TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN ⸎⸎⸎⸎⸎ BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Đề bài Tìm hiểu quy định pháp luật hôn nhân Việt Nam về cấp dưỡng? Liên hệ thực tiễn Đề số 80 Sinh[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
⸎⸎⸎⸎⸎
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Đề bài: Tìm hiểu quy định pháp luật hôn nhân Việt Nam về cấp dưỡng?
Liên hệ thực tiễn
Đề số: 80
Lớp : Pháp luật đại cương-2-1.22.(N18)
HÀ NỘI, THÁNG 12/2022
Trang 2Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Khái quát về nghĩa vụ cấp dưỡng trong luật hôn nhân 1
1.1 Khái niệm 1
1.2 Đặc điểm 2
1.3 Điều kiện cấp dưỡng 2
2 Quy định chung liên quan đến cấp dưỡng 3
2.1 Về nghĩa vụ cấp dưỡng 3
2.1.1 Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con 3
2.1.2 Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ 4
2.1.3 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em 4
2.1.4 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà và cháu 5
2.1.5 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữ cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu 5
2.1.6 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi hôn ly 6
2.2 Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng 7
2.3 Chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng 7
LIÊN HỆ THỰC TIỄN 8
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Từ xưa tới nay, gia đình luôn luôn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của một đất nước Có thể nói gia đình chính là tế bào của xã hội, gia đình có tốt thì xã hội mới tốt và ngược lại, xã hội tốt đảm bảo gia đình tốt Muốn gia đình yên ấm, hạnh phúc giữa các thành viên trong gia đình phải quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau Sự quan tâm, chăm sóc không chỉ tồn tại một cách tự nhiên
mà còn là nhu cầu tất yếu về mặt tình cảm và đạo đức và không thể mất đi vì bất cứ lí do gì Đó vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình Tuy nhiên, không phải lúc nào nghĩa vụ nuôi dưỡng cũng có thể thực hiện được Trong những trường hợp này để đảm bảo cuộc sống của người được nuôi dưỡng đồng thời để thể hiện một phần nào đó sự quan tâm, chăm sóc giữa người nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng được đặt ra, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình có
ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp “ tương thân, tương ái” của dân tộc ta Vì vậy trong bài tập lớn này em sẽ trình bày về
“pháp luật hôn nhân Việt Nam về cấp dưỡng”
NỘI DUNG
1 Khái quát về nghĩa vụ cấp dưỡng trong luật hôn nhân 1.1 Khái niệm
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan
hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động
và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu (Khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)
Trang 4Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ, trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nhằm mục đích xây dựng cuộc sống gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và bình đẳng Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình, về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản
1.2 Đặc điểm
Từ khái niệm cấp dưỡng cho thấy cấp dưỡng là một quan hệ pháp lý có những đặc điểm cơ bản sau :Giữa các thành viên trong gia đình dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng thì sẽ phát sinh quan cấp dưỡng Cấp dưỡng không có tính tuyệt đối, đồng thời mà nó chỉ mang tính chất có đi có lại Nó còn là một quan hệ phát sinh, nó chỉ phát sinh khi có điều kiện nhất định
1.3 Điều kiện cấp dưỡng
Đối với người được cấp dưỡng:
Người được cấp dưỡng là người chưa thành niên Không bắt buộc phải không
có khả năng, điều kiện kinh tế ( trừ trường hợp anh,chị, em cấp dưỡng cho nhau) Người đã thành niên nhưng không có tài sản để tự nuôi mình ( có hoặc không có tài sản gốc nhưng không đủ ); không có khả năng lao động Đối với người cấp dưỡng:
Có khả năng thực hiện nghĩa vụ Người có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là người có thu nhập thường xuyên hoặc tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng còn tài sản sau khi đã trừ đi các chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của người đó ( theo khoản 1 Điều 16 NĐ 70/2001/NĐ - CP)
Trang 52 Quy định chung liên quan đến cấp dưỡng
2.1 Về nghĩa vụ cấp dưỡng:
2.1.1 Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con
Trong trường hợp cha, mẹ và con cùng chung sống với nhau thì họ có nghĩa
vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, vì vậy mà nghĩa vụ cấp dưỡng không được đặt ra Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ được đặt ra trong các trường hợp:
Trường hợp thứ nhất: Cuộc hôn nhân vẫn còn tồn tại nhưng cha mẹ không trực tiếp nuôi con trong các điều kiện như công tác xa, đang trong thời gian chấp hành phạt tù và con sẽ được giao cho người khác chăm sóc, nuôi nấng thì cha mẹ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Trường hợp thứ hai: Khi cha, mẹ ly hôn
Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 trong Luật hôn nhân và gia đình.Như 1
vậy, khi con chưa đủ tuổi thành niên, con đã đủ tuổi thành niên nhưng chưa
