Trung tâm phát triển cơ điện nông nghiệp) chưa có thương hiệu trên thị trường Thiếu cơ sở vật chất thiết bị kỹ thuật, vì vậy giá thành sản phẩm “cao”, thiếu nhân lực lao động có kỹ thuật cao, thiếu

sự đầu tư công nghệ Vì vậy, mức độ chỉ là nắm vững , làm chủ công nghệ, còn so với trình độ công nghệ với khu vực và thế giới thì cần phải

có đề án đầu tư mới đáp ứng được nhu cầu

b) Hiệu quả về kinh tế xã hội:

Hiệu quả kinh tế trực tiếp

Lợi nhuận của ngành chế tạo máy NN nói chung rất thấp, hơn thế nữa chúng ta chưa co chính sách hỗ trợ mạnh cho nông dân mua máy vì thế sức mua và thị trường máy của chúng ta còn rất nhỏ Hiện thuế nhập khẩu nguyên chiếc là 5%, nhưng thuế nhập khẩu động cơ là 28%, các phụ tùng khác là 10%, chưa kể việc các tư nhân gian lận thương mại, thậm chí bán cho nông dân không phải xuất hóa đơn chứng từ Cho nên giá máy khó cạnh tranh với máy nhập

Hiệu quả của việc sản xuất lúa với vấn đề đầu tư cơ giới hóa khâu thu hoạch lúa trước tiên và quan trọng nhất là giảm được chi phí sản xuất trên 01 đơn vị sản xuất lúa, giảm được sức ép về nhân công khan hiếm hiện nay Ngoài ra, tác động để giảm thiểu thất thoát, tăng chất lượng sản phẩm Hiệu quả kinh tế của việc trang bị máy móc đối với kinh tế hộ đầu

Trang 14

tư máy GĐLH là rất rõ ràng nhờ phát triển dịch vụ máy thu hoạch Máy GĐLH hoạt động được cả 3 vụ (ĐBSCL) và 2 vụ (ĐBSH), trong đó vụ Đông Xuân là chủ yếu, bình quân mỗi năm đạt 100 ha/năm với giá thuê bình quân 2 triệu đồng/ha (ĐBSCL), 3 triệu đồng/ha (ĐBSH) Tính trung bình một năm, trừ hết mọi chi phí mỗi máy sẽ lãi khoảng gần 100 triệu đồng Chính vì thế, thì chỉ sau 2 năm là có thể thu hồi vốn mua máy

3 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo, kiểm tra của đề tài, dự án:

dung đã đăng ký (xin gia hạn 01 tháng đến tháng 6/2010)

Trang 15

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

An

Được chấp nhân & có hiệu quả

4

GLH-03,A(GLH-1800)

Thôn11, Earoc,Easuc, Đắc Lắc

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

6

Gia Lâm, Tp Hà Nội

Được chấp nhân & có hiệu quả

7

GLH-03,A(GLH-1800)

HĐ số:0034283

01 31/08/

2009 Lê Thị Tặng Xuân Phao, Đại Đồng, Văn

Lâm, Hưng Yên

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

Nguyễn Văn Quang

Trung Lạc, Yên Trung, Yên Phong, Bắc Ninh

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & hiệu quả

Máy làm việc tốt & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

Trang 16

Được chấp nhân & có hiệu quả

Được chấp nhân & có hiệu quả

32

GLH-02,A(GLH-1500)

