Việt nam Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại – những thách thức hiện tại Và các Phương án lựa chọn cho cải cách trong tương lai P ub lic D is cl os ur e A ut ho riz ed P ub lic D is cl os[.]
Trang 1Việt nam:
Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại –
những thách thức hiện tại Và
các Phương án lựa chọn cho
cải cách trong tương lai
78282
Trang 2Việt Nam:
Phát triển một hệ thống
bảo hiểm xã hội hiện đại -
Những thách thức hiện tại
và các phương án lựa chọn
cho cải cách trong tương lai
6/2012
Với tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ tăng lên, dân số Việt Nam được dự đoán là sẽ già đi một
cách nhanh chóng, làm cho việc xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại tại
Việt Nam trở thành một ưu tiên hết sức cấp bách Hệ thống bảo hiểm xã hội hiện tại
đang gặp phải một số thách thức như tỷ lệ bao phủ thấp trong cả khu vực chính thức
và phi chính thức, bất bình đẳng giữa các nhóm tham gia đóng bảo hiểm, thiếu sự bền
vững về tài chính, và năng lực quản lý và thực hiện các chương trình bảo hiểm yếu
Cần thiết phải đổi mới để mở rộng độ bao phủ, khuyến khích bình đẳng, tăng cường
tính bền vững về tài chính, và hiện đại hóa công tác quản lý bảo hiểm xã hội để đảm
bảo an sinh thu nhập cho lượng dân số già của Việt Nam trong những thập kỷ tới đây
Đề cương này nhằm đóng góp cho những thảo luận chính sách xung quanh việc sửa
đổi Luật Bảo hiểm Xã hội sẽ diễn ra vào năm 2013 thông qua phần phân tích những
thách thức và các lựa chọn cải cách có thể thực hiện
1 Đề cương do Nguyễn Nguyệt Nga phác thảo, dựa chủ yếu trên phần nghiên cứu của Paulette Castel
Minna Hahn Tong hiệu đính tiếng Anh của bản đề cương.
Trang 3ViệT NAM: PHáT TriểN MộT Hệ THốNg Bảo HiểM Xã Hội HiệN Đại – NHữNg THáCH THứC HiệN Tại Và CáC PHươNg áN LựA CHọN CHo Cải CáCH TroNg TươNg LAi
Các từ viết tắt
CPi Chỉ số giá tiêu dùng
iCT Công nghệ thông tin và truyền thông
iT Công nghệ thông tin
MoLiSA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội NDC Tài khoản đóng góp cá nhân tượng trưng SAA Phân phối tài sản chiến lược
SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ SoCB Ngân hàng thương mại Nhà nước
VASS Viện Khoa học Xã hội Việt Nam BHXHVN Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
Trang 4I
giới thiệu
Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, trợ cấp xã hội và các chương trình việc làm Bảo hiểm xã hội bao gồm lương hưu
và trợ cấp ngắn hạn (bao gồm thai sản và hỗ trợ cho sự thay đổi thu nhập trong trường hợp
sinh con2, nghỉ ốm, thất nghiệp, tai nạn lao động, người già, người tàn tật và đủ sống) Với
việc ban hành Nghị quyết năm 2012 của Đảng về Bảo hiểm Xã hội, Việt Nam đang trong quá
trình chuyển dịch mới hướng tới một hệ thống an sinh xã hội hiện đại
Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam cùng với những chuyển đổi nhân khẩu
học trọng đại đã và đang tạo ra những thách thức mới Việt Nam đã đạt được tăng trưởng
kinh tế nhanh chóng trong hai thập kỷ qua – tự chuyển đổi trong một khoảng thời gian rất
ngắn từ một xã hội nông nghiệp nghèo thành một đất nước sôi động và cạnh tranh trong nền
kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, những tiến bộ để đạt được vị thế của một quốc gia thu nhập trung
bình đã mang lại những thách thức mới cho Việt Nam, bao gồm sự cần thiết phải đánh giá
lại chương trình bảo hiểm xã hội để đáp ứng những nhu cầu đang thay đổi nhanh chóng của
người dân Việt Nam sẽ phải trải qua những thay đổi quan trọng bao gồm (i) sự chuyển đổi xã
hội từ các gia đình mở rộng, đa thế hệ thành những gia đình hạt nhân; (ii) quá trình chuyển
đổi từ nền kinh tế nông thôn sang một nền kinh tế đô thị hoá nhiều hơn; và (iii) quá trình
