Cơ hội thách thức trong việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với ngành kinh tế của thành phố Lời mở đầu Việt Nam là một nước đang phát triển, có dân số trẻ, hệ thống chính trị[.]
Trang 1Cơ hội thách thức trong việc thực hiện các hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới đối với ngành kinh tế của thành phố
Lời mở đầu
Việt Nam là một nước đang phát triển, có dân số trẻ, hệ thống chính trị ổn định, lạm phát tương dối thấp, đồng tiền ổn định, dòng vốn FDI mạnh và ngành sản xuất mạnh Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007 và kí kết một số hiệp định thương mại
tự do (FTA) trong năm 2015-2016, bao gồm Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam (EU chưa phê chuẩn), Hiệp định thương mại tự do Hàn Quốc (VKFTA) và Hiệp định thương mại tự do Liên minh Á – Âu (VN-EAEU FTA) Sau đó, vào năm 2018 nước ta tiếp tục đàm phán thành công Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương ( CPTPP ) vào ngày 9/3 và trong tương lai gần Hiệp định thương mại tự do EU – Việt Nam ( EVFTA ) sẽ có hiệu lực.Việc đàm phán một loạt Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được kì vọng sẽ tạo ra một làn sóng hội nhập mạnh mẽ hơn, một sân chơi mang tính chiến lược nhằm nâng cao khả năng hợp tác kinh tế với các quốc gia liên minh, đồng thời xóa bỏ đi hàng rào thuế quan đã gây ra những khó khăn nhất định trong việc giao thương giữa các nước
I Sơ lược về bối cảnh quốc tế và khu vực:
Những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ về quy mô cũng như hình thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu thế chủ đạo đem đến những thay đổi tích cực cũng như tiêu cực đến nền kinh tế nước ta Đây là con đường rộng mở cho các mặt hàng xuất khẩu mạnh của Việt Nam thâm nhập vào những thị trường mới tiềm năng hơn Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh giữa các thị trường: thị trường vốn, thị trường năng lượng, thị trường nguyên liệu,… sẽ trở nên rất thất thường và gay gắt do chịu ảnh hưởng của các quốc gia có nền kinh tế mới nổi và các siêu cường kinh tế khác
Bên cạnh đó, 1 cuộc chiến thương mại đã nổ ra giữa hai cường quốc kinh tế
là Trung Quốc và Hoa Kì cũng góp phần làm tăng thêm sự biến động trong nền kinh tế khu vực.Cụ thể là vào ngày 22 tháng 3 năm 2018, vì cho rằng Trung Quốc
đã có những hành vi thương mại không công bằng và hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ nên Tổng thống Mỹ Donald Trump đã áp dụng mức thuế 50 tỉ đô la Mỹ cho hàng hóa Trung Quốc dựa theo mục 301 của Đạo luật thương mại năm 1974 Đây chính là mở đầu cho cuộc chiến tranh thương mại giữa Hoa Kì và Trung Quốc,điều này đã gây ra tác động không hề nhỏ đến nền kinh tế của một đất nước vốn có quan
hệ thương mại vô cùng chặt chẽ với cả hai cường quốc trên như Việt Nam
Đất nước ta đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập toàn cầu với một hệ thống thương mại toàn cầu tự do mới có tính phụ thuộc lẫn nhau rất cao Chính vì thế, cuộc chiến tranh thương mại trên đang mang đến cho chúng ta những bất lợi trước mắt như sự yếu đi của hệ thống thương mại tự do toàn cầu Từ những ngày đầu gia nhập WTO, chúng ta đã phải cố gắng điều chỉnh cấu trúc kinh tế để thích nghi và nhanh chóng tạo ra những thành quả tốt Tuy nhiên, quyết định của Donald
