TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN BÀI TẬP LỚN Triết học Mác Lê nin ĐỀ TÀI 03 Triết học Mác Lê Nin là gì? Nêu đối tượng và chức năng cơ bản của triết học Mác Lê Nin Giảng viên ThS Đồng Thị T[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
BÀI TẬP LỚN: Triết học Mác Lê-nin
ĐỀ TÀI 03 : Triết học Mác Lê Nin là gì? Nêu đối tượng và chức năng cơ bản của triết học Mác Lê Nin
Giảng viên: ThS Đồng Thị Tuyền
Nhóm 8: Lê Văn Nam :21010060
Phan Hoàng Nam : 21011290 Nguyễn Huy Phúc : 21011918 Nguyễn Hữu Quang : 21010404 Trịnh Ngọc Phương : 21012371 Nguyễn Văn Quốc : 21010467
Lê Anh Phong : 21011045 Hoàng Công Ngọc : 21011049 Nguyễn Vũ Hải Ninh : 21010466
Năm học: 2021-2022
Trang 2Mục lục
Mở đầu: 3
Nội dung: 1 Khái lược về triết học 4
1.1Nguồn gốc của triết học 4
1.2 Khái niệm của triết học 5
1 Đối tượng cơ bản của triết học 8
2 Chức năng cơ bản của triết học 12
3 Chức năng cơ bản của triết học 3.1 Chức năng thế giới quan của triết học Mác Lê nin 12
3.2 Chức năng phương pháp luận của triết học Mac Lê-nin 14
3.3 Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng 15
3.4 So sánh phương pháp và phương pháp luận 15
Trang 3Mở Đầu
Không phải ngẫu nhiên mà có người coi triết học Mác-Lênin là khoa học của mọi khoa học cũng không phải ngẫu nhiên mà các nhà triết học được mệnh danh là nhà thông thái, nhà hiền triết và nắm giữ bí mật chân lý Ngay trong lịch sử loài người,
đã có thời kỳ xã hội đặt triết gia lên đầu cơ cấu xã hội, triết học ra đời gần như đồng thời ở phương Đông và phương Tây, ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp,…những trung tâm lớn của nhân loại cổ đại Sự xuất hiện của triết học Mác là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử tiết học
Triết học Mác ra đời từ nhu cầu của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động vào những năm 1840 Nó kế thừa tất cả các giái trị tư tưởng nhân loại, trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp Sự ra đời của triết học Mác-Lênin kà một hiện tượng thường xuyên, không chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh kinh tế xã hội đương thời, là sản phẩm của tri thức nhân loại thể hiện trong lĩnh vực khoa học, mà còn là sản phẩm của năng lực tư duy và tinh thần nhân văn của người lập ra nó.Sự ra đời của triết học Mác-Lênin là một tất yếu lịch sử, không chỉ vì nó là sự phản ánh hiện thực xã hội, đặc biệt là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, mà còn là sự phát triển hợp lý của lịch sử tư tưởng nhân loại
Từ khi ra đời đến nay triết học Mác đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, luôn phản ánh sự phát triển của trí tuệ con người, thúc đẩy sự phát triển của tư duy con người, thậm chí có khi trở thành vũ khí Ngày nay, triết học Mác đã thực sự trở thành một khoa học và ngày càng hoàn thiện nên ý nghĩa nằm ở chỗ, động lực phát triển đời sống xã hội càng rõ ràng, tư duy lý luận của con người ngày càng hoàn thiện
Trang 41Khái lược về triết học
1.1 Nguồn gốc của triết học
Là một loại hình nhận thức đặc thù của con người, triết học ra đời ở cả Phương Đông và Phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế k| VIII đến thế k| VI tr.CN) tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại thời Cổ đại Ý thức triết học xuất hiện không ngẫu nhiên, mà có nguồn gốc thực tế từ tồn tại xã hội với một trình độ nhất định của sự phát triển văn minh, văn hóa, khoa học Con người, với kỳ vọng được đáp ứng nhu cầu về nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình đã sáng tạo ra những luận thuyết chung nhất, có tính hê • thống phản ánh thế giới xung quanh và thế giới của chính con người Triết học là dạng tri thức lý luâ •n xuất hiện sớm nhất trong lịch sử các loại hình lý luận của nhân loại
1.2 Khái niệm Triết học
Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức và ngôn ngữ Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận
Ở Trung Quốc, chữ triết ( ) đã có từ rất sớm, và ngày nay, chữ triết học (哲 哲 學) được coi là tương đương với thuật ngữ philosophia của Hy Lạp, với ý nghĩa là