HĐ số:0021317

01 04/06/

2010 Nguyễn Đăng Năm Đường 23/3, Tiến

Dương, Đông Anh, Hà Nội

Được chấp nhân & có hiệu quả

Trang 17

Phụ lục: 2 b¶ng 2.1 C¸c th«ng sè thiÕt kÕ cña m¸y

Tªn bé phËn - ChØ tiªu §¬n vÞ §Æc ®iÓm kü thuËt §Æc ®iÓm kü thuËt

Trang 20

Phụ lục: 3 bảng 2.2 Những sự cố có thể xảy ra trong quá trình

4- Lượng cung cấp quá lớn, công suất động cơ không đủ

Giảm dần tốc độ kiểm tra động cơ

không tốt, chở truyền động bị kẹt chặt

Sau khi sửa chữa nhỏ dầu bôi trơn

Thanh dao

hoặc chốt

chiều rộng cắt 2- Đáy bàn thu cắt va vấp biến

3- Độ bập bênh tự do của trục xoắn không linh hoạt

Xử lí cỏ rạ, nhỏ dầu vào gối đỡ

Trang 21

chỉnh không đúng

Điều chỉnh theo yêu cầu về thuyết minh sử dụng

3- Lượng cung cấp quá lớn Giảm lượng cung cấp

1- Cây lúa ướt quá, lỗ máng tắc

2- Vòng quay trống đập không

đủ, công suất thiếu

Tăng ga đến mức lớn nhất

Trang 22

5- Giống lúa quá dai Chuyển sang ruộng khác 1- Công suất không đủ, vòng

2- Cánh quạt biến dạng, gió

Sàng rung bị

tắc kẹt

4- Cây lúa quá ướt Chờ lúa khô thu hoạch

1- Tấm chắn cửa xả thóc chưa

mở, thay bao tải không kịp

Quan tâm chú ý traác nhiệm

3- Cây lúa ướt hoặc chưa đủ chín Giảm lượng cung cấp

việc 2- Quay vòng quá nhanh, quá gấp Quay vòng chậm lại

1- Gối đỡ bánh đỡ thiếu dầu kẹt

Trang 23

3- Quay vòng quá gấp trên đường không phẳng

Quay nhỏ ga tốc độ chậm lại

1- Điều chỉnh chưa đúng, sinh ra hiện tượng phanh trước phân ly sau, răng kẹt

Điều chỉnh lại theo quy định

2- Đai thang lỏng Căng đai

Di động bị

trượt

3- Cơ cấu di động bám nhiều bùn,

Trang 24

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lúa là cây lương thực chính ở nước ta, tổng diện tích trồng lúa trên 7 triệu ha, tổng sản lượng thóc trên 38 triệu tấn Riêng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng chuyên canh lúa nước quan trọng vào bậc nhất cả nước hiện nay Nơi đây có diện tích trồng lúa lên đến khoảng 3,8 triệu ha/năm (số liệu 2008) Trong số này, vụ lúa đông - xuân được gieo 1,5 triệu

ha, hè-thu 1,6 triệu ha, vụ 3 là 0,5 triệu ha và 0,25 triệu ha lúa mùa Sản lượng lúa toàn vùng năm 2008 là 20,6 triệu tấn, năm 2009 ước đạt 21 triệu tấn ĐBSCL cung ứng 90% lượng gạo xuất khẩu góp phần rất lớn đưa Việt Nam nằm trong danh sách các “cường quốc” xuất khẩu gạo Nhưng đây cũng là vùng có tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch cao nhất

Tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch lớn có nguyên nhân chính là là do sản xuất lúa còn khá thủ công Trong hàng loạt các khâu canh tác từ làm đất, gieo hạt, chăm sóc, tưới nước đến thu hoạch và bảo quản có nhiều khâu mức độ cơ giới hóa còn rất khiêm tốn Theo số liệu mới nhất, tính đến hết tháng 9 năm 2009, cả ĐBSCL mới có khoảng 4.200 máy gặt đập liên hợp, khoảng trên 3600 máy cắt giải hàng, tổng công suất mới chỉ đảm nhiệm chưa đầy 30% diện tích (Phạm Văn Lang, 2009)

Những năm gần đây, nhiều cơ sở tư nhân và các doanh nghiệp (công ty TNHH) đã tiến hành nghiên cứu, sản xuất chế tạo hoặc nhập phụ tùng, linh kiện, nguyên chiếc các loại máy gặt đập liên hợp với nhiều chủng loại, mẫu

mã khác nhau để đưa vào phục vụ thu hoạch lúa Máy gặt đập liên hợp thu hoạch lúa phần nào đã đáp ứng được khâu thu hoạch lúa hiện nay ở nước ta Các chỉ tiêu chất lượng làm việc của máy như hao tổn, độ sạch, độ tróc vỡ

