Với tư cách là một hình thái phát triển cao của tư tưởng triết học nhân loại, đối tượng nghiên cứu của triết học Mác – Lênin tất yếu vừa có sự đồng nhất, vừa có sự khác biệt so với đối t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
⸎⸎⸎⸎⸎
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC CHƯƠNG 1
TRIẾT HỌC MÁC – LÊ-NIN ĐỀ
TÀI :“ Phân tích theo quan điểm triết học Mác – Lênin về
vấn đề cơ bản của triết học ? ”
Mã đề: 01 Giảng viên hướng dẫn: Th.s Đồng Thị Tuyền
Sinh viên thực hiện : Sinh viên nhóm 1
Trang 2DANH SÁCH SINH VIÊN NHÓM 1
Mục Lục
Mục lục 2
Trang 3Mở Đầu 3
Tính cấp thiết 3
Nội Dung 8
1.Phân tích khái niệm triết học 8
2 Phân tích vấn đề cơ bản của triết học 10
2.1 Nội dung cơ bản của triết học 10
2.2 Hai mặt vấn đề cơ bản của triết học 12
3 Sự khác nhau căn bản giữa quan điểm chủ nghĩa duy vật ( chất phác, siêu hình, biện chứng – quan điểm Mác – Lê-nin) với quan điểm chủ nghĩa duy tâm( khách quan, chủ quan) 14
4 Ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng thực tiễn 15
4.1 Phương pháp luận là gì ? 15
4.2 Ý nghĩa của phương pháp luận 16
4.3 Vận dụng thực tiễn 17
Kết luận 17
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết
Trang 4Vai trò của triết học trong xã hội hiện nay đã trở nên rất quan trọng Nó có rất nhiều chức năng như: Chức năng nhận thức, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục Nhưng quan trọng nhất là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận Nổi bật lên trong các quan điểm triết học là hệ thống triết học Mác – Lê-nin Với tư cách là một hình thái phát triển cao của tư tưởng triết học nhân loại, đối tượng nghiên cứu của triết học Mác – Lênin tất yếu vừa có sự đồng nhất, vừa
có sự khác biệt so với đối tượng nghiên cứu của các hệ thống triết học khác trong lịch sử Vì thế, nếu muốn đi sâu vào thế giới triết học thông qua quan điểm triết học Mác – Lê-nin thì trước tiên ta phải nắm rõ những vấn đề cơ bản của triết học thông qua cái nhìn của triết học Mác – lê-nin Khái lược lịch sử triết học trước Mác Đầu tiên ta hãy nhìn lại lịch sử phát triển của triết học nói chung và triết học Mác – Lê-nin nói riêng:
1 Triết học thời cổ, trung đại Lần đầu tiên các học thuyết triết học xuất hiện vào khoảng hơn 2.500 năm trước ở Ấn Độ, ở Trung Hoa và ở Hy Lạp cổ đại v.v
- Những hệ thống triết học đầu tiên của HyLạp cổ đại mang tính duy vật tự phát và tính biện chứng ngây thơ Hình thức biện chứng đầu tiên trong lịch sử triết học là phép biện chứng cổ đại, mà đại biểu lớn nhất là Hêraclít (khoảng 540-480 tr.c.n) Thuyết nguyên tử của chủ nghĩa duy vật được Đêmôcrít (khoảng 460-370 tr.c.n) đưa ra; ý tưởng đó của ông được Êpiquya (341-279 tr.c.n) và Lu cờ ren ci phát triển Nhà triết học đầu tiên của chủ nghĩa duy tâm là Platôn (427-347 tr.c.n), ông
là người phát triển biện chứng sâu sắc mối liên hệ của các khái niệm Triết học cổ đại phát triển tới cực điểm nhờ Arítxtốt (384-322 tr.c n), người đã tạo ra hệ thống chung nhất về khối lượng của tri thức khoa học-triết học