chuyển đổi nhân khẩu học từ một dân số trẻ sang một dân số già hơn
2 Và những can thiệp kế hoạch hóa gia đình.
Hình1: Dân số Việt Nam đang già đi nhanh chóng
Nguồn: Triển vọng Dân số Thế giới 2010World Population Prospects 2010, thay đổi trung vị
0
10
20
30
40
50
60
70
80
1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010 2015 2020 2025 2030 2035 2040 2045 2050
Sự năng động của dân số Việt Nam 1970-2050
15-24 15-64 65 or over
Trang 5ViệT NAM: PHáT TriểN MộT Hệ THốNg Bảo HiểM Xã Hội HiệN Đại – NHữNg THáCH THứC HiệN Tại Và CáC PHươNg áN LựA CHọN CHo Cải CáCH TroNg TươNg LAi
Một viễn cảnh khá ảm đạm là Việt Nam sẽ già trước khi trở nên giàu có Với khả năng
sinh sản suy giảm và tuổi thọ tăng, dân số Việt Nam dự kiến sẽ già đi nhanh chóng Hình 1 trình bày các dự báo dân số của Liên Hợp Quốc cho Việt Nam.Việt Nam đang đối mặt với một thách thức đáng kể: Sự lão hóa dân số vẫn đang ở phía trước, với tỷ lệ dân số tuổi từ 60 trở lên sẽ tăng từ dưới 10% như hiện nay lên tới gần 35% vào năm 2050 Trong khi đó, tỷ lệ dân số trẻ sẽ bị thu nhỏ lại Do đó cần phải thiết kế một hệ thống vững mạnh về mặt tài chính
và với chiến lược tài trợ dài hạn và những sắp xếp thể chế cho quản trị và điều hành tốt
Với các xu hướng này thì xây dựng một hệ thống bảo hiểm hiện đại là vấn đề ưu tiên hàng đầu của Việt Nam Việt Nam đã áp dụng một hệ thống đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
đối với người lao động khu vực chính thức kể từ năm 1995 Luật Bảo hiểm Xã hội được ban hành năm 2006 đã mang đến những thay đổi đáng kể về việc tính toán quyền lợi hưu trí được hưởng trong khu vực tư nhân, điều chỉnh lương hưu, và tỷ lệ đóng góp Luật cũng xác định các quy định cho việc triển khai một hệ thống bảo hiểm tự nguyện và một chương trình bảo hiểm thất nghiệp Tuy nhiên, dù đã đạt được những tiến bộ này, độ phủ bảo hiểm của dân số vẫn bị hạn chế, và có những quan ngại về sự bền vững tài chính của hệ thống và công bằng Việc cung cấp bảo hiểm xã hội cũng cần phải được hiện đại hóa Để đối phó với những thách thức này các nhà hoạch định chính sách sẽ cần phải có dữ liệu đầu vào dựa trên bằng chứng
và những tranh luận chính sách đòi hỏi cần có hệ thống thông tin và quản lý tài chính tốt Việc quản lý hệ thống tài chính và thông tin hiện đại của một hệ thống Bảo hiểm xã hội vận hành tốt là quan trọng không chỉ cho quản trị và điều hành thích đáng mà còn cho chính bản thân quá trình đổi mới
Bản báo cáo thảo luận một số thách thức chủ yếu trong chính sách hưu trí ở Việt Nam
và trình bày những lựa chọn chính sách để giải quyết các thách thức này Bản báo cáo
bắt đầu với phần đánh giá tổng quan hệ thống hưu trí hiện tại, mô tả những đặc điểm chính của hệ thống Tiếp theo báo cáo sẽ đưa ra những thách thức chủ yếu và đề xuất những biện pháp có thể thực hiện để tăng cường và củng cố hệ thống hưu trí trong thời gian tới Bản báo cáo được đúc kết từ những nghiên cứu và phân tích cơ bản đã được thực hiện cho công việc này và những nghiên cứu khác trong thời gian gần đây về hệ thống hưu trí của Việt Nam Báo cáo cũng chỉ ra những lựa chọn/quyết định chính sách tiềm năng sẽ cần phải tiếp tục nghiên cứu trong vài năm tới
Trang 63 Trong năm 2012, tổng số tiền sẽ được nâng từ 22% lên đến 24% (với sự gia tăng được chia đều giữa người sử dụng
lao động và người lao động) Vào năm 2014, tổng số tiền sẽ được nâng lên một lần nữa, lần này từ 24% lên đến
26% (số gia tăng cũng được chia đều giữa người sử dụng lao động và người lao động).
