Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội và quỹ Bảo hiểm xã hội Biên tập bởi Đại Học Kinh Tế Quốc Dân www princexml com Prince Non commercial License This document was created with Prince, a great way o[.]
Trang 1Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội
và quỹ Bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Trang 2Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội
và quỹ Bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Các tác giả:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Phiên bản trực tuyến:
http://voer.edu.vn/c/66c99492
Trang 3MỤC LỤC
1 Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động
2 Khái niệm, đối tượng và chức năng của Bảo hiểm xã hội
3 Tính chất của Bảo hiểm xã hội
4 Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
5 Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội
6 Khái niệm, đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
7 Phân loại quỹ bảo hiểm xã hội
8 Tạo nguồn
9 Sử dụng nguồn
10 Cơ quan tổ chức thực hiện
Tham gia đóng góp
1/30
Trang 4Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao
động
Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động.
Xã hội loài người phát triển thông qua quá trình lao động và sản xuất, thế nhưng chính quá trình ấy một mặt đã đưa con người tới bước phát triển vượt bậc, mặt khác lại là căn nguyên của những nỗi lo thường trực của con người vì trong quá trình lao động và sản xuất con người luôn đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro bất ngờ sảy ra ngoài mong đợi:
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, ở, mặc và đi lại để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để sản xuất ra những sản phẩm cần thiết Khi sản phẩm được sản xuất ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Như vậy việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng của họ Thế nhưng, trong thực tế không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều phát sinh ngẫu nhiên làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ suy giảm khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất
đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới như: cần được khám chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: San sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; Đi vay, đi xin hay dựa vào sự cứu trợ của nhà nước song đó là những cách làm thụ động và không chắc chắn
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào Nhưng cũng có khi sảy
ra dồn dập buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không mong muốn
Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh
tế xã hội Do vậy Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vai trò của nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên
cơ sở xác suất rủi ro sảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
2/30
Trang 5từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố bất lợi
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được bảo đảm ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết
Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ- thợ và kết hợp hài hoà lợi ích giữa các bên:
• Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động khi
họ kông may bị mất hoặc giảm thu nhập, tạo điều kiện cho họ yên tâm sản xuất
và công tác, gắn bó lợi ích của mình và gắn bó lợi ích của chủ sử dụng lao động
và lợi ích của nhà nước
• Đối với người sử dụng lao động: Giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh tránh được những thiệt hại lớn khi phải chi ra những khoản tiền lớn khi không may người lao động mà mình thuê mướn gặp rủi ro trong lao động, đặc biệt thông qua bảo hiểm xã hội lợi ích của người sử dụng lao động với người lao động được giải quyết hài hoà tránh những căng thẳng không cần thiết
• Đối với xã hội: Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách bảo đảm an toàn cho xã hội, đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội là một nguồn đầu tư rất lớn góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế, thông qua đó gắn bó lợi ích của tất cả các bên tham gia
3/30
Trang 6Khái niệm, đối tượng và chức năng của Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động
Xã hội loài người phát triển thông qua quá trình lao động và sản xuất, thế nhưng chính quá trình ấy một mặt đã đưa con người tới bước phát triển vượt bậc, mặt khác lại là căn nguyên của những nỗi lo thường trực của con người vì trong quá trình lao động và sản xuất con người luôn đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro bất ngờ sảy ra ngoài mong đợi:
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, ở, mặc và đi lại để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để sản xuất ra những sản phẩm cần thiết Khi sản phẩm được sản xuất ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Như vậy việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng của họ Thế nhưng, trong thực tế không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều phát sinh ngẫu nhiên làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ suy giảm khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất
đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới như: cần được khám chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: San sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; Đi vay, đi xin hay dựa vào sự cứu trợ của nhà nước song đó là những cách làm thụ động và không chắc chắn
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào Nhưng cũng có khi sảy