2 Triết học thời Trung cổ Cùng với sự xuất hiện của chế độ phong kiến, Thiên chúa giáo đã ngự trị thế giới quan ở Tây Âu Giai đoạn đầu của triết học Thiên chúa giáo trong thời kỳ Trung cổ là Pa tri xti ca (ẽàũðốủũốờà), trên cơ sở của Patrixtica, chủ nghĩa kinh viện đã thống trị trong các thế kỷ từ IX đến XII Chủ nghĩa kinh viện được coi là mục đích của triết học trong sự biện giải của các nhà giáo điều Trong các thế kỷ từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV xẩy ra cuộc tranh luận giữa thuyết duy thực (thực thể luận) (đại diện là A.Kentơ rờ beri xki Phôma Ăcvinxki)- thuyết này khảng định sự tồn tại nằm bên ngoài trí tuệ con người với thuyết duy danh (đại diện là Rốt xelin, Đunxcốt, Occam)- thuyết này công nhận sự tồn tại hiện thực chỉ của các sự vật đơn nhất Kết quả của cuộc tranh luận trên là sự thể hiện của cuộc đấu tranh giữa xu hướng duy vật và xu hướng duy tâm Hướng chủ đạo của triết học Ả rập thời Trung cổ là hệ thống triết học Pe ri pa tét phía
Trang 5Đông (xem: trường phái Peripatét) với những người chỉ hướng và phát triển các học thuyết của mình như: Kin đi, Pha ra bi, I bi, Xin na, Ibi Rusd
3 Triết học thời Phục hưng Sự phát triển của nền sản xuất vật chất, cuộc đấu tranh giai cấp trong phương thức sản xuất phong kiến ngày càng trở nên gay gắt hơn đã dẫn tới điều tất yếu là chủ nghĩa tư bản phải thay thế chủ nghĩa phong kiến Sự phát triển của kỹ thuật và tri thức tự nhiên đòi hỏi phải giải phóng văn hoá tinh thần khỏi sự thống trị của thế giới quan duy tâm-tôn giáo "Cú đấm" đầu tiên vào bức tranh tôn giáo của thế giới là của những nhà tư tưởng vĩ đại thời kỳ Phục hưng như Côpécníc (1473-1543, Ba lan), Galilê (1564-1642, Italia), Mônten, Campanella v.v Các tư tưởng của những nhà tư tưởng thời kỳ Phục hưng là sự phát triển triết học của thời đại mới Sự tiến bộ của tri thức kinh nghiệm, của khoa học
đã đòi hỏi sự thay thế phương pháp kinh viện của tư duy bằng phương pháp mới của sự nhận thức: phương pháp tiếp cận thế giới hiện thực Các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật và những thành tố của phép biện chứng ra đời và phát triển; nhưng chủ nghĩa duy vật thời đó, về tổng thể, là chủ nghĩa duy vật máy móc và siêu hình
4 Triết học thời cận đại Người đầu tiên sinh ra chủ nghĩa duy vật thời cận đại là Ph.Bêcơn (1561-1626, Anh), người cho rằng mục đích tối cao của khoa học là bảo đảm cho sự thống trị của con người đối với tự nhiên T.Hốpxơ (1588-1679, Anh) là người sáng lập ra hệ thống toàn diện đầu tiên của chủ nghĩa duy vật máy móc Nếu như Ph.Bêcơn và T.Hốpxơ, trong chừng mực nào đấy, đưa ra phương pháp nghiên cứu trực quan về giới tự nhiên, thì R.Đềcáctơ (1596-1650, Pháp) là người sáng lập
ra chủ nghĩa duy lý, cố soạn ra một phương pháp chung cho mọi khoa học Tính chất đặc trưng của học thuyết đó là tính nhị nguyên: cái "biết suy nghĩ" và cái
"quảng tính" của thực thể B.Xpinôda (1632-1677, Hà lan) chống lại tính nhị nguyên của Đềcáctơ bằng chủ nghĩa nhất nguyên duy vật Lốccơ (1632-1074, Anh) phát triển thuyết duy cảm (cảm giác luận) Các tư tưởng đối lập với chủ nghĩa duy vật được phát triển bằng chủ nghĩa duy tâm chủ quan trong các phương án khác nhau của nó (Béccơli (1685-1753), Hium (1711-1776)) Liêybờnhít (Liebniz 1646-1716) cũng soạn ra học thuyết duy tâm khách quan, trong đó thể hiện ra một loạt các tư tưởng biện chứng
Nửa cuối của thế kỷ XVIII là thời kỳ khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa phong kiến ở nước Pháp và là thời kỳ của cuộc cách mạng tư sản Pháp Vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc cách mạng đặt lên vai các nhà triết học duy vật Pháp như La Mêtri (1709-1751), Điđrô (1713-1784), Hônbách (1723-1789), Henvenxi, họ là những nhà tư tưởng chống lại thần học và chủ nghĩa duy