sự truy tìm bản chất của đối tượng nhận thức, thường là con người, xã hội, vũ trụ
và tư tưởng Triết học là biểu hiện cao của trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người về toàn bộ thế giới thiên - địa - nhân và định hướng nhân sinh quan cho con người
Ở Ấn Độ, thuật ngữ Dar'sana (triết học) nghĩa gốc là chiêm ngưỡng, hàm ý là
Trang 5tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với le phải
Ở phương Tây, thuật ngữ “triết học” như đang được sử dụng phổ biến hiê •n nay, cũng như trong tất cả các hệ thống nhà trường, chính là φιλοσοφία (tiếng Hy Lạp; được sử dụng nghĩa gốc sang các ngôn ngữ khác: Philosophy, philosophie, философия) Triết học, Philo - sophia, xuất hiện ở Hy Lạp Cổ đại, với nghĩa là yêu mến sự thông thái Người Hy Lạp Cổ đại quan niệm, philosophia vừa mang nghĩa
là giải thích vũ trụ, định hướng nhận thức và hành vi, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người
Như vậy, cả ở phương Đông và phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần bậc cao, là loại hình nhận thức có trình độ trừu tượng hóa và khái quát hóa rất cao Triết học nhìn nhận và đánh giá đối tượng xuyên qua thực tế, xuyên qua hiện tượng quan sát được về con người và vũ trụ Ngay cả khi triết học còn bao gồm trong nó tất cả mọi thành tựu của nhận thức, loại hình tri thức đặc biệt này đã tồn tại với tính cách là một hình thái ý thức xã hội
Là loại hình tri thức đặc biệt của con người, triết học nào cũng có tham vọng xây dựng nên bức tranh tổng quát nhất về thế giới và về con người Nhưng khác với các loại hình tri thức xây dựng thế giới quan dựa trên niềm tin và quan niệm tưởng tượng về thế giới, triết học sử dụng các công cụ lý tính, các tiêu chuẩn lôgíc
và những kinh nghiệm mà con người đã khám phá thực tại, để diễn tả thế giới và khái quát thế giới quan bằng lý luận Tính đặc thù của nhận thức triết học thể hiện
ở đó 1
Bách khoa thư Britannica định nghĩa, “Triết học là sự xem xét lý tính, trừu tượng và có phương pháp về thực tại với tính cách là một chỉnh thể hoặc những khía cạnh nền tảng của kinh nghiệm và sự tồn tại người Sự truy vấn triết học
1 См:ИФ, РAH (2001) Новая философская энциклопедия(Bách khoa th Triếết h c m i) ư ọ ớ Там же c 195.
Trang 6(Philosophical Inquyry) là thành phần trung tâm của lịch sử trí tuệ của nhiều nền văn minh” 2
“Bách khoa thư triết học mới” của Viện Triết học Nga xuất bản năm 2001 viết: “Triết học là hình thức đặc biệt của nhận thức và ý thức xã hội về thế giới, được thể hiện thành hệ thống tri thức về những nguyên tắc cơ bản và nền tảng của tồn tại người, về những đặc trưng bản chất nhất của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và với đời sống tinh thần” 3
Có nhiều định nghĩa về triết học, nhưng các định nghĩa thường bao hàm những nội dung chủ yếu sau:
Triết học là một hình thái ý thức xã hội
Khách thể khám phá của triết học là thế giới (gồm cả thế giới bên trong và bên ngoài con người) trong hệ thống chỉnh thể toàn vẹn vốn có của nó
Triết học giải thích tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình và quan hệ của thế giới, với mục đích tìm ra những quy luật phổ biến nhất chi phối, quy định và quyết định sự vận động của thế giới, của con người và của tư duy
Với tính cách là loại hình nhận thức đặc thù, độc lập với khoa học và khác biệt với tôn giáo, tri thức triết học mang tính hệ thống, lôgíc và trừu tượng về thế giới, bao gồm những nguyên tắc cơ bản, những đặc trưng bản chất và những quan điểm nền tảng về mọi tồn tại
Triết học là hạt nhân của thế giới quan
Triết học là hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, được thể hiện thành hệ thống
29 Philosophy in “Encyclopedia Britannica” (Triết học trong “Bách khoa thư Britanica”) https://www.britannica.com/topic/philosophy “Philosophy - the
rational, abstract, and methodical consideration of reality as a whole or of fundamental dimensions of human existence and experience” (Triết học - là sự xem xét có phương pháp, trừu tượng và duy lý về hiện thực với tính cách là một toàn thể hoặc các chiều kích nền tảng của sự tồn tại người và kinh nghiệm của con người).
