Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
۞۞۞۞۞
BÀI TẬP L N K T THÚC HỚ Ế ỌC PH N Ầ TRIẾ T H C MÁC LÊNIN Ọ –
Đề bài: “Triết h c Mác – ọ Lênin là gì? Nêu đối tượng và ch ức năng cơ bản
của Triết h ọc Mác – Lênin? ”
Mã số: 18
Giáo viên hướng d n : ẫ ĐỖ KHÁNH CHI
NH H Sinh viên : TRỊ ẢI BĂNG
L p ớ : K15 - Ngôn ng Anh 2 ữ
21011672
HÀ NỘI, THÁNG 1/ 2022
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Sinh viên : Trịnh Hải Băng
Mã SV : 21011672 Lớp : K15 Ngôn ngữ Anh 2 -
Ngày tháng năm 2021
Giáo viên hướng dẫn
(ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ………1
PHẦN A: NỘI DUNG ……… 2
I TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN ……… 2
1 Khái niệm triết học Mác – Lênin ……… ………. 2
2 Sự ra đời của triết học Mác – Lênin……… ……… 3
II ĐỐI TƯỢNG VÀ CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN ………6
1 Đối tượng của triết học Mác – Lênin……… 6
2 Chức năng của triết học Mác – Lênin……… 7
2.1 Chức năng thế giới quan……………….7
2.2 Chức năng phương pháp luận………9
PHẦN B: KẾT LUẬN……… 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….11
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận
Thuật ngữ “triết học” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “ yêu thích sự thông thái” Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật Với quan niệm như vậy, triết học thời cổ đại là nền triết học tự nhiên có đối tượng nghiên cứu rất rộng, bao gồm toàn bộ tri
của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác Thay đổi triệt để quan niệm triết học là “ khoa học của các khoa học”, triết học Mac xác định đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy trên lập trường duy vật triệt để
Chính vì quãng thời gian lịch sử dài với nhiều biến động của Triết học nói chung và Triết học Mác – Lênin nói riêng, việc xác định rõ đối tượng và
sinh viên trong việc tìm hiểu và nắm rõ nội dung của Triết học, hiểu thêm những quy luật trong đời sống
Vì vậy, trong bài tiểu luận của mình, em đã đi nghiên cứu về một phần của Triết học Mác – Lênin Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 52
PHẦN A: NỘI DUNG
1 Khái niệm triết học Mác – Lênin
mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến
bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới
- Triết học Mác – Lênin là triết học duy vật biện chứng theo nghĩa rộng Đó là
hệ thống quan điểm duy vật biện chứng cả về tự nhiên, xã hội và tư duy; là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Triết học Mác – Lênin trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học
thời đại ngày nay là giai cấp công nhân để nhận thức và cải tạo xã hội Đồng thời triết học Mác – Lênin cũng là thế giới quan và phương pháp luận của nhân dân lao động, cách mạng và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức
và cải tạo xã hội
Trang 6Trong thời đại ngày nay, triết học Mác – Lênin là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng triết học nhân loại, đang là hình thức phát triển cao nhất của các hình thức triết học trong lịch sử Triết học Mác – Lênin
là học thuyết về sự phát triển thế giới, đã và đang phát triển giữa dòng văn minh nhân loại
2 Sự ra đời của triết học Mác – Lênin
Triết học Mác – Lênin ra đời vào những năm 40 thế kỉ XIX và được phát triển gắn chặt với những thành tựu khoa học và thực tiễn trong phong
cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng loài người, trong lịch sử triết học
giai đoạn lớn:
- Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác, do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện:
C.Mác (5/5/1818 - 14/3/1883), năm 1841
C.Mác nhận bằng tiến sỹ và từ đầu 5/1842 –
3/1843 ông làm ở báo Sông Ranh Chính thời
kỳ làm ở báo Sông Ranh đấu tranh cho dân chủ
đã giúp ông chuyển biến bước đầu từ chủ nghĩa
duy tâm và tinh thần dân chủ cách mạng sang
chủ nghĩa duy vật và cộng sản chủ nghĩa Khi
báo Sông Ranh bị cấm (từ 1/4/1843) Mác đặt ra
cho mình nhiệm vụ xem xét có phê phán triết
học Hêghen về xã hội và nhà nước Trong thời gian Mác ở Croixnăc (từ tháng 5 - 10/1843) Mác đã tiến hành phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, qua đó phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nói chung Cuối tháng 10/1843 Mác sang Pari Tại đây được tiếp xúc với không khí cách
Trang 74
mạng Pháp và các đại biểu tiêu biểu của phong trào công nhân đã giúp Mác chuyển biến dứt khoát sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản Các bài báo: Bàn về vấn đề Do Thái; Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen Lời nói đầu đăng trên tạp chí Niên giám Pháp - Đức tháng 2/1844 đánh dấu quá trình chuyển biến này