Trang 6tâm Đặc điểm nổi bật của triết học duy vật Pháp thế kỷ XVIII là sự tuyệt đối hoá vai trò của ý thức trong sự phát triển của xã hội, nhận thức duy tâm về lịch sử Giai đoạn quan trọng của lịch sử triết học Tây Âu là triết học cổ điển Đức (Cantơ, Phíchtơ, Sêlinh, Hêghen là những người phát triển phép biện chứng duy tâm) Đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức là phép biện chứng của Hêghen (1770-1831), mà hạt nhân của phép biện chứng đó là học thuyết về mâu thuẫn và sự phát triển Phoiơbắc (1804-1872) chống lại triết học duy tâm và tôn giáo, phát triển học thuyết về chủ nghĩa duy vật nhân bản
Vào các thế kỷ XVIII-XIX, tư tưởng triết học duy vật tiến bộ đã phát triển ở nước Nga Tư tưởng đó đã đi vào truyền thống lịch sử của chủ nghĩa duy vật, mà người đầu tiên sinh ra tư tưởng đó là M.V.Lômônôxốp (1711- 1765) và tư tưởng đó, bắt đầu từ Rađisép, vững bước đi vào thế giới quan của những nhà hoạt động xã hội tiên tiến của nước Nga Trong các tác phẩm của V.G.Bêlinxki (1811-1848), A.I.Gécxen (1812-1870), N.G Trernưxépxki (1828-1889), N.A Đốpbờraliubốp (1836-1861) và của những người bạn chiến đấu của họ và những người đi sau họ
đã tạo ra được sự phát triển của triết học cách mạng dân chủ Nga, gắn trong mình một nấc thang mới trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật trước Mác
5 Sự hình thành và phát triển của triết học Mác
Chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác là một bộ phận của chủ nghĩa Mác nói riêng, xuất hiện vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi giai cấp vô sản thể hiện mình trên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập Tính cấp thiết về kinh tế-xã hội, khoa học-lý luận và chính trị trực tiếp quy định sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác là sự trả lời khoa học cho các vấn đề xuất hiện trong quá trình phát triển của thực tiễn xã hội và của sự vận động lôgíc nhận thức của con người C.Mác (1818-1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895) đã phân tích một cách sâu sắc và có phê phán thực tiễn xã hội trên cơ sở kế thừa biện chứng
và sắp xếp lại các ưu điểm đã có trong lĩnh vực triết học và tư tưởng xã hội trước
để xây dựng một thế giới quan mới về chất
a Các tiền đề của sự hình thành và phát triển triết học Mác
Tiền đề kinh tế - xã hội của triết học Mác
- Chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh ở các nước Tây Âu tiên tiến
Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đi vào giai đoạn phát triển mới Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống kinh tế thống trị ở các
Trang 7nước Tây Âu, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lớn lên nhanh chóng, tính hơn hẳn của chế độ tư bản so với chế độ phong kiến được thể hiện một cách rõ rệt Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn các lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại
- Thời kỳ đã diễn ra những mâu thuẫn không thể điều hoà giữa vô sản và tư sản Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bộc lộ ngày càng sâu sắc Đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá quá trình sản xuất và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất với tính tư hữu trong việc sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức và phân phối sản phẩm lao động Những người lao động bị bần cùng hoá vì bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư Giai cấp tư sản không còn là giai cấp cách mạng trong xã hội
