- Trong thực tế, xét một loại hàng hóa đưa ra thị trường có rất nhiều người cùng sản xuất, nhưng mỗi người sản xuất có điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề khác nhau, nên thời gian lao
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
⸎⸎⸎⸎⸎
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN
………
Đề bài: Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá của hàng hóa
và liên hệ Việt Nam hiện nay?
Hà Nội, ngày 13 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
Trang 2II NỘI DUNG 1
1 Lượng giá trị hàng hóa là gì? 1
1.1 Khái niệm 1
1.2 Thước đo lượng giá trị của hàng hóa 2
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa 3
2.1 Năng suất lao động 4
2.2 Cường độ lao động 4
2.3 Tính chất của lao động 6
3 Ý nghĩa 6
3.1 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa 6
3.2 Ý nghĩa của các nhân tố ảnh hưởng đối với năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam 7
3.2.1 Năng suất lao động 7
3.2.2 Mức độ phức tạp 9
III KẾT LUẬN 10
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3I MỞ ĐẦU
Sự ra đời của hàng hóa gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người Đánh dấu sự ra đời của hàng hóa là sự hình thành các bộ lạc Con người không thể tự sản xuất tất cả mọi thứ để đáp ứng nhu cầu của mình và họ bắt đầu trao đổi với nhau để đảm bảo sự sinh tồn Chỉnh bởi tính cấp thiết của hàng hóa trong xã hội, từ trước Mác, đến Mác và sau Mác đã có rất nhiều lý luận ra đời nhằm nghiên cứu cho loại vật chất mang tên “hàng hóa” Vậy hàng hóa là gì?
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
Sản phẩm của lao động là hàng hóa khi được đưa ra nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường Hàng hóa có thể ở dạng vật thể hoặc phi vật thể
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị
- Giá trị sử dụng của hàng hóa
- Giá trị của hàng hóa
Bây giờ chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu về những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
II NỘI DUNG
1 Lượng giá trị hàng hóa là gì?
1.1 Khái niệm
- Giá trị của hàng hoá là lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hoá
Trang 4Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa Gía trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị: giá trị là nội dung, là cơ sở của trao đổi Khi trao đổi người ta ngầm so sánh lao động đã hao phí ẩn giấu trong hàng hóa với nhau
Trong thực hiện sản xuất hàng hóa, để thu được hao phí lao động đã kết tinh, người sản xuất phải chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng để được thị trường chấp nhận
và hàng hóa phải được bán đi
- Lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động đã hoa phí để tạo ra hàng hóa
Giá trị của một hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng:
+ Chất giá trị hàng hóa là do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Ví dụ: Lao động của người thợ mộc, người thợ may đều phải hao phí óc, sức
thần kinh và cơ bắp để tạo ra cái bàn, cái ghế, bộ đồ (lao động trừu tượng) + Lượng giá trị của hàng hóa là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định
1.2 Thước đo lượng giá trị của hàng hóa
- Để đo lượng lao động hao phí (lượng giá trị của hàng hóa) để tạo ra hàng hóa người ta thường dùng bằng thước đo thời gian
Ví dụ: Người thợ mộc tốn 6h để tạo ra sản phẩm, còn người thợ may chỉ tốn 4h để tạo ra sản phẩm (lượng lao động hao phí)
Trang 5- Trong thực tế, xét một loại hàng hóa đưa ra thị trường có rất nhiều người cùng sản xuất, nhưng mỗi người sản xuất có điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề khác nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của học là khác nhau Vì vậy nếu lấy thời gian lao động cá biệt của từng người sản xuất để đo lượng giá của hàng hóa thì sẽ có nhà sản xuất này sẽ tốn nhiều thời gian (lười biếng, vụng về) để sản xuất ra hàng hóa hơn nhà sản xuất kia dẫn đến kết luận hàng hóa đó có càng nhiều giá trị?
Ví dụ: Hai công ty may đều sản xuất ra áo, công ty 1 thì tốn 4h để sản xuất
ra áo, công ty 2 tốn 6h đồng hồ để sản xuất ra áo Kết luận công ty 2 có lượng giá trị của hàng hóa nhiều hơn công ty 1 (kết luận sai)
Mác Lê-nin đã viết: “Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy.”
