BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA oOo BÀI LUẬN NHÓM 4 NĂM 2022 Tên đề tài So sánh con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước đó?Tại sao trong quá trình tìm đườ[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA
-oOo -BÀI LUẬN NHÓM 4 NĂM 2022
Tên đề tài: So sánh con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước đó?Tại sao trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc lại lựa chọn con đường cách
mạng vô sản?
Giảng viên:
Lớp: Lịch sử Đảng
HÀ NỘI, 2022
Trang 2MỤC LỤC
I Tổng quan 3
1 Tiểu sử Nguyễn Ái Quốc từ năm 1890 đến năm 1920 3
2 Tình hình đất nước Việt Nam cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 4
II So sánh con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước đó? 7
1 Con đường cứu nước của những lớp người đi trước: 7
2 Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc 8 III Tại sao trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc lại lựa chọn con đường cách mạng vô sản? 9
IV Ý nghĩa lịch sử của sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản 12
V Tài liệu tham khảo 15
Trang 3I Tổng quan
1 Tiểu sử Nguyễn Ái Quốc từ năm 1890 đến năm 1920
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19/5/1890 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương
có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, Hồ Chí Minh sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại
tự do, hạnh phúc cho đồng bào
Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc
Từ năm 1912 - 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động Qua thực tiễn, Hồ Chí Minh cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ Hồ Chí Minh sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và tích cực hoạt động nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp
Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách đòi quyền tự
do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp
Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Trang 42 Tình hình lịch sử cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền Các đế quốc đua nhau xâm lược các nước châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh Sự xâm lược và bóc lột thực dân làm cho nhân dân các thuộc địa rất khổ cực Mâu thuẫn giữa các đế quốc với các dân tộc thuộc địa và mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau rất gay gắt
a) Tình hình thế giới
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền Các đế quốc đua nhau xâm lược các nước châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh Sự xâm lược và bóc lột thực dân làm cho nhân dân các thuộc địa rất khổ cực Mâu thuẫn giữa các đế quốc với các dân tộc thuộc địa và mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau rất gay gắt
Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc đã dẫn đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 — 1918); để lại cho nhân dân thế giới những hậu quả rất nặng nề Thực dân Pháp trút gánh nặng, tăng cường bóc lột, đàn áp cách mạng các nước thuộc địa
Đầu thế kỷ XX, V.I Lênin (1870 - 1924) đã bảo vệ và phát triển học thuyết Mác, đưa
ra lý luận về đảng vô sản kiểu mới của giai cấp công nhân, về cách mạng vô sản trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc; về nhiệm vụ kinh tế và chính trị trong xây dựng chủ nghĩa xã hội Sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 làm rung chuyển thế giới, thức tỉnh hàng triệu người, mở ra thời đại cách mạng chống đế quốc và giải phóng dân tộc Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản, trung tâm lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới được thành lập, thúc đẩy sự ra đời các đảng cộng sản và dẫn đến cao trào cách mạng thế giới (1919 - 1923) Tháng 7/1920 V.I Lênin gửi tới tới các Đảng Cộng sản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa Tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc được đọc và tìm thấy ở bàn Luận cương của Lênin con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam
Cuộc cách mạng Tân Hợi (10/1911) ở Trung Quốc, công cuộc Canh tân đất nước của Nhật Bản cuối thế kỷ XIX; phong trào “bất bạo động“ của Đảng Quốc Đại ở Ấn Độ lãnh đạo những năm đầu thế kỷ XX đã ảnh hưởng đến tư tưởng, thu hút sự quan tâm của nhiều người yêu nước Việt Nam
Trang 5b) Tình hình trong nước
Sự thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp: đêm 31/8/1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Tháng 6/1884, triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt, từ đó Pháp thiết lập sự thống trị ở toàn Việt Nam
