1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Triết học mác lênin đề tài 1 phân tích theo quan điểm triết học mác lênin về vấn đề cơ bản của triết học

12 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích theo quan điểm triết học Mác - Lênin về vấn đề cơ bản của triết học
Tác giả Nguyễn Thị Thương
Người hướng dẫn Ths. Đồng Thị Tuyền
Trường học Trường Đại Học Phenikaa
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Bài tập lớn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 425,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI 1 PHÂN TÍCH THEO QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC Giảng viên hướng dẫn Ths Đồng Thị Tuyề[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA

KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

ĐỀ TÀI 1 : PHÂN TÍCH THEO QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

Giảng viên hướng dẫn : Ths.Đồng Thị Tuyền

Họ và tên : Nguyễn Thị Thương

Mã sinh viên : 22011240

Lớp : Triết học Mác - Lê nin-2-1-22(N02)

Trang 2

MỤC LỤC

1.1 Nguồn gốc của triết học

1.2 Nguồn gốc hình thành của triết học Mác – Lênin………… 3;4

Phần B Nội dung ……… 5

2.1 Khái niệm triết học………5 2.2 Khái niệm triết học Mác Lênin……… 5;6 3.1 Vấn đề cơ bản triết học là gì ? 7 3.2 Các vấn đê cơ bản của triết học……… 7;8 IV:Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật ……8 4.1 Chủ nghĩa duy tâm ……… 8;9 4.2 Chủ nghĩa duy vật……… 9;10

Phần C Kết luận ……… 10 Tài liệu tham khảo ……….11

2

Trang 3

PHẦN A: MỞ ĐẦU

I Giới thiệu khái quát về nguồn gốc hình thành triết học và triết học Mác - Lênin 1.1 Nguồn gốc của triết học:

Triết học ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về thế giới của con người Triết học chỉ xuất hiện khi những kho tàng tri thức của loài người đã hình thành được một vốn hiểu biết nhất định Trên cơ sở đó, những tri thức riêng lẻ về thế giới phải được

tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa thành những khái niệm, phạm trù, quan điểm, quy luật, học thuyết đủ sức phổ quát để giải thích thế giới Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây ( khoảng từ thế kỉ VIII đến thế kỉ VI TCN) Triết học có hai nguồn gốc nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội [5;12,18]

Triết học chỉ ra đời khi xã hội loài người đã đạt đến một trình độ tương đối cao của sản xuất ra hội , phân công lao động xã hội hình thành, có của cải dư thừa, tư hữu hóa về

tư liệu sản xuất, sự phân hóa giai cấp lao động, nhà nước ra đời [5;17] Tầng lớp trí thức xuất hiện , có điều kiện và nhu cầu và nghiên cứu, có năng lực hệ thống hóa các quan niệm, quan điểm hình thành học thuyết, lý luận Những người xuất sắc trong tầng lớp này được xã hội công nhận là các nhà thông thái, các triết gia

1.2 Nguồn gốc hình thành của triết học Mác – Lênin

Sự xuất hiện của triết học Mác là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học và khoa học nhân loại, trong sự phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội, mà

thực tiễn là cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sảnlà kết quả của sự thống nhất những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của Các và Ph.Ăngghen.

Trang 4

Trong hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản chuyến biến thành chủ nghĩa đế quốc , giai cấp tư sản bộc lộ rõ tính chất phản động của mình khi điên cuồng sử dụng bạo lực trên tất cả đời

sống xã hội; trung tâm của cách mạng thế giới dần chuyển sang nước Nga, sự phát triển của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở những nước thuộc địa sự tấn ;

công của những người theo chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa đế quốc lên học thuyết Mác đã đòi hỏi cần thiết phải nghiên cứu để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng V.Iênin trở thành người kế tục trung thành

và phát triển chủ nghĩa Mác

trong thời đại mới Và nhờ những đóng góp to lớn của Người, triết học Mác- Lênin ra đời như một tên gọi chung cho cả hai giai đoạn.

4

Trang 5

PHẦN B : NỘI DUNG

II Khái niệm triết học Triết học Mác Lênin

2.1 Khái niệm triết học

Theo phương Đông , ở Trung quốc triết học là biểu hiện cao của trí tuệ , là sự hiểu biết sâu sắc của con người về toàn bộ thế giới thiên-địa-nhân và định hướng nhân sinh quan cho con người Hay theo phương tây Triết học xuất hiện tại hy lạp cổ đại với ý nghĩa là

sự yêu mến thông thái Theo Bách khoa thư britannica định nghĩa : “triết học là sự xem

xét lí tính trừu tượng ….lịch sử trí tuệ của nhiều văn minh[5;21]Tóm lại Triết học là một

hình thái ý thức xã hội khách thể khám phá triết học là cả thế giới trong hệ thống chỉnh thể và toàn vẹn vốn có của nó Triết học giải thích tất cả các sự vật , hiện tượng , quá trình và quan hệ của thế giới với mục đích tìm ra những quy luật phổ biến nhất chi phối quy địn và quyết định sự vận động của thế giới của con người và của tư duy