3Института философии, Российской Aкадемии Hayк (2001) Новая философская энциклопедия.(Bách khoa thư
Triếết h c m i) ọ ớ T.4 Москва “мысль” c 195.
Trang 7các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới, về con người và về tư duy của con người trong thế giới ấy
Với sự ra đời của Triết học Mác - Lênin, triết học là hệ thống quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết học khác với các khoa học khác ở tính đặc thù của hệ thống tri thức khoa học và phương pháp nghiên cứu Tri thức khoa học triết học mang tính khái quát cao dựa trên sự trừu tượng hóa sâu sắc về thế giới, về bản chất cuộc sống con người Phương pháp nghiên cứu của triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể trong mối quan hệ giữa các yếu tố và tìm cách đưa lại một hệ thống các quan niệm
về chỉnh thể đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lí luận Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cách triết học phải dựa trên cơ sở tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học
Không phải mọi triết học đều là khoa học Song các học thuyết triết học đều
có đóng góp ít nhiều, nhất định cho sự hình thành tri thức khoa học triết học trong lịch sử; là những “vòng khâu”, những “mắt khâu” trên “đường xoáy ốc” vô tận của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại Trình độ khoa học của một học thuyết triết học phụ thuộc vào sự phát triển của đối tượng nghiên cứu, hệ thống tri thức và hệ thống phương pháp nghiên cứu
2.Đối tượng cơ bản của triết học Mác-lênin
Đối tượng của triết học được hiểu là những mối liên hệ chung nhất của hiện thực khách quan, hoặc những sự vật được con người tưởng tượng ra và được phản ánh trong các phạm trù, khái niệm của triết học Để hiểu rõ đối tượng triết học ta so sánh đối tượng triết học với đối tượng của một số các khoa học cụ thể, chẳng hạn đối tượng nghiên cứu của toán học là những quan hệ về số lượng và hình không
Trang 8gian của các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan Đối tượng nghiên cứu của vật lý học là những vận động vật lý như vận động cơ, điện, nhiệt Đối tượng nghiên cứu của hoá học là những hình thức vận động hoá học, là sự hòa hợp và phân giải các chất vô cơ và hữu cơ, v.v Đó là những mối quan hệ của các sự vật trong một lĩnh vực cụ thể của thế giới vật chất Đối tượng nghiên cứu của triết học
là những mối liên hệ chung nhất của thế giới vật chất và cả bản chất, mối liên hệ giữa thế giới vật chất với nhũng sự vật hiện tượng do con người tưởng tượng ra như Thượng đế, thế giới thần thánh, thần linh v.v
Từ khi ra đời ở thời kỳ cổ đại đến nay, triết học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Ở mỗi giai đoạn với tư cách một lĩnh vực tri thức của nhân loại và một hình thái ý thức xã hội, do tình hình thực tiễn xã hội thay đổi mà đối tượng của triết học cũng có những nội dung khác nhau
Thời kỳ cổ đại, khi sản xuất xã hội còn ở trình độ thấp, sự phân công lao động xã hội mới phát triển, lao động trí óc mới tách rời lao động chân tay, khối lượng tri thức của loài người về thế giới và về chính bản thân mình còn chưa nhiều, chưa có sự phân chia giữa tri thức triết học với tri thức của các khoa học chuyên ngành Ở Trung Quốc, triết học chủ yếu gắn với việc giải quyết các vẩn đề đạo đức, chính trị – xã hội Chẳng hạn quan niệm của Khổng giáo, Lão giáo, Đạo giáo
về xã hội, về con người đều chứa đựng những quan điểm triết học sâu sắc Ở Ấn
Độ, triết học và tôn giáo hoà quyện vào nhau Chẳng hạn quan niệm của Phật giáo
về con người, đời người, nỗi khổ của con người và sự giải phóng con người khỏi những nỗi khổ thể hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc Ở Hy Lạp, triết học gắn với những hiểu biết ban đầu của con người về tự nhiên và được gọi là triết học tự nhiên Vì triết học bao quát mọi lĩnh vực tri thức của nhân loại, nên đối tượng nghiên cứu của triết học thời kỳ này cũng không có đối tượng riêng mà là mọi lĩnh vực tri thức, và vì thế sau này đã nảy sinh quan niệm cho rằng “triết học là khoa