Qua câu nói của Mác thì thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
- Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hòan cảnh xã hội nhất định
Ví dụ: Các công ty may hiện nay thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra 1 cái áo là 4h
- Thời gian lao động xã hội cần thiết được xác định thông qua giá cả thị trường
Trang 62 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
2.1 Năng suất lao động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, nó được tính bằng số lượng sản phẩm trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Nó phản ánh hiệu quả, kết quả lao động (thể hiện ở người, quốc gia, …)
Ví dụ: Ngày xưa áo quần may bằng tay, bây giờ áo quần may bằng máy (cho thấy ta có thể phân biệt thời đại qua năng suất lao động)
Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại
Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân
Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ
Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất
Trình độ tổ chức quản lý
Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
Các điều kiện tự nhiên
Trang 7Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên.
2.2 Cường độ lao động
Cường độ lao động là đại dương chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian, nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động
Ví dụ: Công ty trước đó sản xuất cần 2h/sp và sau khi tăng năng suất lao động thì chỉ cần 1h/sp
Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh trong một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên
Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi Tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không đổi
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau là đều dẫn đến lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên Nhưng chúng khác nhau là tăng năng suất lao động làm cho lượng sản phẩm (hàng hóa) sản xuất
ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống
Tăng năng suất lao động có thể phụ thuộc nhiều vào máy móc, kỹ thuật, do
đó, nó gần như là một yếu tố có “sức sản xuất” vô hạn, còn tăng cường độ lao động, làm cho lượng sản xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị
Trang 8của một đơn vị hàng hóa không đổi Tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố của ‘sức sản xuất” có giới hạn nhất định Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế
2.3 Tính chất của lao động
Tính chất của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa
Theo tính chất của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
+ Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể làm được
Ví dụ: rửa bát, quét nhà, lau nhà, …
+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới
có thể làm được
Ví dụ: sửa chữa điện thoại, đồng hồ, …
Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy về lao động đơn giản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng những hoạt động sản xuất hàng hóa, hình thành những hệ số nhất định thể hiện trên thị trường
3 Ý nghĩa
Trang 93.1 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa
Việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa là rất cần thiết, nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa đã xác định được giá cả của hàng hóa đã làm ra Bởi vì khi nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa cho biết: Thời gian lao động xã hội cần thiết giản đơn trung bình để sản xuất ra một hàng hóa là thước đo lượng giá trị hàng hóa và từ đó xác định được giả cả của hàng hóa nào cao hơn của hàng hóa nào
3.2 Ý nghĩa của các nhân tố ảnh hưởng đối với năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam
Việc nghiên cứu cho ta biết mức độ tác động của các nhân tố đến lượng giá trị hàng hoá, từ đó có những biện pháp làm thay đổi các nhân tố để đạt hiệu quả sản xuất cao, đem lại lượng giá trị lớn cũng như tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
3.2.1 Năng suất lao động
Thứ nhất là trình độ, mức độ khéo léo: Trình độ, mức độ khéo léo của lao
động không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của riêng cá nhân mà còn ảnh hưởng đến khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Việc nâng cao trình độ, mức độ khéo léo của người lao động sẽ giúp tăng năng suất lao động, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết, từ đó giảm lượng giá trị của sản phâm, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam trên thị trường thế giới
Thực tế ở Việt Nam, theo số liệu sơ bộ của Tổng cục thống kê năm 2020, nghề là 4,71%, trung cấp chuyên nghiệp 4,7%, cao đẳng 3,82%, đại học trở lên 11,12% Ta có thể thấy tỉ lệ lao động qua đào tạo và lao động có trình độ cao vẫn còn khá thấp, năng suật lao động chưa cao Từ đó cần thực hiện mô st số giải pháp sau:
Trang 10 Cải cách giáo dục đào tạo, ưu tiên tập trung cho các ngành đòi hỏi khoa học kỹthuật, công nghệ cao, đào tạo lao động đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0
Cơ sở đào tạo cần đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức đào tạo nghề cho côngnhân lao động, tăng cường gắn kết đào tạo với doanh nghiệp, chú trọng đào tạo kiến thức kỹ năng mềm (ngoại ngữ, tin học, kĩ năng giao tiếp, ý thức, thái độ đối với công việc…)