đã được người nông dân chấp nhận Tuy nhiên, máy còn nhiều hạn chế như

Trang 25

độ bền thấp, hay bị hư hỏng, các chi tiết không lắp lẫn được với nhau,thiếu các ký hiệu chỉ dẫn làm ảnh hưởng tới chất lượng của máy

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài: “nghiên cứu thiết kế chế tạo một số loại máy để cơ giới hóa thu hoạch một số loại cây trồng chính phù hợp với điều kiện sản xuất” Mã số KC-07-15 đã nghiệm thu cấp nhà nước 12/2005

Từ kết quả nghiên cứu đạt được và nhu cầu hiện nay của sản xuất, hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước đã đề nghị cho thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm máy liên hợp thu hoạch lúa Vì vậy, việc thực hiện Dự án: “Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa GLH-0,2A(GLH-1500) và GLH-0,3A(GLH-1800)” nhằm đảm bảo chất lượng máy GĐLH là cần thiết

Mục tiêu, nội dung của dự án

Mục tiêu

- Chế tạo được một loạt nhỏ 02 cỡ máy liên hợp thu hoạch có bề rộng làm việc 1500mm và 1800mm (năng suất máy 0,3 và 0,5 ha/h) chất lượng tương đương với máy nhập ngoại của (TQ) được thị trường chấp nhận

- Tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức để chế tạo những loạt lớn, đáp ứng yêu cầu bức xúc của sản xuất

Trang 26

- Đào tạo đội ngũ kỹ thuật, công nhân

- Tổ chức chế tạo, sản xuất, lắp ráp, bán hàng và dịch vụ sau bán hàng

- Theo dõi trong sản xuất

Trang 27

loại động cơ máy móc Về bản chất, CGH nông nghiệp là việc sử dụng các công nghệ thích hợp đối với người sử dụng Như vậy, CGH nông nghiệp

là việc sử dụng các công cụ, máy móc vào sản xuất nông nghiệp trên đồng ruộng hay trong nhà, bắt đầu từ làm đất đến khâu thu hoạch, chăn nuôi, giết

mổ và sơ chế nông sản phẩm CGH nông nghiệp bao gồm cả quá trình sản xuất, phân phối và sửa chữa các công cụ, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp Cơ giới hoá nông nghiệp bằng máy động cơ là loại hình cơ giới hoá cao nhất

Cơ giới hóa nông nghiệp đã trở thành một yêu cầu bức thiết mang tính công nghệ của sản xuất nông nghiệp, nhằm bảo đảm kết quả của cả quá trình Trong bối cảnh mức độ thâm canh trong nông nghiệp ngày một cao, lao động từ nông thôn dịch chuyển ra thành phố và các khu công nghiệp ngày một nhiều, tạo nên sự thiếu hụt lao động ở nông thôn, thì cơ giới hóa là nhu cầu thiết yếu và tất yếu

Trang 28

- Cơ giới hoá góp phần củng cố khả năng cạnh tranh sản phẩm

1.1.2. Cơ giới hoá khâu thu hoạch lúa. 

Công nghệ trong cơ giới hoá khâu thu hoạch lúa

Cơ giới hoá khâu thu hoạch lúa sẽ thực hiện trong 3 khâu của quá trình thu hoạch lúa đó là:

Công nghệ gặt đập liên hoàn:

Trong thực tế sản xuất lúa, mỗi khâu sản xuất trong quá trình thu hoạch hoàn toàn có thể áp dụng công nghệ cơ giới hoá một cách riêng rẽ ở từng khâu Thực tế ở nước ta, trong khâu tuốt đập, máy móc đã thay thế gần như 100% sức người Các máy suốt lúa gắn động cơ diezen có giá bán (máy mới)

từ 15-20 triệu đã được đưa vào sử dụng từ nhiều năm nay mang lại hiệu quả kinh tế khá lớn Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là ở khâu cắt lúa, thu gom lúa Các máy cắt lúa dải hàng cũng xuất hiện khá nhiều ở ĐBSCL (theo thống kế

có khoảng 3600 chiếc), năng suất công tác có thể lên đến 3-4 ha/ngày, giá máy cũng không quá đắt, khoảng 30-40 triệu/chiếc Trọng lượng máy nhẹ,

có thể làm được ở nhiều địa hình, nhiều kích thước ô thửa khác nhau Nhưng nếu dùng máy cắt dải hàng, trong điều kiện khan hiếm lao động như hiện nay sẽ đẩy giá dịch vụ thu hoạch lên cao, người trồng lúa không thuê được lao động nên lúa cắt xong phải phơi qua đêm trên ruộng dẫn đến tình trạng gạo xát sau này bị gãy, giảm chất lượng, tỷ lệ thất thoát cao Đây chính là lí