Trang 9học của mọi khoa học” Thời kỳ cổ đại triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực
rỡ, đặt nền móng cho sự phát triển về sau không chỉ đối với triết học mà còn đối với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu kéo dài hơn mười thế k|, do sự thống trị của Giáo hội Thiên Chúa giáo trên mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần của xã hội, triết học cũng bị thần học chi phối Triết học trở thành bộ phận của thần học, phục vụ cho thần học Nhiệm vụ của triết học thời kỳ đó là lý giải và chứng minh tính hợp
lý, đúng đắn của các giáo điều trong kinh thánh Triết học đó được gọi là triết học kinh viện Trong khuôn khổ của tôn giáo, triết học phát triển rất khó khăn và chậm chạp, đặc biệt là những tư tưởng triết học duy vật
Từ nửa sau thế k| XV và thể k| XVI, ở các nước Tây Âu những yếu tố của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện trong lòng phương thức sản xuất phong kiến, đồng thời khoa học tự nhiên cũng bắt đầu được phát triển do đòi hỏi của sản xuất Khi đó, triết học duy vật phát triển trong mối liên hệ với yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự phát triển của khoa học
tự nhiên Tuy nhiên do còn chịu ảnh hưởng nặng nề của quan điểm tôn giáo nên triết học duy vật lúc này còn mang hình thức phiếm thần luận, nghĩa là sử dụng các quan niệm tôn giáo như là hình thức bên ngoài để nói lên nội dung bên trong của quan điểm duy vật về thế giới Đến thế k| XVII – XVIII, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh, trở thành phương thức sản xuất thống trị trên nhiều lĩnh vực của nền sản xuất, đưa đến cách mạng tư sản nổ ra ở nhiều nước Tây
Âu Khoa học tự nhiên phát triển mạnh, diễn ra quá trình phân ngành sâu sắc và đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực riêng biệt khác nhau Nổi bật nhất và có ảnh hưởng lớn nhất đến tư tưởng triết học là cơ học của Niutơn Khi đó, triết học duy vật phát triến mạnh me và đấu tranh khá gay gắt với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thế k| XVII – XVIII là chủ nghĩa duy vật
Trang 10Pháp với các đại biểu: Điđrô, ‘Henvêtiuyt; chủ nghĩa duy vật Anh với các đại biểu:
Ph Bêcơn, T Hốpxơ; ở Hà Lan với đại biểu Xpinôda Tuy khoa học tự nhiên đã hình thành các môn khoa học độc lập, nhưng triết học vẫn chưa xác định rõ đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà vẫn gắn liền với khoa học tự nhiên, bao quát toàn bộ tri thức khoa học tự nhiên Triết học lúc này vẫn được coi là “khoa học của mọi khoa học”
Vào cuối thế k| XVIII đầu thế k| XIX, nước Anh và Pháp đã ứở thành nước
tư bản, nhưng nước Đức vẫn còn là một nước phong kiến Giai cấp tư sản Đức đang hình thành vừa muốn đi theo các nước Anh, Pháp, vừa sợ phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản và muốn thỏa hiệp với giai cấp quý tộc phong kiến Trong bối cảnh lịch sử đó, triết học Đức phản ánh lợi ích và địa vị của giai cấp tư sản Đức, đã phát triển mạnh me, nhưng trên lập trường duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen Hêghen muốn bao quát toàn bộ tri thức khoa học vào trong hệ thống triết học của mình Đối với Hêghen, mỗi một ngành khoa học cụ thể chỉ là những mắt khâu của hệ thống triết học Triết học có thể giải quyết được các vấn đề của khoa học cụ thể Đây là hệ thống triết học cuối cùng coi triết học là “khoa học của các khoa học” – Một quan niệm về đối tượng nghiên cứu của triết học không còn phù họp với tình hình phát triển của nhận thức khoa học và thực tiễn xã hội đương thời
Vào những năm 40 của thế k| XIX, sự phát triển mạnh me của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở một loạt các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Hà Lan, Italia, Đức v.v đã đưa đến sự lớn mạnh của giai cấp vô sản Giai cấp vô sản đã trở thành lực lượng chính trị độc lập Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trở nên gay gắt hơn Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản cũng trở nên thường xuyên và mạnh me hơn, đòi hỏi phải được hướng dẫn bằng lý luận cách mạng Đồng thời sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng thúc đẩy