Tư bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập các đồn điền cao su, cà phê, chè ) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sẳt, thiếc, vàng ) để thu lợi nhuận nhiều và nhanh Tư bản Pháp xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi Kết quả là nền kinh tế nước ta có
sự phát triển mức độ nào đó theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp
Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch văn hoá; xoá bỏ hệ thống giáo dục phong kiến, thay bằng chế độ giáo dục thực dân hạn chế Pháp mở nhà tù, trại giam nhiều hơn trường học; khuyến khích các hoạt động mê tín, các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, hạn chế xuất bản sách báo, gây tâm lý tự ti dân tộc Kết quả là hơn 90% nhân dân ta bị mù chữ, bị bưng bít mọi thông tin tiến bộ từ bên ngoài
Sự thay đối tính chất xã hội và cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam:
Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam đã thay đổi Việt Nam
từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến
Trong xã hội Việt Nam nối lên hai mâu thuẫn cơ bản Mâu thuẫn cơ bản thứ nhất đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam, đa số là nông dân với địa chủ phong kiến
Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời giải quyết Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam nhưng độc lập dân tộc là yêu cầu cơ bản, chủ yếu nhất vì phản ánh nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc Việt Nam ở đầu thế kỷ XX
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản:
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến:
Tiêu biểu nhất là phong trào cần Vương do vua Hàm Nghi phát động Phong trào cần Vương diễn ra từ năm 1885 đến năm 1896 với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa vũ trang
Trang 6Nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885 - 1896); cuộc khởi nghĩa Ba Đình do Phạm Bành và Đinh Công Tráng tổ chức (1885 - 1886); cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật đứng đầu (1885 - 1892) Kéo dài và quyết liệt nhất là phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884 — 1913) v.v
Các cuộc khởi nghĩa vũ trang đó tiếp tục khẳng định tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống xâm lược của dân tộc ta và làm cho thực dân Pháp tổn thất nặng nề, không ổn định thống trị hàng chục năm trời
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến do thiếu đường lối đúng đắn Giai cấp phong kiến đã không đủ sức lãnh đạo phong trào yêu nước Việt Nam đi đến thành công
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dẫn chủ tư sản:
Đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng các cuộc cách mạng tư sản bên ngoài, phong trào yêu nước Việt Nam diễn ra sôi nổi theo hai khuynh hướng chính:
Khuynh hướng bạo động vũ trang do Phan Bội Châu lãnh đạo Ông tổ chức phong trào Đông Du (1906 — 1908) chủ trương nhờ Nhật Bản giúp đỡ Phong trào du học diễn ra gần hai năm, Pháp - Nhật Bản thoả hiệp trục xuất Phan Bội Châu và du học sinh Việt Nam Phong trào Đông Du thất bại
Sau khi cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) thắng lợi, Phan Bội Châu về Trung Quốc thành lập Việt Nam Quang phục Hội, chủ trương vũ trang chống Pháp ở trong nước, khôi phục độc lập dân tộc
Khuynh hướng cải cách dân chủ do Phan Châu Trinh (1782 - 1926) tổ chức Những năm 1906 - 1908, ông chủ trương cải cách dân chủ nâng cao dân trí, cổ vũ tinh thần, cải thiện đời sống nhân dân bằng con đường bất bạo động, công khai khai hoá cải cách, chấn hưng văn hóa, công nghệ, chống mê tín dị đoan
Các phong trào khác như phong trào dạy học theo lối mới ở Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hà Nội (1907); phong trào biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ (1908); phong trào đấu tranh của Đảng Lập Hiến (1923), Đảng Thanh Niên (1926) Mạnh mẽ nhất là phong trào của Việt Nam quốc dân Đảng (1929- 1930)
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản phản ánh tinh thần dân tộc của một bộ phận trí thức, tư sản Việt Nam nhưng tất cả đều thất bại Nguyên nhân thất bại chính là do thiếu đường lối đúng đắn Địa vị kinh tế, chính trị non yếu của giai cấp tư sản Việt Nam đã không đủ sức lãnh đạo cách mạng
Trang 7Tóm lại, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam đang ở thời kỳ khủng hoàng, bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam ví như “trong đêm tối không có đường ra”
II So sánh con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trước đó?