Trang 2Trump đã cho thấy bất lợi khi đi ngược lại với tinh thần của hiệp định cũng như thử thách hệ thống của định chế thương mại quốc tế này Bên cạnh đó, cán cân thương mại giữa nước ta và Trung Quốc sẽ trở nên chênh lệch hơn khi các công ty Trung Quốc có xu hướng tăng cường xuất khẩu vào Việt Nam, trong khi hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ từ Việt Nam nhiều hơn Ngành sản xuất nội địa sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ sức ép cạnh tranh của các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc do có mẫu mã đa dạng hơn, giá thành lại rất phải chăng
Để đối mặt với vấn đề này, chúng ta cần phải có sự thay đổi về mức độ chiến lược
và cách thức phát triển theo hướng chú ý nhiều hơn đến đầu tư và thương mại nội khối, nội địa hơn so với trước đây Tham gia vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vừa mang tính cơ hội, vừa có tính bắt buộc các công ty nếu muốn tồn tại được trong bối cảnh hiện nay cần nâng cao chất lượng sản xuất, đầu tư trang thiết
bị hiện đại để có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng cũng như yêu cầu của những đơn hàng lớn
1 Khái quát về những Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới :
Đây là những FTA mới với phạm vi toàn diện hơn và đem đến nhiều lợi ích hơn cho nước ta bằng việc bổ sung thêm những nội dung và cam kết về nhiều lĩnh vực mà các FTA cũ (chủ yếu là tập trung vào lĩnh vực thương mại hàng hóa) chưa có như sau: lao động, môi trường, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa,…Bên cạnh đó, các FTA thế hệ mới còn giải quyết sâu sắc và triệt để hơn những nội dung
có sẵn như là thương mại hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ (IPR), quy tắc xuất
xứ và những nội dung quy định sẵn trong WTO Ngoài ra, một điểm khác biệt nữa nằm ở chính sách thuế quan tại biên giới, các FTA thế hệ mới còn tập trung vào nhiều cam kết ảnh hưởng trực tiếp mạnh đến thể chế, chính sách pháp luật nội địa (những vấn đề sau đường biên giới)
2 Những tác động của các FTA thế hệ mới đối với nền kinh tế :
Tích cực : Việt Nam may mắn trở thành 1 trong số ít các quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất với việc xóa bỏ hàng rào thuế quan đối với hầu hết các dòng thuế và cắt giảm những rào cản thương mại Đã có 63% các doanh nghiệp Việt Nam đồng ý rằng “ Hiệp định CPTPP sẽ mang lại lợi ích cho mình” Có thể nói đây chính là một cơ hội lớn mở ra rất nhiều tiềm năng cho những ngành hàng xuất khẩu mạnh của Việt Nam như : thủy hải sản, điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may, da giày, gỗ và những sản phẩm gỗ,…thâm nhập vào các thị trường rộng lớn hơn
Bảng 1 1 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia khu vực có ký FTA với
VIỆT NAM giai đoạn 2010 – 2018
(Đơn vị: Triệu USD)
Trang 3Quốc gia,
ASEAN 22.171 23.982 26.811 29.993 34.492 37.986 37.835 38.879 39.455 Trung Quốc 21.845 23.753 27.333 31.153 35.727 36.988 41.185 41.896 49.903 Hàn Quốc 9.003 9.993 12.851 14.481 17.904 18.767 21.125 22.161 27.332 Nhật Bản 13.812 15.204 16.712 19.789 21.180 23.450 24.652 25.230 25.239
Mỹ 14.372 15.130 18.008 18.770 21.462 21.756 24.494 24.895 29.066
EU 15.210 17.215 17.746 22.906 24.292 28.049 29.093 33.121 33.782
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan, 2018)
Qua bảng 2 Ta có nhận xét:
Những tác động của các FTA thế hệ mới đối với nền kinh tế Việt Nam là điều không thể phủ nhận khi mà trong vòng 10 trở lại đây kim ngạch xuất nhập khẩu cảu Việt Nam với các nước có hiệp ước FTA đã tăng liên tục qua các năm đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam, cụ thể:
ASEAN có kim ngạch xuất nhập khẩu với: tổng trị giá trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và các nước ASEAN trong năm 2017 đạt 49,53 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm trước 2016 và chiếm 11,7% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường ASEAN đạt 21,51 tỷ USD, tăng mạnh 23,9% (tương ứng tăng 4,15 tỷ USD về số tuyệt đối) so với một năm trước đó và chiếm 10,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Nguyên nhân chính giải thích cho việc kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN tăng mạnh là do trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng tăng cao như: điện thoại các loại & linh kiện tăng 948 triệu USD, sắt thép các loại tăng 722 triệu USD, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 488 triệu USD, dầu thô tăng 378 triệu USD, hàng dệt may tăng 181 triệu USD Chỉ tính riêng 5 nhóm hàng này đã đóng góp gần 2,72 tỷ USD, chiếm gần 70% trong phần kim ngạch tăng thêm của xuất khẩu sang thị trường ASEAN năm nay
Ở chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu có xuất xứ từ thị trường này là 28,02 tỷ USD, tăng 16,4%
và chiếm tới 13,3% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước từ tất cả các thị trường trên thế giới Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam có xuất
xứ từ ASEAN trong năm 2017 tăng so với năm trước, chủ yếu do nhập khẩu một số nhóm hàng chủ lực tăng cao như: xăng dầu các loại tăng 873 triệu USD, hàng rau quả tăng 464 triệu USD, máy móc thiết
Trang 4bị dụng cụ & phụ tùng tăng 313 triệu USD, ô tô nguyên chiếc các loại tăng 307 triệu USD, hàng rau quả tăng 464 triệu USD, kim loại thường tăng 269 triệu USD, than đá tăng 258 triệu USD…
Về cán cân thương mại hàng hoá giữa Việt Nam với ASEAN : số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan ghi nhận trong năm 2017 mức thâm hụt cán cân thương mại tiếp tục nghiêng về phía Việt Nam với 6,51
tỷ USD (giảm nhẹ so với mức thâm hụt trị giá 6,7 tỷ USD trong năm 2016), bằng 30,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này
Thái Lan là thị trường có thặng dư cán cân thương mại (xuất siêu với Việt Nam) lớn nhất trong thương mại với Việt Nam trong số các thành viên ASEAN, với mức thâm hụt báo cáo là 5,88 tỷ USD; tiếp theo là Singapore với 2,34 tỷ USD, Malaixia với 1,65 tỷ USD,… Trong khi đó ở chiều ngược lại, Campuchia và Philippin là 2 thị trường mà Việt Nam có thặng dư thương mại lớn nhất, lần lượt đạt 1,76 tỷ USD và gần 1,68 tỷ USD…
Việt Nam - Trung Quốc: kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Trung Quốc năm 2018 đạt 41,896 tỷ USD, tăng 27,7% so với cùng kỳ năm 2017 và nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 49,903 tỷ USD, tăng 12,5% Trong số 6 nhóm hàng tỷ USD nhập khẩu từ Trung Quốc, thì nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đứng đầu
về kim ngạch, đạt trên 5,5 tỷ USD, chiếm 18,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa các loại từ thị trường Trung Quốc, tăng 3,3% so với 6 tháng đầu năm 2017; điện thoại và linh kiện đứng thứ
2 về kim ngạch, đạt 3,63 tỷ USD, chiếm trên 12%, tăng 11,8%; tiếp sau đó là nhóm hàng vải may mặc 3,43 tỷ USD, chiếm 11,4%, tăng 18,2%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 3,3 tỷ USD, chiếm 10,9%, tăng 2,1%; sắt thép 2,32 tỷ USD, tăng 4,1%.; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 1,06 tỷ USD, tăng 3,1%
Việt Nam -Nhật Bản luôn là thị trường thương mại quan trọng của Việt Nam, chiếm tỷ trọng lên đến 10% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với tất cả các thị trường trên thế giới Tính đến năm 2018, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Nhật Bản xếp thứ 4 trong tất cả các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; trong đó, xếp thứ 2 về xuất khẩu và xếp thứ 3 về nhập khẩu Việt Nam nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Nhật Bản chủ yếu
là máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện
tử và linh kiện, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép, nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày, sản phẩm từ chất dẻo Tính chung kim ngạch
Trang 5nhập khẩu 5 nhóm hàng này đạt 7,62 tỷ USD, chiếm 73% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản
Việt Nam- Hàn Quốc: Kim ngạch thương mại song phương đã tăng
123 lần, từ 0,5 tỷ USD năm 1992 khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao lên 61,5 tỷ USD vào năm 2017 Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 54,4 tỷ USD, tăng trưởng 7,6%, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt 15,189 tỷ USD, tăng 25,3%, nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc đạt 39,2 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước Có 4 nhóm hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên Đó là, điện thoại các loại và linh kiện đạt 3,78 tỷ USD; dệt may đạt 2,78 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt gần 2,13 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 1,025 tỷ USD
Hoa Kỳ: Tốc độ tăng trưởng thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong 10 năm trở lại đây luôn đạt mức tăng trưởng cao Cụ thể kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2006 là 8,81 tỷ USD thì đến năm 2015 đạt 41,26 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng bình quân trên 19% mỗi năm Năm 2018 là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 47,5 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ Tiếp đến là thị trường EU đạt 42,5 tỷ USD, tăng 11%; Thị trường Trung Quốc đạt 41,9 tỷ USD, tăng 18,5%; ASEAN đạt 24,7 tỷ USD, tăng 13,7%; Nhật Bản đạt 19 tỷ USD, tăng 12,9%
Việt Nam - EU Chỉ tính riêng trong năm 2017, tổng trị giá trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và EU đã đạt 50,46 tỷ USD, tăng 11,9% so với năm 2016 và chiếm 11,8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) của cả nước Trong đó, kim ngạch xuất khẩu là 38,33 tỷ USD, tăng 12,7% (tương ứng tăng 4,33 tỷ USD về số tuyệt đối) so với năm
2016 Trong thương mại hàng hóa với EU, cán cân thương mại luôn nghiêng về phía Việt Nam với mức thặng dư cao, trong một số năm, thặng dư thương mại thậm chí còn gấp hai lần so với kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ EU vào Việt Nam
Hình 1 1 Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu các Quốc gia vùng lãnh thổ có ký
FTA với Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018
(Đơn vị: Triệu USD)
Trang 62010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 0
50000
100000
150000
200000
250000
98423 107288
121473 139105
157071 169011 180400
188199 206795
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan, 2018)
Hình 1 2 Tỷ trọng giá trị xuất nhập khẩu quốc gia vùng lãnh thổ ký FTA với
Việt Nam so tổng giá trị kim ngạch của Việt Nam
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2010 0%
20%
40%
60%
80%
100%
120%
Tỷ trọng hàng hóa xuất nhập khẩu trong quốc gia ký FTA với Việt Nam
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan, 2018) Qua bảng 1.2 có thể thấy Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và quốc gia vùng lãnh thổ ký FTA liên tục tăng qua các năm trong giai đoạn 2010 – 2018, với tốc độ tăng trung bình là trên 7,5% mỗi năm
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam và các quốc gia ký FTA năm 2017 ước tính đạt 188,199 tỷ USD, tăng 4,3% so với năm
2016, trong đó có 36 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên
1 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch, trong đó có 4 mặt hàng trên
10 tỷ USD Năm 2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong khu vực thương mại tự do của Việt Nam chiếm tới 85% thị phần xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam Đã có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó 9 mặt hàng đạt trên 5 tỷ USD, đặc biệt đã có tới 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD
Đứng đầu là mặt hàng điện thoại và linh kiện đạt 50 tỷ USD; Thứ hai
là hàng dệt may đạt 30,4 tỷ USD; Mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện đứng thứ 3 với 29,4 tỷ USD; Thứ tư là máy móc thiết bị, dụng
Trang 7cụ phụ tùng đạt 16,5 tỷ USD; Giày dép đứng thứ 5 với 16,3 tỷ USD Mặt hàng điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; Điện tử, máy tính và linh kiện 95,6%; Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,1%; Hàng dệt may 59,9%
Tính đến năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam với các quốc gia có FTA ước tính đạt con số kỷ lục 206,795 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2017 tương ứng chiểm tỷ trọng 91% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, điều này cho thấy được tầm quan trọng của việc giao thương với các quốc gia vùng lãnh thổ ký kết FTA với Việt Nam Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 69,20 tỷ USD, tăng 15,9%, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 175,52 tỷ USD, tăng 12,9%, chiếm 71,7% (giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2017)
Nhờ có việc phát triển không ngừng kim ngạch xuất khẩu của khu vực hiệp định thương mại tự do làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của
cả Việt Nam Chẳng hạn như đối với ngành gỗ khi tham gia các FTA
sẽ có thể nhập khẩu được những nguyên vật liệu từ nước ngoài về với giá rẻ, đồng thời không bị đánh thuế cao khi xuất khẩu sản phẩm ra các thị trường khác trong khu vực, từ đó giá thành ưu đãi hơn thu hút người tiêu dùng và khả năng cao cạnh tranh được với hàng hóa trong thị trường nội địa Ngoài ra, ngành dệt may cũng có cơ hội tấn công vào những thị trường mới và tiềm năng hơn như Úc và Canada,… Qua đó ta thấy được một lợi ích vô cùng to lớn khi các FTA này đi vào hoạt động, đó là mở ra cánh cửa đưa hàng hóa Việt Nam có mặt hơn 10 nước Châu Á, thậm chí là nhiều hơn thế nữa
Bên canh đó, khi việc rà sát lại toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế xã hội được thực hiện do yêu cầu của các FTA, thể chế kinh tế thị trường sẽ trở nên hoàn thiện hơn Các FTA thế hệ mới cũng giúp kiện toàn bộ máy nhà nước theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường trách nhiệm và tính minh bạch của công chức nhà nước
Tiêu cực :
Sức ép kinh tế gia tăng đòi hỏi những công ti muốn tồn tại cần nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với các mặt hàng nhập khẩu
từ những quốc gia khác Vì vậy, nếu cơ sở sản xuất lạc hậu không thể tạo ra sản phẩm tốt thì các doanh nghiệp không đáp ứng đủ tiêu chuẩn sẽ lâm vào tình trạng khó khăn, khả năng cao dẫn đến phá sản
và kéo theo tình trạng thất nghiệp trong một số bộ phận lao động Nhiều thách thức hơn cho nhân viên hải qua được tạo ra và xung đột
có thể xảy ra khi những nhà sản xuất buộc phải thỏa mãn cùng lúc vô
Trang 8số những quy tắc theo từng hiệp định Do đó việc sản xuất trở nên phúc tạp hơn, đồng thời khi xuất hiện nhiều hàng rào kĩ thuật kiểm tra chất lượng sản phẩm thì sẽ có những doanh nghiệp không thể đáp ứng được tiêu chuẩn nghiêm ngặt mà các FTA thế hệ mới đặt ra, dẫn tới hàng hóa không thể xuất khẩu hoặc bị trả về nước