II
Tổng quan Hệ thống Hưu trí
Hiện tại
Hệ thống bảo hiểm xã hội của Việt Nam được xác định lợi ích và hoạt động trên cơ sở
đóng góp trong quá trình lao động Hiện nay hệ thống đang được trang trải bởi mức đóng
góp 24%3, trong đó người sử dụng lao động chi trả 17% và người lao động chi trả 7% Trong
tổng số tiền thu, 3% phân cho trợ cấp ngắn hạn và 1% cho tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, 20% cho người già, tàn tật và lương hưu đủ sống Ngoài ra mức đóng góp 22% áp
dụng cho bảo hiểm xã hội, mức đóng góp 3% được áp dụng cho bảo hiểm thất nghiệp (chia
đều giữa người sử dụng lao động, người lao động, và Chính phủ, bằng cách sử dụng các
nguồn thu chung), và mức đóng góp 4,5% được áp dụng cho bảo hiểm y tế (trong đó 3% do
người thuê lao động trả và 1,5% do người lao động trả
Đặc biệt đối với hệ thống lương hưu, Luật năm 2006 đã đưa ra những thay đổi quan
trọng về tỷ lệ đóng góp và điều chỉnh lương hưu Luật đã tăng tỷ lệ đóng góp vào lương
hưu, thiết lập mức tăng là 2% (+1% trên mỗi mức đóng góp của người sử dụng lao động và
người lao động) trong mỗi hai năm kể từ năm 2010 đến năm 2014, từ 18% đến 22% (14%
cho người thuê lao động và 8% cho người lao động Những điều chỉnh lương hưu được áp
dụng cho toàn bộ số lương hưu, và luật đã thấy trước được Chính phủ quyết định điều chỉnh
dựa trên xu hướng chung về kinh tế và lạm phát Tuy nhiên, kể từ khi luật được thông qua,
Chính phủ vẫn tiếp tục chính sách trước đây về tăng lương hưu cùng với tăng lương tối thiểu
Đáng ghi nhận là lương hưu tối thiểu bằng với mức lương tối thiểu được đảm bảo cho người
lao động khi về hưu từ hệ thống bảo hiểm bắt buộc
Một bộ các qui định khác nhau xác định quyền lợi hưu trí cho những người làm việc
trong khu vực công và khu vực tư Thời gian đóng góp 20 năm là cần thiết để được hưởng
thu nhập lương hưu tháng bằng 55% lương trung bình của người đóng bảo hiểm.4 Mỗi năm
đóng góp bất kỳ trên 15 năm sẽ được hưởng thêm một mức thay thế là 2% đối với nam giới và
3% đối với phụ nữ Mức thay thế tổng cộng không được vượt quá 75% Đối với những năm
làm việc trong khu vực công, mức lương trung bình được tính trên tiền lương báo cáo trong
10 năm cuối cùng Đối với những năm làm việc trong khu vực tư nhân, mức lương trung bình
được tính là mức trung bình của tất cả các tiền lương báo cáo Một sự khác biệt nữa trong việc
tính lương trung bình cho lương hưu, tiền lương trong khu vực tư nhân được điều chỉnh theo
4 Khi đủ tuổi nghỉ hưu, người nghỉ hưu có dưới 20 năm đóng góp bảo hiểm xã hội sẽ được hưởng một khoản trọn gói
bằng 1,5 lần lương tháng trung bình nhân với tổng số năm đóng góp bảo hiểm Những người hưu trí có từ 20 năm
đóng góp bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu hàng tháng, cộng với một khoản trọn gói nếu thời gian
đóng bảo hiểm lớn hơn 30 năm đối với nam giới và 25 năm đối với nữ giới