Trang 29

do khiến người trồng lúa không muốn sử dụng công nghệ cắt dải hàng nữa

mà chuyển sang công nghệ GĐLH

Với các giống lúa khi chín không quá dai và không sử dụng lại rơm làm các sản phẩm thủ công khác thì công nghệ gặt đập được xem như phổ biến

và thích hợp hơn

1.2 Hiện trạng cơ giới hóa thu hoạch lúa hiện nay ở Việt Nam[2;3]

1.2.1 Các hình thức thu hoạch lúa

Có thể chia thành 3 hình thức phổ biến gồm các công đoạn thu hoạch lúa bằng thủ công và cơ giới hiện nay là : (1)Thủ công hoàn toàn; (2) Kết

hợp thủ công – Cơ giới; (3) Cơ giới hóa toàn bộ

Thủ công hoàn toàn: Cắt - Gom - Đập, vô bao - Vác (mang

lúa ra bờ)

Cắt lúa bằng liềm: Trước đây khi thu hoạch lúa người dùng bằng liềm

cắt lúa đạt tại ruộng thành nắm để sau đó dùng “neo” để đập “bồ”, hoặc gom thành đống cho máy đập “nhai, thùng phóng”phóng, ngày nay ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hầu như đã không còn và chỉ còn lại một tỷ lệ rất nhỏ, ước tính khoảng dưới 1%, chủ yếu ở những ruộng lúa có diện tích rất nhỏ, ruộng quá sình lầy hoặc nằm ở vị trí đặc biệt như rãi rác trong các vùng xa,

cô lập, không có phương tiện giao thông Gặt lúa thủ công bằng liềm trên1

ha tiêu tốn trong khoảng 20-30 công/ha, thông thường là lao động nữ

Ngoài ra, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long còn khoảng từ 10% đến 14% diện tích lúa bị đổ ngã do mưa lớn, gió, giống, cắt phân bón trễ, sâu bệnh, v.v…, trên diện tích này trước đây máy cắt xếp dãy gần như “bó tay”,

Trang 30

nhưng ngày nay các máy gặt đập liên hợp củng đã cơ bản khắc phục bằng giải pháp dùng guồng gạt có điều chỉnh vị trí cao thấp và điều khiển hàm cắt bằng thủy lực

Gom thành đống: Thường sử dụng sức người trong thu hoạch thủ công,

hoặc trong thu hoạch bằng máy cắt xếp dãy, sau khi lúa được cắt xong, phải dung lao động thủ công gom lúa thành đống, công việc này vừa tốn nhiều ngày công, vừa lại nặng nhọc, thường phải dùng lao động nam, với chi phí giá trị một ngày công gom lúa thường cao gần 1,5 lần công cắt Vì vậy đã có một số cơ sở sản xuất chế tạo máy “gom lúa” Tuy nhiên, máy gom lúa có thể giải quyết thay thế một phần sức người, nhưng máy gom không thể giải quyết được chất lượng hạt gạo, vì được xay xát từ lúa gom có tỷ lệ hạt gạo

bị bể cao, tỷ lệ gạo thấp, chất lượng hạt gạo có thay đổi, làm cho thương lái

hạ giá mua lúa từ máy gom nên máy gom lúa phát triển không rộng

Đập lúa bằng “bồ”: Là biện pháp sử dụng trong thu hoạch kéo dài

hàng trăm năm nay, sau khi biện pháp tách hạt lúa bằng “cối đá lăn” qua sức kéo của trâu, bò Hiện nay ở vùng đồng bằng sông Cửu Long rất khó tìm kiếm được hình ảnh người nông dân đứng bên “bồ” đập lúa

