1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề 1 – chương 3 phân tích quan điểm kinh tế chính trị mácleenin về hàng hóa sức lao động và liên hệ ở việt nam hiện nay

14 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề 1 – Chương 3 Phân Tích Quan Điểm Kinh Tế Chính Trị MácLeenin Về Hàng Hóa Sức Lao Động Và Liên Hệ Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Trần Thị Thu Hằng
Trường học Trường Đại Học Phenikaa
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị Mác – Lenin
Thể loại Đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầuHướng để có thể giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản là cần tìm được trên thị trường một loại hàng hóa mà khi sử dụng nó có thể tạo ra được một giá trị lớn hơn giá t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA

KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN



Đề 1 – Chương 3: “Phân tích quan điểm kinh tế chính trị Mác-Leenin về hàng hóa sức lao động và liên hệ ở Việt Nam hiện nay ?”

Sinh viên: Trần Thị Thu Hằng Lớp: Kinh tế chính trị Mác – Leenin _1_1-22(N07)

Mã sv: 21012631

Hà Nội, ngày…/….

Trang 2

Mục lục

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA 1

Mục lục 2

A Mở đầu 3

B Nội dung 5

I Khái niệm “ Hàng hóa sức lao động”, hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa, hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 5

1 Khái niệm về “ Hàng hóa sức lao động” 5

2 Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 5

3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 5

4 Hàng hóa là “ chìa khóa” để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản 6

II Liên hệ ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nhiều thành phần ,các chủ thể kinh tế thực theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng, bình đẳng,… 8

1 Nền kinh tế nhiều thành phần (6 thành phần) 8

2 Các chủ thể kinh tế thực hiện theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng, bình đẳng,… 10

C Kết luận 12

Tài liệu tham khảo 13

Trang 4

A Mở đầu

Hướng để có thể giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản là cần tìm được trên thị trường một loại hàng hóa mà khi sử dụng nó có thể tạo ra được một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó và loại hàng hóa đó chính là sức lao động Khi sức lao động tạo ra được một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó thì phần giá trị

dư ra này được gọi là giá trị thặng dư Đây chính là chìa khóa chỉ rõ ra nguồn gốc của giá trị lớn hơn giá trị thặng dư và giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản

Theo như quan điểm kinh tế chính trị của Mác – Lenin: “ Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó.”

Cũng theo quan điểm trên của Mác – Lenin thì trọng mọi xã hội thì sức lao động là yếu tố sản xuất nhưng cần có hai điều kiện sau để sức lao động có thể trở thành một loại hàng hóa:

 Người lao động được tự do về mặt thân thể

 Người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ mới phải bán sức lao động Thông qua hàng hóa là sức lao động này mà giá trị mới được tạo ra nhờ sự chuyển hóa trong lưu thông thì ta có công thức T-H-T’ với:

 T – Tư bản, là số tiền được đầu tư ban đầu, trong đó sẽ có một phần dược đầu

tư vào để mua máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng, một phần nguyên liệu và một phần là để thuê nhân công

Trang 5

 H – Hàng hóa sức lao động, thông qua hàng hóa sức lao động của con người sẽ tác động đến máy móc, vật liệu để tạo nên H’

H’ – Hàng hóa có giá trị cao hơn so với giá trị ban đầu và nhà tư bản chỉ việc chiếm đoạt H’ này và bán đi để thu về T’

T’ – Giá trị mới , cao hơn và đã bao hàm trong đó là giá trị thặng dư

Những năm gần đây thì Việt Nam đã, đang và tiếp tục mở rộng, hội nhập với nền kinh tế của thế giới; kinh tế tri thức trở thành một xu hướng phát triển toàn cầu và Việt Nam cũng không để mình nằm ngoài xu hướng trên Nhà nước ta nhận thấy được rằng yếu tố con người có vị trí quan trọng và trung tâm nên việc phát triển thị trường lao động thật hợp lí và có hiệu quả là một vấn đề cấp thiết với nền kinh tế của nước nhà Thị trường lao động hay là nguồn nhân lực của một đất nước được đánh giá chủ yếu trên hai tiêu chí là số lượng và chất lượng

Trang 6

B Nội dung

I Khái niệm “ Hàng hóa sức lao động”, hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa, hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

1 Khái niệm về “ Hàng hóa sức lao động”

Theo quan điểm kinh tế chính trị của Mác – Leenin thì sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng để tạo ra giá trị sử dụng nào đó Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, mang yếu tố tinh thần và lịch sử Chúng có thuộc tính riêng và có sự liên kết chặt chẽ với sự tồn tại, phát triển của nền kinh tế Sức lao động là một điều kiện tiên quyết trong việc hình thành nên quyền tự do và tạo ra sự phát triển cho nền kinh tế

2 Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Hàng hóa sức lao động cần có hai điều kiện sau để trở thành hàng hóa

 Một là người lao động được tư do về thân thể

 Người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán cho nên họ phải bán sức lao động Khi đã thỏa mãn hai điều kiện trên thì sức lao động có thể trở thành một loại hàng hóa trên thị trường để mua bán và trao đổi