Trang 7ViệT NAM: PHáT TriểN MộT Hệ THốNg Bảo HiểM Xã Hội HiệN Đại – NHữNg THáCH THứC HiệN Tại Và CáC PHươNg áN LựA CHọN CHo Cải CáCH TroNg TươNg LAi
sự tăng trưởng của chỉ số giá cả tiêu dùng kể từ khi chúng được báo cáo, trong khi lương của khu vực công được điều chỉnh theo tiền lương tối thiểu
Hệ thống hưu trí tự nguyện thực hiện từ năm 2008 được thiết kế tương tự như hệ thống hưu trí bắt buộc cho những người lao động khu vực tư nhân Hệ thống tự nguyện được
xác định lợi ích và hoạt động trên cơ sở đóng góp trong quá trình lao động Tuy nhiên, khác với hệ thống bắt buộc, hệ thống tự nguyện không có lợi ích ngắn hạn, không đảm bảo lương hưu tối thiểu, và không có khả năng nghỉ hưu sớm
Tuổi nghỉ hưu theo tiêu chuẩn là 55 đối với nữ và 60 đối với nam Tuy nhiên, những người
làm việc trong khu vực tư nhân và những người tham gia hệ thống tự nguyện có thể hoãn tuổi
về hưu tới 5 năm (60 đối với nữ và 65 đối với nam) Trong hệ thống bắt buộc, với khả năng nghỉ hưu 5 hoặc 10 năm sớm hơn trong những điều kiện nhất định – ví dụ như làm việc trong môi trường làm việc nguy hiểm và khó khăn ít nhất 15 năm, lao động bị dôi dư do việc tái cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, hoặc mất khả năng lao động Công thức tính lương hưu cho nghỉ hưu sớm tương tự như công thức lương hưu tiêu chuẩn, trừ trường hợp mất sức lao động thì mức thay thế bị trừ đi 1% cho mỗi năm nghỉ hưu sớm
Đáng chú ý là lương hưu cho các cá nhân nghỉ hưu trước năm 1995 được thanh toán từ ngân sách nhà nước đang tạo ra hai hệ thống chồng chéo Cho đến tháng 7 năm 1995, khi
hệ thống đóng góp hiện tại dựa trên cơ sở đóng góp trong quá trình lao động được đưa ra, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (MoLiSA) vẫn trả lương hưu cho các cán bộ, công chức, viên chức, quân đội và các thành viên của các tổ chức của Đảng Các đối tượng này đã được tích hợp vào hệ thống mới, nhưng Chính phủ ghi nhận rằng các quyền lợi lương hưu có trước năm 1995 vẫn nên do Nhà nước chi trả để chi phí không đánh vào những người đóng góp hiện tại Do đó, tình hình hiện tại là kết quả hoạt động của 2 hệ thống chồng chéo và vướng víu.5
Ngân sách nhà nước trang trải khoảng một nửa gánh nặng tài chính của chi phí lương hưu hiện nay Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và Bộ Tài chính đang làm việc về tính toán chuyển giao ngân sách từ Chính phủ để trang trải các chi phí lợi ích hưu trí của người lao động nghỉ hưu hiện nay dựa trên thời gian đã làm việc trước năm 1995 Quĩ dự trữ của hệ thống là 5,78 tỷ đô
la Mỹ, tương đương với 5 % gDP hoặc 7 năm chi trả lương hưu hiện tại, với thực tế hiện nay khoảng một nửa chi trả lương hưu cho những người nghỉ hưu trước năm 1995
Từ tháng 5/2012, dưới sự hướng dẫn của Nghị quyết Đảng Cộng sản Việt Nam về Bảo hiểm Xã hội mới được ban hành, Việt Nam đang thực hiện những sáng kiến đổi mới