2.2 Khái niệm Triết học Mác Lênin

Triết học Mác Lênin nói riêng thì triết học là khoa học về những quy luật phổ biến

chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; trang bị cho con người thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới [5;22]

Triết học Mác là triết học duy vật biện chứng theo nghĩa rộng Đó là hệ thống quan

điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới xã hội đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; đem lại cho con người thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn, khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới

Trang 6

Khi nghiên cứu, Các và P.Ăngghen không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật của thế kỉ 18

mà những thiếu sót chủ yếu nhất của nó là máy móc, siêu hình và duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã hội Các ông đã khắc phục những thiếu sót ấy, đưa triết học tiến lên một bước phát triển mới bằng cách tiếp thu

tưởng triết học xuyên suốt quá trình lịch sử, nên triết học Mác – Lênin là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng

Đối tượng của triết học là một vấn đề vẫn đang tranh luận trong lịch sử triết học từ trước đến nay Thời cổ đại, do khoa học chưa phát triển, nhà triết học chính là nhà khoa học, nhà bách khoa, thông thái trên các lĩnh vực, triết học bao hàm toàn bộ tri thức khoa học của nhân loại Do vậy, triết học là khoa học của mọi khoa học Mặc dù các học thuyết triết học đều có các khách thể nghiên cứu riêng, nhưng thực chất đối tượng của triết học chưa phân biệt được với đối tượng của khoa học cụ thể Thời trung cổ, ở châu Âu tôn giáo ngự trị, thế giới quan duy tâm tôn giáo thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội, kìm hãm sự phát triển của các khoa học Triết học phát triển trong môi trường hết sức chật hẹp, trở thành bộ phận của thần học, thành “nô bộc” của thần học, có nhiệm vụ giải thích kinh thánh Thế kỷ XV – XVI, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, đã tạo ra thời kỳ Phục hưng văn hóa, trong đó có triết học, triết học dần dần tách khỏi các khoa học

cụ thể và phát triển thành các bộ môn riêng biệt, đó là bản thể luận, nhận thức luận, logic học, triết học lịch sử, mỹ học, đạo đức học, tâm lý học Thế kỷ XVII – XVIII và đầu thế

kỷ XIX, là thời kỳ cả triết học duy vật và triết học duy tâm đều phát triển mạnh Triết học duy vật đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo

và đạt tới những thành tựu mới trong triết học tự nhiên, triết học xã hội và đỉnh cao là triết học nhân bản của Phoiơbắc nửa đầu thế kỷ XIX Tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức

Sự phát triển của các khoa học cụ thể đã từng bước làm mất đi vai trò của triết học là

“khoa học của các khoa học” mà triết học Hêghen là hệ thống triết học cuối cùng mang tham vọng đó Heghen xem triết học của ông là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức,

6

Trang 7

trong đó các ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của một hệ thống triết học hoàn toàn mới – triết học Mác – Lênin – đỉnh cao của tư duy triết học nhân loại, một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị và triệt

để, vũ khí tư tưởng sắc bén của giai câp vô sản Đoạn tuyệt triệt để với tham vọng trở thành ‘’khoa học của mọi khoa học”, triết học Mác – Lênin xác định đối tượng nghiên

cứu của mình là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật

biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên,

xã hội và tư duy.

III Vấn đề cơ bản của triết học

3.1 Vấn đề cơ bản triết học là gì ?

Vấn đề cơ bản của triết học là những vấn đề xung quanh mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức Qua đó, thấy được khía cạnh cần nghiên cứu Các tồn tại đều mang đến tác động nhất định với tính chất cơ bản này Giải thích cho tất cả các hiện tượng vận động, hình thành và phát triển xung quanh con người P.Ăngghen đã viết :

“Vấn đề cơ bản lớn nhất của mọi triết học , đặc biệt là của vấn đề triết học hiện đại , là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại ”[5;33]

3.2 Các vấn đê cơ bản của triết học

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

Mặt thứ nhất: giữa vật chất và ý thức cái nào có trước , cái nào có sau , cái nào quyết định cái nào ?

Vật chất có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, bởi vì:

Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao, là sự phản ánh của thế giới vật chất, là hình ảnh mang tính chủ quan của thế giới vật chất Vì vậy, nội dung của ý thức

Trang 8

do vật chất quyết định Nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.

Các yếu tố cấu thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức là bản thân thế giới khách quan hoặc các dạng tồn tại của vật chất đều khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.

VD:Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người Nhưng khi bộ não con người bị tổn thương thì hoạt động ý thức cũng

bị rối loạn

Mặt thứ hai : con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không ?