3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính gồm: giá trị và giá trị sử dụng 3.1 Giá trị của hàng hóa sức lao động

Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết

để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định.Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó thì người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định

Vì vậy nên thời lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh

Trang 7

hoạt ấy Hay có thể diễn đạt bằng cách khác là giá trị của hàng hóa sức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sản xuất ra sức lao động

Giá trị của hàng hóa sức lao động do ba bộ phận sau hợp thành:

Một là giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất và tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động.Hai là phí tổn đào tạo ra người lao động.Ba là giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết ( vật chất, tinh thần) để nuôi con của người lao động

Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị tường thì giá cả của hàng hóa sức lao động phải phản ánh được lượng giá trị nêu trên

3.2.Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng để nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu người mua.Người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng lao động

4 Hàng hóa là “ chìa khóa” để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản

Hàng hóa cũng có hai thuộc tính như mọi loại hàng hóa khác: giá trị và giá trị

sử dụng Nhưng hai thuộc tính trên đều tồn tại những khía cạnh khác nhau để có thể nói rằng: hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt Trong phần “giá trị” thì là hàng hóa đặc biệt và nó khác với hàng hóa thông thường ở chỗ là gái trị của hàng hàng háo sức lao động bao gồm cả yếu tố tinh thần vẫn lịch sử.Trong thuộc tính “giá trị sử dụng” thì lại giống với các hàng hóa thông thường khác tức

là quá trình lao động của công nhân Tuy vậy trong quá trình sử dụng hay tiều dùng hàng háo sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ là: Hàng hóa thông thường thì giá trị hay giá trị sử dụng sẽ biến mất theo thời gian Còn trong quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là một quá trình sản xuất ra một hàng hóa nào đó và đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của

Trang 8

bản thân hàng hóa sức lao động Phần giá trị lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng

dư mà nhà tư bản chiếm đoạt Do vậy giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

có tính chất đặc biệt – tạo ra giá trị mới lớn hơn so với giá trị của bản thân Cũng

có thể hiểu là: hàng hóa sức lao động tạo ra giá trị thặng dư khi được đem vào

sử dụng và cũng chỉ hàng hóa sức lao động mới có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó – “giá trị thặng dư” Chính vì sự đặc biệt này nên hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt khác với hàng hóa thông thường khác Hàng hóa sức lao động chính là “ chìa khóa” để có thể giải quyết được mâu thuẫn của công thức chung của tư bản: T-H-T’ với T’=T+

Chúng ta có công thức chung của tư bản là T-H-T’ mà T’=T+ Nhưng có vẻ như đang có mâu thuẫn với lý luận về hàng hóa, giá trị, tiền tệ và lưu thông Vì nếu như trên thì không chỉ lao động có thể tạo ra giá trị mà còn cả tiền tệ có vẻ cũng có thể tạo ra giá trị; giá trị không chỉ được tạo ra trong sản xuất mà còn cả trong lưu thông Nhưng theo lý thuyết giá trị, trong mọi trường hợp dù có trao đổi ngang giá hay không thì lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông đều sẽ không tạo ra giá trị Trong trường hợp trao đổi ngang giá là tiền trao đổi ngang giá lấy hàng, hàng trao đổi ngang giá lấy tiền nên tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia sẽ như nhau, không thay đổi Ta cũng có thể hiểu rằng trao đổi ngang giá sẽ không tạo thêm ra giá trị mới Ngoài lưu thông thì nếu người sản xuất muốn tạo thêm ra giá trị mới thì cần phải lao động Giá trị thặng dư đã không xuất hiện từ lưu thông và cũng không xuất hiện ngoài lưu thông vậy câu hỏi được đặt ra ở đây là: Giá trị thặng dư được tạo ra từ đâu? Câu trả lời chính là “ hàng hóa sức lao động ” Bởi vì trong quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa mới nào đó và đồng thời cũng tạo ra một giá trị lớn hơn so với giá trị của bản thân

nó Phần lớn hơn so với giá trị bản thân hàng hóa sức lao động chính là giá trị thặng dư

Trang 9

Từ những điều trên thì ta có thể thấy rằng: hàng hóa sức lao động chính là “ chìa khóa” để giải quyết ván đề mâu thuẫn chung của công thức tư bản Chính trong quá trình sử dụng loại hàng hóa đặc biệt này đã tạo ra giá trị thặng dư cho các nhà tư bản và việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động đã chỉ rõ ra bộ mặt, bản chất của tư bản: bóc lột

II Liên hệ ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nhiều thành phần ,các chủ thể kinh tế thực theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng, bình đẳng,…

1 Nền kinh tế nhiều thành phần (6 thành phần)

Thành phần kinh tế là kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Trong thời kì đi lên chủ nghĩa xã hội thì bất cứ nước nào cũng tồn tại nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Việt Nam đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội với lực lượng sản xuất thấp, nhiều trình độ khác nhau, các hình thức sở hữu cũng khác nhau nên thành phần kinh tế là khác nhau

