Sự hình thành và phát triển của triết học 1.2.1 Ngay từ khi mới ra đời Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
BÀI TẬP LỚN
Đề số 01: Phân tích theo quan điểm triết học Mác – Lênin về vấn
đề cơ bản của triết học?
Tên học phần: Triết học Mác – Lê-nin Giảng viên: Đồng Thị Tuyền
Nhóm 3 - I Triết học Mác - Lê-nin_1.2(15FS).1_LT Học kỳ 2, Năm học 2021– 2022
Hệ đào tạo: Chính quy, Bậc học: Đại học
Tháng 4 năm 2022
Trang 2T bày
(theo đánh giá của nhóm trưởng)
013419
- Nêu khái quát
sự hình thành, phát triển triết học nói chung 3.7
Quang Duy
(Nhóm
trưởng)
21012125 niệm Triết học Phân tích khái
Chỉnh sửa word
Nêu khái quát sự hình thành, phát triển triết học Mác – Lenin Làm slide thuyết trình.
3.8
4.0
Hồng Duyên
21013344 - Vấn đề cơ bản
của triết học:
Giải quyết vấn
đề mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức.
Thuyết trình
3.8
25 Hoàng Tiến
Dũng (nhóm
phó)
21012119 - Vấn đề cơ bản
của triết học:
Giải quyết vấn
đề mối quan
hệ giữa tồn tại
và tư duy.
3.8
Hoàng Dũng
21013408 - Vấn đề cơ bản
của triết học:
Giữa vật chất,
ý thức cái nào
có trước, cái nào có sau, cái
3.7
Trang 3nào quyết định cái nào.
Công Dũng 21013406 - Chỉ ra sự khác nhau giữa
quan điểm chủ nghĩa duy vật với quan điểm chủ nghĩa duy tâm.
3.7
Dương 21013384 - Chỉ ra sự khác nhau giữa
quan điểm chủ nghĩa duy vật với quan điểm chủ nghĩa duy tâm.
3.7
Dương
21011224 - Tóm tắt nội
dung các phần
để viết báo cáo Tập hợp nội dung các phần để viết bài luận
3.9
Trang 4MỤC LỤC
Mở đầu 1
1 Sự hình thành và phát triển của triết học nói chung 1
1.1.Nguồn gốc ra đời của triết học 1
1.2.Sự hình thành và phát triển của triết học 1
1.2.1 Ngay từ khi mới ra đời 1
1.2.2 Thời kỳ Trung cổ 1
1.2.3 Thế kỉ XV, XVI 1
1.2.4 Thế kỉ XVII – XVIII 2
1.2.5 Đầu thế kỉ XIX 2
2 Khái quát sự hình thành phát triển của triết học Mác Lê-nin 2
2.1 Những điều kiện tiên đề của sự ra đời của triết học Mác Lê-nin 3
2.2 Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác Lê-nin 3
2.3 Lê-nin với việc bảo vệ và phát triển Mác trong điều kiện lịch sử mới 4
Nội dung 5
1 Khái niệm về Triết học 5
2 Quan hệ giữa vật chất và ý thức 6
2.1 Khái quát 6
2.2 Vật chất là gi? 6
2.3 Ý thức là gì? 6
3 Tại sao mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của Triết học 7
3.1.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 7
3.2.Bản chất mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 9
3.3.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong thực tiễn cuộc sống 10 4 Vấn đê cơ bản của Triết học 10
5 Giữa vật chất, ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào 12
6 Sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm 13
Kết luận 15
Tài liệu tham khảo 16
Trang 5Mở đầu
1. Sự hình thành và phát triển của triết học nói chung
1.1 Nguồn gốc ra đời của triết học
Về nguồn gốc, triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây từ khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN, tại các quốc gia văn minh cổ đại như: Hy Lạp,
Ấn Độ, Trung Quốc
Ở phương Tây, khái niệm triết học lần đầu tiên xuất hiện tại Hy Lạp với tên
gọi φιλοσοφία (philosophia) có nghĩa là “"love of wisdom” - “tình yêu đối với
sự thông thái” bởi nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại mang tên Pythagoras Với người
Hy Lạp, triết học mang tính định hướng đồng thời cũng nhấn mạnh khát vọng
tìm kiếm chân lý của con người Ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học được bắt
nguồn từ chữ triết và được hiểu là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là trí tuệ,
sự hiểu biết sâu sắc của con người Còn tại Ấn Độ, darshanas (triết học) lại mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải
Tóm lại, ngay từ đầu, dù cho ở phương Đông hay phương Tây, triết học cũng đều là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người Tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.1
1.2 Sự hình thành và phát triển của triết học
1.2.1 Ngay từ khi mới ra đời
Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại
Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của
nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu
1.2.2 Thời kỳ trung cổ
Ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ
1.2.3 Thế kỷ XV, XVI
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập
1 Trích tài liệu https://luanvan2s.com/triet-hoc-la-gi-nguon-goc-vai-tro-van-de-co-ban-cua-triet-hoc-bid105.html
Trang | 1
Trang 6Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học
1.2.4 Thế kỷ XVII – XVIII
Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm
và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph Bêcơn, T Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…
Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.” Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học” Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó
1.2.5 Đầu thế kỷ XIX
Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa học”, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên,
xã hội và tư duy
Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay
Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô
tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản…
2 Khái quát sự hình thành, phát triển triết học Mác – Lenin
Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin có thể chia thành hai giai đoạn lớn: Giai đoạn hình thành và phát triển triết học Mác, do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện; giai đoạn bảo vệ và phát triển triết học Mác -Lênin, do V.I Lênin thực hiện
Trang 72.1 Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời của triết học Má c
Điều kiện kinh tế xã hội: Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ
XIX Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đang trên đà phát triển mạnh
mẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi về kinh tế – chính trị – xã hội cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác Cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII đã làm lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, của cải gia tăng Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt và bộc
lộ ngày càng rõ rệt Các mâu thuẫn xã hội dần dần phát triển thành các cuộc đấu tranh giai cấp
Đặc biệt, sự xuất hiện giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử và cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp này là một trong những điều kiện chính trị – xã hội quan trọng nhất cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác Các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản từ hình thức tự phát, đấu tranh kinh tế dần phát triển thành các cuộc đấu tranh mang tính chất tự giác, đấu tranh chính trị Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác
Tiền đề lý luận: Chủ nghĩa Mác ra đời không chỉ xuất phát từ nhu cầu
khách quan của lịch sử, mà còn là sự kế thừa toàn bộ tinh hoa, giá trị tư tưởng nhân loại, trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế học chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp
Các tiền đề khoa học tự nhiên có thể kể đến Học thuyết về tế bào với tư cách là bằng chứng khoa học về tính thống nhất của toàn bộ sự sống Học thuyết tiến hoá với tư cách là khoa học về quá trình phát triển của sự sống Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng với tư cách là khoa học về tính thống nhất vật chất và chuyển hoá của giới tự nhiên.2
2.2 Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác
Quá trình hình thành (1842 – 1844): Đây là giai đoạn chuyển biến tư
tưởng của Mác và Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản
Thời kỳ đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (1844 – 1849): Đây là giai đoạn mà Mác và Ăngghen phát triển lý luận triết học, điều đó được thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu như Ban thảo kinh tế
- triết học (1844); Gia đình thần thánh (1845), Luận cương về Feuerbach
(1845), Hệ tư tưởng Đức (1845 – 1846),…
Quá trình bổ sung, phát triển sâu sắc của chủ nghĩa Mác (1849 – 1895):
Học thuyết Mác không ngừng được phát triển: Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của phong trào công nhân và các thành tựu khoa học Các tác phẩm có thể nhắc đến như Đấu tranh giai cấp ở Pháp, Ngày 18 tháng sương mù của Lui
2 Trích “Giáo trình triết học Mác – Lênin”; NXB Chính trị Quốc gia Sự thật Hà Nội – 2021
Trang | 3
Trang 8Bônapáctơ, Nội chiến ở Pháp, Chống Đuyrinh; Biện chứng của tự nhiên; Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Cho đến nay triết học Mác vẫn là cơ sở lý luận khoa học cho chiến lược
và sách lược cách mạng của giai cấp vô sản, là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa xét lại, cơ hội, giáo điều
2.3 Lê-nin với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch
sử mới
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản dần chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Trong thời kỳ này, khoa học tự nhiên có những bước phát triển mạnh mẽ (đăc biệt là vật lý) Trong thời đại đế quốc, giai cấp tư sản đã tiến hành một cuộc tấn công điên cuồng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, nhằm chống lại các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng (như các trào lưu tư tưởng phản động: thuyết Kant mới; chủ nghĩa thực dụng; chủ nghĩa thực chứng; chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (biến tướng của chủ nghĩa Makho);… Để chống lại các quan điểm sai lầm, phản động, xuyên tạc chủ nghĩa Mác; Lênin đã đấu tranh bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin
Quá trình V.I Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác có thể chia thành
ba thời kỳ đó là:
1893 - 1907: Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác nhằm thành lập đảng Mácxit ở Nga và chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản lần thứ nhất
1907 - 1917: Lênin phát triển toàn diện triết học Mác và lãnh đạo phong trào công nhân Nga, chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa
1917 - 1924: Lênin tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng, bổ sung, hoàn thiện triết học Mác, gắn liền với việc nghiên cứu các vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội
Sau khi Lênin mất (1924), Triết học Mác – Lênin vẫn được các Đảng Cộng sản và công nhân bổ sung và phát triển cho đến nay
Sự ra đời của triết học Mác – Lênin là một tất yếu của lịch sử vì nó phản ánh thực tiễn xã hội, tiêu biểu là cách mạng của giai cấp công nhân; phản ánh đúng quy luật khách quan vận động của lịch sử; đồng thời nó còn là sản phẩm của kinh tế xã hội, khoa học công nghệ; vừa là sản phẩm tư duy, tinh thần nhân văn của người sáng tạo ra nó3
