Đề tài nghiên cứu khoa học ảnh hưởng của triết học phương đông trong kiến trúc cổ việt nam
Trang 1Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
.***
….***… ….***…
Bộ xây dựng
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu
ảnh hởng của triết học phơng đông trong kiến
trúc cổ việt nam
Hà nội – 2000
Báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu
đề tài nghiên cứu khoa hoc.
.***
….***… ….***…
ảnh hởng của triết học phơng đông trong
kiến trúc cổ việt nam
Trang 2Báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu
đề tài nghiên cứu khoa hoc.
.***
….***… ….***…
đề tài nghiên cứu khoa học
ảnh hởng của triết học phơng đông trong kiến
trúc cổ việt nam
Phần I
Kiến thức cơ bản về triết học cổ phơng đông
Cần thiết cho ngành kiến trúc
Hà nội – tháng 4/1999
Trang 3Chơng I 1.1 Tính cần thiết của đề tài
Triết học phơng Đông cổ đại, nền tảng của một nền văn minh phát sinhphát triển sớm nhất trên trái đất, lừng lẫy ngàn năm trớc Công nguyên
Trong bộ toàn tập về lịch sử triết học phơng Đông, xuất bản năm 1991 ởthành phố Hồ Chính Minh, ông Nguyễn Đăng Thục đã quy về hai luồng vănhoá chính, tiêu biểu của nền triết học cổ phơng Đông Đó là:
* Nền triết học và văn minh ấn Độ tiêu biểu là Veda Brahman Upanisad
Nền giáo dục thời phong kiến của chúng ta, qua 4.000 năm văn hiến,cũng đã dựa vào các bộ kinh viết bằng chữ Hán cổ làm nội dung giảng dạytriết lý cơ bản T tởng của các bộ kinh đó, cùng với Nho giáo, Phật giáo, Lãogiáo đã ăn sâu và tổ chức đời thờng của dân tộc Việt Nam, bám chắc vào cội
rễ nông thôn rộng lớn của nớc ta Cho đến nay, tuy có bị suy giảm nhiều trongmột số tầng lớp thị dân theo nếp giáo dục phơng Tây hoặc một số ít trong tầnglớp trẻ ở nông thôn, triết học phơng Đông vẫn còn là cơ sở chính của tiềmthức xã hội, của cội nguồn văn hoá đậm đà dân tộc của chúng ta Đây chắcchắn sẽ là một cơ sở khoa học quan trọng cho việc suy nghĩ tìm hớng đi củachúng ta, bớc sang thế kỷ XXI
Muốn vậy, phải điểm ngợc dòng lịch sử trở về cội nguồn, chắt lọcnhững gì tinh tuý của quá trình phát triển hình thành bản nguyên của cộng
đồng dân tộc ta, của chính bản thân mỗi một ngời chúng ta, đặng tìm ra mộtmô hình hiện nguyên phù hợp vừa đậm đà tính bản nhiên của công đồng dântộc, vừa hoà hợp đợc với những quy luật vận động của sự hiện tợng, của trời,của đất, của con ngời
Ngoài những bộ sách kinh điển, đợc soạn thoả hệ thống khá chỉnh nhngrất cô đọng, gần đây có nhiều công trình su tập, nhiều bài diễn giải của tác giảTrung Quốc và Việt Nam, các công trình mới này, trong chính sách giao l u
Trang 4văn hoá mới, đã cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin quý giá, đang đ ợc bổsung hoàn chỉnh dần Đây là những cơ sở khoa học nền tảng của nhiều ngànhtrong chủ trơng mở rộng ứng dụng Song các cơ sở nền tảng đó từ nhiềunguồn khác nhau, các công trình diễn giải từ nhiều góc độ nhìn khác nhau,cha có đợc nhiều nguồn khác nhau, các công trình diễn giải từ nhiều góc độnhìn khác nhau, cha có đợc những công trình lớn tổ hợp hệ thống hoá chínhthống cho nhiều ngành sử dụng, ngoài quyển kinh dịch Song tuy kinh dịch làmột công trình tổng hợp nhng lại đợc việt quá cô đọng làm cho nhiều ngành,nhiều ngời phải tự để diễn giải và ứng dụng vào thực tế của ngành mình.
Ngành quy hoạch kiến trúc cha có đợc công trình tổng hợp hoặc diễngiải nào mang tính nghiên cứu cơ bản, có hệ thống để giúp cho những việcnghiên cứu ứng dụng cụ thể vào đời thờng
Hai thập kỷ, tổ chức UNESCO đã nhiều lần kêu gọi các n ớc trên thếgiới, gìn giữ và bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hoá, văn minh của tất cả cáccộng đồng dân tộc hiện tồn coi nh kho tàng chung của toàn thế giới
Giao lu văn hoá đợc mở rộng, chúng ta đã nhận đợc nhiều t liệu quý giácác tổ chức nghiên cứu khoa học của Trung Quốc Nhà xuất bản văn hoáthông tin cũng đã cho in nhiều t liệu dịch thuật mới rất bổ ích để hiểu rõ thêmnền văn hoá thần bí phơng Đông
Nền văn hoá gọi là “Thần bí” còn rất nhiều điều cần đ ợc làm rõ, songthiết tuởng cũng đã đến lúc chúng ta cần có hệ thống hoá đễ đ ợc những cơ sởcơ bản ứng dụng cho mỗi ngành
Đã có nhiều nhà báo dự đoán rằng thế kỷ XXI là thế kỷ của tin học,hoặc thế kỷ của sinh học Nhng cũng có nhiều ý kiến lại cho rằng thế kỷ XXI
là thế kỷ của giao lu văn hoá, hoặc thế kỷ của “Tâm Linh” Tâm linh là mộtlĩnh vực quan trọng của triết học phơng Đông, một lĩnh vực rất quan trọng củatriết học phơng Đông, một lĩnh vực khoa học vô hình liên quan đến cái
“Thần” của con ngời, cho tới nay còn những nhận thức khác nhau Không ítngời xếp lĩnh vực tâm linh vào lĩnh vực thần bí siêu nhân, thậm chí còn có
định kiến cho rằng đây là một vấn đề mê tín dị đoan
Rất nhiều Đạo sĩ Trung Quốc, ấn Độ, Tây Tạng, sau một thời gian côngphu tập luyện, đã khơi dậy đợc nhiều khả năng vô hình ẩn tàng trong mỗi mộtcon ngời và đã tạo ra cho họ những công năng đặc dị vô cùng to lớn ch a từngthấy, thật khó mà giải thích vấn đề nêu trên nếu chúng ta không trực tiếp tậpluyện, vì phơng pháp chủ yếu sử dụng là trắc nghiệm trực tiếp trên cơ thể củamình chứ không thiên về duy lý
Trang 5Mặt khác, triết học phơng Đông nói chung không chỉ tiếp cận vấn đềtâm linh, không phải chỉ có những lý lẽ trừu tợng chung chung, mà còn là mộtkhoa học, tổng hợp nghiên cứu, và những mối quan hệ nhân sinh của con ng -
ời Thế có nghĩa là triết học phơng Đông đã tiếp cận cả thế giới hữu hình vàthế giới vô hình
Những nguyên lý của triết học ph ơng Đông, luôn đ ợc trắc nghiệm thông qua:
* Sự mô hình hoá và mã hoá cấu trúc của vũ trụ
* Sự giải mã bằng sử dụng hệ thống thuật toán cổ đại, dự báo học cổ
đại khá nổi tiếng.
* Những chiêm nghiệm cụ thể trong y dịch học, địa lý học cổ đại (phong thuỷ), chiêm tinh học và dự đoán tứ trụ học.
Một nền khoa học tật phổ quát nh vậy, liên quan mật thiết với ngànhnghề quy hoạch tổ chức không gian lãnh thổ và kiến trúc mà chúng ta lạikhông tiếp cận, có lẽ sẽ là một sự thiếu sót lớn, cần có nhận thức đúng đắn,kịp thời, để sớm khuyết cho những định hớng của ngành chúng ta ở thế kỷXXI
1.2-Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Nh trên đã nói, Triết học phơng Đông là một khoa học tổng hợp baogồm nhiều lĩnh vực, tiếp cận cả thế giới hữu hình và thế giới vô hình, cả thiênnhiên và con ngời, cả cái “TA” và cái “Không Ta”
Điểm đáng lu ý, là Triết học không chỉ nghiên cứu cái hiện tồn mà luônluôn phân tích cái đã qua, cái dạng đến và cái sẽ đến, nghĩa là sự tiếp cận sựdịch chuyển của sự vật hiện tợng và những mối quan hệ tác động tơng hỗ,giữa thiên nhiên và con ngời vầ các cộng đồng nhân loại, cũng nh các cõi hữusinh khác
Đề tài không có tham vọn tiếp cận toàn bộ nội dung của triết học ph ơng
Đông mà đã đợc viết ra trong toàn tập các sách kinh, và chỉ chắt lọc ra một số
điểm chính có liên quan mật thiết đến lĩnh vực chuyên môn của ngành Quyhoạch và Kiến trúc nhà cửa
Những tài liệu cơ sở chính mà đề tài dựa vào tổng hợp phân tích là:
* Tổng quan về lịch sử triết học phơng Đông của ông Nguyễn Đắc Thực.
* Các học thuyết lớn.
- Khí đạo của ông Lục Lu
Trang 6- Lý của ông Trơng Lập Viện chủ biên
- Âm dơng ngũ hành - cam chi thông luận ông Lê Văn Sửu
- Tam tài: Thiên - Địa – Nhân
- Cửu trù Hồng Phạm
* Các môn khoa học chủ đạo trong triết học phơng Đông.