đủ hoặc không có khả năng tự nuôi bản thân mà trong trường hợp không sống chung với con thì cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Tuy nhiên, trong trường hợp con có quyền được cha mẹ cấp dưỡng nhưng cha mẹ lại mất đi khả năng thực hiện nghĩa vụ đó thì cha mẹ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, chẳng hạn trường hợp cha mẹ bị bệnh hiểm nghèo hoặc tàn tật và mất
đi khả năng lao động và cũng không có tài sản để có thể cấp dưỡng cho con Nếu cha mẹ đang trong thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mà lâm vào tình trạng khó khăn không đủ khả năng để thực hiện thì sẽ được tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng
1 Khoản 2, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn
2 Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Trang 62.1.2 Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ
Khi cha mẹ ốm đau, già yếu, bệnh tật thì con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ xuất phát từ điều này, được quy định cụ thể tại Điểu 111 Luật hôn nhân và gia đình Khi 2
cha mẹ không có khả năng lao động (do già yếu, ốm đau, bệnh tật) và cũng không có tài sản để nuôi mình thì con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ kể
cả trong trường hợp không sống chung cha mẹ hoặc không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha
mẹ để đảm bảo cuộc sống cho cha,mẹ Pháp luật quy định các con bình đẳng với nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Trong việc cấp dưỡng cho cha mẹ, các con có nghĩa vụ như nhau và phải cùng nhau thực hiện nghĩa vụ
đó
2.1.3 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh,chị,em
Anh, chị , em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau trong những hoàn cảnh nhất định theo điều Điều 112 Luật hôn nhân và gia đình quy định3
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con được hiểu như nghĩa vụ cấp dưỡng nền tảng để có nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh,chị,em Vì thế, anh chị em chỉ được cấp dưỡng khi thuộc một trong những trường hợp là người chưa thành niên , không có khả năng lao động và không có tài sản để nuôi mình Trong trường hợp nêu trên, yếu tố tài sản là yếu tố bắt buộc để được cấp dưỡng Nếu người chưa thành niên nhưng vẫn có tài sản thì anh chị em cũng không có nghĩa vụ cấp
2 Điều 111 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ
Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha,
mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
3 Điều 112 Luật hôn nhân và gia đình quy định : “Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ
không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc
em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không
có tài sản để tự nuôi mình”
Trang 7dưỡng Quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh chị em khẳng định nghĩa vụ của anh chị em là phải quan tâm, đùm bọc cho nhau, bảo đảm khi cha mẹ mất hoặc cha mẹ không có khả năng nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng thì anh chị em vẫn được chăm sóc, giúp đỡ Có thể hiểu rằng quy định này được đề ra nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
2.1.4 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà và cháu
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà và cháu chỉ phát sinh trong những điều kiện nhất định Theo quy định tại khoản 1 Điều 113 Luật hôn nhân và gia đình thì cháu chỉ được ông bà cấp dưỡng khi cháu chưa thành niên, hoặc cháu đã thành niên không có tài sản nuôi mình, không có khả năng lao động, không có cha, mẹ, anh, chị, em nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng và không sống chung với ông bà Khi nghĩa vụ của cha, mẹ, anh, chị, em không thực hiện được thì từ đóng nghĩa vụ cấp dưỡng của ông bà đối với cháu mới có hiệu lực
Và theo quy định tại khoản 2 Điều 113 nghĩa vụ cấp dưỡng của cháu đối với ông bà chỉ đặt ra khi cháu đã thành niên, có khả năng kinh tế và ông bà đã mất
đi khả năng lao động, không có tài sản , không có con cái, anh, chị, em nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng
2.1.5 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữ cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu
Theo quy định tại Điều 114 Luật hôn nhân và gia đình , không chỉ ông bà mà 4
cô, dì, chú, cậu, bác ruột cũng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường không sống chung với cháu và cháu chưa thành niên hoặc đã thành niên
4 Điều 114 Luạt hôn nhân và gia đình 2014: Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu
ruột
1 Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường
hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này
2 Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì,
chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này
Trang 8nhưng không có khả năng lao động cũng như không có tài sản nuôi mình Trong trường hợp cháu thành niên đã có thể tự nuôi mình và đã có tài sản cho riêng mình thì người cấp dưỡng được tãm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng Ngược lại, khi cháu thành niên không sống chung cùng họ hàng ruột như cô,