• Kết hợp thủ công – Cơ giới, có các công đoạn:

ra bờ

ra bờ

Trang 31

9 Cắt bằng máy xếp dãy - Gom bằng máy - Máy phóng, đóng bao - Vác lúa

ra bờ

- Cắt lúa bằng máy xếp dãy: Còn gọi là máy cắt xếp dãy, máy cắt rãi

hàng, do một người điều khiển, đi bộ hoặc có ghế ngồi, với công suất máy, hàm cắt tuỳ theo khách hàng yêu từ 1,2 mét đến 2,0 mét Máy cắt xếp dãy là công cụ cơ giới tồn tại trong thời gian khá dài, đã mang lại hiệu quả vì máy nhẹ, mỗi ngày làm việc trên đồng ruộng, với 01 lao động có thể cắt 1 – 1,5

ha, tương đương 10 – 15 lao động cắt liềm

Tuy nhiên máy cắt xếp dãy tiếp tục phát sinh những khó khăn mới:

ổn định và thu nhập tốt hơn cắt và gom theo kiểu truyền thống

- Đập lúa bằng máy (máy đập lúa): còn gọi là thùng phóng, hoặc máy

phóng lúa Máy phóng lúa có thể do sức người kéo, vận hành trên ruộng trong quá trình cắt, hoặc tự vận hành bằng động dùng cho máy phóng Máy phóng lúa xuất hiện hàng chục năm nay, hiệu quả cao khi thực hiện cùng lúc

2 khâu có hiệu quả là đập – tách hạt, sàng sẩy, làm sạch Tuy nhiên, máy tuốt không giải quyết được khâu nặng nhọc nhất là khâu gom lúa thành đống

Trang 32

- Gom lúa bằng máy (máy gom): Phát triển được trong khoảng 2 năm

2006 - 2008, dùng để gom (hốt) cây lúa sau khi máy cắt lúa xếp thành từng dãy để đưa lên thùng đập gắn theo máy, nhằm thay thế công gom, nhưng máy gom không giải quyết được ruộng nước, và cả ở ruộng khô trong vụ lúa

hè thu, hay vụ lúa đông xuân, máy gom cũng bộc lộ khiếm khuyết giống như máy cắt xếp dãy là do lúa vẫn phải phơi sương qua đêm, hạt lúa bị nóng ẩm làm cho tỷ lệ gạo giảm khi xay xát Máy này tồn tại không lâu, vì sau khi có máy gặt đập liên hợp của Trung quốc xuất hiện, chiếm ưu thế, người ta đã không dùng loại máy này nữa

- Vận chuyển, khuân vác lên bờ: Vận chuyển lúa để bán lúa tươi tại ghe,

về sân phơi, rê sạch, vô bao cất trữ hoặc bán lúa khô

Cơ giới hóa toàn bộ trong khâu thu hoạch lúa (Máy gặt đập liên hợp)

Máy gặt đập liên hợp: máy vận hành trên đồng ruộng thực hiện liên

hoàn cả 3 khâu cắt, đập, làm sạch, giải quyết được khâu gom lúa nặng nhọc, nhiều công Đặc biệt, máy gặt đập liên hợp chứng tỏ ưu việt nữa là, giảm được thất thoát trong thu hoạch và giảm được tỷ lệ hạt gạo bể khi xay xát, nên được thương lái mua giá cao hơn, ít chê hơn so với mua lúa bằng thùng phóng

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, trên nền đất cứng đang phát triển mô hình: Máy gặt đập liên hợp - đi kèm máy kéo lúa, loại dịch vụ thu hoạch – vận chuyển đang gắn liền nhau, giúp người trồng lúa giảm thêm chi phí Máy gặt đập là công nghệ có triển vọng nhất và phù hợp nhất trong tương lai

Trang 33

1.2.2 Nhu cầu sử dụng máy gặt đập liên hợp

1.2.2.1 Số lượng máy GĐLH

Có thể hình thành 3 vùng trồng lúa chính: Vùng Đồng Bằng Sông Hồng, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và các vùng Duyên Hải miền Trung Mỗi vùng có những đặc điểm sinh thái về cây lúa và đặc điểm địa lý, khí hậu, xã hội đặc trưng riêng có lien quan mật thiết tới tình hình sử dụng máy thu hoạch lúa

a Vùng Đồng Bằng Sông Hồng

Là nơi ruộng đất phì nhiêu, có mật độ dân cư lớn nhất cả nước Cây lúa

ở đây được thâm canh cao có năng suất lớn, cây lúa được chăm sóc kỹ,

lúa ở đây theo các bước sau:

- Cắt gặt thu gom bằng thủ công

- Đập tách hạt bằng thủ công, guồng tuốt, hoặc máy đập lúa liên hợp và máy GĐLH

Vấn đề chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông nghiệp, thời vụ thu hoạch… cho nên các tỉnh phía Bắc bắt đầu có nhu cầu lớn về sử dụng máy GĐLH, như Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nội đã trang bị máy GĐLH để thu hoạch lúa

b Vùng Duyên Hải miền Trung

Là vùng đồng bằng có độ dốc lớn, đất nghèo dinh dưỡng Bình quân diện tích ruộng đất thay đổi lớn, nơi nhiều nơi ít Lúa ở đây đây thường được

Trang 34

gieo xạ, nhưng cây thấp, năng suất kém Việc cắt gặt, thu gom dùng lao động thủ công là chính Việc tách hạt, làm sạch đa số dùng máy đập Ở những vùng có diện tích trồng lúa lớn nhưng thưa dân thì vấn đề lao động trong thời vụ thu hoạch đã trở nên bức xúc Ở những vùng này đã có nhu cầu

sử dụng máy GĐLH Nông dân ở một số tỉnh như Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận đã bắt đầu trang bị máy GĐLH để thu hoạch lúa

c Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

- Đặc điểm nổi bật ở ĐBSCL là kích thước lô thửa là điều kiện quan

(cao nhất cả nước) Điều kiện thu hoạch vào mùa khô nên mặt ruộng thường khô, nền ruộng cứng Tuy nhiên, có những vùng ướt cục bộ nên nền yếu và trung bình[3]

- Máy GĐLH của TQ được đưa vào thử nghiệm ở ĐBSCL thông qua

một số DN trực tiếp quan hệ với phía bạn Sau này, nhiều công ty đã nhập máy về bán Các cơ sở sản xuất trong nước của cả tư nhân và nhà nước cũng tham gia sản xuất và cung ứng cho thị trường nhưng số lượng rất hạn chế

Về số lượng luôn thay đổi theo thời gian ở ĐBSCL Do hiện nay chúng

ta chưa tổ chức đăng kí hoặc có biện pháp quản lí cụ thể nên rất khó xác định chính xác số lượng máy thu hoạch ở ĐBSCL nhất là trong điều kiện các nguồn cung cấp máy liên tục cung cấp ra thị trường (máy nhập khẩu, máy nội địa) Chúng tôi dẫn ra đây 2 nguồn số liệu khác nhau để tham khảo

Nguồn thứ nhất là theo Diễn đàn khuyến nông @ công nghệ lần thứ 2 –

2009, đến tháng 3/2009 toàn vùng ĐBSCL mới chỉ có 2.942 chiếc máy gặt đập liên hợp (bảng 1.1 dưới)

Trang 35

Bảng 1.1: Tổng hợp số lượng máy thu hoạch lúa ở các địa phương trong ĐBSCL qua một số năm gần đây[3]

6/200

tháng 3/2008

tháng 3/2009

Tháng 6/2007

tháng 3/2008

tháng 3/2009

Trang 36

Bảng 1.2: Số lượng máy GĐLH qua các năm và mức tăng trưởng[3]

Mốc thời gian

tháng 3/2006

tháng 3/2007

tháng 3/2008

tháng 3/2009

tháng 9/209

Theo nguồn số liệu này, mỗi năm mức tăng trưởng về số lượng máy GĐLH ở mức rất cao, trung bình là 110%/năm Cao điểm năm 2009 so với

2008 là gần 200%

Nguồn số liệu thứ 2 là do các nhà khoa học ở Viện lúa ĐBSCL cung

cấp thì số lượng máy GĐLH tính đến hết tháng 10 năm 2009 (muộn hơn 6 tháng so với nguồn số liệu trên) đã là 4126 chiếc