Trong lĩnh vực lương hưu, sáng kiến mới nhằm tăng cường khả năng bền vững tài chính trong dài hạn của hệ thống, giảm khoảng cách lợi ích giữa khu vực công và khu vực tư, và tăng độ bao phủ Với mục tiêu tăng độ bao phủ bảo hiểm xã hội từ 19% lên 50% vào năm 2020, có nghĩa là hưu trí xã hội không phải là giải pháp duy nhất để giảm khoảng trống bao phủ, và Chính phủ sẽ phải tìm cách tăng độ bao phủ thông qua việc ủng hộ tham gia tự nguyện Hơn nữa, tăng cường năng lực hành chính của cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXHVN) dường như là một lộ trình không thể tránh được nhằm mục đích mở đường cho những cải cách chính sách phát huy hiệu quả
5 Hai hệ thống vướng víu nhau vì Luật bảo hiểm xã hội áp dụng cho tất cả mọi người tham gia vào BHXHVN.Công thức và qui tắc điều chỉnh lại không phân biệt giữa quyền được hưởng trước và sau năm 1995.Kết quả là, mức lợi ích lương hưu hiện tại – bao gồm những người được nhận trước năm 1995 (điều chỉnh lương hưu) – cũng liên quan tới những qui định đang thực hiện trong hệ thống hiện hành.
Trang 8III
Những thách thức chính
A Sự bền vững tài chính
Thoạt nhìn qua thì việc BHXH Việt Nam tích lũy được dự trữ khá lớn làm cho hệ thống
tưởng khá vững mạnh về mặt tài chính Năm 2010, BHXHVN tích lũy được khoản dự trữ
là 5,78 tỷ đô la Mỹ, tương đương với 5% gDP Số lượng dự trữ lớn là kết quả của số người
hưởng lợi còn khá nhỏ so với số người đóng góp Điều này là do (i) Chương trình mới chỉ
được thành lập vào năm 1995, (ii) Phần lớn lực lượng lao động của Việt Nam còn rất trẻ, và
(iii) yêu cầu cần có 20 năm làm việc để được hưởng lương hưu làm giảm số lượng người
được hưởng trợ cấp trong số những người già hiện nay BHXHVN nhận tiền từ ngân sách
chung để hỗ trợ cho việc chi trả trợ cấp cho những người làm việc trong khu vực công đã
nghỉ hưu trước năm 1995
Tuy nhiên, mặc dù có lượng dự trữ lớn hệ thống hưu trí của Việt Nam không bền vững
về mặt tài chính trong dài hạn giá trị hiện tại của các tài sản của BHXH Việt Nam là thấp
hơn giá trị hiện tại của nghĩa vụ thanh toán của BHXH Việt Nam Điều này là do: (i) Sự suy
giảm nhanh chóng khả năng sinh sản và dự báo dân số già đi của Việt Nam sẽ làm gia tăng
mạnh mẽ tỷ lệ phụ thuộc của hệ thống - được định nghĩa là số lượng người hưởng lợi tính
trên mỗi người đóng góp - từ giá trị hiện tại của nó là 0,11 (không kể số người về hưu trước
1995) lên tới khoảng 0,50 vào năm 2050, (ii) độ tuổi nghỉ hưu thấp (trung bình 54,3 tuổi) so
với tuổi thọ, và (iii) trợ cấp thu nhập tương đối cao phản ánh các tỷ lệ lợi ích cao tích lũy được
từ mỗi năm làm việc, đặc biệt là cho phụ nữ và lao động khu vực công Hơn nữa, lãi suất của
quĩ BHXHVN thấp hơn tỷ lệ lạm phát.Vấn đề này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở phần dưới
Trang 9ViệT NAM: PHáT TriểN MộT Hệ THốNg Bảo HiểM Xã Hội HiệN Đại – NHữNg THáCH THứC HiệN Tại Và CáC PHươNg áN LựA CHọN CHo Cải CáCH TroNg TươNg LAi