- Khoa học tổng hợp: Kinh dịch của ông Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê,Nguyễn Duy Hinh, Lê Văn Quán
- Địa lý cổ đại: Phong thuỷ học, hệ bài giản của ông Vũ Xuân Quang,Hoàng Phơng, Cao Trung, Lu Đạo Siêu, Dơng Quân Tùng, Nguyễn MinhTriết….***…
- Thời sinh học của ông Lê Văn Sửu
- Chiêm tinh học (Thái ất), dự đoán học tứ trụ – Thiên Vĩ Hoa, TriệuKhang Triết
Để minh giải vấn đề nghiên cứu cho cụ thể hơn đề tài sử dụng:
- Một số công trình của Việt Nam đã xây dựng để mô tả, phân tích nh:Huế, lăng tẩm và thành cổ, một số công trình tôn giáo….***… (nếu có điều kiện)
- Một tài liệu văn hoá của Việt nam nh: Toàn tậ bàn về hiên Việt Nam,Giáo s Vũ Khiêu, văn hoá dân gian Việt Nam của giáo s Đinh Gia Khánh vàmột số ghi công trình kiến trúc cổ Việt Nam của cục Bảo tồn bảo tàng Bộ VănHoá, của Viện nghiên cứu Kiến trúc của Bộ xây dựng và một số Sở xây dựng
đợc Bộ xây dựng, Viện nghiên cứu Kiến trúc tạo cho điều kiện để có thể tiếptục xây dựng một đề tài tiếp theo
1.3 Mục tiêu của đề tài:
Những mục tiêu của đề tài là:
1.3.1- Mục tiêu chung:
Trang 7Su tập hệ thống hoá giới thiệu những kiến thức cơ bản về triết học ph
-ơng Đông có liên quan mật thiết với chuyên ngành quy hoạch và kiến trúc Cónhững gợi ý nhận xét bình luận nhằm định hớng ứng dụng
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Mô tả, minh giải trên một số công trình cụ thể đã xây dựng ở ViệtNam – Kết luận chung và kiến nghị
Phần 3 gồm:
Định hớng ứng dụng triết học phơng Đông vào ngành qui hoạch –Kiến trúc Việt nam
Kết luận chung
Chú ý : Vì điều kiện hạn chế về thời gian nên nhiệm vụ chính trong sản
phẩm này mới là phần 1: su tập hệ thống hoá các t liêu dữ liệu Đề tài cha có
điều kiện tiến hành phần 2 và phần 3: điều tra khảo sát thực tế những điểmcầnthiết, nhất là những công trình đã ứng dụng thuật phong thuỷ chẳng hạn vàphần định hớng, kết luận chung
Tác giả không lờng trớc đợc nội dung quá lớn của đề tài nên đã khôngthực hiện nổi toàn bộ đề tài đúng thời hạn nh hợp đồng Tác giả mong đợc cơquan quản lý đề tài thông cảm, miễn thứ cho, xin chân thành cảm ơn tr ớc
1-4- phớng pháp nghiên cứu của đề tài
Những t liệu của triết học cổ phơng Đông hiện đã có khá nhiều, nhng vìvấn đề phản ánh đợc cả một nền văn minh cổ đại phát triểnhững, nên nhìnchung các t liệu vẫn còn cha đầy đủ, nhất là còn tản mạn đợc su tập từ rất
Trang 8nhiều nguồn gốc khác nhau, nhiều t liệu là truyền khẩu chép lại không đầy đủ,nên đề tài phải sử dụng các phơng pháp sau đây:
- Phơng pháp su tập, hệ thống hoá phân loại chọn lọc rút ra những dữliệu chính thống đáng tin cậy để sử dụng
Tổng hợp phân tích những cơ sở khoa học nền tảng của triết học ph
-ơng Đông có liên quan đến chuyên ngành Quy hoạch – Kiến trúc
- Nhận xét, đánh giá và các bớc đầu bình luận về những định hớng ứngdụng cho chuyên ngành
- Minh giả các nhận xét trên các bình đồ cụ thể của một số công trình
1.1 – Tính cần thiết của đề tài.
1.2 – Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
1.3 – Mục tiêu chung của đề tài
1.3.1 – Mục tiêu chung 1.3.2 – Mục tiêu cụ thể
1.4 – Phơng pháp nghiên cứu của đề tài.
1.5 – Kết cấu của đề tài.
1.6 – Hệ Thống quan điểm.
Chơng III
Những học thuyết nền tảng của triết học cổ ph ơng
Đông có liên quan đến ngành Quy hoạch – kiến trúc.
Những môn khoa học cổ đại của triết học cổ phơng
Đông có liên quan đến ngành quy hoạch – kiến trúc.
Trang 94.1-Dịch học (chi dịch) cổ đại
4.2 - Phong thuỷ học cổ đại
3.4 - Thời sinh học cổ đại
Chơng V
Một số nét về ảnh hởng của triết học cổ phơng Đông
đến nền văn hoá việt nam (nếu có điều kiện)
5.1 - ảnh hởng của triết học cổ phơng Đông đến nền văn hoá Việt Nam
….***…
ở phơng Đông, mà chủ yếu ở hai nên văn minh của ấn Độ và TrungHoa, gốc của triết học đều xuất phát từ khuynh hớng xác định chân lý của tinhthần nhân loại với tính cách truyền thống là thực hiện những ý t ởng căn bảncủa một khoa học đợc nâng lên trình độ nguyên tắc, nguyên lý gọi là Đạo:
Đạo trời, Đạo Đất, Đạo của sự vật t nhiên, và Đạo làm ngời (còn gọi Đạo củangời Quân tử) vừa hoá thành vừa tu sửa tâm tình của con ng ời, dung hoà giữa
lý trí với các hoạt động về tinh thần của nhân loại
Do cấu thành chủ đạo của Triết học Phơng Đông là hai luồng văn hoálớn của ấn Độ, giao lu qua đất nớc Việt Nam, nhng do Trung Hoa ở giáp liềnvới Việt Nam, đã nhiều thời kỳ lịch sử cai trị Việt nam, nên luồng văn hoá cónhiều ảnh hởng đối với Việt Nam vẫ là từ phía Trung Hoa vào, tập trung chủyếu vào 3 Đạo:
Trang 10* Nho giáo, Hơng gió.
Đề tài bắt buộc phải tiếp cận các lĩnh vực và vấn đề nêu trên, song tránh
đi quá nhiều miên man, nên chỉ giới thiệu những cơ sở cơ bản để giúp độc giảcác đợc những nhận thức nền tảng khoa học có hệ thống tr ớc khi đi sâu vàonhững vấn đề cụ thể nh:
- Triết học và văn hoá dân tộc (trong đó có quy hoạch tổ chức khônggian vật thể và kiến trúc)
- Lịch sử văn hoá và triết học của Việt Nam)
- Đánh giá truyền thống lịch sử phát triển Kiến trúc Việt Nam
Do triết học vừa rất rộng, vừa liên tục phát triển vì phản ánh hệ tâm thứcxã hội, đề tài chỉ giới hạn khai thác vốn triết học cổ đại ph ơng Đông và ảnh h-ởng đến Việt Nam trong lĩnh vực Quy hoạch – Kiến Trúc
Tuy nhiên, giới hạn nh vậy còn rộng, nên đề tài phải chia thành hai bớc:+ Bớc một là bớc giới thiệu các cơ sở khoa học cơ bản nhất có liên quan
đến chuyên nhà Kiến trúc Quy hoạch
+ Bớc hai sẽ là bớc nghiên cứu tiếp theo của đề tài mới có điều kiện đisâu vào các chi tiết nguyên tắc mô hình hoá và tính toán giải mã
- Có những vấn đề cho tới nay, chua tìm ra đợc đủ cơ sở để giải thích,thuyết phục đợc, nhng để độc giả có đợc nhận thức có hệ thống, đề tài xinphép giới thiệu để độc giả tham khảo Cũng có thể đ ợc độc giả lợng thứ bổsung cho, tác giả xin chân thành cảm ơn trớc
- Tác giả cho rằng đề tài nài vì tính chất quan trọng của nó, phải là mộtcông trình khoa học của nhiều ngời đóng góp, tác giả tự nhận xét cha đủ trình
Trang 11độ hiểu biết về lĩnh vực này nhng vì yêu cầu của chuyên ngành nên xin phépcác độc giả cứ mạnh dạn đa ra vấn đề trớc để làm nền cho nội dung đóng gópcủa các độc giả mong đợc các độc giả hết sức thông cảm và lợng thứ chonhững thiết sót của đề tài.
Trang 12Chơng II Lợc qua lịch sử phát sinh phát triển triết học phơng
Đông
Chúng ta đều biết, tính theo niên đại, thì các dòng triết học thế giới phátsinh nh sau:
-Triết học cổ đại gồm:
Triết cổ ấn Độ: Thế kỷ XV trớc Công nguyên
Triết cổ Trung Hoa: Thế kỷ VIII trớc Công nguyên
Triết cổ La Mã: Thế kỷ VII trớc Công nguyên
- Triết học trung đại gồm:
Triết học Tây Âu; Thế kỷ VI sau công nguyên
Triết học ả Rập: Thế kỷ IV sau công nguyên
- Triết học cận đại:
Triết học Mác LêNin
Triết học vận đại của các nớc nêu trên
2.1 – Tại sao phải xuất phát từ triết học đề nghiên cứu chuyên ngành kiến trúc
Triết học thờng dựa vào thái độ ứng xử của nhân loại, nói chung và củamột cộng đồng dân tộc nói riêng đối với sự dịch chuyển của sự vật hiện t ợngtrong vũ trụ và các mối quan hệ nhân sinh trong đời sống, thực tồ, các mối
quan hệ tơng hỗ giữa con ngời với thiên nhiên vũ trụ (gọi là quan hệ Thiên“
Giải tích cấu trúc vũ trụ
Cố khám phá vào giáo hoá cách thức sinh hoạt hoàn thiện hơn chocon ngời
Nghĩa là luôn luôn tìm hiểu một lý thuyết, tìm mọi hệ thống khái niệm
và quan điểm về “Chân – Mỹ – Thiên” về vũ trụ và nhân sinh có thể ứngdụng làm cơ sở cho một hệ thống lý luận thực hành
Cũng vì vậy, triết học luôn luôn gắn chặt với văn hoá dân tộc
Trang 13Văn hoá là tất cả các hoạt động về tinh thần của nhân loại trong cuộcsống chung, cũng nh cuộc sống riêng nhằm điều hoà thích ứng giữa:
Thể lực của con ngời với thể lực của thiên nhiên
Thể lực tinh thần với thể lực vật chất
Kiến trúc s không phải là một ngời thợ vẽ giản đơn mà là một ngời làmnghề sáng tác ra một giá trị sử dụng trên cơ sở một phơng pháp t duy lôgic,một hệ quan điểm trong cách nhìn nhận, đặt vấn đề Hệ nhận thức t tởng xuấtphát từ nền triết học là nền tảng cơ bản của sản phẩm kiến trúc, còn về thểhiện chỉ là công cụ, phơng tiện diễn đạt
Cho nên trong môn triết học nói chung của thế giới kể từ He’raclite chotới He’gel và cả Karl Marx, đều nhấnh mạnh là triết học không bao giờ chỉ làhoàn toà lý thuyết hoặc hoàn toàn thực hành, mà luôn luôn nó tìm một họcthuyết, một hệ quan niệm có hệ thống về vũ trụ nhằm ứng dụng làm cơ sở chomột nền lý luận thực hành
Do vậy, triết học luôn dựa vào thái độ của nhân loại, của các cộng đồngdân tộc đối với vũ trụ nhân sinh trong hoàn cảnh thực tế về trí thức, tình cảm
và ý chí
Tóm lại, do triết học là một khoa học đặc biệt bao quát tất cả các khoahọc khác, là một trong những hình thái ý thức xã hội đối với các quy luậtchung nhất về sự vật hiện tợng trong tự nhiên và nhân sinh nên phải coi là h-ớng đạo cho mọi suy nghĩ và hành động cụ thể của tất cả các ngành hoạt
Trang 14Khác với Kinh Thi của Trung Hoa xuất phát từ tâm hồn của đại chúngcộng đồng, thi tụng Veda lại xuất phát từ cái tâm của các cá nhân siêu phàm,
là tiếng nói của tình cảm hơng về nguồn sống tâm linh
Có thể kể đến ba thời kỳ lớn phát triển của triết học ấn Độ, đó là:
Thời kỳ thi tụng Veda
Thời kỳ nghi lễ, cầu cúng Brahmana
Thời kỳ triết học siêu hình Upanised – phật giáo trở về thực thểtâm linh nội tại, xác định thực tại ngoại giới cũng là thực tại nội giới, điêu lý
vũ trụ cũng là điều lý tâm linh
Nhà Đạo giáo ấn Độ nổi tiếng nh SHRI AUROBINDO đã viết: “Chân
lý là mục đích tối cao mà các nhà thần bí ấy hay theo đuổi, một chân lý tâmlinh hay nội tại cái chân lý ở tại nơi ta, cái chân lý của sự vật, của nhân gian
và của thần tiên, cái chân lý ẩn đằng sau tất cả hiện hữu của chúng ta và của
sự vật”
Cái khuynh hớng mỹ cảm tâm tinh ấy, nhìn thấu qua các sắc thái tạo vậtthiên nhiên, để cảm thông với cái hoà điệu huyền bí ở thời Veda, đã thấmnhuần tinh thần văn hoá và triết học ấn Độ Nhng cái triết lý tâm linh truyềnthống ấy lại luôn luôn đợc căn cứ vào sự thực nghiệm nội tâm sự sống của bảnthân mình
Nếu ở thành thánh Cảig Veda có sự lẫn lộn cả những lời thơ truyềntụng ca ngợi các vị thần linh, cả tinh thần triết lý thâm thuý, cả những lời cầunguyện phù hộ phong hoán vũ, thì đến thời nghi lễ Brahmana, ng ời Bàlamônchỉ chú tâm tìm cách thực hiện trong nghi lễ, những ý nghĩa của các câu thơVeda, nghĩa là cái thế lực tối cao ở vũ trụ gọi là Brahman Tôn giáo đ ợc coi làmôi giới giữa tiểu vũ trụ nội giới (Tiểu Ngã) với Đại vũ trụ ngoại giới (hay
Đại Ngã) với một lý tởng tơng quan vũ trụ quan hữu thần linh: Vạn vật nhất“
thể ở bản thể tâm linh”.