Ph.Ăngghen (28/11/1820 - 5/8/1895) trong
xúc đời sống và phong trào công nhân ở Anh
nên đã có sự chuyển biến về lập trường và thế
giới quan Điều này thể hiện rõ ở những bài báo
cũng đăng trên tạp chí Niên giám Pháp - Đức:
Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị -
đứng trên lập trường duy vật phê phán A.Xmít
và đ.Ricácđô; Tình cảnh nước Anh; Tômát
Cáclây - vạch trần quan điểm phản động của Cáclây vì đã phê phán chủ nghĩa tư bản trên lập trường của chủ nghĩa phong kiến
➢ Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác do C.Mác và
-triển sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn Trong giai đoạn này, cùng với các hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu tư tưởng của nhân loại trên nhiều lĩnh vực từ thời cổ đại cho đến xã hội đương thời
để từng bước củng cố, bổ sung và hoàn thiện quan điểm của mình
- Giai đoạn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin, do V.I.Lênin thực hiện:
Trang 8V.I.Lênin (1870 - 1924) - người đã vận
dụng sáng tạo và phát triển triết học Mác vào
thời đại đế quốc chủ nghĩa và bắt đầu xây dựng
CNXH hiện thực Ông đã có những đóng góp to
lớn vào việc phát triển chủ nghĩa Mác nói
chung, triết học Mác nói riêng Lênin có nhiều
đóng góp vào việc phát triển phép biện chứng,
lý luận nhận thức, vấn đề nhà nước và cách
mạng, vấn đề chuyên chính vô sản, vấn đề xây dựng Đảng kiểu mới v.v Triết học của Mác và Ăngghen được V.I.Lênin bổ sung, phát triển trong điều kiện mới về khoa học, chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực và chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Có thể nói, Lênin đã tạo ra một giai đoạn mới trong sự phát triển triết học Mác Về bản chất triết học của V.I.Lênin là triết học Mác
Quá trình V.I.Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác có thể chia thành ba thời kỳ, tương ứng với ba nhu cầu cơ bản khác nhau của thực tiễn,
đó là:
+) Thời kỳ từ năm 1893 đến năm 1907 là thời kỳ V.I.Lênin tập trung chống phái duy túy
+) Thời kỳ từ năm 1907 đến năm 1917 là thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan ở nhiều nhà vật lý học
+) Thời kỳ từ sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công (1917) đến khi V.I.Lênin từ trần (1924)
Với những cống hiến to lớn ở cả ba bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác, tên tuổi của V.I.Lênin đã cắn liền với chủ nghĩa Mác, đánh dấu bước phát triển toàn diện của chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 96
Sự ra đời của triết học Mác là một tất yếu khách quan Tính tất yếu
cuộc cách mạng trong lịch sử triết học Thực chất của cuộc cách mạng này được thể hiện ở chỗ: khắc phục sự đối lập giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng tạo ra sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng; sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử; khắc phục sự đối lập giữa triết học và hoạt động thực tiễn của con người; khắc phục sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể
Triết học Mác – Lenin ra đời và hoàn chỉnh đã góp phần quan trọng trong nhận thức và đấu tranh của giai cấp công nhân, các tầng lớp vô sản Các Mác đã phát biểu rằng: Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật " chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của
biểu rằng: Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác " nhau, vấn đề là cải tạo thế giới"
LÊNIN
1 Đối tượng của triết học Mác – Lênin
Với tư cách là một hình thái phát triển cao của tư tưởng triết học nhân loại, đối tượng nghiên cứu của triết học Mác – Lênin tất yếu vừa có sự đồng nhất, vừa có sự khác biệt so với đối tượng nghiên cứu của các hệ thống triết học khác trong lịch sử
Triết học Mác – Lênin xác định đối tượng nghiên cứu là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư
Trang 10duy từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của con người
- Với triết học Mác – Lênin thì đối tượng của triết học và đối tượng của các khoa học cụ thể đã được phân biệt rõ ràng Các khoa học cụ thể nghiên cứu những quy luật trong các lĩnh vực riêng biệt về tự nhiên, xã hội hoặc tư duy Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong cả ba lĩnh vực này
- Triết học Mác – Lênin có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các khoa học cụ thể Triết học Mác – Lênin là sự khái quát cao những kết quả của khoa học cụ thể, vạch ra những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; do đó, trở thành cơ sở thế giới quan, phương pháp luận cho các khoa học cụ thể +) Các khoa học cụ thể cung cấp những dữ liệu, đặt ra những vấn đề khoa học mới, làm tiền đề, cơ sở cho sự phát triển triết học
