1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quan điểm của triết học mác lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức từ quan điểm đó liên hệ với thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở việt nam hiện nay

14 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của triết học Mác Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức từ quan điểm đó liên hệ với thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Đức Tùng
Người hướng dẫn Đồng Thị Tuyền
Trường học Trường Đại Học Phenikaa
Chuyên ngành Triết học Mác - Lê-nin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUTrong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN



BÀI TẬP LỚN

Đề 115: Quan điểm của triết học Mác Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức? Từ quan điểm đó liên hệ với thực trạng và giải pháp xóa đói

giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay?

Họ tên sinh viên: Nguyễn Đức Tùng

MSSV: 21011246

Giảng viên hướng dẫn: Đồng Thị Tuyền

Lớp học phần: Triết học Mác - Lê-nin_1_2(15CHUNG).3_LT Năm học: 2021 - 2022

Hà Nội, tháng 7 năm 2022



Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG CHÍNH 2

CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC 2

I Khái quát về thực tiễn 2

1 Thực tiễn là gì? 2

2 Các loại hình thức cơ bản của thực tiễn và vai trò của mỗi hình thức 2

II Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 3

1 Thực tiễn là cơ sở, động lực, chủ yéu và trực tiếp của nhận thức 3

2 Thực tiễn là mục đích của nhận thức 4

3 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý 5

III Ý nghĩa phương pháp luận 5

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ ĐỂ LIÊN HỆ TỚI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

I Thực trạng hiện nay 6

II Các giải pháp 9

KẾẾT LU N Ậ 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận về thực tiễn đặc biệt là vai trò to lớn của thực tiễn đối với nhận thức và vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng

Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách dời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học như lý luận thực tiễn, vai trò của thực tiễn đối với nhận thức luôn là cơ sở và phương hướng là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp các vấn đề do cuộc sống đặt ra Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải về thế giới mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động

Dựa trên thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của triết học Mặc- Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

đã để ra mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng dẫn để xây dựng và phát triển xã hội phù hợp với hoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khuyết điểm không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, thực hiện xóa đói giảm nghèo, từng bước đưa đất nước tiến kịp trình độ với các nước trong khu vực và trên thế giới về mọi mặt Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với nắm bắt các quy luật khách quan trọng vận hành nền kinh tế nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là quá trình đổi mới hiện nay

Trang 4

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ VAI TRÒ

CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC

I Khái quát về thực tiễn

1 Thực tiễn là gì?

Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

2 Các loại hình thức cơ bản của thực tiễn và vai trò của mỗi hình thức Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của

thực tiễn Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình

Hoạt động chính trị - xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người, các

tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị-xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển

Hoạt động thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của thực

tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu Dạng hoạt động này có vai trò trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.Ngoài ra, các hoạt động thực tiễn không cơ bản như giáo dục, pháp luật, đạo đức v.v được mở rộng và có vai trò ngày càng tăng đối với sự phát triển của xã hội

Trang 5

II Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

1 Thực tiễn là cơ sở, động lực, chủ yéu và trực tiếp của nhận thức

Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn Nhận thức ngay từ đầu phải xuất phát từ thực tiễn và do thực tiễn quy định Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức của con người được hình thành và phát triển Qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tỉnh, những quy luật

để con người nhận thức chúng Từ những tài liệu cảm tính mà ban đầu thu nhận được con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trìu tượng hỏa để phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, từ đó xây dựng thành lý luận

Như vậy thực tiễn đã cung cấp những tài liệu sinh động cho nhận thức mà không có chủng thì không có nhận thức Lịch sử phát triển khoa học đã chứng minh rằng, mọi trí thức dù trực tiếp hay gián tiếp suy cho cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Không chỉ cung cấp tài liệu cho nhận thức, thực tiễn còn làm xuất hiện những nhu cầu, đề ra nhiệm vụ và cung cấp những công cụ, phương tiện để nhận thức giải quyết

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người biến đổi thế giới đồng thời biến đổi cả bản thân mình, các giác quan phát triển hoàn thiện tạo điều kiện cho nhận thức ngày càng tốt hơn Thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã chế tạo ra công cụ, phương tiện và thông qua các giác quan, con người có nhận thức Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá thế giới, làm phong phủ thêm tri thức của mình Thực tiễn còn đề ra nhu cầu nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học, khoa học ra đời cũng chính vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người