- Giai cấp vô sản đã ý thức được những lợi ích căn bản của mình và tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Sự đấu tranh của giai cấp vô sản với tính cách là một lực lượng chính trị xã hội độc lập xuất hiện mang ý nghĩa đấu tranh giai cấp Đó là cuộc đấu tranh không điều hoà giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản + Ở thời kỳ đầu, phong trào công nhân còn mang tính tự phát, thiếu tổ chức với hình thức đấu tranh cơ bản là đấu tranh kinh tế Giai cấp công nhân còn chưa hiểu được những nguyên nhân làm nên nỗi khổ của mình
+ Cuối thế kỷ XVIII, giai cấp công nhân Anh, Pháp đã sử dụng hình thức đấu tranh mới Đó là đình công, bãi công mang tính chất quần chúng rộng rãi kết hợp với biểu tình tuần hành
+ Vào những năm 30-40 của thế kỷ XIX đã có những biến đổi sâu sắc trong phong trào công nhân Những cuộc đấu tranh đầu tiên có tính tự giác xuất hiện, khởi nguồn là cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt Ly-ông (1831 & 1834), cuộc nổi dậy có tính cách mạng của công nhân Pa-ri (1832), cuộc nổi dậy của thợ dệt Đức (1844) và phong trào Hiến chương ở Anh (1830-1840)
Như vậy, phong trào công nhân thời kỳ này đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong quan niệm về lịch sử, nảy sinh nhu cầu lý luận của thực tiễn cách mạng để vạch trần những sai lầm cho rằng nhà tư bản và người lao động có thể sống chung, cùng hạnh phúc trong xã hội tư bản; để thay đổi những quan niệm cũ về lịch sử bằng những quan niệm mới: trả lời một cách rõ ràng những vấn đề mà mọi giai cấp trong xã hội quan tâm là số phận của loài người sẽ ra sao; những lực lượng nào
Trang 8đóng vai trò chủ yếu trong cuộc đấu tranh cho tương lai của nhân loại; giai cấp vô sản có sứ mệnh gì trong lịch sử
Thực tiễn cách mạng của phong trào công nhân nảy sinh yêu cầu khách quan là những vấn đề mà thời đại đặt ra phải được soi sáng bằng lý luận khoa học, được giải đáp về mặt lý luận khi đứng trên lập trường của giai cấp vô sản
Những điều đó nói lên rằng, nhu cầu xã hội đã chín muồi để xuất hiện một thế giới quan triết học mới: thế giới quan triết học mácxít
Như vậy, phong trào công nhân thời kỳ này đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong quan niệm về lịch sử, nảy sinh nhu cầu lý luận của thực tiễn cách mạng để vạch trần những sai lầm cho rằng nhà tư bản và người lao động có thể sống chung, cùng hạnh phúc trong xã hội tư bản; để thay đổi những quan niệm cũ về lịch sử bằng những quan niệm mới: trả lời một cách rõ ràng những vấn đề mà mọi giai cấp trong xã hội quan tâm là số phận của loài người sẽ ra sao; những lực lượng nào đóng vai trò chủ yếu trong cuộc đấu tranh cho tương lai của nhân loại; giai cấp vô sản có sứ mệnh gì trong lịch sử
Thực tiễn cách mạng của phong trào công nhân nảy sinh yêu cầu khách quan là những vấn đề mà thời đại đặt ra phải được soi sáng bằng lý luận khoa học, được giải đáp về mặt lý luận khi đứng trên lập trường của giai cấp vô sản
Những điều đó nói lên rằng, nhu cầu xã hội đã chín muồi để xuất hiện một thế giới quan triết học mới: thế giới quan triết học mácxít
Phần Nội Dung
Trang 91 Phân tích khái niệm triết học.