Nền kinh tế thị trường của Việt Nam gồm 6 thành phần: Kinh tế công, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế hỗn hợp, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế vốn đầu

tư nước ngoài

1.1 Kinh tế công

“Kinh tế công” gồm các doanh nghiệp nhà nước và giữ vị trí, vai trò then chốt trong nền kinh tế Chủ thể của thành phần kinh tế này là Nhà nước ( được Nhân dân ủy quyền) Nhà nước thông qua Uỷ ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp đầu tư vốn ( cả bằng tiền và hiện hiện vật) cho các doanh nghiệp nhà nước thông qua hợp đồng tín dụng Các doanh nghiệp nhà nước sẽ hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đnáh giá chủ yếu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật “ Nhà nước” chỉ đóng vai trò là người dẫn dắt,” bà đỡ”, quản lý vĩ mô nền kinh tế chứ hông can thiệp vào hoạt dộng sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 10

1.2 Kinh tế tập thể

“Kinh tế tập thể” là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất Trong đó hợp tác xã là đơn vị kinh tế nòng cốt nên kinh tế tập thể kết hợp cung với kinh tế Nhà nước hợp thành nền kinh tế quốc dân

1.3 Kinh tế tư nhân

“Kinh tế tư nhân” là một động lực quan trọng của nền kinh tế Chủ thể của thành phần kinh tế này là các chủ sở hữu tư nhân như: các hộ kinh doanh cá thể, các hộ tiểu chủ, các chủ tư nhân, các nhà tư bản, các tập đoàn tư bản… với các loại hình kinh doanh tương ứng như hộ sản xuất, kinh doanh cá thể (hộ nông dân, hộ tiểu – thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ…), chủ trang trại, hộ tiểu chủ, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân tư bản (tư bản trong nước và tư bản ngoài nước), tập đoàn tư bản

1.4 Kinh tế hỗn hợp

“Kinh tế hỗn hợp” bao gồm các công ty, các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các

tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở liên kết các chủ sở hữu khác nhau với nhau: giữa chủ thể kinh tế công và chủ thể kinh tế tư nhân trong nước; giữa chủ thể kinh tế công và chủ thể kinh tế tư nhân nước ngoài; giữa các chủ thể kinh tế tư nhân trong nước với nhau; giữa chủ thể kinh tế tư nhân trong nước và chủ thể kinh tế tư nhân nước ngoài… để thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo mạng sản xuất và chuỗi giá trị thị trường nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan tỏa về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ Loại hình tổ chức sản xuất – kinh doanh thường là công ty liên doanh, công ty hợp doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai chủ sở hữu trở lên, các loại hình hợp tác xã…Đối tượng sở hữu của các thành phần kinh tế chỉ bao hàm các tài sản hữu hình và vô hình đang được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau và mang lại lợi ích kinh tế cho các chủ sở hữu, đồng thời góp phần vào lợi ích chung

Trang 11

1.5 Kinh tế tư bản Nhà nước

“Kinh tế tư bản Nhà nước” là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư bản Thành phần kinh tế này là bao gồm những doanh nghiệp liên doanh (giữa các nhà nước với tư bản trong và ngoài nước…) Kinh tế tư bản Nhà nước có tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý

1.6 Kinh tế vốn đầu tư nước ngoài

“Kinh tế vốn đầu tư nước ngoài” là thành phần kinh tế chủ yếu dựa trên hình thức sở hữu vốn của nước ngoài Vì là sở hữu vốn nước ngoài nên quy mô vốn lớn, trình độ quản lý hiện đại, công nghệ cao và đa dạng Thành phần kinh tế này góp phần giúp thúc đẩy nền kinh tế nước ta tăng trưởng và phát triển mạnh hơn

2 Các chủ thể kinh tế thực hiện theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, tôn trọng, bình đẳng,…

Trong lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước, ở mỗi thời kì khác nhau, vai trò quản lí kinh tế của nhà nước có mức độ khác nhau

Trong giai đoạn đầu của kinh tế thị trường, giai đoạn mà ở đó cơ chế vận hành của nó là cơ chế thị trường tự điều chỉnh thì chưa có sự can thiệp của nhà nước Chỉ đến những thập niên đầu thế kỉ XX, khi kinh tế thị trường tự do chuyển sang kinh tế thị trường hiện đại, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, thì lúc này việc quản lí kinh tế của nhà nước đối với nền kinh tế mới đặt ra như là một tất yếu khách quan không chỉ đối với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà cả với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong chủ nghĩa xã hội, nhà nước với tư cách là người đại diện cho chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất và đại diện cho xã hội thực hiện việc điều tiết và quản

lí kinh tế, đảm bảo nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định và đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.Ở nước ta, để phát huy vai trò tích cực, khắc phục những hạn chế của kinh tế thị trường, Nhà nước không thể không điều tiết và quản lí nền kinh tế Cần

Ngày đăng: 26/03/2023, 09:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w