Sau đó do thất cúng tế, lễ nghi không giúp con ng ời vợt qua đợc bể khổcủa thế gian, họ theo con đờng trí thức để đi tới mục đích chí thiện gọi là triếthọc Upanisad với những t tởng căn bản sau:
- Linh hồn cá nhân đồng nhất với linh hồn vũ trụ (gọi là Advaita)
- Luân hồi – linh hồn giam trong cuộc đời hữu hạn thì đau khổ (gọi làSamsari)
- Giải thoát – linh hồn tìm cách ra khỏi cảnh hữu hạn để ý thức sự
đồng nhát của nó với Đại vũ trụ Một khi hợp nhất thì hết đau khổ (gọi là
Trang 15Koksa) nghĩa là chú trọng về tri thức cái “tự ngã tự tại” đi tuần tự từ thần học
đi trớc rồi đến triết học siêu hình rồi lấy thực nghiệm làm căn bản của tri thức
Nh vậy Upanisad coi bản ngã của tất cả chúng sinh đồng nhất với ý thức
vũ trụ khác với phơng Tây cho rằng tâm linh học có ý nghĩa là tự giao phó chovô biên và lặn chìm vào đây
2.2.1 – T tởng UPAnisad: (750 – 550 tr ớc công nguyên)
2.2.1.1 – Đồng nhất thể: Thực hữu – ý thức – hoan lạc:
ở phơng Tây cận đại ngời ta quen nhìn vật chất và tinh thần nh là lỡngnguyên cách biệt thuộc thế giới hữu hình về thế giới vô hình không có liênquan với nhau Nhng các biệt gia phơng Đông thời Upanisad đã bổ sung mộtquan niện thực tại duy nhất nghĩa là tất cả trạng thái của hiện hữu vật chấtcũng nh tinh thần đồng nhất với nhau trong sự biến hoá Đây không phải làngời ta muốn vật chất hoá tinh thầnh và ngợc lại là đã tinh thần hoá cái vậtchất với vũ trụ quan “tâm vật đồng nhất” hay là “vạn hữu thần” Một quanniệm mới là ngời ta không đứng ra ngoài vũ trụ để nhìn nhận thần linh hay làcho rằng thần linh đứng ở ngoài thế giới hữu hình, mà thống nhất nhạn thứcrằng thần linh đã thấm nhuần tất cả mọi sự vật
Về bản tính của sự sống “tự ngã” (gọi là Atman) thì thần linh có bốngiai đoạn phát triển
Giai đoạn tự ngã thân thể
Giai đoạn tự ngã kinh nghiệm
Giai đoạn tự ngã siêu nhiên
Giai đoạn tự ngã tuyệt đối
Cũng có thể ví nh bốn cấp độ bức xạ năng lợng trong vật lý hiện đại:
Từ cấp độ vật chất chuyển hoá dần lên bốn cấp:
- Cấp độ năng lợng (khí Cảm)
- Cấp độ ánh sáng (khí quang)
- Cấp độ thông tin (khí hình)
- Cấp độ vi tế
Trong Svetacvatara có viết
“Đấng thần linh ở trong lửa, ở trong nớc, ở khắp cả hoàn vũ, ở tại cỏcây, ở chính trớc mắt ngài mà chúng tôi quỳ bái”, trong thực nghiệm, ngời tathấy bộ phận chính trong một sinh vật là hơi thở, là khí nh ng là cái gì huyềndiệu mà giác quan không có thể thấy đợc vì chúng sinh không chỉ sống bằng
Trang 16hơi thở ra (Prana) và hơi thở vào (Apana) nhng còn sống với một vật thứ banữa mà hai vật nói trên phải nơng tựa vào: đó là Prana, là “ý thức” và nhờ có ýthức hiện tại ở lời nói, ở mũi, lỡi….***… mà ngời ta đã tự giác đợc Nếu “Tâm bấttại” thì ngời ta không biết chi tiết Chính cái Prana ấy là Atman vậy.
Trong môi trờng sống Upanisad thẩyằng thế giới là cái đức xuất hiệncủa Atman, cái vật xuất tự Atman và lại trở vào Atman Khi ta ngủ say thìAtman thu lại mình vào nó tất cả những cái nó tự phát xuất ra lúc ng ời ta thức
Bằng chứng sự hiện hữu của Atman, sự xuất phát, thu hồi của nó, có thểthấy đợc trong quá trình chuyển biến từ trạng thái thức vào trạng thái ngủmộng và từ trạng thái ngủ mộng vào trạng thái thụy miên (ngủ không mộng
Nhà triết học cận đại Pháp Descart, trong sự tìm tòi này cũng đã nói:
“Tôi đang t duy, tức là tôi tồn tại”
Nhng đó chỉ là một câu nói rút từ trong suy luận ra (duy lý) chứ khôngqua thực nghiệm thực nghiệm tâm lý nh triết gia Upanisad
Do vậy, chúng ta phải công nhận có một “tự ngã” tồn tại đằng sau tất cảnội dung của ý thức Vì “tự ngã” không phải là một vật trìu tợng, nhng là một
đồng nhất tình thống một và ngầm trong tất cả các trạng thái khác nhau
“Tự ngã” là một ý thức đại đồng linh hoạt thực hiện cho mình, vừa tựmình Nó vừa là chủ thể vừa là khách thể, nó không phải là một vật hữu hạn làcái cơ bản của tất cả các vật hữu hạn nó là “Tự ngã đại đồng” (còn gọi là đại
tự ngã) toàn thể vũ trụ sinh sống và hô hấp ở trong các chi của Atman đại
T tởng Upanisad từ chối không đồng nhất cái “tự ngã” với thân thểnghĩa là có hai thế giới đồng nhất với nhau: thế giói hiện t ợng ở dới và thếgiới siêu nhiên, siêu hiện tợng vô thời gian ở trên
Tuy nhiên, t tởng Upanisad về “tự ngã” không cho là “h vô” mà quanniệm là một thực tại toàn diện, một ý thức hoàn bị Sự đồng nhất ấy biểu thị ởbiểu tơng đơng nh sau:
Tự ngã thân thể (trạng thái thức - Vũ trụ
Trang 17Tự ngã sinh khí (trạng thái mộng) - Linh hồn thế giới
Tự ngã tri thứuc (trạng thái ngủ say) - ý thức tự tại
Tự ngã trự giác (Turiya) - Lcj (Brahman)
Nhng phải hiểu đồng nhất này là một thực tại linh hoạt đầy đủ, một tâmlinh sống động có sinh thành, có biến hoá thay đổi hình dạng ở trong cái thựctại tổng hợp ấy, với hệ t tởng triết học của ba phơng diệ thựuc tại tối cao:
Thực hữu (SAT), ý thức (CIT) – Hoan lạc (Ananda) đồng nhất tính linh
động ấy bao hàm cả thể lẫn dụng, cả lý tởng và thực thế, một thực tồn hoànchỉnh, viên mãn
2.2.1.2 – Nhân sinh quan luân hồi nghiệp báo:
Thuyết luân hồi (Samsara) và nghiệp báo (Karma) là những cơ sở triếthọc nhân sinh của các dân tộc á Đông nói cung từ thợng cổ đến nay
Cuộc đời của một con ngời, từ lúc sinh ra đến lúc chết đợc coi nh một
đối tợng trong chiếc dây xích dài, là một đoạn đờng mà linh hồn cá biết (Jiva)trải qua, ngời cổ đại tin rằng sự sống dựa vào hiện diện của linh hồn, gọi là
“Sinh khí” Sự chết là gửi hồn về thế giới của tổ tiên thân phụ
Theo Atharoa Veda và nghi lễ Brhmana thuộc về t tởng vật linh của cácdân tộc thời cổ Việt:
“Kẻ nào biết và làm công việc nghi lễ, kẻ ấy sẽ trở lại đời sống tr ờngsinh bất tử khi nó chết đi Ngợc lại, kẻ nào không biết nghi lễ khi trở lại cuộcsống lại luôn luôn làm mọi cho sự chết”
Cuộc đời là đau khổ bởi vì nó tái diễn lại hoài, cuộc đời này tiếp theocuộc đời khác nh năm này sang năm khác, vòng dây nhân quả nối tiếp không
đứt đoạn, ở vũ trụ thiên nhiên cũng vậy Tất cả đều là thất vọng, khuyết điểmchừng nào ở trong vòng nhân quả, còn là những hiện t ợng của thời gian vàkhông gian
Kịp đến thời Upanisad mới có nhận định phân tích hớng trở về với thực
tế tâm linh nội tại:
‘Tập trung tinh thần vào tâm linh bên trong, ngời ta thực hiện tính chấtthần linh của chính linh hồn mình và tính chất tự do bản nhiên của mình, tâmlinh ngự tạ bên trong mỗi ngời ma ta không thấy đợc….***… Khi nào ngời thựchiện tâm linh ở bên trong mình thì tất cả sự mê vọng của mình sẽ dần biến
đi”
“….***….Sự thực hiện ấy chỉ có thể đạt đợc ở ngời nào mà bản ngã tích cựcthực hiện và tinh thần đã chống với điều ác, đã tự làm chủ đ ợc mình, thích
Trang 18ứng đợc với thế giới….***… Con ngời ta luôn vận động, thay đổi, ngợc lại, thuộctính của linh hồn, bắt nguồn tại thần linh, không thay đổi ở bản chất của nó,nên là bất biến, gọi là “Bản ngã”.
