+ Đổi mới trao đổi công nghệ, sử dụng những công nghệ tiên tiến để tăng năng suất sản xuất và đem đến những hàng hóa có giá trị sử dụng cao, đáp ứng những nhu cầu của khách hàng.. Do đó
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
BÀI TẬP LỚN
Đề tài: Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng
hóa và liên hệ ở Việt Nam hiện nay.
GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY : Đồng Thị Tuyền
SINH VIÊN THỰC HIỆN : Nguyễn Trung Đức
LÊNIN-1 – 1 - 22(N27)
Trang 2MỤC LỤC
TƯ LIỆU THAM KHẢO 3
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 6
1 Hàng hóa là gì? 6
1.2 Thuộc tính của hàng hóa 6
1.3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính hàng hóa 7
1.4 Hai thuộc tính của hàng hóa liên hệ với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam 8
2 Lượng giá trị hàng hóa là gì ? 10
2.1 Thước đo lượng giá trị hàng hóa 10
2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa 11
2.3 Ý nghĩa các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa 14
Trang 3TƯ LIỆU THAM KHẢO
Luật Hoàng Phi :
Bài viết bởi: Nguyễn Thị Huyền - 24/05/2022 HocLuat.vn:
Bài viết bởi: I CAN – 27/04/2018
Studocu:
Bài viết bởi: KiềuAnh Nguyễn
Trang 4MỞ ĐẦU
Trải qua 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế-xã hội Nền kinh tế liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, từ một quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình và một nền kinh tế thị trường năng động Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người năm 2015 đạt 2109 USD, gấp 21 lần năm
1990 Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 14,5% năm
2008 và tiếp tục giảm xuống 7,1% năm 2015 Kinh tế vĩ mô cơ bản duy trì ổn định; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm Tuy nhiên, trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đã bộc lộ những yếu kém nội tại Tăng trưởng kinh tế tuy vẫn ở mức tương đối cao nhưng có xu hướng chậm lại; chất lượng tăng trưởng thấp, thiếu bền vững; hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao Nguyên nhân là do mô hình tăng trưởng theo chiều rộng của nước ta có một số bất cập, không còn khả năng duy trì tăng trưởng cao và bền vững Tăng trưởng chủ yếu nhờ vào tăng vốn đầu tư, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng còn thấp; năng suất lao động còn khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực Thực tế cho thấy việc tăng trưởng theo chiều rộng đang bị thu hẹp dần, thậm chí có yếu tố đã tận khai, nhưng động lực của tăng trưởng theo chiều sâu (hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp) lại chưa cải thiện
Trang 5nhiều Chính vì thế, để tránh nguy cơ tụt hậu và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, trong đó trung tâm là cải thiện năng suất lao động để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong tương lai Để cung cấp thông tin cho quá trình hoạch định chính sách nhằm nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, Tổng cục Thống kê thực hiện Báo cáo“Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” Báo cáo phân tích, đánh giá về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của Việt Nam, đồng thời đề ra các giải pháp nâng cao năng suất lao động của Việt Nam trong thời gian tới Báo cáo được hoàn thành với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Trung tâm Phân tích và Dự báo thuộc Viện Hàn lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam, Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam và một số cơ quan liên quan Nội dung Báo cáo gồm 3 phần chính: Một số vấn đề chung về năng suất lao động; Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động Việt Nam; Các giải pháp nâng cao năng suất lao động của Việt Nam
Trang 6NỘI DUNG
1 Hàng hóa là gì?
Khái niệm: Hàng hóa là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản
xuất hàng hóa, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hóa khi nó
là đối tượng mua bán trên thị trường Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn mong muốn, nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi hay mua bán
1.2Thuộc tính của hàng hóa.
Theo kinh tế chính trị Mác -Lênin, khái niệm hàng hóa được hiểu là sản phẩm của lao động, thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người, thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa được phân thành hai loại:
+ Hàng hóa hữu hình: lương thực, quần áo, tư liệu sản xuất…
+ Hàng hóa vô hình (hàng hóa dịch vụ): dịch vụ vận tải, dịch vụ chữa bệnh… Hàng hóa có hai thuộc tính, cụ thể như sau:
Trang 7– Giá trị sử dụng: là công dụng của hàng hóa nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào
đó của con người như nhu cầu tiêu dùng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng cá nhân + Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
+ Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cái đó như thế nào Các Mác chỉ rõ: Chỉ có trong việc sử dụng hay tiêu dùng, thì giá trị sử dụng mới được thể hiện
– Giá trị trao đổi của hàng hoá:
Giá trị trao đổi: Là một quan hệ về số lượng, thể hiện tỷ lệ trao đổi giữa hàng hóa này với hàng hóa khác
Ví dụ: 2 m vải = 10 kg thóc
Hai hàng hóa so sánh được với nhau thì bản thân 2 hàng hóa phải có một cái chung giống nhau Nếu ta gạt bỏ GTSD của hàng hóa đi, mọi hàng hóa đều là
SP của LĐ Chính lao động là cơ sở của trao đổi và tạo thành giá trị hàng hóa Vậy thực chất của trao đổi sản phẩm là trao đổi lao động
1.3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính hàng hóa.