Trang 6

2 Thực tiễn là mục đích của nhận thức

Mục đích cuối cùng của nhận thức là giúp con người hoạt động thực tiễn nhằm cải biến thế giới Nhấn mạnh vai trò này của thực tiễn Lênin đã cho rằng:

“Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của

lý luận về nhận thức”

Trong quá trình giả quyết những nhiệm vụ của thực tiễn, nhận thức không ngừng phát triển Với thực tiến xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trước hết vì mục đích của nhân dân lao động, của giai cấp công nhân Nếu không phải vì mục đích của nhân dân, sự không có động lực phát triển, không huy động được sức mạnh toàn dân để thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước Chính nhu cầu của đời sống thúc đẩy khoa học phát triển Nhu cầu đòi hỏi phải

có tri thức mới và tổng kết kinh nghiêm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời

và phát triển của các ngành khoa học Ăng ghen đã rất đúng khi nói ngay từ đầu

sự phát sinh và phát triển của các ngành khoa học đã do sản xuất quy định Ngày nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp, nó đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu để đáp ứng những nhu cầu đó Đó là những vấn đề về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường phương pháp xây dựng nó Vấn đề và nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thuận lợi và thách thức khác nhau Vấn đề làm sao đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp trong tương lai Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chũ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và nhiều vấn đề quan trọng nữa cũng đặt ra và yêu cầu phải giải quyết Nghiên cứu sáng tỏ những vấn đề trên, nghĩa là nhận thức đóng vai trò quan trọng góp phần đắc lực thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở nước ta

Trang 7

3 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.

Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai Khi nhận thức đúng thì nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại Như vậy, thực tiễn là thước

đo chính xác nhất để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức, xác nhận tri thức đó có phải là chân lý hay không Mác đã từng khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”

III Ý nghĩa phương pháp luận

Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu:

– Phải quán triệt quan điểm thực tiễn: việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn

– Nghiên cứu lý luận phải đi đôi với thực tiễn; học phải đi đôi với hành

Xa rời thực tiễn dẫn đến bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu – Nhưng không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng

Trang 8

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ ĐỂ LIÊN HỆ TỚI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN

NAY

Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức Đó là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn – nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít

Sự nghiệp đổi mới với tính chất mới mẻ và khó khăn của nó đòi hỏi phải có lý luận khoa học soi sáng Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và điều kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn Tuy nhiên, lý luận không bỗng nhiên mà có và cũng không thể chờ chuẩn bị xong xuôi về lý luận rồi mới tiến hành đổi mới Hơn nữa, thực tiễn lại là cơ sở để nhận thức, của

lý luận Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có cơ sở đề khái quát thành lý luận

I Thực trạng hiện nay

Ở Việt Nam , đói, nghèo vẫn đang là vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế

-xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong gần 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn nước ta, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được thành tựu đáng kể,

có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng, phát huy được bản chất tốt đẹp của dân tộc ta và góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước bền vững Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh trong khoảng thời gian

5 năm từ 17,2% năm 2001 với 2,8 triệu hộ, xuống còn 8,3% năm 2004 với 1,44 triệu hộ, bình quân mỗi năm giảm 34 vạn hộ, đến cuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ "Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một

Trang 9

trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế" Đó là đánh giá trong "Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004" của Ngân hàng thế giới Với sự phấn đấu không mệt mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong nhiều năm qua, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được một số thành tựu quan trọng, nhưng phía trước vẫn còn không ít khó khăn và thách thức:

- Thứ nhất là, về nhận thức, một bộ phận không nhỏ người nghèo và địa phương nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, nên chưa chủ động vượt lên để thoát nghèo

- Thứ hai là, sự đánh giá tỷ lệ nghèo còn thấp hơn thực tế ở một vài địa phương, nên một bộ phận người thực sự nghèo chưa được tiếp cận với các chương trình xóa đói, giảm nghèo

- Thứ ba là, nguồn lực huy động cho chương trình xóa đói, giảm nghèo còn khiêm tốn Hằng năm, ngân sách nhà nước hỗ trợ cho chương trình xóa đói, giảm nghèo mới chỉ được bình quân khoảng 60.000 đồng/người Trong khi đó, một số địa phương chưa chủ động huy động hoặc huy động chưa tương xứng với tiềm năng của nguồn lực tại chỗ; chưa lồng ghép hài hòa các loại nguồn lực trên cùng địa bàn và chưa huy động được sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp, các tổ chức, các cộng đồng và các cá nhân có điều kiện vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo Vì vậy, chưa đáp ứng được nhu cầu cần hỗ trợ của người nghèo để đủ điều kiện thoát nghèo bền vững, dẫn đến mục tiêu thoát nghèo khó thực hiện được