1 Con đường cứu nước của những lớp người đi trước:
Phan Bội Châu chọn con đường đi sang phương Đông (Nhật Bản, Trung Quốc), đối tượng mà ông gặp gỡ là những chính khách Nhật Bản để xin họ giúp Việt Nam đánh Pháp, chủ trương đấu tranh bạo động
Phan Châu Trinh chủ trương cứu nước bằng biện pháp cải cách, dựa vào Pháp để đánh
đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại, giành độc lập dân tộc
Các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến
Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước
Thực tế thất bại của lớp cha ông đã chỉ ra rằng: Sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến
và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra là lãnh đạo toàn dân chống Pháp, giành lại độc lập dân tộc Cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, tức là thiếu
hệ thống lý luận cách mạng tiên tiến của giai cấp công nhân có khả năng dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam thành công Câu hỏi của "bài toán thế kỷ" đặt
ra cho dân tộc ta: Ai là người lãnh đạo thành công nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam? đến lúc này vẫn chưa có lời giải
Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… nói lên một
sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ
Trang 8thống thế giới Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết
2 Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
Để tìm lời giải cho câu hỏi này, hẳn ngoài sự tương đồng giữa Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc với các nhà yêu nước cùng sang phương Tây tìm đường cứu nước, chúng ta phải xem xét thấu đáo những điều khác biệt trong cách đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc với các nhà yêu nước khác cùng thời Khác biệt thứ nhất: Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc suốt gần 10 năm hoàn toàn sống bằng lao động, với đủ mọi nghề kể cả những nghề cực nhọc nhất Tự mình lao động để sống, sống để học hỏi, sống để tìm cho kỳ được “Cái cần thiết cho chúng ta”,
“Con đường giải phóng chúng ta” Trong một con người Nguyễn Tất Thành - Nguyễn
Ái Quốc có cùng 2 thân phận: người dân mất nước và người lao động bị áp bức Điều này hẳn đem đến cho Nguyễn Tất Thành nhận thức sâu rộng hơn sự gắn bó mật thiết giữa yêu nước với thương dân, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng người lao động Khác biệt thứ hai: Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc không chỉ sang Pháp, ở Pháp
mà còn sang Anh, sang Mỹ và một số nước châu u Còn đi đến nhiều nước khác ở châu Phi có cùng thân phận thuộc địa “được” văn minh phương Tây “khai hóa” như nước Việt Nam của mình Hẳn nhờ đó, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã thấu hiểu sâu sắc, cặn kẽ về điều gọi là “Văn minh phương Tây”, về thân phận của dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới Vượt ra ngoài tầm nhìn quốc gia dân tộc, Người vươn lên tầm nhìn nhân loại
Khác biệt thứ ba: Hoàn toàn không đứng ngoài để quan sát, tìm tòi và học hỏi, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc dấn thân vào trung tâm cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, vào trung tâm cuộc đấu tranh của phong trào công nhân ngay giữa lòng châu u tư bản chủ nghĩa Nhờ đó, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc nhận ra mối quan hệ giữa con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam với sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới Đặc biệt, nhận ra mối quan hệ giữa đấu tranh giải phóng dân tộc với đấu tranh giải phóng giai cấp
Nhận ra các mối quan hệ ấy, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc giác ngộ sâu sắc khẩu hiệu của Lê nin “Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại”
Và cũng từ đó, với Người, cuộc đấu tranh để giành lại độc lập cho dân tộc không thể
“đứng một mình” mà nhất thiết phải là một bộ phận của cuộc đấu tranh của phong trào
Trang 9giải phóng dân tộc Nhất thiết phải đặt công cuộc giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới
Khác biệt thứ tư: Học từ và trong thực tiễn đấu tranh, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đặc biệt tự vượt lên để học lý luận từ các nhà cách mạng mà nhân loại có từ thế
kỷ XVIII, thế kỷ XIX, thế kỷ XX Người không hề dị ứng với bất cứ học thuyết cách mạng nào, mà luôn tìm cho được những hạt nhân hợp lý từ các học thuyết để làm giàu tri thức lý luận của mình Người kết hợp chặt chẽ và nhuần nhuyễn việc học trong sách với học trong thực tiễn đấu tranh
Nhờ kiên tâm và kiên trì tìm tòi học hỏi lý luận, nhờ phương pháp học hỏi khoa học như vậy, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã đến được với Chủ nghĩa Mác-Lê nin, đến được với học thuyết khoa học và cách mạng của thời đại Chính đó là nền tảng lý luận để từ tầm nhìn truyền thống - dân tộc nâng lên tầm nhìn thời đại - quốc tế
III Tại sao trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc lại lựa chọn con đường cách mạng vô sản?