“….***….Nhỏ hơn cả hạt nguyên tử, lớn hơn cả vật lớn nhất, Atman ngự tạitrong tâm của tất cả chúng sinh, ai đã tự từ bỏ đ ợc hết dục vọng và vứt đợc hếtoán hờn, ngời ấy thấy đợc cái vĩ đại của tâm chính tại bên trong tâm hồnmình Ngời nào thực hiện cái tâm linh vô hình thể ấy trong các hình thể, cáitinh tuý bất diệt hiện trong cái huỷ diệt, thì ngời đó hết cả oán hờn”
Tóm lại, triết lý của gia đạon Upanisad quan niệm đồng nhất thể trong
đó bản thể cùng tột của vạn vật và của mỗi cá thể là Brahman hay Atman (tựtại hay tự ngã) và bản ngã chân chính Atman đồng nhất tính với bản ngã vũtrụ
TRI đã thay thế cho hành lễ
Brahman, đại ngã tuyệt đối, đồng nhất với tiểu ngã Atman luân hồi(Samsata) và nghiệp báo (Karma) là luận thuyết sinh đôi đã trở nên cơ sở cơbản cho tất cả hệ thống t tởng của ấn Độ giáo cũng nh Phật giáo
Sự giải thoát (Moksa) khỏi vòng sinh tử luân hồi chỉ có thể thực hiện đ
-ợc bằng con đờng giác ngộ, con đờng tri thức nghĩa là thực hiện sự đồng nhấtBrahman và Atman “Thiên -địa – tâm” (nhân tâm) Trong cái vũ trụ đạo ấy
“Tâm linh vũ trụ” (Brahman) là mục đích cứu cách mà trí tuệ (Jnana) là ph ơngtiện để đạt tới
Tuy nhiên, tôn giáo Upanisad không có đền chùa, không có ảnh h ởng,không có giáo hội, tỏ ra quá thiên về cá nhân, nên chỉ thích hợp cho một sốsiêu nhân, thiên về siêu hình và thần học, chỉ mới đa ra một số qun điểm vềtrực giác chua có một nguyên lý nào đợc toàn thể công nhận, suy tôn và vềlĩnh vực t tởng vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau, tuy những hệthống siêu hình có bao quát và rộng rãi hơn luận thuyết của Platon và Atistote
ở Hy Lạp
2.2.2 Phật học (550-326 Năm trớc công nguyên)
Giáo lý Phật giáo thích ca, hiểu một cách chính xác, cũng chỉ là tiếpdiễn những trực giác linh t của Upanisad mà thôi, thiên về vũ trụ siêu nhiên,siêu linh bản thể sau khi đặc quyền vũ đoán giai cấp Bàlamôn không đợc xãhội thừa nhận nữa
T tởng Phật giáo thay thế và đi sâu vào luận lý nhân sinh, tìm ph ơngthuốc cứu chữa cho đau khổ bằng các định luật quy định sự ăn ở của ng ời đốivới ngời Có thể nói Phật giáo chủ yếu là môn tâm lý học và chuyển từ phụng
Trang 19sự thợng Đế sang phụng sự con ngời và cũng có thể nói Phật giáo mở đờngcho một tôn giáo biệt lập với tín điều và giáo hội nghi lễ thanh hoá.
Đức phật Gotama phản đối thái độ tri thức thái độ tri thức siêu hình mà
đem giáo lý tâm truyền làm phơng tiện tế độ chúng sinh, một con đờng thực tếgần với con ngời hơn, một nền tảng vững chắc cho luân thờng đạo lý thôngqua thực nghiệm tâm lý
Đức phật cakyamuni cho rằng chỉ có một định luật “ Nghiệp báo”
(Karma) là đủ Phật không phải là ngời trực tiếp giải thoát cho ngời khác,
nh-ng dạy cho mọi nh-ngời cách tự mình giải thoát cho mình Phật có khuynh h ớnh-ngchính là thực tiễn tìm mở cho nhân loại một con đờng sống hơn là suy luận
Tiếp cận về định luật nhân quả, phật truyền dạy một ph ơng pháp tiêu trừ
dục vọng, một kỹ thuật hỷ xả và nhận thức luận chính xác gọi là “ Bát chính
đạo”.
Phật không cực đoan đi theo các pháp khổ hạnh quái đản mà theo sự
điều độ, lành mạnh, theo con đờng trung dung, trung đạo, mỗi ngời sẽ tự cứugiải thoát cho mình, không cần môi giới
Phật niệm động về thực tại, không thừa nhận có sự vật đứng biệt lập, sựvật đều có sinh thì có diệt, đã có thành thì hủy và mỗi vật chỉ là một đốt trênchuỗi dây xích của toàn thể, nghĩa là của tất cả vũ trụ liên hệ t ơng quan vớinhau mật thiét thành một Đại hệ thống Phật trình bày tổng quan về thế giới
và quan niệm về thực tại giữa “Sắc” và “không” nh sau:
“….***… các sự vật có gọi là “sắc”, đáy là một cực đoan, các sự vật không
có, gọi là “không” đấy lại là một cực đoan nữa, chân lý ở khoảng giữa hai cực
đoan ấy, ở “Trung đạo”.
Phật nhấn mạnh rằng thế giới hiện tợng hoàn toàn bị quy định bởi nhânduyên Nhân duyên là một chuỗi điều kiện tơng quan, liên hệ Nhân với Quả,Quả với Nhân, biến hoá vô thờng, vô ngả Lý “Nhân quả” chỉ là tự Hoá, tựSinh, là cái Pháp ngấm ngầm chi phối những điều kiện quan hệ của các trạngthái biếu đổi từ ngoại giới đến nội giới
Tự do ý chí mà chúng ta cảm thấy ở mỗi hành vi, chỉ là sức mạnh củanghiệp quả (Karma), một cái nghiệp ấy là thực tại biểu hiện ở nội giới, cũng
nh ở ngoại giới, thông suốt vũ trụ, chính cái “Nghiệp” ấy gốc rễ ở trong “vôminh” của chúng sinh, là các nguyên nhân của sống, chết Chừng nào cái sứccủa Nghiệp chua kiệt thì vòng sống chết vẫn tiếp diễn và là cái l ới giamchúng sinh trong vòng luân hồi, cái vòng luân hồi sống chết ấy đợc giải thích
Trang 20cặn kẽ ở thuyết 12 nhân duyên, theo tang kinh của phà Phật, tóm tắt ở đồ biểusau:
2.2.2.1 - Đồ biểu mời hai (12) nhân duyên:
Nguyên nhân do đời
sống quá khứ
* Vô minh (Avidya): ngu mê không biết điều ác
* Hành (Samskara): Khuynh hớng bằng thân thể, lờinói, t tởng
* Xúc (Sparsa): 6 tiếp xúc của giác quan
* Thụ (Vedana): Cảm thụ
* Sinh (Jasi); Tái sinh, tái hiện
* Lão (Jaramarana): Già, chết
Thập nhị nhân duyên
ngã và nguyên lai của nó là “vô minh”.
Vậy thì muốn diệt khổ, chỉ có một cách là đánh tan “Vô minh” đi bằng ngọn đèn của “Trí tuệ”.
Nhập “Niết bàn” đối với Phật, không hoàn toàn vào chỗ h vô mà là một cách nói khác của sự cá nhân giác ngộ, chân lý, giải thoát “vô minh”, đến tr-
ớc một chân nh nghĩa là cái bản thể đồng nhất giữa linh hồn với “Đại hồn thé
giới”.
Phép mầu về đạo diệt khổ là chính đạo gồm 8 chính:
Chính kiếnChính t duyChính ngữ
Trang 21Chính mệnhChính nghiệpChính tinh tiênChính niệmChính đinhTheo đạo Phật, muốn thành Phật cần đạt đợc bốn bậc tinh thần sau:1- Thông tỏ các việc kiếp trớc
2- Trừ khử các ác căn ở trong lòng và đợc các huệ nhỡn để thấu triệtmọi việc
3- Lĩnh hội đợc “Thập nhị nhân duyên” là cái lới giam chúng sinh trongvòng luân hồi
4- Phát minh đợc “Tú diệu đề” là bốn điều căn bản để giải thoát khỏivòng sinh tử
Phật thích ca thu gọn triết lý của Phật trong bài thuyết pháp về “Tứdiệu đề”
Khổ đề (Dukha)Tập đề (Samudaya)Diệt đề (Niropha)
Sắc uẩn hay là hình thể (Rupas kandha) (uẩn: tập hợp)
Thụ uẩn hay là cảm giác (Vedas kandha)
T
ợng uẩn hay là tởng tợng (Sanjnas kandha)
Hành uẩn hay là hành vi tác động (Sanskaras kandha)
Thức uẩn hay là ý thức (Vijnanas kandha)
Tất cả năm yếu tố tập hợp lại thành ra tâm thần con ngời, và đó cũngchính là quan niệm chung của các triết lý sống của các đạo học phơng Đônggồm tám chính đã nêu trên
Trang 222.2.2.3 – Thuyết về ngã
Nh trên đã nêu, theo Phật học thì trớc hết phải “Chính định” nghĩa là
kéo sự chú ý từ cái tâm tuyệt đối siêu hình học xuống cái tâm nhân loại ởnhững quan sát tâm lý học
Cái cá tính của mỗi ngời hay là tâm thần của một cá nhân là do năm
yếu tố cấu tạo mà ta gọi là “ngũ uẩn” đã nêu trên, có thể nói tóm tắt là mối quan hệ giữa “sắc” và “danh”.
“Sắc” là nói về xác thịt của ngời ta, là vật chất sinh vật thuộc về khách
quan, nó không tái sinh và luôn gắn bó với Danh
“Danh” là tâm sở niẹm, là yếu tố tinh thầnh, tâm lý, thuộc về chủ quan,
nó tái sinh ở kiếp sau
Danh và sắc phù hợp tơng ứng với nhau, hỗ tơng với nhau, sắc uẩn vàthụ uẩn (nhu cảm) tơng ứng, tơng hợp với nhau mà sinh ra t tởng, có t tởng thì
có hành động ở thân ở ý, ở khẩu, gọi là tam nghiệp
Cá tính của mỗi ngời gắn bó với Danh – Sắc – Thân thể và tinh thần
Bình luận : Kiến trúc s làm nghề sáng tạo, sáng tác kiến trúc là biểu
hiện t duy của kiến trúc s trong công việc (hành của mình) Khái niệm về
“Sắc – không” của phật học có thể ứng dụng để xem xét sản phẩm của kiếntrúc s, để đánh giá hệ tâm thức xã hội của từng thời kỳ lịch sử, của cộng đồngdân tộc ý tởng trong sản phẩm kiến trúc là bản chất chủ yếu của giá trị sửdụng sản phẩm kiến trúc Cũng nh một tác phẩm văn học nghệ thuật bất kỳ,khó có thể hình dung đợc là một công trình, sản phẩm sáng tạo của một kiếntrúc s lại không hàm chứa một vật thể nhân tạo) nhất định phải theo công
nghệ của phật học: “Thụ – T ởng – hành – thức”
Mỗi trạng thái tinh thần lại luôn qua ba giai đoạn: sơ sinh, trởng thành,diệt vong: quá khứ, hiện tại và vị lai cũng nh vậy, tự trong vô minh mà nhìnthấy có, hết vô minh thì không có nữa
Trang 23Cái ngã hiện tại không thể là quá khứ dù nó trong quá khứ xuất ra, chonên khai thác kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc tuyệt đối không có nghĩa làphục cổ.
2.2.2.4 –Thuyết về tri giác
Xúc cảm ở ngời ta, nh trên đã nói, do 12 nhân duyên sinh ra thông quangũ quan:
T tuởng của Phật học là: xúc cảm nảy ra khổ, lạc (vui) nảy ra ân ái, nảy
ra dục vọng, nảy ra hiện hữu, nảy ra sinh, lão, bệnh, tử và đau buồn
Hợp các xúc cảm ấy lại gọi là tâm thức, vì tất cả đều quy về tâm củacon ngời Tâm là trung tâm chỉ huy các hệ thần kinh trong cơ thể con ngời
“Tâm thức” sở niệm, “Thần” động lại sinh ra khổ, lạc, tất cả sinh ta
liên tiếp, hỗ tơng nên không có linh hồn bất dịch
Đây cũng là những cơ sở để phân tích sự hình thành và chuyển dịch củaphong tục tập quán, một yếu tố không thể thiếu đợc trong nội dung bản sắcdân tộc
Xem nh vật, “Thần” đợc coi nh cơ quan vật thể vừa phi vật thể, từ thụ
cảm tạo ra ý tởng, tri thức và ý niệm Cần hiễu rõ là:
ý thức là “Giác tâm”, là kết quả của sự “Tri giác”
Sở niệm là do ngời ta nghĩ đến cái gì, kết quả “hành” làm cái ấy (còn gọi là “Sở tác” hoặc “chí niệm”.