Hai thuộc tính của hàng hóa có mối quan hệ với nhau vừa thống nhất vừa mâu thuẫn nhau:
– Thống nhất: đã là hàng hóa phải có hai thuộc tính, nếu thiếu một trong hai thuộc tính không phải là hàng hóa
– Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính thể hiện:
+ Với tư cách là GTSD các hàng hóa không đồng nhất về chất
Trang 8Với tư cách là GT các hàng hóa đồng nhất về chất đều là lao động đã được vật hóa
+ Quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về thời gian và không gian, do đó nếu giá trị hàng hóa không được thực hiện sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa
Vậy trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải trả giá trị của nó.Nếu không thực hiện được giá trị sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng
1.4 Hai thuộc tính của hàng hóa liên hệ với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam.
– Về giá trị sử dụng
Đối với nền kinh tế nước ta, sản xuất phải chú trọng đến chất lượng của hàng hóa, mang lại giá trị sử dụng tốt, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đem đến cho khách hàng những trải nghiệm tốt nhất khi sử dụng hàng hóa Giá trị
sử dụng phải làm cho hàng hóa tốt, bền, đẹp, có nhiều công dụng, tính năng Hiện nay, việc sản xuất hàng hóa ở Việt Nam về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Tuy nhiên, bên cạnh đó còn chưa đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Vì vậy, để sản xuất hàng hóa ngày càng nâng cao giá trị sử dụng thì chúng ta cần chú trọng đến những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước Tìm hiểu về những xu thế sản xuất hàng hóa trên thị trường trong và ngoài nước
+ Tiếp tục nâng cao tay nghề, chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc quản
lý, đào tạo nguồn nhân lực cho người lao động
Trang 9+ Đổi mới trao đổi công nghệ, sử dụng những công nghệ tiên tiến để tăng năng suất sản xuất và đem đến những hàng hóa có giá trị sử dụng cao, đáp ứng những nhu cầu của khách hàng
– Về giá trị trao đổi của hàng hóa
Để thực hiện được giá trị trao đổi của hàng hóa hay nói cách khác là muốn bán được hàng hóa sản xuất ra thì cần phải làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội mới có lãi Do đó để làm được đều này cần thực hiện những biện pháp như sau:
+ Tiến hành đổi mới kỹ thuật công nghệ, sử dụng những công nghệ tiến tiến vào quá trình sản xuất làm tăng năng suất sản xuất và đem đến những chất lượng hàng hóa cao, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời tối đa hóa chi phí sản xuất làm tăng giá trị trao đổi hàng hóa
– Về giá trị sử dụng
Đối với nền kinh tế nước ta, sản xuất phải chú trọng đến chất lượng của hàng hóa, mang lại giá trị sử dụng tốt, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đem đến cho khách hàng những trải nghiệm tốt nhất khi sử dụng hàng hóa Giá trị
sử dụng phải làm cho hàng hóa tốt, bền, đẹp, có nhiều công dụng, tính năng Hiện nay, việc sản xuất hàng hóa ở Việt Nam về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Tuy nhiên, bên cạnh đó còn chưa đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Vì vậy, để sản xuất hàng hóa ngày càng nâng cao giá trị sử dụng thì chúng ta cần chú trọng đến những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước Tìm hiểu về những xu thế sản xuất hàng hóa trên thị trường trong và ngoài nước
Trang 10+ Tiếp tục nâng cao tay nghề, chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc quản
lý, đào tạo nguồn nhân lực cho người lao động
+ Đổi mới trao đổi công nghệ, sử dụng những công nghệ tiên tiến để tăng năng suất sản xuất và đem đến những hàng hóa có giá trị sử dụng cao, đáp ứng những nhu cầu của khách hàng
– Về giá trị trao đổi của hàng hóa
Để thực hiện được giá trị trao đổi của hàng hóa hay nói cách khác là muốn bán được hàng hóa sản xuất ra thì cần phải làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội mới có lãi Do đó để làm được đều này cần thực hiện những biện pháp như sau:
+ Tiến hành đổi mới kỹ thuật công nghệ, sử dụng những công nghệ tiến tiến vào quá trình sản xuất làm tăng năng suất sản xuất và đem đến những chất lượng hàng hóa cao, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời tối đa hóa chi phí sản xuất làm tăng giá trị trao đổi hàng hóa