Hệ thống được dự báo sẽ rơi vào thâm hụt trong tương lai gần, và ngày mà lượng dự trữ
sẽ cạn kiệt phụ thuộc vào số lợi nhuận mà BHXHVN sẽ thu được từ tài sản của mình.Các
mô phỏng dài hạn (iLSSA, 2009) cho thấy vào khoảng năm 2030, hệ thống sẽ bắt đầu phát sinh thâm hụt và sẽ ngừng tích lũy dự trữ (Hình 2 trình bày xu hướng dự trữ kỳ vọng được tính theo %gDP) Các dự báo gồm rất nhiều giả thuyết, do đó dự báo ngày mà BHXHVN bắt đầu thâm hụt là không chính xác Tuy nhiên, dự báo chỉ ra xu thế dài hạn của hệ thống.6 Biểu
đồ bên dưới trình bày xu hướng kỳ vọng của thu nhập và chi tiêu của bảo hiểm hưu trí
6 Dự báo bao gồm nhiều giả thiết liên quan tới xu hướng việc làm trong khu vưc chính thức, mức trợ cấp hưu trí, tuổi nghỉ hưu, tuổi thọ, v.v… Những giả thiết chính là: khu vực chính thức đang mở rộng và sẽ bao gồm 50% số người đang trong tuổi lao động vào năm 2050, tỷ lệ lao động trong khu vực tư nhân đến tuổi về hưu và có quyền hưởng lương hưu sẽ tăng từ 20% năm 2015 lên 80% năm 2027, gDP và tỷ lệ tăng lương là 12%/năm, và lạm phát là 5% Tuy nhiên trong tương lai mức độ của những biến số này là không xác định được Do đó, dự đoán không thể đưa ra qui mô thặng dư và thâm hụt của quĩ hưu trí BHXHVN tại một thời điểm xác định
Hệ thống hưu trí
0.00%
-1.0%
-0.8%
-0.6%
-0.4%
-0.2%
0.0%
0.2%
0.4%
0.6%
0.8%
2.00%
4.00%
6.00%
8.00%
10.00%
12.00%
Thu nhập trừ chi tiêu trong năm, ngoại trừ
Nguồn : ILSSA, 2009
Hình2: Quĩ hưu trí không bền vững về tài chính trong dài hạn
Tổng thu từ phần đóng góp trong năm Chi phí trong năm (trừ những người về hưu trước năm 1995)
Trang 10Tuổi nghỉ hưu trung bình thấp
Người lao động Việt Nam nghỉ hưu sớm so với tuổi thọ Vì người Việt Nam sống lâu hơn
nên thời gian họ có thể được hưởng lương hưu sẽ tương đối dài hơn so với các nước châu á
khác Mặc dù tuổi nghỉ hưu của phụ nữ là 55 và của nam giới là 60, thấp hơn so với các nước
khác, nhưng nghỉ hưu sớm lại khá phổ biến trong khu vực công, bình quân phụ nữ nghỉ hưu
ở độ tuổi 51 và nam giới là 54 (Hình 3) Kết quả là thời gian trả lương hưu dài hơn tạo nên áp
lực cho hệ thống Trong nửa bên phải của Hình 3, Việt Nam được xếp hạng sau Trung Quốc,
về khoảng cách giữa tuổi thọ và tuổi nghỉ hưu Khoảng cách cho Việt Nam thậm chí còn lớn
hơn nữa nếu xem xét tuổi nghỉ hưu trung bình thực tế
Hình 3: Lao động Việt Nam nghỉ hưu sớm, và có khoảng cách lớn giữa tuổi thọ và tuổi nghỉ hưu
Nguồn: Tuổi nghỉ hưu của phụ nữ ở Việt Nam – Bình đẳng giới và Sự bền vững của Quĩ Bảo hiểm Xã hội, NHTG, 2009
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
) So sánh quốc tế về khoảng cách giữa tuổi nghỉ hưu và tuổi thọ
Tuổi nghỉ hưu (luật hiện nay) Tuổi thọ
Tuổi nghỉ hưu trung bình theo quan sát ở Việt Nam
50
52
54
56
58
60
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Nam giới Phụ nữ Phi-líp
-pin
Sing-ga-po
In-đ
nê -xi-a
M
lay-xi-a Thái Lan
Hồng kông Việt Na
m
Hàn Quốc
Trung Quốc