Thông thờng “Thức – thụ – hành ” phù hợp với “Tri thức – tình cảm – ý chí”
“Thức” là “uẩn” thứ năm, cũng chứa đựng bốn uẩn trên nhất là bao hàm cái “lục nhập” là cái biết cảm giác ý thức của con ngời ta là cái gì đem lại tri giác Nhờ “Trí tuệ” ngời ta hiểu đạo Nhìn ở góc độ bản tính, thì bản
tính tự nhiên là trống rỗng Cái trí tuệ của con ngời có thể ví nh ánh sáng của
ngọn đèn để pháp tan bóng tối của “Vô minh” Phật học cho rằng, một khi hết
vô mình thì ánh sáng cũng không dùng đến nữa vì ngời ta đã vợt khỏi vô minh
đi sang cõi giác của Đạo, Niết bàn Trí tuệ lúc đó trở thành một ph ơng diện
Trang 24của pháp không phân tích thẩm lợng đợc, “Trí tuệ” là khả năng đặc biệt của
loài ngời mà cầm thú không có, cầm thú nhất tâm đợc chứ không có trí tuệ
2.2.2.5 – Triết học với văn hoá dân tộc ấn Độ:
Triết học ấn Độ so với Trung Hoa và phơng Tây, có một màu sắc riêngbiệt của cá nhân tính dân tộc Aryen và Đravdien
Do ảnh hởng của địa lý khí hậu nên sớm có những danh từ trừu t ợng đểquan niệm về vũ trụ, về tâm linh, về quan hệ giữa linh hồn cá nhân với vũ trụ,giữa hiện tợng với thực tế lẽ huyền diệu về sống chết, về tiền kiếp và lai sinh
Cũng so địa lý khí hậu, tinh thầnh văn hoá và triết học cũng rất thâmtrầm, phong phó, nào đa nguyên, nhị nguyên, nhất nguyên, nào tâm linh, nàoduy vật, không có khuynh hớng nào của nhân loại là không đợc triết học ấn
Độ tìm tòi, gỡ mối cùng suy nghiệm dến chỗ uyên thâm
Rrad Hakisnan, triết gia ấn Độ, nêu đặc điẻm của văn hoá ấn Độ tạiUnesco:
“….***….trong các giai đoạn tiến triển của ấn Độ
Giai đoạn Vệ ĐàGiai đoạn ấn Độ giáo
Và giai đoạn của Đại ấn
âm niệm bao trùm của văn hoá ấn Độ là âm điệu Đạo lý, theo đổinhững mục tiêu ở bên trên đời sống thực tế mới giúp cho ng ời ta cải thiện đờisống Truyền thống Đạo lý Ân Do la phát triển cái cảm giác trong mối quan
hệ nối con ngời với vũ trụ, từ đó sinh ta một quy chế mới cho nhân sinh nhằmduy trì ngời ta trực tiếp với thực thể của tâm hồn Tôn giáo của ấn Độ là cảmột viẹc sống, cả một cuộc đời, ngời có tâm đạo là ngời có tinh thần chínchắn và bình tĩnh, một tâm hồn thơng yêu nhau và một ý chí mạnh mẽ, cử chỉsốt sắng, một tinh thần hoà bình, và yên tĩnh bất cứ ở địa vị nào Tôn giáotrong lịch sử ấn Độ đã là một sự tìm tòi có ý thức về những mối quan hệ củanhững thực thể tiềm tàng điều động vũ trụ, với con ng ời ta trong việc thựchiện hoà điệu của đời sống và trong vận mệnh của mình
Sợi dây truyền thống cho t tởng ấn Độ là: Tìm sự đồng nhất giữa tinhthần cá nhân với tinh thần vũ trụ bằng khoa Yoga, nối liền cái TA với nhữngcái không phải TA: Đấy là lý tởng của triết học ấn Độ, đấy cũng là hạnh phúccủa nhân loại Nhà thi hào Tagore đã kết luật trong cuốn sách nhỏ Sadhana vềtinh tuý của văn hoá ấn Độ nh sau:
Trang 25“Văn minh của chúng ta sinh truởng giữa nơi rừng rú và do nơi đây, nóchịu ảnh hởng của nguồn gốc và hoàn cảnh, nên có một cá tính đặc biệt Baobọc chung quanh bởi thiên nhiên sinh hoạt, che chở và đợc nuôi sống bởithiên nhiên cho nên chúng ta còn giữ đợc tính liên hệ mật thiết không gián
đoạn với các phơng diện của vũ trụ tự nhiên cho nên chúng ta còn giữ đ ợc tínhliên hệ mật thiết không gián đoạn với các phơng diện của vũ trụ tự nhiên ởphơng Tây, ngời ta tự hào đã thắng phục đợc tạo vật, làm nh là chúng ta đangsống trong một thế giới ác cảm mà chúng ta phải giành, phải giật, phải c ớp,phải tranh lấy tất cả cái gì cần thiết cho mình chống giữ từng b ớc với một hệthống sự vật xa lạ và bớng bỉnh với ta? Cái tính tình ấy là kết quả của phongtục và giáo dục hấp thụ nơi đô thị Sống ở đô thị, ng ời ta tự nhiên hay tậptrung tinh thần và nhãn giới vào cả cuộc đời, vào công việc riêng t của mình
Do đấy, kết quả có một sự ly dị giả dối giữa cá nhân với tạo vật đại đồng, nơi
mà chính mình đã nơng tựa
ở ấn Độ thì quan điểm của ngời ta khác: con ngời và thế giới nằm cả ởtrong một chân lý vĩ đại duy nhất ấn Độ tập trung tất cả nghị lực vào cát lýhoà điệu giữa nhân thân và một chút cộng thông với thế giới bao bọc xungquanh ta Giữa nhân loại và tạo hoá phải có một liên hệ tơng quan hợp lý
Nh vậy, ở ấn Độ, tất cả t tởng đều bắt nguồn ở Veda là khoa học thánhgiáo thiêng liêng (gọi là minh trí) với mục đích nh ở Phật học là ra khỏi cõi
“Vô minh” để đến cõi “giác” cũng bắt gốc ở Veda nên nhà Đạo học có uy tín
của ấn Độ là Cankara cũng có ý kiến là có sự trùng lập, và đ a ra hệ thống triếthọc Vedanta
2-3 Một số nét về triết học trung hoa
Có thể chia lịch sử triết học Trung Hoa làm ba thời kỳ chính:
+ Thời kỳ triết học cổ đại: từ Lão Tử xuống đến làm Hàn Phi, còn gọi
là triết học Ch tử
+ Thời kỳ triết học trung thế: từ nhà Hán đến Bắc Tống lấy triết học Ch
tử có đại làm khởi điểm cùng với Lão Tử, Trang Tử, đến tận thời kỳ cực thịnhcủa triết học ấn Độ tại Trung Hoa
+ Thời kỳ triết học cận thế: Sau nhà Đờng, triết học ấn Độ đã dần dầnbiến thành một bộ phận của văn minh t tởng Trung Hoa
Từ nhà Minh về sau, triết học cận thế của Trung Hoa thành lập thànhlập Phật học đã suy, nho học trở nên độc tôn và có sự tranh chấp giữa Tốnghọc và Hán học, cuối cùng đều lấy cái học chủ trì chủ đạo
Ngày nay, học thuật và t tởng của Trung Hoa có hai đầu mối:
Trang 26+ Các nhà Hán học truyền lại cho những sách cổ.
+ Học thuyết mới của Tây phơng sau khi hai trào lu ấy hội nhập lại
2.3.1 T tởng triết học và tôn giáo trớc thời khổng tử:
Mãi cho tới nhà Chu (1122-256 công nguyên) văn minh Trung Hoa mớithể hiện rõ cá tính của nó, do Vua Văn và Chu Công hai nhà sáng lập ra nhàChu
Thời cổ đại của Trung Hoa là thời đại thuộc về chế độ quý tộc và trật tựchính trị, kinh tế với trật tự học thực là một triết học của thời đại của nhà Chunảy nở từ trong không khí tự do t tởng và ngôn ngữ của thời đại giao thời giảiphóng khỏi những chế độ cũ
Theo sách quốc ngữ , chu ngữ ,“ ” “ ” tả truyện“ ” đều chứng nhận là t ởng triết học và tôn giáo trớc thời Khổng Tử, trong tinh thần ngời dân TrungHoa thời cổ đại, quan niện là các thế lực tự nhiên bao bọc xung quanh sự sinhhoạt của nhân quần ngời với vật, với trời đất cha ly khai đối lập Khởi thủy thìcác thế lực ấy còn hỗn độn vô kể nên mới nói tới bách thần Dần dần t tởngtiến bộ từ đa thần chuyển sang khuynh hớng nhất thần (gọi là Thợng Đệ) phản
t-ánh sự thống nhất trong t tởng, giảm dần sự mê tín đối với quỷ thần, để đi vào
thực tiễn, phục vụ các điều nên“ ” của dân
Trung Hoa cổ đại có một tín ngỡng chung cho rằng giữa tạo vật tự nhiênvới nhân sự có một ảnh hởng hỗ tơng mật thiết, cho nên có những phép thuật
số để quan sát hiện tợng tự nhiên để đoán trớc sự thịnh suy, tốt xấu có nghĩa
là quan hệ giữa thiên Đạo với nhân sự thuật số gồm 6 loại:
a-Thiên văn: là sự sắp xếp thứ tự của 28 sao và ghi sự biến dịch của 5hành tinh và ngày, tháng, nhờ đó mà đoán ra sự tốt lành hoặc xấu
b- Lịch phổ: dùng vào việc sắp đặt 4 mùa, có thứ tự để tính thời tiết,ngày đêm bằng nhau (xuân phân) và độ phù hợp của mặt trời, mặt trăng nóngrét, điểm lành dữ
c- Ngũ Hành: thổ, mộc, kim, hoả, thuỷ: 5 hành cụ thể hoá bản tính củangũ thờng: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín
d Ngũ s : Mạo, ngôn, thị, thính, t (hình dáng, nói năng, nhìn, nghe, vàsuy t) tơng ứng với ảnh hởng của ngũ hành trong t tởng “đất – ngời hỗ tơng”
e Tạp chiêm: ghi những hiện tợng phức tạp của sự vật để đoán sự biểuhiện của thiện ác, tốt, xấu trong đó có că phép đoán mông
f Hình tợng: Xem những ảnh hởng tốt, xấu của trời đất (phong thuỷ) đểxây nhà, bố trí nội thất
Trang 272.3.2 T– tởng triết học và tôn giáo trong kinh thi – Kinh th kinh dịch–
Bắt đầu định c nông nghiệp, t tởng ma thuật nhợng bộ cho một t tởngtôn giáo gia tộc, tộc thị, quốc tộc và có ý thức về cái ngã của mình hơn và bắt
đầu thờ cúng tổ tiên, thờ thổ thần làm thần xã và thờ thần lúa làm thần Tắc vàthờ thần bao trùm toàn thể xã hội đợc nhân cách hoá gọi là Thợng Đế hay Đế
Thần lúa phối hợp với thần Đất gọi là Xã tắc“ ”, thần lúa phối hợp với tổ tiên
gọi là “Hậu tắc” Khuynh hớng tôn giáo tổ tiên, phát nguyên từ lúc ngủ trong
cơn mộng mị, ngời ta cảm thấy ở mình còn có một cái gì vơn ra ngoài thể xác
và vào cái linh hồn trờng cửu sau khi thân thể đã tiêu huỷ Từ đó, suy ra rằng,
tổ tiên tuy thể xác chết, nhng còn là tinh anh để bảo hộ cho con cháu dài lâu
Cá nhân với cộng đồng xã hội, nhân quần với tự nhiên vũ trụ đấy lànhững vấn đền căn bản của t tởng nhân loại mà thời Ân, Chu,Tống, Minh,Thanh Trung Hoa, Kinh thi, Kinh th, Kinh dịch đều có t tởng điều hoà chứ
không đối lập, với vũ trụ quan “Thiên – nhân” (ngời và trời) nhất trí bắt đầu
đi vào trí thức thực nhiệm T tởng thực tiễn ấy bắt đầu với thiên “Hồng
Phạm” trong Kinh th (sẽ nói sau).