3 Trích “Giáo trình triết học Mác – Lênin”; NXB Chính trị Quốc gia Sự thật Hà Nội – 2021.
Trang 9Nội dung
1 Khái niệm Triết học
Có nhiều định nghĩa về triết học, nhưng các định nghĩa thường bao hàm những nội dung chủ yếu sau: Triết học là một hình thái ý thức xã hội Khách thể khám phá của triết học là thế giới (gồm cả thế giới bên trong và bên ngoài con người) trong hệ thống chính thể toàn vẹn vốn có của nó Triết học giải thích tất
cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình và quan hệ của thế giới, với mục đích tìm ra những quy luật phổ biến nhất chi phối, quy định và quyết định sự vận động của thế giới, của con người và của tư duy Triết học là hạt nhân của thế giới quan Với tính cách là loại hình nhận thức đặc thù, độc lập với khoa học và khác biệt với tôn giáo, tri thức triết học mang tính hệ thống, lôgíc và trừu tượng về thế giới, bao gồm những nguyên tắc cơ bản, những đặc trưng bản chất và những quan điểm nền tảng về mọi tồn tại
Triết học là hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, được thể hiện thành hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới, về con người và về tư duy của con người trong thế giới ấy
Với sự ra đời của Triết học Mác - Lênin, triết học là “hệ thống quan điểm
lí luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học
về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.”
Triết học khác với các khoa học khác ở tính đặc thù của hệ thống trị thức khoa học và phương pháp nghiên cứu Tri thức khoa học triết học mang tính khái quát cao dựa trên sự trừu tượng hóa sâu sắc về thế giới, về bản chất cuộc sống con người Phương pháp nghiên cứu của triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể trong mối quan hệ giữa các yếu tố và tìm cách đưa lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lí luận Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cách triết học phải dựa trên cơ sở tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tự tưởng triết học Không phải mọi triết học đều là khoa học Song các học thuyết triết học đều có đóng góp ít nhiều, nhất định cho sự hình thành tri thức khoa học triết học trong lịch sử; là những “vòng khâu”, những “mắt khấu” trên “đường xoáy ốc”
vô tận của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại Trình độ khoa học của một học thuyết triết học phụ thuộc vào sự phát triển của đối tượng nghiên cứu, hệ thống tri thức và hệ thống phương pháp nghiên cứu.4
2 Quan hệ giữa vật chất và ý thức
4 Trích “Giáo trình Triết học Mác - Lê Nin” (Tái bản lần thứ 3 có sửa chữa bổ sung), BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Hữu Vui, 2019
Trang | 5
Trang 102.1. Khái quát
Triết học Mác – Lênin có rất nhiều vấn đề được nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đời sống con người, đến tự nhiên, xã hội như vật chất, ý thức, mối quan
hệ biện chứng, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm… Và một trong số những nội dung phổ biến nhất trong môn học này là Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
2.2. Vật chất là gì?
Vật chất là một khái niệm thuộc phạm trù triết học dùng để chỉ những thực tại khách quan mà con người có thể thấy được, cảm nhận, sờ thấy Đó là những hiện hữu trong cuộc sống xung quanh chúng ta, có thể chụp lại, phản ánh, nó cho ta cảm giác 5
Vật chất có hai nội dung chính như sau Là phạm trù thuộc triết học thể hiện thực tại khách quan và con người nhận thức được qua cảm giác Đó là cảm giác phản ánh, là sự chụp lại không phụ thuộc cảm giác, là cái mà con người hoàn toàn nhận thức được
2.3. Ý thức là gì?
Ý thức được biết đến là sự phản ánh thế giới khách quan lên trí óc của con người với việc lấy các hoạt động thực tiễn làm cơ sở Ý thức cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Ý thức chính là cảm nhận và suy nghĩ, tư duy của bộ óc con người sau khi nhìn thấy thực tiễn hay sự vật hiện tượng nào đó
Có người ý thức đúng hoặc sai, trừu tượng hoặc chân thực, đó là vấn đề cảm quan của từng người.6
Ý thức có những nội dung chính sau: Sự phản ánh thực tại khách quan trên
cơ sở hoạt động thực tiễn chính là bản chất của ý thức Như vậy thì ý thức không phải là huyền bí Ý thức cho thấy hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Như vậy, bản thân sự vật đi vào trí óc của con người và được cải biên trong đó Chính bởi thế mà nội dung phản ánh mang tính khách quan và mức độ cải biên như nào sẽ phụ thuộc vào chủ thể Ý thức là sự phản ánh tích cực, chủ động, sáng tạo Bên cạnh đó, ý thức cũng mang kết cấu phức tạp với nhiều thành tố
5 Trích tài liệu https://lagi.wiki/moi-quan-he-giua-vat-chat-va-y-thuc
6 Trích tài liệu https://lagi.wiki/moi-quan-he-giua-vat-chat-va-y-thuc