dì, chú, cậu, bác ruột nhưng người cần cấp dưỡng không có tài sản để tự lo cho cuộc sống của mình cũng như mất đi khả năng lao động kiếm tiền cũng như không có người khác cấp dưỡng thì cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.1.6 Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn
Theo điều 115 của Luật hôn nhân và gia đình “Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa
vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình” Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa
vợ và chồng khi ly hôn là nghĩa vụ được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình hiện hành Khi ly hôn mà bên kia có những khó khăn trong cuộc sống (ốm đau không thể làm việc để tạo ra thu nhập) thì có quyền yêu cầu bên có thu nhập nuôi mình cấp dưỡng theo khả năng Người có khả năng để cấp dưỡng là người có công việc ổn định, có thu nhập cũng như có sức khoẻ, kinh
tế thì mới có thể thực hiện được nghĩa vụ cấp dưỡng Nếu như người cần được cấp dưỡng có khó khăn túng thiếu vì lười biếng không chịu vận động chỉ biết ăn chơi, cờ bạc, rượu chè thì người phải cấp dưỡng không cần cấp dưỡng cho những người như trên.Cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn không được quy định về thời gian mà tuỳ thuộc vào các trường hợp Thông thường thì cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được thực hiện theo hàng tháng hoặc theo thời vụ Trường hợp sau khi ly hôn nhưng người phải cấp dưỡng hoặc được cấp dưỡng kết hôn với người khác hay được người khác cấp dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ chấm dứt
2.2 Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng
Trang 9Về mức cấp dưỡng:
Người cấp dưỡng có thể căn cứ vào thu nhập và khả năng của người được cấp dưỡng để thoả thuận, nếu thoả thuận không thành công thì yêu cầu Toà phán quyết
Phương thức cấp dưỡng:
Thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần Tuỳ vào tình trạng khó khăn của người được cấp dưỡng để thoả thuận Phương thức ưu tiên và thường được sử dụng trên thực tế là phương thức cấp dưỡng theo định kì
Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình được tạo điều kiện cho các bên lựa chọn phương thức dễ dàng, thuận lợi, phù hợp nhất trong việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Các bên được thỏa thuận
về nghĩa vụ cấp dưỡng bằng tiền hoặc tài sản theo phương thức định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm Việc lựa chọn phương thức nào trước hết dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên, nếu các bên không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết căn cứ vào mức thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cũng như chi phí cho các nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng trừ trường hợp cấp dưỡng cho con sau khi cha mẹ li hôn theo Nghị quyết 02/2000 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, khi các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng
2.3 Chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng
Theo quy định, Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình , nghĩa vụ cấp dưỡng 5
chấm dứt trong 6 trường hợp Như vậy, khi nghĩa vụ cấp dưỡng đang được
5 Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình 2014
1 Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
Trang 10thực hiện mà có một trong các căn cứ trên thì nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt Trong trường hợp cấp dưỡng tự nguyện theo sự thỏa thuận của các bên thì các bên cũng có thể thỏa thuận để , chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng khi có căn cứ Trong trường hợp cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án thì khi có một trong các căn cứ trên, người có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người được cấp dưỡng có quyền thông báo bằng văn bản với cơ quan thi hành án để cơ quan thi hành án ra quyết định chấm dứt thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Trong thực tiễn, hầu hết các trường hợp sau khi ly hôn vấn đề cấp dưỡng chưa bảo đảm quyền lợi của đứa con sau khi ly hôn Chưa nói đến trường
hợp khoản tiền cấp dưỡng sau khi ly hôn như một “ món nợ khó đòi” đối với một số trường hợp; cả trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện việc cấp dưỡng theo đúng quy định của bản án mà tòa án đã tuyên thì cũng chưa đáp ứng được "nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng".Đấy
là chưa kể những trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Cơ quan thi hành án và cơ quan tổ chức trả tiền lương, tiền công lao động cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện việc khấu trừ khoản cấp dưỡng để chuyển trả cho người được cấp dưỡng thì gánh nặng lại chồng lên vai người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn Trên thực tế mỗi trường hợp ly hôn mức thu nhập, điều kiện cụ thể và hoàn cảnh sống của mỗi người khác nhau; nhưng để đảm bảo các "nhu cầu thiết yếu" trong cuộc sống để những đứa trẻ sau khi ly hôn "phát triển lành mạnh
về thể chất và tinh thần" thì Nhà nước cần quy định cụ thể về mức cấp dưỡng
2 Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
3 Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
4 Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
5 Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;
6 Trường hợp khác theo quy định của luật.”