+) Các khoa học cụ thể tuy có đối tượng và chức năng riêng của mình nhưng đều phải dựa vào một thế giới quan và phương pháp luận triết học nhất định +) Quan hệ giữa quy luật của triết học và quy luật của khoa học cụ thể là quan hệ giữa cái chung và cái riêng
2 Chức năng của triết học Mác – Lênin
Cũng như mọi khoa học triết học có thể cùng một lúc có thể thực hiện nhiều
chức năng khác nhau Triết học có chức năng thế giới quan và phương pháp luận, chức năng nhận thức và giáo dục, chức năng phê phán… Tuy nhiên, chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận là hai chức năng cơ bản của triết học nói chung, đặc biệt là triết học Mác – Lênin nói riêng
2.1 Chức năng thế giới quan
Trang 118
Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vị trí của
trong cuộc sống của loài người và xã hội loài người Có thể ví thế giới quan như một “thấu kính”, qua đó, con người nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như xem xét bản thân mình nhằm xác định cho mình mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức hoạt động sao cho phù hợp để đạt được mục đích đặt ra Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan Triết học Mác – Lênin
đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan cộng sản
➢ Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng:
• Nó có vai trò đặc biệt quan trọng định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực Nó giúp cho con người cơ sở khoa học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích
ý nghĩa của cuộc sống
• Nó giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động Từ đó giúp con người xác định thái độ và cả cách thức hoạt động của mình
• Nó nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực Trình độ phát triển về thế giới quan là tiêu chí quan trọng của sự trưởng thành cá nhân cũng như một cộng đồng xã hội nhất định
• Nó là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân
và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản khoa học
Trang 122.2 Chức năng phương pháp luận
Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát có vai trò chỉ đạo việc sử dụng các phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm đạt kết quả tối ưu Phương pháp luận cũng có nghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp Triết học Mác – Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất cho nhận thức và hoạt động thực tiễn
➢ Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng:
• Phương pháp luận duy vật biện chứng là phương pháp chung của toàn bộ nhận thức khoa học trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho hoạt động nhận thức và thực tiễn
• Triết học Mác – Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ nhận thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học, đó là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật
Trang 1310
Triết học Mác – Lênin đã giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học, xác định đối tượng nghiên cứu là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; chỉ ra các quy luật
xã hội và trong tư duy; đồng thời, Triết học Mác – Lênin giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan
Với tư cách một hệ thống lý luận, một học thuyết, triết học Mác – Lênin đã lý giải một cách khoa học nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó Như vậy, triết học Mác – Lênin đóng vai trò là cơ sở lý luận, là "hạt nhân" của thế giới quan - bởi vì ngoài triết học Mác Lênin, thế –
luật pháp, thẩm mỹ Song, tất cả các quan điểm trên đều được xây dựng trên nền tảng khoa học của triết học Mác – Lênin Quan điểm và niềm tin khoa học của triết học Mác – Lênin đã tạo dựng cơ sở nền tảng cho toàn bộ hệ
mà cốt lõi là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là hệ thống lý luận khoa học và cách mạng; nó đã, đang và sẽ là một công cụ tư duy quan trọng nhất định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta nói chung và sinh viên nói riêng trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn
biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách nói chung
và nhân cách sinh viên Việt Nam nói riêng
Qua đề tài trên, em hiểu thêm về triết học không chỉ gói gọn như định nghĩa khoa học mà còn bao hàm những quan niệm nhất định về thế giới, về cuộc sống hay còn gọi là thế giới quan và bao hàm cả nhân sinh quan