Bình luận : Kinh tế nông nghiệp tập trung định c phát triển càng ngày
càng vững chắc và đợc củng cố thêm nhận thức (qua kinh nghiệm bớc suythoái kinh tế vừa qua tại các nớc Đông Nam á) về vị trí của kinh tế nôngnghiệp trong bớc công nghiệp hóa, hiện đại hoá của một nền kinh tế mở Kinh
tế nông nghiệp tập trung định c có vị trí quan trọng lâu dài trong chiến lợckinh tế quốc gia thì thờ cúng tổ tiên gia tộc và thổ thần, mồ mả gia tiên và
“Thần vơng xã” vẫn là những không gian hợp thành không thể thiếu đ ợc trongcấu trúc không gia các điểm dân cơ đô thị nông thông và nội thất gia đìnhtrong một thời gian dài nữa Một kinh nghiệm thực tế giúp chúng ta tự nghiêncứu, tham khảo, dó là dàn nam giao thờ Trờim thờ Đất và “dàn xã tắc” trong
thành cổ, các mộ phần lăng tầm ở phơng vị “Bạch hổ” và núi Tam thai, ở cố
đô Huế hiện nay (sẽ nói rõ sau) Ngời dân á Đông, trong tổ chức đời sống xãhội thờng ngày và tổ chức nội thất trong nhà luôn gắn kết hòa hợp 4 khônggian:
* không gian riêng cho gia đình
* Không gian chung cho sinh hoạt cộng đồng
Cộng với
*Không gian thờ cúng (kể cả mồ mả) gia tiên
Trang 28* Kh«ng gian cho nh÷ng thÇn linh gÇn gòi nhÊt (Thæ thÇn, nh©n thÇn,thµnh hoµng lµng….***….)
Trang 292.3.3 Hệ thống nhập thế
2.3.3.1-Thái Nho sĩ Trung Hoa
Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VII, Trung Hoa có đến 500 n ớc chhầu Đến thế kỷ IV tập trung vào 3 nớc ở 3 phơng
Ngày nhà vua tế lế Trời Đất (Nam giao), nông dân thì cúng lễ tổ tiên,giữa 2 tầng lớp nho sĩ vốn là dòng dõi thế gia nhng cũng nghèo nh giai cấpnông dân Tầng lớp Nho sĩ dần dần nuôi các chí h ớng, nguyện vọng mói vàcận động đổi mới xã hội đổi mới văn hoá cùng tôn giáo Ta có thể kể đếnKhổng tử, Mạnh tử, Tuân tử, Mặc tử, Trang tử Dần dần tầng lớp trí thức, Nho
sĩ phát triển và trở thành những nhà lý thuyết về chính trị, t tởng, về triết họchay tôn giáo có khuynh hớng trừu tợng hoá dần, có vị thần linh, mà thời cổ đã
đợc nhân cách hoá Đại diện cho Nho sĩ, đầu tiên phải nói đến Khổng từ
Lục Nghệ
“ ” gồm Lễ, Nhạc, Thi, Th, Dịch, Xuân thu tuy đã lu hành từthời xuân thu, đã đợc Khổng Tử dùng để dạy học cho đại chúng, phổ thôngvăn hoá và giáo dục trong dân gian Hoạt động của ông ảnh hởng của ông cóthể so sánh với hoạt động của Socrate ở Hy Lạp, Socrate đã đề cao bản tínhluân lý của nhân loại mà sau này đợc hai triết gia nổi tiếng là Platon vàAtistote tiếp tục phát triển Sau Khổng tử hai nho gia cực phách là Mạnh tử vàTuân tử làm cho triết học của Khổng tử trở thành học phái chính thống củaTrung Hoa
2.3.2.2-Triết học Khổng tử
Những điểm chính của triết học Khổng tử là:
Khổng tử với vũ trụ quan dịch:
Khổng tử tin vào vũ trụ quan của Kinh Dịch, tin vào sự vận hành biếnhoá không ngừng của sự vật, có trật tự có hoà điệu mà chúng ta có thể cảmthông đợc Ông tin là có Thiên và Mệnh nhng là một khẳng định luật kháchquan, một hoà điệu đại đồng trong vũ trụ Song sự biết thiên ấy bắt đầu từ đâu
và sẽ đi về đâu?
Trang 30Khổng tử đã cố gắng rút ra mấy nguyên lý căn bản cho phơng pháp triếthọc của ông tức là chủ nghiã Chính Danh gồm 3 quan niệm:
a Vạn vật biến thiên:
Sự vật luôn biến thiên, nhng có điều lý trật tự tồn tại, và lúc ẩn lúc hiện,lúc đơn giản lúc phức tạp
Triết lý nhân sinh của Khổng tử chú trọng vào động cơ trong lòng, làm
thế nào đạt đợc hiệu quả mong muốn, còn gọi là thái độ “Vơng Đạo” trong
“Nhân sinh hành vi”
Triết lý nhân sinh của Khổng tử chú trọng vào động cơ trong lòng, làm
thế nào đạt đợc hiệu quả mong muốn, còn gọi là thái độ “Vơng Đạo” trong
“Nhân sinh hành vi”
b- Thuyết “T ợng” của Khổng tử:
“Tợng” ở trong tâm lý học là “ảnh tợng động tác”, là ý tởng mà thực tế
là Danh Tợng là ý động tác nguyên thuỷ hình thành trong tinh thần tr ớc khi
cụ thể hoá ra hanh động thực tế Do đó, văn hoá, văn minh đều do động cơ T ợng mà xuất ra
-Có ba hiệu quả ứng dụng mật thiết với nhau ở học thuyết “Tợng” là:
- Trong triết học nhân sinh rất chú trọng vào “c tâm” và động cơ hành
Góp danh thành từ để bày tỏ xu hớng của các ý tởng, động tác hớng đạo
cổ vũ ngời ta đi vào con đờng chính nghĩa và từ thuyết Chính danh đã suy
nghĩ về “tợng” và “từ” trong kinh dịch.
Khổng tử với thuyết Chính danh“ ”
Khổng tử cho rằng muốn phục hng trật tự xã hội, biện pháp là ngời nào,vật nào phải ở địa vị chính, tự nhiên của vật ấy, ngời ấy, đó cũng là thuyếtchính Danh
Danh là cái bản chất của vật, hay là khái niệm (Concept) của vật Mỗivật cụ thể, ngời cụ thể đều có cái danh “danh” hay “tợng” là địa chính đángcủa vật trong hoà điệu đại đồng và của ngời trong xã hội Nếu mọi ngời thihành đúng với danh nghĩa bổn phận của mình trong xã hội, thì trật tự xã hội
Trang 31không bị h hỏng, vì danh không đi đôi với thực, nên trớc hết phải “chínhdanh” và phải bắt đầu từ bên trên xuống Ông nói: “….***….Đức của ngời quân tử
nh gió, đức của kẻ tiểu nhân nh cỏ, gió thổi trên cỏ thì cỏ ắt ngả theo”
Khổng tử với triết lý Nhất quán “ ”
Trí thức luận Khổng tử nhận định rằng trong vũ trụ, trời đất vạn vật biến
động phức tạp vô cùng, nhng tựu trung cũng có thể tìm ra hệ thống điều lý hộthông đợc, và có thể quán thông đợc thiên hình vạn trạng phức tạp khác nhaucủa sự vật Ông nói “….***….có thể về cùng một chỗ bằng nhiều đờng khác nhau,tới cùng một điểm mà trăm ý nghĩ” với phơng pháp trí thức là: “trong cái phứctạo, tìm cái đơn giản, trong cái khó tìm cái dễ”, lấy suy luận, suy t ởng làm cănbản của tri thức
Trong triết học nhân sinh, phơng pháp căn bản của Khổng tử là “nhất dễquán chi” nghĩa là suy t tự mình ta đến ngời, cái gì không muốn thì đừng thihành cho ngời và cái gì mình ghét ở ngời trên thì đừng lấy để khiển ngời dới,cái gì mình ghét ở ngời dới thì đứng lấy để phụng sự ngời trên
Khổng tử với Đạo Nhân“ ”
Đối với Phật giáo, Cơ đốc giáo chữ “Nhân” có nghĩa là bác ái, bình
đẳng, Khổng tử chủ trơng chữ ái có đẳng cấp khác nhau về phơng diện thựchành, vì ông theo luân lý thực hành áp dụng vào xã hội chính trị tr ớc mắt ônglấy tiêu chuẩn nhân cách thông thờng của bậc sĩ quân tử làm chủ đạo Không
kể giai cấp và các quan điểm của ông đợc thể hiện trong “Luận ngữ” về đạo
của ngời quân tử:
* Ngời quân tử quý ở chỗ thực hành, không phải ở chỗ nói suông
* Ngời quân tử tự trách mình hơn trách ngời
* Ngời quân tử ham điều nghĩa và biết phân biệt giữa nghĩa và lợi
* Ngời quân tử luôn nhún nhờng
Luân thờng trong nhân sinh triết học của Khổng tử là:
- Làm vua thì nhằm mục tiêu vào Đạo nhân
- Làm bầy tôi thì nhằm mục tiêu vào Đạo Kính
- Làm ngời con thì nhằm mực tiêu vào Đạo Hiếu
- Làm ngời cha thì nhằm mục tiêu vào Đạo Từ
- Cung với ngời giao dịch thì nhằm vào Đạo Tính
Nhân cách đạo đức của Khổng tử là:
Trang 32Theo cái lòng muốn của mình mà không vợt ra ngoài quy củ của Trời
Đất
Khổng tử với Triết lý giáo dục :“ ”
ý nghĩa lớn nhất của giáo dục, theo Khổng từ, là cải tạo nhân tín và
trong nhân tính trà trộn cả “Thiện” và “ác” và lấp cái hố phân chia giai cấp xã
hội để mọi ngời biết liêm sỷ tức là có nhân cách đa con ngời về tính gần nhau
theo tính “thiện” bản nhiện của con ngời Cuối cùng giáo dục là để mở mang
“Trí, tình, ý” hoặc “Trí, nhân, dũng”, sáu điều che lấp của Khổng tử là:
* Muốn Nhân mà không học, cái che đó thành ra Ngu
* Muốn Trí mà không học, cái che ấy là Đăng
* Muốn Tín mà không học, cái che ấy là Giặc
* Muốn Thắng mà không học, cái che ấy là Vội cấp
* Muốn Dũng mà không học, cái che ấy là Loạn
* Muốn Cờng mà không học, cái che ấy là Cuồng
Tóm lại, từ vũ trụ quan dịch, qua là chính Danh, đến triết lý nhất quan,
Đạo Nhân và quân tử, Khổng tử đầu tiên phân tích để hệ thống hoá thái độnhập thế nhân sinh cổ truyền của Trung Hoa vào một nhân bản đầy đủ, hợpnhất quân bình vũ trụ với nhân sinh, siêu nhân với hiện thực
2.3.4 Hệ thống xuất thế
Còn gọi là Xuất thể vô vi do học phái Lão tử, D ơng Chu, thuộc về loại ttởng của đạo sĩ tu luyện, tiên tri xa cách với nhân quần xã hội, ví nh các bậcthần tiên Rishi của ấn Độ, và chỉ tâm truyền cho một số đệ tử chọn lọc và lấycái học ở ẩn vô danh làm nhiệm vụ
Hai nhà t tởng cự phách Dơng Chu và Mặc Dịnh, đối lập với Mạnh tử,
ảnh hởng rất mạnh vào thời đại sau Khổng tử, trên dới 1000 năm
2.3.4.1 – tởng Vị Ngã T “ ”
Của Dơng Chu đệ tử của Lão tử: ông cho rằng có sự sống thì ng ời tamới thởng thức đợc những vật của giác quan nh: thanh, hơng vị Sắc Sở dĩ taphải chế ngự tình dục là vì muốn đợc hởng lâu dài những khoái lạc của giácquan ấy, chỉ khi nào giác quan đợc hởng thì sự sống mới có ý nghĩa Đó còn
gọi là thuyết “Toàn sinh” của học phái Dơng Chu.