Chính phủ có những chính sách, quy định để hỗ trợ người lao động nâng cao trình độ
Thứ hai, mức độ phát triển của khoa học kĩ thuật công nghệ và việc áp dụng
các thành tựu khoa học kĩ thuật và công nghệ vào sản xuất: giúp tăng đáng kể năng suất lao động cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm làm tăng sức cạnh
Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) đưa vào hoạt động siêu nhà máy ở Bình Dương với việc áp dụng robot từ chăn nuôi bò sữa, chuẩn bị thúc ăn cho bò đến việc vắt sữa và đóng gói sản phẩm Hiện nay các sản phẩm sữa của Vinamilk đã được xuất khẩu đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ và ngày càng được khẳng định thương hiệu, uy tín trên trường quốc tế
Thành tựu trong công nghệ sinh học với việc tạo ra giống lúa ST25, cùng với đó là việc trồng bằng phương pháp Organic, sản xuất theo công nghệ Châu Âu đã giúp cho gạo ST25 trở thành loại gạo ngon nhất thế giới, khả năng cạnh tranh cũng như giá trị đem lại rất cao
Thứ ba là trình độ quản lí: Nâng cao trình độ quản lí cũng là một trong
những biện pháp quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động Hiệu quả trong quản lí người lao động, trong việc tổ chức sản xuất, quản lí doanh nghiệp cùng với việc quảng bá sản phẩm, marketing sẽ đem lại hiệu quả lớn trong việc
Trang 11cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường Trong thời đại công nghệ hiện nay, việc chuyển đổi số doanh nghiệp là một việc làm rất cần thiết để các doanh nghiệp không bị tụt lại phía sau
Thứ tư là quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất: Việc nâng cao quy mô
và hiệu suất của tư liệu sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động Nổi bật nhất là việc sử dụng các nhà máy sản xuất có quy mô lớn như nhà máy Samsung Electronic Vietnam Thái Nguyên, nhà máy sản xuất điều hoà Daikin ở Hưng Yên có quy mô 210000 m2, nhà máy Intel ở khu công nghệ cao Thành phố
Hồ Chí Minh có quy mô 16000 m2… Cùng với đó là việc đưa vào sử dụng máy móc hiện đại có hiệu suất cao đem lại năng suất sản xuất rất lớn như nhà máy lọc dầu Nghi Sơn hoạt động với công suất 200000 thùng dầu thô/ngày Từ đó đem lại hiệu quả rất lớn trong việc giảm lượng giá trị sản phẩm, tăng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Thứ năm là cải tạo điều kiện tự nhiên: Ngoài ra việc cải tạo điều kiện tự
nhiên cũng là một trong những nhân tố hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, nhất là trong sản xuất nông nghiệp Việc cải tạo các đồng cỏ có năng suất thấp sẽ giúp nâng cao giá trị dinh dưỡng của sữa bò, tăng hiệu quả chăn nuôi; cải tạo đất phèn đất mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ giúp đưa diện tích lớn đất vào sản xuất lúa 2-3 vụ…
3.2.2 Mức độ phức tạp
Vì lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau Vì thế các nhà làm kinh tế cần phải chú trọng đầu tư vào những ngành lao động phức tạp đòi hỏi nhiều chất xám
Do đó mức độ phức tạp của lao động cũng mang ý nghĩa to lớn đối với khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, đây là yếu tố quyết định tới sản lượng và cả
Trang 12chất lượng của hàng hóa Mức độ phức tạp càng cao thì lượng giá trị cũng càng tăng Muốn làm được điều này thì phải nâng cao trình độ công nhân, nâng cao tay nghề và áp dụng những biện pháp tiên tiến
III KẾT LUẬN
Như vậy, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa Chúng là những nhân tố quan trọng liên quan đến chất lượng và giá trị của hàng hóa
Do kiến thức bản thân em còn hạn chế cho nên bài viết sẽ không thể tránh khỏi nhiều sai sót khi viết bài tiểu luận Vậy nên mong sự góp ý của thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc để em có thể hoàn thiện hơn cho bài tiểu luận sau
Lời cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các bạn đã dành thời gian đọc bài tiểu luận của em !
Trang 13IV TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Lê Anh Dũng, ngày (2015), Kênh Sinh Viên, Ý nghĩa của việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hoá
(2) PGS.TS Nguyễn Văn Hậu, ThS Trần Thị Lan Anh, ngày (2020), Quản lý nhà nước, Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế từ việc cải thiện năng suất lao động
(3) Trung tâm thông tin công nghệ và thương mại, ngày (2021), Bộ Công thương Việt Nam, Xu hướng tiêu dùng hiện đại làm thay đổi mô h?nh kinh doanh của doanh nghiệp trong tình hình mới
(4) TS Doãn Công Khánh ngày (2019), Tạp chí cộng sản Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các mặt hàng suất khẩu chủ lực: thực hiện các giải pháp
(5) Tổ chức lao động quốc tế (2015), Tại sao năng suất lao động lại quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế?
(6) Mai Quý (2020), Tập trung nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân lao động, Lao động thủ đô
(7) Thanh Hà (2021), Người “mở đường” xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi
số, Hà Nội mới
(8) Hải Ngô (2021), Vinamilk xuất khẩu sữa hạt và sữa đặc sang Trung Quốc, Nhân dân