2 Lượng giá trị hàng hóa là gì ?
Khái niệm: Lượng giá trị của hàng hóa là một khái niệm trong kinh tế
chính trị Mac-Lenin chỉ về một đại lượng đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó, lượng lao động tiêu hao đó được tính bằng thời gian lao động, cụ thể là thời gian lao động xã hội cần thiết Lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá trị của hàng hóa
2.1 Thước đo lượng giá trị hàng hóa.
Để đo lượng lao động hao phí (lượng giá trị của hàng hóa) để tạo ra hàng hóa người ta thường dùng bằng thước đo thời gian
Trang 11Ví dụ : Người thợ mộc tốn 6h để tạo ra sản phẩm, còn người thợ may chỉ tốn 4h để tạo ra sản phẩm (lượng lao động hao phí)
Trong thực tế, xét một loại hàng hóa đưa ra thị trường có rất nhiều người cùng sản xuất, nhưng mỗi người sản xuất có điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề khác nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của học là khác nhau Vì vậy nếu lấy thời gian lao động cá biệt của từng người sản xuất
để đo lượng giá của hàng hóa thì sẽ có nhà sản xuất này sẽ tốn nhiều thời gian (lười biếng, vụng về) để sản xuất ra hàng hóa hơn nhà sản xuất kia dẫn đến kết luận hàng hóa đó có càng nhiều giá trị ?
Ví dụ : Hai công ty may đều sản xuất ra áo, công ty 1 thì tốn 4h để sản xuất ra
áo, công ty 2 tốn 6h đồng hồ để sản xuất ra áo Kết luận công ty 2 có lượng giá trị của hàng hóa nhiều hơn công ty 1 (kết luận sai)
Mác đã viết : “ Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động
xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy.”
Qua câu nói của Mác thì thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hòan cảnh xã hội nhất định
Ví dụ : Các công ty may hiện nay thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra 1 cái áo là 4h
Thời gian lao động xã hội cần thiết được xác định thông qua giá cả thị trường
2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa.
Thứ nhất: Năng suất lao động
Trang 12– Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động Nó được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
– Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại
– Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
+ Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân
+ Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ
+ Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất
Thứ hai: Cường độ lao động
– Cường độ lao động là đại dương chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian, nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh trong một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên
– Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi Tăng cường độ lao động thực
Trang 13chất cũng như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động trong một đơn vị sản phẩm không đổi
– Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau là đều dẫn đến lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên Nhưng chúng khác nhau là tăng năng suất lao động làm cho lượng sản phẩm (hàng hóa) sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống
Tăng năng suất lao động có thể phụ thuộc nhiều vào máy móc, kỹ thuật, do
đó, nó gần như là một yếu tố có “sức sản xuất” vô hạn, còn tăng cường độ lao động, làm cho lượng sản xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị của một đơn vị hàng hóa không đổi Tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố của
‘sức sản xuất” có giới hạn nhất định Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có
ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế
Thứ ba: Tính chất của lao động
– Tính chất của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa Theo tính chất của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
+ Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể làm được
+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới
có thể làm được
– Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy
Trang 14về lao động đơn giản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng những hoạt động sản xuất hàng hóa, hình thành những hệ số nhất định thể hiện trên thị trường
Ngoài việc chia sẻ về các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa chúng tôi còn làm rõ ý nghĩa của chúng qua nội dung dưới đây của bài
viết, mời Quý vị tiếp tục theo dõi
2.3 Ý nghĩa các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa.
– Thước đo lượng giá trị của hàng hóa: Đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa bằng thước đo thời gian như một giờ lao động, một ngày lao động…
Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định Trong thực tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của
họ khác nhau
– Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra Vậy phải chăng lao động cá biệt nào càng lười biếng, vụng về, phải dùng nhiều thời gian hơn để làm ra hàng hóa, thì hàng hóa đó càng có nhiều giá trị? C.Mác viết: “Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy”
– Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với mộ trình độ kỹ thuật trung bình trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình
so với hoàn cảnh xã hội nhất định Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức khác biệt nhau, thì thông