Ở Trung Quốc, chữ triết đã có từ rất sớm, và ngày nay, chữ triết học được coi là tương đương với thuật ngữ philosophia của Hy Lạp, với ý nghĩa là sự truy tìm bản chất của đối tượng nhận thức, thường là con người, xã hội, vũ trụ và tư tưởng Triết học là biểu hiện cao của trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người về toàn bộ thế giới thiện - địa - nhân và định hướng nhân sinh quan cho con người
Ở Ấn Độ, thuật ngữ Dar'sana (triết học) nghĩa gốc là chiêm ngưỡng, hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải
Ở phương Tây, thuật ngữ “triết học” như đang được sử dụng phổ biến hiện nay, cũng như trong tất cả các hệ thống nhà trường, được sử dụng nghĩa gốc sang các ngôn ngữ khác: Philosophy, philosophie, (MJI coul) Triết học, Philo-sophia, xuất hiện ở Hy Lạp cổ đại, với nghĩa là yêu mến sự thông thái, Người Hy Lạp cổ đại quan niệm, philosophia vừa mang nghĩa là giải thích vũ trụ, định hướng nhận thức
và hành vi, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người
Như vậy, cả ở phương Đông và phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần bậc cao, là loại hình nhận thức có trình độ trừu tượng hóa và khái quát hóa rất cao Triết học nhìn nhận và đánh giá đối tượng xuyên qua thực tế, xuyên qua hiện tượng quan sát được về con người và vũ trụ Ngay cả khi triết học còn bao gồm trong nó tất cả mọi thành tựu của nhận thức, loại hình tri thức đặc biệt này đã tồn tại với tính cách là một hình thái ý thức xã hội,
Là loại hình tri thức đặc biệt của con người, triết học nào cũng có tham vọng xây dựng nền bức tranh tổng quát nhất về thế giới và về con người Nhưng khác với các loại hình tri thức xây dựng thế giới quan dựa trên niềm tin và quan niệm tưởng tượng về thế giới, triết học sử dụng các công cụ lý tính, các tiêu chuẩn lôgic và những kinh nghiệm mà con người đã khám phá thực tại, để diễn tả thế giới và khái quát thế giới quan bằng lý luận Tính đặc thù của nhận thức triết học thể hiện ở đó, Bách khoa thư Britannica định nghĩa: “Triết học là sự xem xét lý tính, trừu tượng
và có phương pháp về thực tại với tính cách là một chỉnh thể hoặc những khía cạnh nền tảng của kinh nghiệm và sự tồn tại người Sự truy vấn triết học (Philosophical Inquiry) là thành phần trung tâm của lịch sử trí tuệ của nhiều nền văn minh"1
1 Philsophy in “Encyclopeida Britannia” (Triếết h c trong “Bách khoa th Britanica”) ọ ư
Trang 10“Bách khoa thư triết học mới” của Viện Triết học Nga xuất bản năm 2001 viết:
“Triết học là hình thức đặc biệt của nhận thức và ý thức xã hội về thế giới, được thể hiện thành hệ thống tri thức về những nguyên tắc cơ bản và nền tảng của tồn tại người, về những đặc trưng bản chất nhất của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và với đời sống tinh thần
Có nhiều định nghĩa về triết học, nhưng các định nghĩa thường bao hàm những nội dung chủ yếu sau:
- Triết học là một hình thái ý thức xã hội
- Khách thể khám phá của triết học là thế giới (gồm cả thế giới bên trong và bên ngoài con người) trong hệ thống chỉnh thể toàn vẹn vốn có của nó
- Triết học giải thích tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quy trình và quan hệ của thể giới, với mục đích tìm ra những quy luật phổ biến nhất chi phối, quy định và quyết định sự vận động của thế giới, của con người và của tư duy
- Với tính cách là loại hình nhận thức đặc thù, độc lập với khoa học và khác biệt với tôn giáo, tri thức triết học mang tính hệ thống, lôgic và trừu tượng về thế giới, bao gồm những nguyên tắc cơ bản, những đặc trưng bản chất và những quan điểm nền tảng về mọi tồn tại
- Triết học là hạt nhân của thế giới quan
Triết học là hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, được thể hiện thành hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới, về con người và về tư duy của con người trong thế giới ấy
Với sự ra đời của Triết học Mác - Lênin, triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đỏ, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
Triết học khác với các khoa học khác ở tỉnh đặc thù của hệ thống tri thức khoa học
và phương pháp nghiên cứu Tri thức khoa học triết học mang tính khái quát cao dựa trên sự trừu tượng hóa sâu sắc về thế giới, về bản chất cuộc sống con người, Phương pháp nghiên cứu của triết học là xem xét thế giới như một chính thể trong mối quan hệ giữa các yếu tố và tìm cách đưa lại một hệ thống các quan niệm về chinh thể đó Triết học là sự điện tử thế giới quan bằng lý luận Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi triết học dựa trên cơ sở tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học