Nhận thức của con người là vô hạn-nhận thức được thế giới vật chất vô hạn, nhưng đó

là nhận thức của con người triết học-con người trừu tượng, của loài người nói chung; còn khả năng ấy tồn tại ở mỗi thế hệ, trong mỗi con người cụ thể, trong mỗi cá nhân thì luôn có giới hạn

IV:Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật :

4.1 Chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội, đó là: sự xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức và thường gắn với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động Chú nghĩa duy tâm và tôn giáo cũng thường có mối liên hệ mật thiết với nhau, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển

chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là "phức hợp những cảm giảc" của cá nhân Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tinh thứ nhất của tinh thần, ý thức nhưng tinh thần, ý thức ấy là tinh thần khách quan, ý thức khách quan có trước, tồn tại độc lập

8

Trang 9

với giới tự nhiên, với con người và thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau, như: "ý niệm tuyệt đối", "tinh thần tuyệt đối" hay "lý tính thế giới", v.v

Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủ yếu là: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con ngời, khẳng định mọi sự vật, hiện tợng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể

Ví dụ quan niệm của Beccơly /Downloads/George_Berkeley.htm

Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trớc và tồn tại độc lập với con ngời, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và t duy Nó thờng đợc mang những tên gọi khác nhau nh ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới

Ví dụ quan niệm của Platon /Downloads/Platon.htm, Hêghen

/Downloads/Georg_Wilhelm_Friedrich_Hegel.htm

VD : Con người ta trước đây vẫn tin vào thần linh và thờ cúng thần linh

4.2 Chủ nghĩa duy vật

Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa duy vật có nguồn gốc từ thực tiễn và sự phát triển của khoa học Chính qua thực tiễn và khái quát hóa thức của nhân loại trong nhiều lĩnh vực, chủ nghĩa duy vật thể hiện là hệ thống tri thức lý luận chung nhất gắn với lợi ích của các lực lượng xã hội tiến bộ, định hướng cho các lực lượng này trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.[5;38]

Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đã phát triển qua ba hình thức, đó là: Chủ nghĩa duy vật chất phác với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học duy vật thời cổ ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp

Trang 10

Chủ nghĩa duy vật siêu hình với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học duy vật thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây Âu (tiêu biểu là chủ nghĩa duy vật cận đại nước Anh và Pháp).[5;35,36]

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập từ giữa thế kỷ XIX [5;37]

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là hình thức - trình độ phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học, vì những lý do sau:

Dó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong việc lý giải các tồn tại trong giới tự nhiên (như chủ nghĩa duy vật siêu hình trước đây) mà còn đứng trên lập trường duy vật trong việc giải thích các hiện tượng, quá trình diễn ra trong đời sống xã hội loài người -

đó chính là những quan điểm duy vật về lịch sử hay chủ nghĩa duy vật lịch sử

Do nó không chỉ đứng trên lập trường duy vật trong quá trình định hướng nhận thức và cải tạo thế giới mà còn sử dụng phương pháp biện chứng trong quá trình ấy Từ đó tạo nên sự đúng đắn, khoa học trong việc lý giải thế giới và cải tạo thế giới

Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của lịch sử triết học và trên cơ sở tổng kết những thành tựu lớn của khoa học, của thực tiễn trong thời đại mới; nó trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp cách mạng và của các lực lượng tiến bộ trong thời đại ngày nay

PHẦN C : KẾT LUẬN

Tóm lại triết học là một hình thái ý thức xã hội , là hạt nhân lí luận của thế giới quan Triết học giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ; giữa tồn tại và tư duy vật chất có trước ý thức có sau vật chất quyết định ý thức Con người có khả năng nhậnn thức được thế giới Triết học theo hai chủ nghĩa duy tâm là nhìn nhậnn thế giới theo cảm tính tin vào ý thức khách quan còn chủ nghĩa duy vật là nhìn nhậnn thế giới bằng thực tiễn , sự phát triển khoa học Là sinh viên củ ngôi trường Phenikaa tự bản thân

em ý thức được tầm quan trọng của triết học nó giúp em hiểu rõ về nguồn gốc lịch sử con người về thế giới bên ngoài cũng như thế giới nôi tâm của con người Đồng thời em cũng

10

Trang 11

rút cho mình được cách nhìn nhận sự việc bằng nhiều khía cạnh khác nhau Để từ đó thấy được lợi ích và công dụng của triết học trong đời sống và áp dụng nó trong quá trình sinh sống và học tập Nói rộng hơn Triết học Mác lênin chính là gốc gác cho lí tưởng hồ chí minh mà chúng ta cần nắm và học hỏi cũng như sửa chữa đúng đắn để đạt được kết quả tốt nhất

Tài liệu tham khảo

[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Tài liệu phục vụ tập huấn chuyên ngành tháng 8 năm 2019

Ngày đăng: 26/03/2023, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w