Chủ nghĩa “Vị ngã ” lấy mình làm trọng tâm, cá nhân làm tối cao, luônbênh vực giá trị cá nhân, cá biệt chống với mệnh lệnh của toàn thể xã hội, đáy
là bớc đầu tiên của t tởng “Vị ngã”
2.3.4.2– Chủ nghĩa vô danh
Trang 33Dơng Chu trủ tơng một cách cực đoan, chỉ thừa nhận có sự riêng biệt,tức là “thực” mà phủ nhận cái danh toàn xng, và nói “thức vô danh, danh vôthực, danh giải nguy nhu dĩ hỷ” nghĩa là thực thì không có tên, có tên thìkhông phải thực thể nữa, tên gọi làm giả dối ra đấy mà thôi, Ông cho rằng
đàng sau danh do xã hội nhân loại tạo ra thì không có cái thực thể tồn tại quan
niệm “vị ngã” của Dơng Chu là: vạn vật trong vũ trụ, cái hiển nhiên đáng quý nhất, đáng trọng nhất là “sinh mệnh” ấy là nguồn sống, biểu hiện ra thiên
hình vạn trạng khác nhau, tựu trung chỉ một nguồn sống ấy đã là cơ sở để duytrì cái vũ trụ này Cái nguồn sống ấy, ở mỗi vật đều sẵn có bản năng bảo tồnlấy mình trong sự biến hoá không ngừng….***… quan niệm “tồn ngã” vốn là xu h-
ớng của sinh vật thiên nhiên, bản thân không có gì là không đạo đức, vả lại
nếu theo quan niệm “thiên địa vạn vật đồng nhất thể” thì đơn vị cá nhân là
cả một thế giới, cả một vũ trụ….***… Và ông còn cho rằng vị thế chủ trơng “Tồn
ngã” của mình mà tôn trọng cái “tồn ngã” của ngời đấy là sự suy tôn cái chí
công vô t, tôn trọng tất cả mọi ngời, tất cả mọi vật hết sức nhỏ đến hết sứclớn, mỗi vật đều có địa vị chính đáng của nó trong cái đại hoà điệu đại đồngvậy
2.3.4.3 – Thuyết D ỡng sinh:
Cái thuật “lạc sinh” vui sống tuỳ theo hoàn cảnh, không câu chấp vào
d luận, hoàn toàn theo đúng luật tự nhiên, có thể nói đây là khuynh h ớng thần
thánh hoá thiên nhiên của hệ thống t tởng “xuất thế” của các nhà “ẩn sĩ vô
si”, nó có vẻ chống với khuynh hớng thần thánh hoá xã hội đoàn thể của học
phái “nhập thể” của “Nho sĩ hữu vi”
Trong khi phải nhập thế hữu vi chú trọng vào hiện tợng của vũ trụ ở bênngoài (hởng ngoại) thì phải xuất thế vô vi lại đi tìm cái thực thể của vũ trụ ở
trong tâm hồn hồn tất tê vi ấy là cái “bản ngã” tồn tại ở ta và đồng thời là bản
thể của vũ trụ
Lão học cho rằng: trị nội tức là bảo tồn cá thể mà do đấy trị đợc toànthể Còn phép trị ngoại không chắc đã trị đợc cá thể bên trong, mà cũng chẳngsao mà trị đợc cả đoàn thể su vật thiên hình vạn trạng
Do vậy, phái Lão học vô vi đi tìm cái tồn tại ngoài không gian, thờigian không có thể dùng danh từ ngôn ngữ mà giải thích đ ợc, mà chỉ bằng cách
“vô vi” nghĩa là phải nhạn hết hình danh sắc tởng đến chỗ “vô tờng”
2.3.4.4-Thuyết Kiếm ái:
Khổng tử, ngời sáng lập ra Nho học mất không lâu thì Mặc tử sáng lập
ra học thuyết “kiêm ái” Mặc tử hết sức công kích Lễ nhạc của Khổng tử và
Trang 34đòi trở về xã hội chất phác bình đẳng, cần lao của Vũ Vơng nhà Hạ, quan tâm
đến tầng lớp dới tầng lớp sĩ phu (tầng lớp bình dân bao gồm: nông dân lao
động, thợ thủ công, buôn bán nhỏ) Mặc tử chủ trơng biện thuyết với thế lực ởtrên, giáo hoá ngời ở dới, nên cũng thuộc hệ thống nhập thế hữu vi và đều đắcdụng cho phe cầm quyền thống trị
Mặc gia không phân biệt đẳng cấp trong tình yêu, đòi ng ời ta phải
“Kiêm ái” phải đồng nhất vào thợng Đế tất cả giá trị nhân sinh, chọn ngời
hiền lên địa vị lãnh đạo quốc gia, không phân biệt sang hèn, quý tiện Nhấtloại giản dị hoá, tiết kiệm Mọi ngời đều có quyền cúng tế trời đất với quỷthần và phản đối chủ nghĩa định mệnh
Mặc tử rất quan tâm đến tri thức, thực nghiệm ứng dụng trong sản xuất,nếu Nho gia lấy nguyên tắc Danh – Ngôn – Hành làm tiêu chuẩn nghĩa là đi
từ ý niệm xuống hành động, từ Tri tới Hành thì ph ơng pháp luận của Mặc tửquan tâm vào Dụng của quần chúng và cho rằng những điều dùng đ ợc tức là
điều “thiện”, nên con đờng nhập thế hành đạo Mặc tử đòi ngời ta phải chọnlấy trờng, phải tham gia vào việc làm thực tế Cái chuẩn tắc phải trái của mặc
tử không phải do lơng tri trong lòng, mà là do sự thực dụng ở thực nghiệm bênngoài
Thuyết Kiêm ái thực hành, thuyết tơng ái, tơng lợi, tuyệt nhiên không
có đả động đến lý do diêu hình thần bí, nhằm thực hiện mục đích xã hội t ơngthân tơng ái an c lạp nghiệp, lấy trí thức xây dựng cho một tôn giáo tình yêubình đẳng của một ý chí tối cao tuyệt đối vợt lên trên cả xã hội Tuy nhiên vì
quá thiên về “kiêm” mà bỏ rời mặt “biệt” cho nên Mặc tử đi xa Đạo, không
giống truyền thống văn hoá mà nhân dân Trung Hoa quen nhìn nhận sự vật
với quá trình “sinh thành”.
Mặc tử đề cao ngời có tài đức trong dân chúng, bất phân giai cấp quý
tiện gọi là chính sách “thợng hiền” hay là chính trị “hiền nhân” song song
với chính sách tiết kiệm của cái và sức lực của dân
Tóm lại về thời đại khởi điểm của triết học Trung Hoa (thời đại Xuânthu) mà đề tài nghiên cứu tiếp cận có 3 t tởng tiêu biểu của Triết học
* Thuyết đạo “Nhân” của Khổng tử.
* Thuyết đạo “Kiêm ái” của Mặc tử.
* Thuyết đạo “Vi ngã” của Dơng tử.
Ba thuyết trên đều tiếp cận 3 vấn đề căn bản của nhân sinh:
* Quan hệ giữa ngời với vũ trụ
* Quan hệ giữa ngời với ngời
Trang 35* Quan hệ giữa ngời với chính mình
Hai khuynh hớng bản thiên của nhân loại thời xuân thu là:
* Tín ngỡng ma thuật, nhân cách hoá thế lực thiên nhiên cảu dân dumục
* Tín ngỡng tổ tiên thờ phụng linh hồn bất tử của nôgn nghiệp định c.Hai khuynh hớng này gặp nhau, đồng hoá với nhau giữa nhà Thơng và
nhà Chu, giữa t tởng “Thiên” với t tởng “Đế” để kết tinh vào t tởng thời Tây
Chu, tiêu biểu là t tởng Dịch của Văn Vơng, Chu Công (Chu Dịch, sẽ nói ởsau)
Tiêu biểu của thời đại đó có:
Khổng tử đại diện cho Nho sĩ, theo con đờng “lễ”, con đờng “Nhất
quán” với triết lý Trung Dung hợp cả “thể” lẫn “Dụng”.
Lão tử (hay Dơng Chu) đại diện cho ẩn sĩ tìm trở vào rừng núi với thiên
nhiên, theo con đờng “Xuất thế” “vị ngã ,” triết lý nội hớng về bản ngã tự docòn Mặc tử phát triển t tởng nhập thế đến đạo lý cực đoan và tôn giáo cứu đờibằng đức tín
2.4 –Kết luận chung
Nhìn chung, tinh thần triết học và văn hoá dân tộc cổ Phơng Đông ở haikhu vực ấn Độ và Trung Hoa đều công nhận một điểm chung căn bản là hoà
điẹu giữa Thiên Địa Nhân, hoà điệu đại đồng ở tại bản tính tâm linh
Nhân loại với vũ trụ quan tự nhiên nghĩa là quan hệ Thiên – Nhân,trong quan điểm của các dân tộc phơng Đông cha từng cách biệt để trở thànhhai thế lực đối lập, tơng tranh Vật tính, nhân tính, thiên tính hợp thành một
“dòng sống động ,” liên tiếp, bất phân
Từ quan niệm cơ bản “Trời, Đất, muôn vật” có chung một thể, dân tộc Trung Hoa đã thực hiện bằng con đờng “Nhập thể” hành động vào xã hội nhân sinh Còn dân tộc ấn Độ thực hiện bằng con đờng “Xuất thế” tiềm tu để
siêu hoá bằng con đờng sinh lý, tâm lý
Nhà văn hào Nhật Bản Okakura trong cuốn sách “Lý tởng của phơng
Đông của ông cho rằng đây cũng chỉ là mầu sắc đậm đà chính của hai khuynhhớng văn hoá đó mà thôi, trừu tợng căn bản vẫn là một”
Có thể so sánh lập bản nh sau cho dễ hiểu:
- Nhấn mạnh khuynh huớng nhân sinh
xã hội, nhân bản hoá vũ trụ tự nhiên,
- Thiên về khuynh hớng vũ trụ hoácon ngời, đem con ngời hoà vào với
Trang 36sát nhập vào xã hội nhân loại.