II Cơ hội và thách thức của ngành dịch vụ (thương mại hàng hóa) trong
hội nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới :
1 Cơ hội cho Việt Nam
Mở rông thị trường tăng giá trị xuất khẩu: Nhờ vào lộ trình cam kết
thuế nhập khẩu của các đối tác được cắt giảm và xóa bỏ nên việc xuất khẩu hàng hóa đã được đẩy mạnh, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam ở nhiều thị trường lớn như Hoa Kì và EU Khi áp dụng FTA thì điều quan trọng nhất là, thuế nhập khẩu nhiều loại hàng hóa
sẽ được giảm xuống 0%, là cú huých mạnh cho xuất khẩu, tác động tích cực đến thu nhập của người dân, cải thiện sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu CPTPP dự kiến giúp kim ngạch xuất khẩu may mặc và giày dép của Việt Nam đạt 16,5 tỷ USD trước năm 2025 Việt Nam tham gia CPTPP, xuất khẩu
và GDP có thể tăng thêm tương ứng 68 tỷ USD và 36 tỷ USD, hay 28,4% và 10,5% vào năm 2025 so với kịch bản nếu không tham gia CPTPP Khi CPTPP có hiệu lực, mức thuế suất hàng dệt may từ Việt Nam sang thị trường này có thể giảm xuống gần bằng 0%, thay vì 17% như hiện nay Việt Nam là nước có thế mạnh trong nông nghiệp với điều kiện thiên nhiên thuận lợi
Thanh lọc, phát triển được các DN có năng lực cạnh tranh: Dưới sức
ép cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh toàn cầu hoá và tham gia các hiệp định FTA, chỉ có các DN mạnh, có đủ năng lực cạnh tranh với các DN nước ngoài và trong nước mới có thể trụ được, còn lại sẽ bị bật khỏi thị trường nếu năng lực cạnh tranh yếu Đây là cơ hội thanh lọc các DN ốm yếu, không có sự chuẩn bị bài bản Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, nhằm hỗ trợ cho các nước phát triển thấp như Việt Nam, các đối tác cũng có những sáng kiến hỗ trợ nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm: Việc
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh là
cơ hội tốt để các DN Việt Nam nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Cơ hội càng mở rộng hơn khi AEC trở thành hiện thực vào 2015, sẽ cho phép tự do di chuyển lao động có tay nghề, tạo điều kiện thuận
Trang 9lợi cho các chuyên gia và lao động có tay nghề của ASEAN tham gia vào hoạt động liên quan đến thương mại và đầu tư qua biên giới
2 Thách thức
Khi chấp nhận mở cửa thị trường, ta sẽ đón nhận hàng hóa, dịch vụ đến từ các nước FTA, tạo điều kiện cho một môi trường cạnh tranh hơn, hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao hơn cùng những trang thiết
bị hiện đại, nguyên vật liệu phong phú hơn với giá cả hợp lí đem lại lợi ích cho người tiêu dùng Song chúng ta lại mất đi thế mạnh là kinh doanh tại “sân nhà” , khiến cho nhiều doanh nghiệp trong nước gặp áp lực khi phải cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ, dịch vụ chất lượng tốt từ nhưng nhà đầu tư nước ngoài trên chính thị trường nội địa.Do nền công nghiệp hỗ trợ của chúng ta chưa phát triển, phần lớn nguyên liệu sản xuất (chiếm tỉ lệ khá cao trong giá trị sản phẩm) của nhiều ngành xuất khẩu của chúng ta đang được nhập từ Hàn Quốc, Trung Quốc, các nước ASEAN,…nên ta không đáp ứng được yêu cầu về sản phẩm xuất khẩu có xuất xứ nội khối phù hợp Điều này dẫn tới ưu đãi thuế quan thấp và đối với các FTA có tiêu chuẩn về tỉ
lệ xuất xứ nội khối cao thì rõ ràng đây là một thách thức không hề nhỏ
Việt Nam với CPTPP: Các DN Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều rào