Bảng 1.3: Tổng hợp số lượng máy thu hoạch lúa ở các địa phương trong ĐBSCL thống kê đến hết tháng 10 năm 2009[3]

Trang 37

Nguồn: Lê Văn Bảnh,Hoàng Bắc Quốc - Viện lúa ĐBSCL, 11/2009 * Bình

quân: Tính chung cho cả gặt đập lúa (một gia đoạn và hai giai đoạn)

Sự chênh lệch của các con số thống kê này theo các nhà quản lí và các chuyên gia khuyến nông ở địa phương là hợp lí và cả 2 nguồn số liệu trên đây đều có thể chấp nhận được Bởi vì theo họ có một nguyên nhân kể từ 6 tháng nay, khi kết thúc Hội thi máy lần thứ 4 tại tỉnh An Giang vào tháng 3 năm 2009, máy Trung Quốc do Cty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu Minh Phát cải tiến đạt được giải nhất – lần đầu tiên giải nhất cho máy ngoại thì nhu cầu máy Trung Quốc đã tăng đột biến Các số liệu máy nhập khẩu

mà chúng tôi có được từ hệ thống thương mại cho thấy từ tháng 1/2009 đến tháng 9/2009 tổng số máy đưa về vùng này ước trong khoảng 1.500 chiếc

Vì thế đến nay tổng số lượng máy GĐLH ở ĐBSCL ước tính phải vào khoảng khoảng 4.126 chiếc, tăng khoảng 40% so với năm 2008

Nếu tính toán 2 chỉ tiêu là:

Trang 38

- Bình quân số lượng các máy GĐLH/100 ha sản xuất lúa

Đối với chỉ tiêu thứ nhất: Có thể thấy hiện nay trung bình cứ 1000 hộ

sản xuất lúa mới có 1,364 máy Trong ĐBSCL có sự phân chia 2 nhóm tỉnh khá rõ nét:

Cần Thơ và Vĩnh Long Đây là những tỉnh có chỉ số trang bị máy/1000 hộ cao nhất, điển hình là Kiên Giang, lên đến 5,07 máy/1000 hộ sản xuất lúa, Long An là sấp sỉ 3,44 máy

0,100 đến 0,35 máy/1000 hộ, một con số quá thấp Đặc biệt các tỉnh như Cà Mau, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, số lượng cả máy GĐLH và máy cắt xếp rải tính trên 1000 hộ đều rất thấp

Đối với chỉ tiêu thứ hai: Số lượng máy/100 ha đất canh tác lúa Kết quả

cũng gần tương tự như chỉ tiêu đầu Bình quân cả đồng bằng thì cứ 100 ha đất canh tác lúa mới có 0,219 máy Về lí thuyết, mỗi máy GĐLH trong một

vụ có thể gặt được trung bình 100 ha Như vậy con số trang bị máy này mới đạt được khoảng 20% yêu cầu Nếu tính trung bình ở ĐBSCL do có một số vùng điều kiện địa hình quá thấp, trung, không thể đưa máy xuống gặt được (chiếm khoảng 30% diện tích) thì mức độ trang bị máy hiện nay cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% yêu cầu

Trang 39

Hình 1.1: Mức độ trang bị máy GĐLH trên 1000 hộ và trên 100 ha sản xuất lúa (ĐBSCL)

Sự phân biệt giữa 2 nhóm tỉnh có mức độ trang bị số lượng máy GĐLH/100 ha cũng tương tự như trên Long An, Kiên Giang, Cần thơ An Giang vẫn là những tỉnh có mức độ trang bị máy cao/100 ha đất canh tác lúa