Những năm 20 của thế kỷ XX là những năm rất quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước, có thể gọi là những năm bản lề trong lịch sử cận đại Việt Nam gắn chặt với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc” Đây là thời kỳ đánh dấu sự tìm ra con đường cứu nước đúng đắn của Người cho dân tộc Việt Nam và bắt đầu hướng dân tộc Việt Nam
đi theo con đường đó - con đường cách mạng vô sản Vậy tại sao Nguyễn Ái Quốc lại lựa chọn con đường cách mạng vô sản trong quá trình tìm đường cứu nước và nội dung của con đường cách mạng vô sản (trong giai đoạn hoạt động 1920-1927) ra sao? Nguyễn Ái Quốc (1890-1969) sinh ra trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước, tại một vùng quê giàu tinh thần cách mạng ý chí quyết tâm tìm đường cứu nước của Người đã có từ rất sớm
Ngay từ khi còn rất trẻ, Nguyễn Ái Quốc đã biết đến con đường cứu nước theo ý thức
hệ phong kiến, hay theo tư tưởng dân chủ tư sản với hai khuynh hướng bạo động của Phan Bội Châu và ôn hoà của Phan Châu Trinh, rồi sau này trên bước đường hoạt động đầy gian khổ ở nước ngoài (1911-1919), Người đã tiếp xúc với nhiều con đường, cách thức đấu tranh của các dân tộc thuộc địa khác hoặc của ngay bản thân giai cấp công nhân Đến năm 1920 Nguyễn Ái Quốc bắt đầu biết đến và tiếp xúc với con đường cách mạng vô sản qua “Sơ thảo luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân Đạo - cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Pháp Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc càng củng cố niềm tin của mình vào con đường cách đó đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa Từ đây, Người hoàn toàn tin và đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, đi theo cách mạng tháng Mười Nga
Trang 10Cuối cùng, sau một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu nhiều con đường giải phóng dân tộc khác nhau: con đường theo ý thức hệ phong kiến, ý thức hệ tư sản ý thức hệ vô sản Nguyễn Ái Quốc quyết định chọn con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con đường này là vì:
Thứ nhất, đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, con đường cứu nước của Việt Nam đi vào giai đoạn bế tắc Những con đường cứu nước mà Người biết đến từ rất sớm đều bị thất bại do nó có nhiều hạn chế, sai lầm lớn: con đường cứu nước theo ý thức hệ phong kiến đã thất bại Năm 1897, ngọn lửa Hương Sơn tắt, phong trào Cần Vương thất bại chấm dứt thời kỳ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu mang đậm tư tưởng Nho giáo Đến thế kỷ XX, cầm vũ khí đánh Pháp tương đối quy mô chỉ còn có Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế Mà Hoàng Hoa Thám thì không thể đề ra cho mình một phương lược nào mới, nếu thắng lợi cũng lại thực hiện tư tưởng “khôi phục Đại Nam
y cựu” mang nặng cốt cách phong kiến Trong khi lịch sử đã vượt qua mức ấy rồi, yêu cầu chính trị bắt đầu rộng hơn, nước Việt Nam độc lập trở lại không thể là một nước quân chủ chuyên chế nữa Xa xa, Nhật Bản đã duy tân trở nên cường thịnh, gần hơn tri giả Trung Quốc đang xôn xao bàn luận tư tưởng Âu Mỹ, tiếng dội đến Việt Nam” Thất bại của phong trào này đầu thế kỷ XX chứng tỏ sự phá sản của chủ nghĩa trung quân sự thất bại hoàn toàn của nó trước các nhiệm vụ lịch sử Nguyễn Tất Thành xuất thân trong một gia đình nhà Nho nhưng không bị ràng buộc bởi tư tưởng trung quản, kiên quyết không lựa chọn con đường này vì nó không thể giải phóng dân tộc Việt Nam
Con đường cứu nước theo hệ ý thức tư sản cũng thể hiện sự bất lực trước những nhiệm vụ lịch sử Ngọn cờ tiên phong được Duy tân hội phát lên đó là vào đầu thế kỷ
XX với tư tưởng: phải duy tân không duy tân thì không quang phục được Và chỉ có một con đường duy tân sang Nhật học hỏi (Đông du) cũng chính là đi cầu viện Điều này không khác nào là “đuổi hùm cửa trước rước sói” cửa sau Kết quả là Phan Bội Châu nhận ra rằng: “đồng văn đồng chủng” không bằng “đồng bệnh”, tư tưởng chủng tộc lùi bước trước tư tưởng dân tộc Trái ngược với đường lối của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chủ trương cách mạng theo đường lối ôn hoà Tư tưởng cốt lõi là “ỹ Pháp cầu tiến bộ”, dựa vào Pháp mà đi lên Song dù có bạo động hay bất bạo động, dù theo đường lối của Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh thì kết quả cuối cùng đều bị thực dân Pháp phá hoại, bắt giam những người lãnh tụ hoặc tìm mọi cách ly khai họ ra khỏi phong trào và lợi dụng tư tưởng của họ Nhận thức được những sai lầm trong con đường cứu nước của cả hai khuynh hướng trên Nguyễn Ái Quốc đã không tham gia phong trào Đông du (1905) khi cụ Phan Bội Châu muốn đưa ông và một số thanh niên sang Nhật
Như vậy, dù rất kính trọng các bậc anh hùng tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không bằng lòng với đường đi nước bước của họ và không muốn đi theo vết mòn lịch sử