cản kỹ thuật và yêu cầu xuất xứ nghiêm ngặt Theo điều khoản về xuất xứ hàng hóa được đề xuất ở CPTPP, các sản phẩm xuất khẩu trong các nước thành viên phải có xuất xứ nội khối CPTPP mới được hưởng ưu đãi Đây là một bất lợi vì Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ các nước bên ngoài CPTPP như Trung Quốc, Hàn Quốc để gia công hàng xuất khẩu, nếu không chuyển đổi được vùng nguyên liệu, hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ không được hưởng ưu đãi thuế Ngoài ra, các quy định kỹ thuật thuộc nội khối như bao gói, nhãn mác, dư lượng hóa chất tối đa trong sản phẩm xuất khẩu cũng là một rào cản cho hàng xuất khẩu Việt Nam, hàng nông sản của Việt Nam vào CPTPP có thể bị mắc ở rào cản về các biện pháp vệ sinh dịch tễ Những quy định này nằm trong tay các nước nhập khẩu và hoàn toàn
có thể bị lạm dụng để trở thành rào cản đối với hàng hóa của Việt Nam
Việt Nam với FTA - EU: Việt Nam xuất khẩu vào EU chủ yếu là các
sản phẩm thô, hàng hóa thực phẩm như rau quả, thủy sản… Chúng ta
sẽ gặp khó khăn theo hướng liên hoàn, nếu một vài sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu về an toàn thực phẩm sẽ ảnh hưởng dây chuyền tới hàng loạt sản phẩm khác EU đưa ra các yêu cầu kỹ thuật,
vệ sinh và chất lượng sản phẩm rất cao, không phải DN nào cũng có
Trang 10thể đáp ứng Điều này dẫn đến, chi phí sản xuất đối với hàng hoá Việt Nam xuất vào EU tăng lên đáng kể, làm giảm tính cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của hệ thống DN còn yếu, nguy cơ mất thị
trường nội địa Khi Việt Nam ký kết các hiệp định FTA, nếu không tận dụng tốt, các DN Việt Nam không chỉ mất cơ hội chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, mà ngay thị trường nội địa cũng khó có thể giữ vững Việt Nam chưa có nhiều các DN mang tầm quốc tế và khu vực Năng lực hội nhập và mở rộng thị trường nước ngoài còn yếu, còn nhiều thụ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chưa chủ động điều chỉnh theo yêu cầu đòi hỏi của hội nhập kinh tế Nhận thức về các FTA của các DN Việt Nam cũng còn rất hạn chế, sẽ là bất lợi rất lớn trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
III Vai trò và giải pháp của các bên liên quan để hội nhập hiệu quả các
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới :
1 Giải pháp từ phía doanh nghiệp :
Để có thế tận dụng và khai thác tối đa nguồn lợi mà những FTA thế
hệ mới mang lại, cộng đồng doanh nghiệp trong nước cần phải cập nhật đầy đủ và chính xác những quy định, thể chế và thông tin từ các hiệp định cũng như từ phía đối tác Không những vậy, việc tìm hiểu
kĩ những nguyên tắc xuất xứ, hàng rào kĩ thuật, kiểm tra chất lượng cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu Bên cạnh đó, tất cả các doanh nghiệp cần có những phương án chiến lược hợp lí, biết nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều mãu mã đa dạng, nâng cao uy tín của đơn vị, biết tận dụng thế mạnh sẵn có để thật sự làm chủ “sân chơi” mới mẻ và tiềm năng này
Ngoài ra cần tạo khối liên minh đoàn kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau để tạo ra một cộng đồng vững mạnh, cùng nhau phát triển
2 Giải pháp từ phía nhà nước :
Các cấp quản lí cần phải thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp, định hướng và
hỗ trợ các doanh nghiệp để có thể thích nghi với sự hội nhập kinh tế
từ các FTA thế hệ mới, đồng thời tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất Thu hút được doanh nghiệp đồng ý đầu tư đã khó, giữ chân doanh nghiệp ở lại còn khó hơn Vì thế ta cần quan tâm hơn đến việc đồng hành cùng doanh nghiệp, tập trung giải quyết kĩ hơn những vấn đề hậu đăng kí kinh doanh, những vấn đề cần sự phối hợp của các sở ngành để chăm lo và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển thì mới mong giữ được họ ở lại