- Thứ tư là, một số cơ chế, chính sách và biện pháp hỗ trợ xóa đói giảm nghèo chưa thật phù hợp, việc tổ chức thực hiện còn bất cập, còn mang tính bao cấp, nên không tạo được động lực để người nghèo chủ động vượt nghèo Biện pháp hỗ trợ làm nhà ở cho đồng bào nghèo chưa thật phù hợp với nhu cầu và tập quán của từng dân tộc, từng địa phương; có địa phương chưa chú ý đầy đủ đến

Trang 10

quy hoạch sản xuất lâu dài và môi trường sống của nhân dân trong khi xây dựng các khu dân cư vượt lũ; mức chi phí cho khám, chữa bệnh còn thấp; chính sách trợ cước, trợ giá cũng còn bất hợp lý; mức vốn vay tín dụng ưu đãi còn thấp và chưa thật phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh; cơ chế phân bổ vốn còn mang tính bình quân, v.v Ở một số nơi, nhất là vùng cao, vùng sâu thông tin đến với người dân chưa đầy đủ nên nhận thức về các chính sách của Nhà nước đối với người nghèo còn hạn chế Những khiếm khuyết nói trên đã làm cho hiệu quả của chương trình xóa đói, giảm nghèo bị giảm bớt một phần

- Thứ năm là, việc tổ chức thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo không đồng đều ở một số địa phương Đội ngũ cán bộ vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về năng lực Phần lớn cán bộ thực thi chương trình ở cấp xã đều kiêm nhiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên Việc theo dõi, giám sát chương trình chưa có hệ thống và đồng bộ Công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá chương trình chủ yếu dựa trên các báo cáo với lượng thông tin chưa đầy đủ

Mặc dù, trong những năm qua số hộ nghèo trong cả nước đã giảm mạnh, song trên thực tế công cuộc xóa đói, giảm nghèo còn vô cùng gian nan Nguy cơ tái nghèo có thể tăng do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; do đầu tư phát triển kinh tế giữa các vùng chưa đồng đều; cơ hội về việc làm của người nghèo ngày càng khó khăn hơn do đổi mới công nghệ trong sản xuất, yêu cầu trình độ của người lao động ngày càng cao Đói nghèo trở lại là vấn đề luôn rình rập một bộ phận khá lớn số hộ nghèo vừa vượt khỏi ngưỡng nghèo Chỉ cần gặp thiên tai, dịch bệnh, đau ốm hoặc biến động giá cả, thì các hộ này lại dễ rơi vào tình trạng đói nghèo

Trang 11

II Các giải pháp

1.Dựa trên sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm để nâng cao đời sống cho người nghèo

Bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững là điều kiện tiên quyết để giảm nghèo Kinh nghiệm ở một số nước và thực tế ở nước ta cho thấy trong gần một thập kỷ vừa qua, nước ta đạt được thành tựu tích cực về giảm nghèo là dựa trên sự tăng trưởng kinh tế cao và liên tục Để bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, vấn đề cải cách cơ cấu kinh tế và bộ máy quản lý nhà nước đã trở thành một đòi hỏi cấp thiết trên tất cả các mặt chủ yếu như thể chế kinh tế, thúc đẩy thị trường phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu, cải thiện môi trường đầu tư, cải cách mạnh mẽ khu vực kinh tế nhà nước, xóa bỏ bao cấp, hỗ trợ phát triển mạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cải cách hành chính và các hoạt động phục

vụ đầu tư, sản xuất kinh doanh,v.v

2 - Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục,

y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường

Đẩy mạnh xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, hệ thống điện, trường học, cơ sở khám chữa bệnh và các thiết chế văn hóa cho các địa phương nghèo để sớm khắc phục tình trạng thiếu điện, thiếu nước sạch, thiếu thuốc chữa bệnh, thiết bị y tế nghèo nàn, lạc hậu, đồng thời thực hiện đồng bộ các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt chú trọng đào tạo, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế và cung cấp đầy đủ thuốc chữa bệnh, phù hợp với thu nhập của người dân Kết hợp chặt chẽ chương trình xóa đói, giảm nghèo với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường

Ngày đăng: 26/03/2023, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w