ra dồn dập buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không mong muốn
Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh
tế xã hội Do vậy Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vai trò của nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên
cơ sở xác suất rủi ro sảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
4/30
Trang 7từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố bất lợi
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được bảo đảm ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết
Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ- thợ và kết hợp hài hoà lợi ích giữa các bên:
• Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động khi
họ kông may bị mất hoặc giảm thu nhập, tạo điều kiện cho họ yên tâm sản xuất
và công tác, gắn bó lợi ích của mình và gắn bó lợi ích của chủ sử dụng lao động
và lợi ích của nhà nước
• Đối với người sử dụng lao động: Giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh tránh được những thiệt hại lớn khi phải chi ra những khoản tiền lớn khi không may người lao động mà mình thuê mướn gặp rủi ro trong lao động, đặc biệt thông qua bảo hiểm xã hội lợi ích của người sử dụng lao động với người lao động được giải quyết hài hoà tránh những căng thẳng không cần thiết
• Đối với xã hội: Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách bảo đảm an toàn cho xã hội, đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội là một nguồn đầu tư rất lớn góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế, thông qua đó gắn bó lợi ích của tất cả các bên tham gia
5/30
Trang 8Tính chất của Bảo hiểm xã hội
Tính chất của Bảo hiểm xã hội
• Tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội:
Chúng ta biết rằng bảo hiểm xã hội ra đời do xuất hiện những mâu thuẫn trong hệ chủ-thợ Người lao động trong quá trình lao động khó có thể tránh được những biến cố, rủi
ro, có những trường hợp rủi ro xảy ra như là một tất yếu Khi đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình trạng khó khăn bởi sự gián đoạn trong sản xuất kinh doanh Khi nền sản xuất càng phát triển thì những rủi ro trong lao động càng nhiều và trở lên phức tạp dẫn đến mối quan hệ chủ-thợ ngày càng căng thẳng và nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua bảo hiểm xã hội Do đó, Bảo hiểm xã hội hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước
• Tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian: Xuất phát từ những rủi ro mang tính ngẫu nhiên không lường trước được, khó có thể xác định được khi nào thì người lao động gặp rủi ro trong lao động và cũng không phải tất cả những người lao động đều gặp rủi ro vào cùng một thời điểm Tính chất này thể hiện bản chất của bảo hiểm là lấy số đông bù số ít
• Bảo hiểm xã hội vừa có tính kinh tế, vừa có tính dịch vụ:
Xét dưới góc độ kinh tế, cả người lao động và người sử dụng lao động đều được lợi khi không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động khi họ bị mất hoặc gảm thu nhập Với nhà nước, bảo hiểm xã hội góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời quỹ bảo hiểm xã hội còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh
tế quốc dân Ngoài ra bảo hiểm xã hội còn mang tính dịch vụ trong lĩnh vực tài chính bằng các hình thức phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội
• Tính nhân đạo nhân văn cao cả:
Thể hiện ở sự tương trợ, san xẻ lẫn nhau những rủi ro không mong đợi Một người có thể đóng góp rất nhiều vào quỹ bảo hiểm xã hội mà không được hưởng trợ cấp hoặc hưởng rất ít mà thôi, nhưng không hề gì, bởi số tiền đó sẽ được chia sẻ cho những người khác
Chẳng hạn: Khi một người tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí nhưng không may họ bị chết và chỉ được hưởng một khoản trợ cấp tử tuất ít ỏi so với công lao đóng góp của họ Hay một minh chứng cụ thể hơn đó là việc quy định một tỷ
6/30
Trang 97/30
Trang 10Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
Mục đích của bảo hiểm xã hội thường gắn liền với việc “đền bù” hậu quả của những sự kiện khác nhau xảy ra trong và ngoài quá trình lao động của những người lao động Tập hợp những cố gắng tổ chức “ đền bù” cho những sự kiện đó là cơ sở chủ yếu của các chính sách bảo hiểm xã hội Vì thế, năm 1952 Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã ra công ước 102 quy định tối thiểu về bảo hiểm xã hội và đã được 158 nước thành viên phê chuẩn Theo công ước này, hệ thống bảo hiểm xã hội gồm các nhánh sau:
1 Chăm sóc y tế
2 Trợ cấp ốm đau
3 Trợ cấp thất nghiệp
4 Trợ cấp tuổi già
5 Trợ cấp tai nạn lao động _ bệnh nghề nghiệp
6 Trợ cấp gia đình
7 Trợ cấp thai sản
8 Trợ cấp tàn tật
9 Trợ cấp mất người nuôi dưỡng
Ở từng nước, tuỳ theo điều kiện có thể thực hiện có thể thực hiện một số chế độ cơ bản hoặc mở rộng Tuy nhiên, ILO quy định rằng các thành viên phê chuẩn công ước phải thực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ nêu trên, trong đó phải có ít nhất một trong các chế độ
3, 4, 5, 8 hoặc 9 Các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay ở Việt nam bao gồm:
1.Trợ cấp ốm đau
2.Trợ cấp thai sản
1 Trợ cấp tai nạn lao động_ bệnh nghề nghiệp
2 Trợ cấp hưu trí
3 Trợ cấp tử tuất
Ngoài ra ở Châu Âu, các thành viên của cộng đồng châu âu đã ký một đạo luật gọi là Đạo luật Châu Âu về bảo hiểm xã hội Đạo luật này về cơ bản tương tự như công ước
102 nhưng ở mức độ cao hơn và những điều kiện chặt chẽ hơn, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế và xã hội của các nước thuộc cộng đồng châu Âu
8/30