- Lấy chữ Hoà giữa Trời - Đất- ngời
tâm lý tởng
- Con ngời lý tởng của Trung Hoa;
con ngời Nhân, con ngời của xã hội
nhân quần
- Triết học Trung Hoa chủ đề Hành
tuy Tri và Hành vẫn hợp nhất nên tìm
“nhập thế” vào luân lý xã hội
vũ trụ
- Tìm mục đích cùng tốt ở giải thoát
tự do cho tinh thần
- Con ngời lý tởng của ấn Độ: con
ng-ời Đạo sỹ Tâm Linh con ngng-ời có ýthức vũ trụ
- Triết học ấn Độ chủ về Tri (tìmhiểu) nêu tìm “xuất thế” ra vũ trụ
Triết cổ phơng Đông đã có ảnh hởng lớn đến nền văn hoá các dân tộcChâu á nói chung và đặc biệt sâu rộng đối với văn hoá dân tộc Trung Hoa dothuyết “nhập thế” của Nho học và Mặc học, chính sách giáo dục của Khổng
tử Nền văn hoá đợc phản ánh cụ thẻ trong phong tục tập quá dân tộc, trongcấu trúc không gian làng xóm, trong cấu trúc không gian nội thất nhà ở dângian của ngời nông dân và mạng lới công trình công cộng, công trình tôngiáo, mộ Khố của cộng đồng xã hội gia tộc, dòng họ và bộ tộc
Những học thuyết lớn của triết học cổ thời đó cũng đã kích thích phátsinh, hình thành sự cộng sinh của bốn không gian không tách rời của các điểmdân c:
- Không gian riêng:
- Không gian cho ngời sống quy tụ theo gia tộc, dòng họ
- Không gian cho linh hồn gia tiên
- Không gian chung:
- Không gian cho các công trình cộng cộng của cộng đồng
- Không gian cho thần linh, nhân thần của cộng đồng
Nếu ngời phơng Tây chú trọng vào kinh nghiệm, ý chí và khả năng tựmình duy lý, tất cả họ đều coi trọng một thế giới khách quan ở bên ngoài nhânthần mà họ cần phải tìm kiếm hết sức nỗ lực để khám phá, chiếm đoạt và trởthành đối tợng tác động khai thác cho lợi ích riêng của mình, nên họ tỏ ra cómột thái độ lạnh lùng, ngờ vực và chỉ chăm chú vào các biện pháp kiếm lợinhuận thì ngợc lại, các dân tộc cổ đại phơng Đông đặc biệt là ở Trung Hoa và
ấn Độ không hề có t tởng cho rằng con ngời với vũ trụ tự nhiên có sự ngăncách xa lạ nào cả
“Ngời và vật thể thiên nhiên là bàn cùng một nhà”
Trang 37Sách cổ Trung hoa viết:
“Nhân tâm duy nguy, Đạo tâm duy vị, Duy tinh duy nhất, doãn chấpquyết trung….***….” Nghĩa là: lòng ngời thì nghiêng ngả, Đạo thì tế vi, chí phảitinh khiết, chí phải nhất tâm, nắm giũ lấy cái điểm đầu mối của Đạo ở ng ời
Trang Chu cũng nói:
“Trời Đất với ta cùng sống, vạn vật với ta là một thể” Đây là tinh thần
t tởng xuất phát cơ bản của văn hóa Trung Hoa, đồng hóa với vũ trụ, chứkhông đối lập với vũ trụ để đấu tranh nh hai thế lực thù địch Cái đức lớn củaTrời Đất là nguồn sống, là sợi dây cộng thông giữa cá nhân với cộng đồng,giữa nhân sinh với vũ trụ, là ý tởng dẫn đạo nền tảng trong tinh thần truyềnthống Trung Hoa
Mạnh Tử lại nói:
“Vũ trụ vạn vật đều đầy đủ ở trong bản thân ta, ta chỉ cần quai về màthành thựuc với mình, thì không có gì vui thú hơn”
Trình Y Xuyên đời Tống (1065-1279) nói:
“Tâm hồn của một ngời là tâm hồn của Trời Đất Cái lý của một vật làcái lý chung cho cả vạn vật Vận động của một ngày là vận động của một hơithở”
Đây là t tởng của mối quan hệ Thiên Nhân (Trời-ngời) hợp nhất, khôngcho phép ta tự cắt cái thế tổng hợp Thiên-Nhân-Vật là ba khúc riêng biệt
Quán triệt t tởng này trong việc tổ chức không gian vật thể (Physical)các quần c là một đặc trng rất cơ bản thể hiện quan điểm của phơng Đông.Trong cấu trúc cụ thể các không gian đó, nhiều ví dụ cụ thể đã chứng minh rõngời phơng Đông luôn tìm cách lồng kết môi trờng nhân tạo, các phơng thứchoạt động của con ngời là một định hớng mang tính nguyên tắc trong hìnhthái tổ chức không gian nhiều chiều hệ thống của các điẻm dân c đô thị nôngthôn của chúng ta
Trong triết lý của phơng Đông là khi ngời ta tiếp cận đến “Lý” thì trớcsau là cái lý thực hiện chứ không phải cái lý trừu t ợng ở bên ngoài sự thựchiện, cho nên cái lý “Thiên-Nhân hợp nhất”, ngời ta coi nh một lý dĩ nhiênkhông cần chứng minh nhiều lời
Vơng Dơng Minh chủ trơng: “Tri-hành hợp nhất” và cho rằng cái chỗngay thật rõ ràng của sự biết tức là làm Cái chỗ thấu suốt kỹ l ỡng của sự thựchiện tức là biết
Trang 38Do đó văn minh cổ đại Trung Hoa đã để lại một kho tàng quý báu cáccông trình quy hoạch-kiến túc truyền thống đặc trng phản ánh hệ t tởng triếthọc nêu trên, mà chúng ta cần tìm hiểu, kế thừa và khai thác Nh ng đặc trngnổi bật đó là:
Nhấn mạnh khuynh hớng nhân sinh xã hội, nhân bản hóa vũ trụ tựnhiên, sát nhập vào xã hội nhân loại
- Lấy thế hòa đồng giữa Trời-Đất và con ngời làm cấu trúc lý tởngmang tính bản chất
- Môi trờng sống lý tởng là con ngời xã hội nhân quần hoạt động pháthiện tơng hỗ song hành với sự vận động dịch chuyển vật lý và sinh lý củathiên nhiên vạn vật
Trang 39Chơng III
Những học thuyết nền tàng của triết cổ phơng Đông
có liên quan đến quy hoạch kiến trúc
Trong triết học phơng Đông, có nhiều học thuyết lớn, xin phép chọn lọc
ra đây một số có liên quan nhiều đến chuyên ngành Quy hoạch-kiến trúc Tuynhiên, những t liệu thu thập từ triết cổ ấn Độ còn có nhiếu hạn chế, nên những
t liệu mà tôi chọn lọc chủ yếu là của triết cổ Trung Hoa đã đợc in ấn xuất bản
ở Trung Hoa và ở Việt Nam
3.1 Học thuyết khí đạo /91/
Khí
“ ” trong triết cổ Trung Hoa, không những là cầu nối giữa h vô vàthực thể, giữa vật chất và tinh thần, giữa cái sinh ra và cái chết đi, mà còn làcấu nối giữa thời gian và không gian, giữa vĩnh hằng và biến hóa, nghĩa là tấtcả những hiện tợng hữu hình và vô hình trong đại ngàn
ợng sự vật một cách lôgíc Muốn nghiên cứu cái Đại Đạo“ ” của triết học
ph-ơng Đông, thì phải trang bị cho mình những hiểu biết về học thuyết Khí “ ”
Khí học
“ ” trong triết cổ phơng Đông mang tính truyền thống, hơn nữa guài ý
vị tôn giáo, và có thể nói là lý thuyết biện chứng trong t duy hiện thực củanhân loại và đợc xếp vào hạng văn hóa thế giới
“ ” cần đi vào bốn thuyết
3.1.1.1- Thuyết khí nguồn: tức là cội nguồn của khí
Ngay từ thời Xuân thu, chữ Khí“ ” theo Hán tự thoạt đầu giản dị sau đợc
bổ sung gồm cả hình và thanh, bao hàm cả nghĩa là khí mây trên trời và khí
thủy thổ (địa khí), khí dinh dỡng trong chữ Mễ“ ” là gạo, khí của Hỏa“ ” là lửa,
là ánh sáng ban ngày và ánh sáng biến hóa màu sắc và khí trong luyện kim
Trang 403.1.1.2 Thuyết về thiên địa:
Khí
“ ” là cái vừa rời khỏi núi, sống bay lên Trời ở dạng tích tụ đậm đặc
có hình giống nh mây gọi là Vân khí ,“ ” còn đốt cháy thảo mộc thì Khí“ ”
khói bốc lên gọi là “Yên khí ” Nếu đốt lửa với quy mô lớn thì tạo ra luồng giógọi là hiện tợng đối lu giữa hai tầng không khí nóng lạnh và từ đó sinh ra hiệntợng gió ma, sấm sét, ma đá, sơng tuyết….***… con ngời nhận thức đợc dần dần là
những hiện tợng tự nhiên đó đều liên quan đến Khí“ ” nên mới dùng các từ:Khí tợng, khí hậu, tiết khí, thử khí, thấp khí, hàn khí, thiên khí, địa khí….***… và
dần dần đợc tổng hợp hệ thống hóa trong các thuyết Lục Dâm“ ”, Thiên“
sinh lục khí ” của sách “Nội kinh thống hóa” hoàn chỉnh Lục khí“ ” là:
Âm chỉ hàn D
ơng chỉ nhiệt Phong chỉ hàn nhiệt
Vũ chỉ hàn thấp Hối chỉ âm hàn Minh chỉ dơng thử
Lục Dâm là lực khí quá độ lại tác động âm ỉ lâu dài có thể gây bệnh
Dâm là hàn mà lại sinh nhiệt, nhiệt mà lại hàn Tứ thời“ ’ là bốn mùa, tứ thời
cộng thêm một khoảng thời gian gọi là Trờng hạ (hạ kéo dài) gọi là Ngũ“
tiết ” để ứng dụng trong lý thuyết ngũ hành của cơ chế phát sinh bệnh
Sách Tố vấn “ ” nêu rõ rác nhân gây bệnh từ bên ngoài là:
Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏaCho tới nay, vẫn cha có ai thêm hơn đợc nội dung gì và y học TrungHoa còn nhận thức rằng: con ngời có 6 sắc thái tình cảm:
Ham thích, ghét, vui, cáu giận, bị ai, hoan lạc
Những biểu hiện đó là do Lục khí“ ” sinh ra
Vui buồn thỏa đáng, hài hòa cùng tính khí của trời đất, thì con ng ời sẽsống lâu, nghĩa là giữ đợc sự hài hòa với cơ chế khí cho nên con ngời trong d-ỡng sinh tu tính cần bình thản với mọi ham muốn để tâm luôn yên lặng, nh
vậy là biết cách chế ngự Lục khí“ ” hài hòa với tinh khí của Trời đất
Một khi Lục khí“ ” bị thiên lệch thì sẽ tác động xấu đén Lục khí“ ” làmnảy sinh ra bệnh tật
Nên, Đạo nhân sinh phải thuận theo Trời Đất: Thiếu nhân t“ ơng ứng”
cho nên triết cổ phơng Đông bàn luận về Khí ,“ ” đã phát triển thành 7 biểu