1.2.2.2 Mối quan hệ giữa mức độ trang bị máy GĐLH và quy mô đất của

hộ sản xuất lúa

Đem so sánh chỉ số mức độ trang bị máy GĐLH/100 ha canh tác lúa (đường xanh trên đồ thị) với chỉ số bình quân diện đích đất sản xuất lúa/hộ (đường màu tím) có thể thấy ngay được mối quan hệ giữa 2 chỉ số này Nói cách khác quy mô đất lúa/hộ có ảnh hưởng đến mức độ trang bị máy GĐLH/đơn vị diện tích Trên đồ thị, trong vùng sản xuất lúa phát triển khi diện tích đất bình quân/hộ tăng thì mức độ trang bị máy GĐLH cũng tăng theo Tuy nhiên, trong số các tỉnh tuân theo quy luật diện tích đất bình quân/hộ tăng thì mức độ trang bị máy cũng tăng lên như ở Long An, Kiên Giang, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ thì tỉnh Vĩnh Long như một ngoại

lệ Vĩnh Long có tổng diện tích đất lúa khoảng 155.000 ha, bình quân diện

Long A n

Trang 40

tích đất lúa chỉ khoảng trên 3500 m2/hộ, nhưng lại có chỉ số số máy GĐLH/100 ha đạt 0,34 máy, ngang với Kiên Giang và cao hơn An Giang Đồng Tháp (trong khi các tỉnh này có quy mô đất/hộ cao gấp 2-3 lần Vĩnh Long) Lí do được giải thích là vì Vĩnh Long thời gian qua năm 2008 và

2009 đã có chính sách hỗ trợ mua máy CGH khá hiệu quả

Đồ thị 1.1: Mối quan hệ giữa mức độ trang bị máy/đơn vị diện tích và Quy mô đất lúa/hộ

a) Đặc điểm máy GĐLH và giá máy hiện nay

Đồ thị 1.2: Thị phần máy GĐLH ở ĐBSCL phân theo nguồn gốc máy

Máy do các cơ sở VN sản xuất 10%

Máy nhập khẩu từ

các nước khác

Máy có

nguồn gốc từ

Trung Quốc 80%

0 0,2 0,4 0,6 0,8 1 1,2 1,4

Lon

g A n

Đất trồng lúa, m2/hộ Số máy GĐLH/100 ha

Ngày đăng: 18/04/2014, 00:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mức độ trang bị máy GĐLH trên 1000 hộ và trên 100 ha sản  xuất lúa (ĐBSCL) - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Hình 1.1 Mức độ trang bị máy GĐLH trên 1000 hộ và trên 100 ha sản xuất lúa (ĐBSCL) (Trang 39)
Bảng 5-64, ta chọn l−ợng chạy dao S = 0,44mm/vòng - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Bảng 5 64, ta chọn l−ợng chạy dao S = 0,44mm/vòng (Trang 389)
Sơ đồ gá đặt: - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Sơ đồ g á đặt: (Trang 530)
Sơ đồ gá đặt: - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Sơ đồ g á đặt: (Trang 601)
Sơ đồ gá đặt: - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Sơ đồ g á đặt: (Trang 651)
Bảng 5- 11, ta chọn l−ợng chạy dao S = 0,44 mm/ vòng. - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Bảng 5 11, ta chọn l−ợng chạy dao S = 0,44 mm/ vòng (Trang 697)
Bảng 5- 11, ta chọn l−ợng chạy dao S = 0,44 mm/ vòng. - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Bảng 5 11, ta chọn l−ợng chạy dao S = 0,44 mm/ vòng (Trang 701)
Bảng chế độ cắt nguyên công II - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Bảng ch ế độ cắt nguyên công II (Trang 898)
Bảng chế độ cắt của b−íc I - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Bảng ch ế độ cắt của b−íc I (Trang 912)
Bảng chế độ cắt của b−íc III - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Bảng ch ế độ cắt của b−íc III (Trang 913)
Bảng chế độ cắt của b−íc V - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Bảng ch ế độ cắt của b−íc V (Trang 915)
Bảng chế độ cắt của nguyên công II - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Bảng ch ế độ cắt của nguyên công II (Trang 919)
Hình 1.2.4: Sơ đồ gá đặt nguyên công IV - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Hình 1.2.4 Sơ đồ gá đặt nguyên công IV (Trang 935)
Hình 2.2.4: Sơ đồ gá đặt nguyên công IV - Hoàn thiện thiết kế, công nghệ chế tạo và tổ chức sản xuất 02 kiểu máy liên hợp thu hoạch lúa glh-0,2a (glh-1500) và glh-0,3a (glh-1800)
Hình 2.2.4 Sơ đồ gá đặt nguyên công IV (Trang 944)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm