1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thiên nhiên trong cảm hứng thơ thiền trần nhân tông

44 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiên nhiên trong cảm hứng thơ thiền Trần Nhân Tông
Trường học Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 209,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Khi nhắc đến Trần Nhân Tông, người ta nghĩ ngay đến một vị vua, một thiền sư chứ ít ai lại nghĩ đến một nhà thơ. Nhưng Trần Nhân Tông lại là một nhà thơ vô cùng xuất sắc với nhiều tác phẩm có giá trị. Thơ Trần Nhân Tông có sự pha trộn giữa chất thiền với chất thế sự, giữa chất đạo với chất đời. Chính vì thế mà khi đặt vấn đề nghiên cứu thơ văn Trần Nhân Tông, người ta thường quan tâm đến tính triết lí, giáo huấn của thơ ông mà ít khi để tâm đến các chất của tác phẩm.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU -2

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI -2

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ -3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG -5

1.1 TRẦN NHÂN TÔNG -5

1.1.1 Thân thế và cuộc đời của Trần Nhân Tông -5

1.1.2 Sự nghiệp thơ văn của Trần Nhân Tông -8

1.1.3 Thiền phái Trúc Lâm và tư tưởng của Trần Nhân Tông -11

1.2 KHÁI NIỆM “THIỀN” VÀ “THƠ THIỀN” -13

1.2.1 Khái niệm “Thiền” -13

1.2.2 Khái niệm “thơ Thiền” -14

1.3 CẢM HỨNG THƠ VÀ CẢM HỨNG THIÊN NHIÊN TRONG THƠ -15

1.3.1 Cảm hứng thơ -15

1.3.2 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ -17

CHƯƠNG 2: THIÊN NHIÊN TRONG CẢM HỨNG THƠ THIỀN CỦA TRẦN NHÂN TÔNG -24

2.1 THIÊN NHIÊN THANH NHÃ VÀ U TỊCH -24

2.2 THIÊN NHIÊN HỮU TÌNH, HÒA QUYỆN, VỪA HƯ VỪA THỰC -32

2.3 THIÊN NHIÊN KHAI NGỘ TÂM TRÍ CON NGƯỜI -37

KẾT LUẬN -43

TÀI LIỆU THAM KHẢO -44

1

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1 Khi nhắc đến Trần Nhân Tông, người ta nghĩ ngay đến một vị vua, mộtthiền sư chứ ít ai lại nghĩ đến một nhà thơ Nhưng Trần Nhân Tông lại là một nhàthơ vô cùng xuất sắc với nhiều tác phẩm có giá trị Thơ Trần Nhân Tông có sựpha trộn giữa chất thiền với chất thế sự, giữa chất đạo với chất đời Chính vì thế

mà khi đặt vấn đề nghiên cứu thơ văn Trần Nhân Tông, người ta thường quantâm đến tính triết lí, giáo huấn của thơ ông mà ít khi để tâm đến các chất của tácphẩm

2 Thơ ca đời Trần là một nền thơ ca phát triển mạnh, đặt nền móng vữngchắc cho sự hình thành và phát triển của nền thơ ca cổ điển Việt Nam, là “đỉnhcao thứ nhất của thơ ca Hán học nước ta” Trong tiến trình văn học trung đại, thơ

ca đời Trần chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Thơ ca đời Trần có nhiều đónggóp về mặt nội dung và nghệ thuật cho nền văn học Việt Nam buổi sơ khai Nóinhư thế không có nghĩa là những giá trị ấy thô sơ mà ngược lại nó vô cùng trongtrẻo, tinh vi đến mức vô cùng Trong đó, thiên nhiên là mảng đề tài có vai tròquan trọng trong việc góp phần khẳng định vị trí đặc biệt của thơ ca đời Trầntrong tiến trình văn học cổ diển dân tộc

2 Trần Nhân Tông chịu ảnh hưởng của triết lí Thiền từ nhỏ nên thơ ôngluôn phảng phất dư vị thiền Chính thế mà thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tôngthường mang ý nghĩa biểu tượng, là khách thể để chủ thể kí thác những quanniệm sống, những triết lí thiền vào đó Nhưng đồng thời, dười góc độ là một thinhân, thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông cũng có những nét rất thật, rất thiênnhiên và đậm chất thơ

2

Trang 3

Vì những lí do trên, người viết muốn đặt vấn đề tìm hiểu sâu về cảm hứngthiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông để thấy được chất thi sĩ và thiền sư hòatrộn trong một con người.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trần Nhân Tông trước nay luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngànhkhoa học bởi cuộc đời ông kiêm nhiều vai trò khác nhau: vua, thiền sư, nhà thơ.Tuy nhiên, theo tìm hiểu của người viết thì ít có nhà nghiên cứu và công trìnhnghiên cứu nhìn nhân vật lịch sử này dưới góc độ của một nhà thơ để xem xét,đánh giá các tác phẩm của ông như những tác phẩm nghệ thuật thật sự Dưới đây,xin kể ra một số công trình nghiên cứu mà người viết khảo sát được:

- Toàn tập Trần Nhân Tông – Lê Mạnh Thát : Cuốn sách là một công trìnhnghiên cứu tổng thể về cuộc đời và sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông.Trong công trình này, Lê Mạnh Thát cũng dành một phần để khai thác sựnghiệp văn chương của nhà vua Đáng chú ý là ngoài những di sản thơbằng chữ Hán và chữ Nôm, tác giả còn sưu tầm được khá nhiều nhwungxbài giảng, văn thư ngoại giao,văn xuôi,… của Trần Nhân Tông

- Luận văn thạc sĩ văn học của Nguyễn Thị Giang năm 2014, đề tài “Đặcđiểm thơ Trần Nhân Tông”: Với đề tài này, tác giả Nguyễn Thị Giang đã

đi sâu, nghiên cứu, tìm hiểu về những đặc sắc về nội dung và nghệ thuậttrong thơ Trần Nhân Tông Đặc biệt, công trình này đã chỉ ra gần như đầy

đủ phong cách thơ Trần Nhân Tông qua thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, giọngđiệu

- Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam của Đinh Thị Đào năm

2015, đề tài “Cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông vàHuyền Quang dưới góc nhìn so sánh”: Với công trình này, tác giả ĐinhThị Đào đã chỉ ra những nội dung chính trong cảm hứng thiên nhiên trongsáng tác của Trần Nhân Tông Đồng thời, tác giả còn đặt cảm hứng thiên

3

Trang 4

nhiên trong thơ Trần Nhân Tông trong thế đối sánh với cảm hứng thiênnhiên trong thơ của Huyền Quan để làm rõ sự khác biệt trong cách cảmnhận thiên nhiên của thiền sư 2 thời Lý Trần cũng như là những điêm đặcbiệt trong cảm hứng thơ của Trần Nhân Tông.

Trên đây, người viết đã tóm lược ngắn gọn những công trình nghiên cứuriêng về thơ Trần Nhân Tông mà người viết tìm hiểu được

Trong bài tiểu luận này, người viết không có tham vọng sẽ tìm ra đượcnhững điều mới, những tư tưởng mới trong cảm hứng thiên nhiên của Trần NhânTông Người viết chỉ cốt đi sâu, tìm hiểu rõ hơn về cảm hứng thiên nhiên trongsáng tác của Trần Nhân Tông, đồng thời, đặt cảm hứng thiên nhiên ấy dưới gócnhìn của một thiền sư so với một thi sĩ để thấy sự khác biệt

4

Trang 5

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Trần Nhân Tông

1.1.1 Thân thế và cuộc đời của Trần Nhân Tông

Vua Trần Nhân Tông sinh ngày 11 tháng 11 năm Nguyên Phong thứ tám(1258)1, tên húy là Khâm, con trai đầu lòng của vua Trần Thánh Tông và NguyênThánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Theo truyền thuyết, trước kia hoàng thái hậuthường mơ thấy thần dâng cho một dôi kiếm và bảo chọn lấy một, thái hậu chọnngẫu nhiên được một thanh đoản kiếm, từ đó có mang

“Giấc hòe thoắt nhắp đêm xuân,

Chiêm bao xảy thấy thần nhân một người

Cao cả tượng sứ nhà Trời,

Trao cho lưỡng kiếm, có lời bảo vay.” 2

Lúc mới sinh, Trần Nhân Tông đã có khí chất khác người “tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng Hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử Trên vai trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn.” 3 Ngay từ nhỏ vua Trần Nhân

Tông đã tỏ rõ được những khí chất khác thường của mình Ông được vua cha vô

cùng yêu thương và giáo dục một cách chu toàn:“Cha mẹ dưỡng dụ yêu thương” 4

Trong “Thánh đăng ngữ lục” có viết: “Điều Ngự tính vua thông minh, đa năng hiếu học, xem trải mọi sách, thông nội ngoại điển” Ông không những am

1 Lê Mạnh Phát, Toàn tập Trần Nhân Tông, nxb Tp.HCM, 2000, Tr 33.

2 http://thienviendaidang.net/kinhsach/thichthanhtu/thientongbanhanh.pdf , Thiền tông bản hạnh, Tr 29 – 30 (câu

Trang 6

hiểu tam giá, Phật điển mà còn thông thạo thiên văn, lịch số, y thuật, âm luật Đó

là những nền tảng ban đầu để hình thành nên một con người toàn tài hiếm cótrong lịch sử Một cá nhân hội tụ ba con người: một nhà chính trị kiệt xuất, mộtthiền sư triết gia lỗi lạc, một nhà thơ tài hoa

Năm 16 tuổi, Khâm được phong làm hoàng thái tử Năm 21 tuổi, ngày 22tháng 10 năm Mậu Dần, Bảo Phù thứ 6 ( 1278 ), Trần Nhân Tông lên ngôi vua

Mặc dù lên ngôi vào lúc Đại Việt đã có những bước phát triển và sự ổnđịnh nhất định, tuy nhiên Đại Việt khi ấy vẫn là miếng mồi ngon mà các thế lựcphong kiến phương Bắc luôn hăm he, dòm ngó Ngay khi Trần Nhân Tông vừalên ngôi, lợi dụng cơ hội chính quyền mới còn non trẻ, nhân cơ hội này giặcNguyên kéo sang xâm lược nước ta vào năm 1285 và 1288 Quân Nguyên Môngkhi ấy là đoàn quân thiện chiến, tinh nhuệ từng từng đánh chiếm cả nửa châu Âu.Trong khi đó quân đội ta vũ khi quá thô sơ, chính quyền chưa ổn định vì nhà vừamới lên ngôi.Nhưng với tài năng, bản lĩnh và chính sách ngoại giao khôn khéo,chính sách khoan hòa nhân ái đã gắn kết nhân dân trăm họ, Trần Nhân Tông đãlãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại ý đồ xâm lược của kẻ thù

Khi đất nước đã qua giai đoạn chiến tranh, bước đầu đi vào ổn định thìcũng là lúc Ngài bắt đầu thi hành những chính sách để ổn định chính trị và pháttriển đất nước về mọi mặt Sau chiến thắng Nguyên Mông lần 2, nhà vua rathông cáo ân xá cho cả nước và tha tô thuế tạp dịch cho những vùng đã trải quachiến trnh và miễn giảm cho các vùng khác Người còn có những chính sáchthưởng phạt thích đáng đối với những người có công – tội trong kháng chiến Đểcủng cố về chính trị, Người còn cho tổ chức lại bộ máy nhà nước tiến hành tahnhtra các quan lại cai trị ở các lộ Về mặt văn hóa, Trần Nhân Tông khuyến khích

sử dụng chữ nôm, tiến hành phong thần cho 27 vị anh hùng liệt nữ có công trongkháng chiến Thêm nữa, vua Trần Nhân Tông cũng chính là người dốc sức để

6

Trang 7

“hoằng truyền chính pháp, chấn hưng đạo Phật” 5 Về mặt kinh tế - xã hội, vua

Trần Nhân Tông cho tái thiết đời sống vật chất cho nhân dân, tạo một bộ mặttươi đẹp cho đất nước Nhà vua đã có nhiều chính sách khôn khéo, khuyến khíchnhân dân tăng gia sản xuất, khai khẩn đất hoang mở rộng diện tích canh tác,giảm tô thuế, … chỉ trong vài năm, nền kinh tế Đại Việt đã có những khởi sắcđáng kể Các mặt hàng không chỉ có lưu thông trong nước mà còn có sự giaoothương với các nước khác

Song song với những biện pháp chấn chỉnh kinh tế - chính trị - xã hội chođất nước, ngay sau khi chiến tranh kết thúc, nhà vua ngay lập tức tiến hành cácchính sách ngoại giao mềm dẻo và khôn khéo nhằm vừa đè bẹp ý chí xâm lượccủa kẻ thù, vừa duy trì hòa bình cho đất nước

Không chỉ là một vị minh quân, Trần Nhân Tông còn là một thiền sư, mộtnhà triết học lỗi lạc của dân tộc Ngay từ khi còn trẻ, ông đã muốn theo conđường tu hành nhưng vì thương vua cha và vì những trọng trách đối với đất nướcnên đành gác lại tâm nguyện ấy Trong những lúc nhàn rỗi việc nước, nhà vuathường mời các nhà thiền học đến để giảng giải cho mình về cái học tâm tông.Khi đất nước về cơ bản đã ổn định, sự nghiệp nhà Trần đã có người tiếp bước thìlúc ấy vua Trần Nhân Tông mới thực hiện tâm nguyện của mình Theo như ĐạiViệt sử kí toàn thư ghi chép thì vua Trần Nhân Tông chính thức xuất gia vào năm

1299 tại núi Yên Tử, (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) Người truyền tâm ấn vàchứng ngộ Phật pháp cho cho Trần Nhân Tông là người bác của nhà vua, TuệTrung Thượng Sĩ Trần Tung, chính tư tưởng phật giáo của Tuệ Trung Thượng Sĩ

đã ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng thiền tông của Người sau này Khi tu đạo,

5 Hòa thượng Thích Gia Quang - Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Trần Nhân Tông - Vị anh hùng dân tộc và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, http://phatgiao.org.vn/tham-luan-sach/201412/Tran-Nhan- Tong-Vi-anh-hung-dan-toc-va-su-nghiep-bao-ve-to-quoc-16641/ ,

7

Trang 8

Trần Nhân Tông lấy tên hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà6, sau đổi là Trúc LâmĐại Đầu Đà, Người lập tháp miếu, tịnh xá, mở đạo độ tăng, người tìm đến họcđạo rất đông Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông là người kế thừa Thiền sư HuệTuệ, làm tổ sư thứ sáu của Sơn môn Yên Tử, sau đổi thành Trúc Lâm Tiền Phái.Trần Nhân Tông trở thành tổ sư thứ nhất của phái Thiền Trúc Lâm.

Trần Nhân Tông viên tịch vào ngày 1/11/1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên

Tử, thọ 51 tuổi Với cuộc đời 14 năm làm vua, 8 năm tu đạo chốn cửa Phật, nhàvua đã có những đóng góp lớn cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đấtnước trên nhiều lĩnh vực mà đặc biệt là lĩnh vực văn hóa

1.1.2 Sự nghiệp thơ văn của Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông không chỉ được biết đến như một vị vua anh minh với tàithao lược kiệt xuất và các chính sách đối nội, đối ngoại khôn khéo; hay như một

vị thiền sư có nhiều đóng góp to lớn cho nền Phật Giáo Việt Nam, mà Người cònđược biết đến như là một người nghệ sĩ tài hoa với nhiều tác phẩm có giá trị

Thơ văn Trần Nhân Tông gồm 6 bộ phận là : thơ,văn phú, bài giảng, ngữlục, bài giảng và văn thư ngoại giao Tuy nhiên, trong những năm giặc Minh đô

hộ đất nước ta vào đầu thế kỉ XV, với chính sách đồng hóa dân ta, giặc Minh đãcho hủy tất cả không từ một mảnh giấy hay một câu một chữ nào những bản insách, các giấy tờ cho đến sách học của trẻ con như loại “thượng, đại, nhân, khâu,

ất, kỉ”, chính thế mà thơ văn của vua Trần Nhân Tông bị thất lạc nhiều, chỉ cònlại rất ít

Trần Nhân Tông sáng tác bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, theo một số tài

liệu thì các tác phẩm của nhà vua bao gồm: Thiền lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền), Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt

6 Đầu Đà: người tu khổ hạnh, tiếng Phạn là Dh (ta) có nghĩa là rũ bụi, rũ hết bụi bặm của cuộc đời, trong đó có bụi danh, bụi lợi, bụi tài, bụi sắc.

8

Trang 9

của sư tăng), Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá), Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm), Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông), Trung Hưng thực lục (2 quyển, chép việc bình quân

Nguyên xâm lược) Nhưng hầu hất các tác phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại

một số ít được chép rải rác trong Thánh đăng ngữ lục, Thiền tông bản hạnh, An Nam chí lược, Nam Ông mộng lục, Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục, cộng

thêm 3 đoạn phiến trong Đại Việt Sử ký Toàn thư và An Nam chí lược

Về thơ, Lê Mạnh Thát đã sưu tập và khẳng định “tổng số thơ của vua Trần Nhân Tông là 32 bài, cộng với 3 đoạn phiến” 7 Tuy nhiên, con số đó là

chưa tính hết các đoạn phiến nằm rải rác trong các bài phú, văn xuôi và bàigiảng Chúng ta có hai bài thơ chữ Hán trong hai bài phú Đắc thú lâm tuyềnthành đạo ca và Cư trần lạc đạo phú, bài Tán Tuệ Trung trong bài văn xuôiThượng sĩ hành trạng, bài Hữu cú vô cú, Hàm tuyết tại buổi giảng ở chùa SùngNghiêm, núi Chí Linh Ngoài ra, trong buổi giảng này còn có rất nhiều nhữngđoạn phiến thơ hai câu Các bài thơ đều được viết bằng chữ Hán

Về phú, vua Trần Nhân Tông có sáng tác 2 bài phú bằng chữ Nôm là Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca và Cư trần lạc đạo phú Đây được xem là 2 tác phẩm

không chỉ có giá trị lớn về văn học mà còn có giá trị lớn về tư tưởng sống đối vớiPhật Giáo Việt Nam Đặc biệt, Cư trần lạc đạo phú được xem là bản tuyên ngôn

về lẽ sống của Phật giáo Việt Nam, tuyên ngôn ấy đã và đang chi phối tư tưởngsống đẹp của hàng triệu triệu phật tử Phật Giáo Việt Nam xưa và nay Hai bàiphú này của Trần Nhân Tông là một trong những tác phẩm văn chương đầu tiênviết bằng chữ Nôm – thứ chữ riêng của dân tộc ta Chính thế mà chúng đượcxem như là minh chứng cho sự ra đời cũng như là những vẻ đẹp riêng của tiếngViệt dưới goc nhìn của một thứ ngôn ngữ văn học

7 Lê Mạnh Phát, 1999, Trần Nhân Tông – con người và tác phẩm, Nxb TP.HCM

9

Trang 10

Ngoài thơ, phú, Trần Nhân tông còn có văn xuôi, bài giảng, ngữ lục và văn

thư ngoại giao Văn xuôi có bài Thượng sĩ hành trạng, được chép ở cuối sách Thượng sĩ ngữ lục viết về tiểu sử của Tuệ Trung Thượng Sĩ cùng với những bài

tán của môn nhân Thượng Sĩ Bài giảng thì hiện nay biết được 2 bài là bài giảng

ở chùa Sùng Nghiêm (1304) được chép trong Thánh đăng ngữ lục và bài giảng ởviện Kỳ Lân (1306) được Pháp Loa chép lại trong Thiền đạo yếu lược của PhápLoa8 Ngữ lục của vua Trần Nhân Tông thì có 2 loại; một là những đối đáp Thiềnhọc bằng thơ giữa nhà vua và các môn đồ được sư đệ vấn đáp ghi chép lại; hai lànhững lời phát biểu của nhà vua trong các cuộc đón tiếp sứ giặc do sứ giặc ghilại Ngoài ra, nhà vua còn có khoảng trên dưới 20 văn kiện ngoại giao mà nhàvua soạn để gửi cho vua quan nhà Nguyên trong thời gian mà Người còn nắmquyền hành

Dù rằng số lượng tác phẩm còn lại của vua Trần Nhân Tông không nhiều,nhưng hầu như đều có giá trị về các mặt văn học, lịch sử, văn hóa, triết học,chính trị Trên bình diện văn chương, những bài thơ của Trần Nhân Tông lànhững tác phẩm có giá trị cao Mỗi bài thơ là một bức tranh quê hương đất nướcđẹp và thanh bình, là sự hòa hợp giữa hồn thơ và hồn thiên nhiên Tuy nhiên,những bài thơ ấy không đơn thuần là những bức tranh đẹp mà ẩn sâu trong nó lànhững triết lí nhân sinh về cuộc đời, về con người Thơ Trần Nhân Tông khôngnhững góp phần tạo nên bộ mặt chung cho văn chương thời Lý - Trần mà còn thểhiện được tài hoa, phẩm chất và tâm hồn của vị vua Phật Trần Nhân Tông

1.1.3 Thiền phái Trúc Lâm và tư tưởng của Trần Nhân Tông

Thiền phái Trúc Lâm là một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa ViệtNam do vua Trần Thái Tông đặt nền móng, phát triển và truyền thừa từ mô hình

8 Pháp Loa (1284 - 1330) -Tổ thứ hai của phái thiền Trúc Lâm Niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305) Điều Ngự đem Sư lên liêu Kỳ Lân cho thọ giới Tỳ-kheo và giới Bồ-tát Thấy chỗ tham học của Sư đã hành đạt, Điều Ngự cho hiệu là Pháp Loa

10

Trang 11

tổ chức đến nội dung hành trì nhưng người khai sáng và làm rạng danh thiềnphái là vua Trần Nhân Tông, là đệ nhất TổTrần Nhân Tông sáng lập Tên gọiTrúc Lâm vốn là tên hiệu của vua Trần Nhân Tông khi người xuất gia Thiềnphái Trúc Lâm có ba vị Thiền sư nổi tiếng là Trúc Lâm Đầu Đà ( Trần NhânTông ), Pháp Loa và Huyền Quang, ba vị này được xem là ba vị tổ của dòngthiền Trúc Lâm ( Trúc Lâm Tam tổ ) Thiền phái Trúc Lâm được coi là sự tiếpnối của dòng Yên Tử, là sự hợp nhất của ba dòng thiền trước đó ở Việt Nam là

Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tỳ Ni Đa Lưu Chi Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín, tinh thần của nó là tinh thần quốc gia Đại Việt Nó

là xương sống của một nền văn hóa Việt Nam độc lập Nền Phật giáo này tuy có tiếp cân những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình 9 Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo đặcbiệt, nó được sáng lập bởi một vị vua và vì thế nó có đôi chút khác biệt vớinhững dòng Phật giáo khác Phật giáo Trúc Lâm là dòng Phật giáo nhập thế, nộidung tư tưởng và ý thức hệ của dòng Phật giáo này gắn bó mật thiết với các vấn

đề chính trị và xã hội của đất nước ta thời bấy giờ

Nói về tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm là nói đến tư tưởng của TrầnNhân Tông, bởi lẽ những tư tưởng, triết lí sống của Người đã trở thành tư tưởng,tôn chỉ chung cuả Thiền phái này Hai nhân vật có ảnh hưởng sâu sắc đến tưtưởng và triết lí sống của Nhất tổ Trần Nhân Tông chính là hai vị thiền sư nổitiếng là vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ

Tư tưởng của Trần Nhân Tông có thể được nói gọn trong mấy chữ “Phật tại Tâm”” “Tâm” chính là khái niệm trung tâm, chính yếu nhất của Thiền Tông,

nó chi phối toàn bộ và xuyên suốt mọi vấn đề trong cuộc sống Theo Trần Nhân

Tông “tâm” là căn nguyên, là nguồn gốc của vũ trụ, vạn vật Tư tưởng này của

9 Nguyễn Lang, ( 1999 ) Việt Nam Phật Giáo sử luận I – II – III, Nxb Khoa học – Xã hội.

11

Trang 12

Trần Nhân Tông được thể hiện rất rõ nét trong bài thi kệ bằng chữ Nôm là“Cư trần lạc đạo”của nhà vua.

“Vậy mới hay!

Bụt ở trong nhà;

Chẳng phải tìm xa

Khuây khuây bản nên ta tìm bụt;

Đến cốc hay chỉn bụt là ta.”

Muốn tìm “bụt” đâu cần phải ngó nghiên khắp chốn, chỉ cần trở về với cái

“tâm” tự nhiên, trong trẻo, thanh tịnh vốn có của mình, tức là trở về với cái gốc

“tâm” của mỗi người “Bụt” chính là “ta”, và “ta” chính là “bụt”, dĩ nhiên “ta” ở

đây là cái “ta” đã được giác ngộ chứ không phải cái ta thông tục, bình thường ởtất cả mọi người

Trần Nhân Tông chủ trương lối tu đạo nhập thế, nghĩa là không tách biệtvới đời sống hiện thực mà hơn thế tu đạo là phải gắn liền với đời sống, mỗi phật

tử là một nhân tố của xã hội, góp sức cho xã hội, cho đất nước tiến bộ, giàu đẹp

Tu đạo không nhất thiết phải lên núi cao, chùa xa mà ẩn cư, người tu đọa hoàntoàn có thể tu ở bất kì đâu, tu đạo không phải là tránh xa sự đời như các thiền sưTrung Quốc mà là sống gần hơn với đời, để hiểu đời và dùng nó để giáo hóangười đời

Nếu như trước đó Tuệ Trung Thượng Sĩ cho rằng sống chết là vô thường,cần phải điềm nhiên mà đón nhận đó để cho tâm được an thì vua Trần NhânTông lại nhiều lần bàn đến vấn đề sinh tử Nhà vua cho rằng nếu đã là người thì

ắt phải có thân:

“Thân như hơi thở qua buồng phổi,

12

Trang 13

Kiếp tựa mây luồn đỉnh núi xa.”

1.2 Khái niệm “Thiền” và “thơ Thiền”

1.2.1 Khái niệm “Thiền”

Từ điển Hán Việt cuả Thiều Chửu định nghĩa: “Thiền có nghĩa là lặng nghĩ suy xét, đạo phật lấy thanh tĩnh xét tỏ chân lí làm tôn chỉ nên gọi là Thiền Cũng gọi là “Thiền na”” 10

Từ điển Phật học của Đoàn Trung Còn định nghĩa “Thiền: tiếng Phạn, gọi trọn chữ là “Thiền na” ( Dhyana ), cũng cùng nghĩa với Thiền định, tham Thiền,

tư duy Khái niệm này dùng với hai nghĩa là danh từ và động từ.” 11

Như vậy, từ hai định nghĩa trên ta có thể kết luận : Thiền nghĩa là suy xét,ngẫm nghĩ về đạo lí, là một hình thức tín ngưỡng khó diễn đạt hết bằng ngônngữ, càng không thể lĩnh hội bằng lí trí, chỉ có thể dụng tâm mà thấu hiểu

Thiền không giống với bất kì một tôn giáo, tín ngưỡng nào khác, Thiềnkhông bắt con người ta phải rời xa thực tế, không ràng buộc con người ta bằngnhững nghi thức tôn giáo rườm rà Thiền là nhập thế Con người ta bước vàotrạng thái Thiền khi nhập tâm nhất vào một việc nào đó đâng làm, hay vào mộtthời điểm mình đang tồn tại Thiền nghĩa là không chấp niệm, luôn thuận theo tựnhiên, nhìn nhận mọi việc tho đúng bản chất của nó Triết lí của Thiền là thứ triết

10 Thiều Chửu (1999), Tự điển Hán Việt, nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội

11 Đoàn Trung Còn (1997), Từ điển Phật học, nxbTp.HCM

13

Trang 14

lí hướng đến việc giúp con người ta thanh thản, an lạc, giúp con người cân bằngcuộc sống của con người, thanh lọc tâm của mỗi người.

Thiền ở Việt Nam, không chỉ mang những đặc trưng chung của Thiền mà

có thêm những nét riêng như tinh thần nhập thế, vô ngôn, vô ngã, vô thường vàtam giáo đồng nguyên Tất cả những yếu tố trên làm nên một triết lí Thiền rấtriêng của riêng người Việt Nam, mà đặc biệt là con người Việt Nam thời Lí Trần

1.2.2 Khái niệm “thơ Thiền”

Thơ Thiền cho đến hiện tại dù đã là một khái niệm rất phổ biến trong giớinghiên cứu văn học nhưng nội hàm của khái niệm này vẫn còn chưa được thốngnhất cho rõ ràng

Từ trước đến nay, có nhiều nhà nghiên cứu có đưa ra nhiều quan niệmkhác nhau về thơ Thiền Nhưng hiện nay khái niệm đang được đông đảo giới

nghiên cứu chấp nhận và sử dụng rộng rãi là : “Thơ Thiền là thơ cảu các nhà sư

và cả những người không đi tu nhưng am hiểu và yêu thích Phật giáo, hình thức trực tiếp hay gian tiếp dùng hình ảnh, ngôn ngữ nhà Phật, nội dung trực tiếp hay gián tiếp nêu lên một triết lí Thiền, một cảm xúc hay một tâm trạng Thiền khi nhận thức và giải minh thế giới.”

Với quan niệm này, thơ Thiền là một khái niệm có tính chất bao quátnhiều bộ phận thơ ca nhà chùa như kệ Thiền, tụng cổ, thơ triết lí, thơ thù tạc, tántụng Thiền, cả thơ cảm xúc và tâm trạng Thiền, tuy nhiên thể loại trung tâm củathơ Thiền vẫn là kệ

Thơ Thiền hình thành vào thời nhà Lý, phát triển mạnh mẽ ở thời nhàTrần Với thơ Thiền, thơ chưa hẳn là thơ Thơ là bài học, là giá trị sống, là triết líThiền Mỗi bài thơ là một bài học mà các thiền sư đã chiêm nghiệm được khái

14

Trang 15

quát lại trong một hình thức vô cùng ngắn gọn và tinh vi mà người nghe muốnhiểu cũng cần có kinh nghiệm, có thời gian suy nghĩ vền nó thì mới hiểu được.

1.3 Cảm hứng thơ và cảm hứng thiên nhiên trong thơ

1.3.1 Cảm hứng thơ

Cảm hứng của một tác phẩm nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng,luôn gắn liền với đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Nó là một phần trongchỉnh thể của một tác phẩm văn học Nghĩa là trong mỗi loại hình nghệ thuật,mỗi tác phẩm nghệ thuật luôn tồn tại một thứ cảm xúc mãnh liệt gọi là cảmhứng

Về mặt ngữ nghĩa, Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Cảm hứng (danh từ) là trạng thái tâm lí có cảm xúc và hết sức hứng thú, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả.” 12

Các triết gia cổ Hy Lạp và sau này là Hegel và Biêlinxki đều dùng từ

“cảm hứng” để chỉ “trạng thái phấn khích cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy nao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại”

Theo Bielinxki: cảm hứng là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những

sáng tác đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khác vọng nhiệt thành.”

Về mặt lí luận văn học, cảm hứng hay cảm hứng chủ đạo của một tác

phẩm văn học được định nghĩa là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm.” 13

12 Hoàng Phê, 2011, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 145.

13 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi ( đồng chủ biên ), 2007, Từ điển thuật ngữ văn học, tr.44.

15

Trang 16

Còn trong “Lí luận văn học” do Trần Đình Sử chủ biên khẳng định “cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động” 14 Và tài liệu này cũng khẳng định “Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học”.

Như vậy, có thể nói gọn thuật ngữ cảm hứng trong mấy ý sau : cảm hứng

là trạng thái cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ, chi phối toàn bộ tư tưởng tìnhcảm của tác phẩm và gây tác động phần nào đến cảm xúc của người đọc

Ban đầu thuật ngữ cảm hứng chủ đạo được dùng để chỉ yếu tố nhiệt tìnhkhi diễn thuyết, sau này nó được dùng để chỉ trạng thái mê đắm của nhà thơ khixuất hiện các tứ thơ Về sau, lí luận văn học lại dùng thuật ngữ này để chỉ mộtyếu tố nội tại trong nội dung của một tác phẩm nghệ thuật, của thái độ tư tưởngxúc cảm ở nghệ sĩ được thể hiện qua tác phẩm đó Cảm hứng chủ đạo của mộttác phẩm nghệ thuật quy định tất cả các yếu tố trong chỉnh thể của tác phẩm Đây

là sự căng thẳng cảm xúc đạt đến một mức độ nào đó mà ở đó người nghệ sĩkhẳng định thế giới quan của mình trong tác phẩm

Ở đây, xét riêng trong mảng thơ, tư tưởng của một tác phẩm thơ hoặc mộtchuỗi các tác phẩm của cùng một tác giả có thể được hiểu là thứ cảm xúc mãnhliệt của thi nhân khi nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận nhận thấy, sờ thấy, … mộtđiều gì đó Một bài thơ là sản phẩm cuối cùng được tạo nên bởi những cảm xúcmãnh liệt, và trong nó chứa đựng những tư tưởng, tình cảm của tác giả Điều đặcbiệt là thứ cảm xúc mãnh liệt này không phải là thứ tình cảm một chiều hay làthứ tình cảm được biểu hiện ra ngoài một cách cụ thể hay hiển hiện lên trên bềmặt câu chữ của bài thơ Cảm xúc trong thơ là thứ tình cảm được cảm nhận quanhững hình ảnh, những thủ pháp nghệ thuật mà nhà thơ vô tình hay cố ý sửdụng Đồng thời, nhà thơ không hề độc chiếm thứ cảm xúc ấy mà hoàn toàn để

14 Trần Đình Sử ( chủ biên ) , Lí luận văn học, tr.268.

16

Trang 17

cho người đọc tự cảm nhận lấy, do vậy cảm hứng của tác phẩm thơ có thể thayđổi tùy thuộc vào những yếu tố khách quan và chủ quan từ người đọc.

1.3.2 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ

Cảm hứng thiên nhiên trong thơ có thể hiểu một cách đơn giản đó là trạngthái cảm xúc của thi nhân được đẩy lên đến mức cao độ khi đứng trước khungcảnh thiên nhiên Ở giây phút đó, tồn tại một niềm tin yêu, say mê một cách tột

đỉnh đến mức thi nhân sinh tình mà “xuất khẩu thành thơ”.

Trong thơ văn trung đại, thi nhân thường vì đứng trước cảnh đẹp mà “ngẫu hứng”, “tức hứng”, “mạn hứng”, ấy là khi mà thứ tình cảm say mê ấy được dấy

lên cùng với lí tưởng, với cái đạo của đời và cái đạo của người

Có thể thấy dược thiên nhiên là một đề tài lớn và xuyên suốt trong tiến trìnhvăn học Việt Nam từ khi hình thành cho đến ngày nay Tuy vậy, xét về bản chấtthì cảm hứng với thiên nhiên qua từng giai đoạn, từng thời kì lại có những nétkhác biệt

Trong văn học dân gian, thiên nhiên xuất hiện đúng với cái bản chất của nó

Là cánh đồng rộng lớn, là vầng trăng, là con sông, là cánh cò, …… Thiên nhiênhào hợp với con người, là một phần trong cuộc sống của con người

“Đường lên xứ Lạng bao la?

Cách một trái núi với ba quãng đồng.

Ai ơi, đứng lại mà trông,

Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ”

Trong thơ văn trung đại, thi nhân thường vì đứng trước cảnh đẹp mà “ngẫuhứng”, “tức hứng”, “mạn hứng”, ấy là khi mà thứ tình cảm say mê ấy được dấylên cùng với lí tưởng, với cái đạo của đời và cái đạo của người

17

Trang 18

Vẫn là thiên nhiên ấy, nhưng đến với thơ thiền, thiên nhiên vừa chính là nóvừa là biểu tượng cho triết lý Thiền Một đóa mai bung nở vào buổi sớm hay mộtvầng trăng hiền hòa lúc nữa đêm đều ẩn chứa trong nó một triết lí thiền vô cùngthâm sâu.

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”

( Cáo tật thị chúng – Mãn Giác )

Đối với thơ ca nhà Nho, thiên nhiên lại được xem như nơi kí thác tâm tìnhcủa người quân tử Cốt cách của người quân tử được ước lệ qua hình ảnh tùng,mai, cúc, trúc Các nhà Nho để cho thiên nhiên vượt ra khỏi cái bản chất vốn cócủa nó mà biến thành một người bạn, một kẻ tâm tình để thi nhân ta trút bầu tâmsự

“Côn Sơn hữu tuyền

Kì thanh linh linh nhiên Ngô dĩ vi cầm huyền Côn Sơn hữu thạch

Vũ tẩy đài phô bích, Ngô dĩ vi đạm tịch.

Nham trung hữu tùng, Vạn lí thúy đồng đồng, Ngô ư thị hồ ngâm khiếu kì trắc….

( Côn Sơn ca - Nguyễn Trãi )

18

Trang 19

Và đến với văn học hiện đại, thiên nhiên lại bước vào thơ ca với đúng bảnchất của nó Thiên nhiên lúc này chỉ là thiên nhiên và không hề là vật kí thác tâmtình hay là biểu tượng cho một thứ triết lí nào cả.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

1.3.3 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ ca thời Lý – Trần

Cùng là một đối tượn nhưng qua mỗ thời đại, chúng lại xuất hiện trong thơ

ca với một tư cách khác Thiên nhiên cũng vậy, cũng là trăng, là hoa đấy, cũngcùng là thơ Thiền đấy, nhưng đối với một thời đại, thi nhân lại mang vào thơ camột màu sắc khác của thiên nhiên và đông thời mang thiên nhiên vào thơ vớimục đích khác

Ở thời Lý, thi nhân mang thiên nhiên vào thơ như một thứ biểu tượng đểbày tỏ cảm quan Thiền học của mình Mỗi khi muốn truyền đạt một triết lí Thiềnnào đó, các Thiền sư thường nén thứ triết lí đó vào một bài kệ để truyền dạy chohọc trò của mình Tuy nhiên, vì thiên nhiên chỉ được xem như một công cụ để kígửi triết lí Thiền, là biểu tượng cho triết lí Thiền nên thiên nhiên xuất hiện trong

19

Trang 20

thơ là một thiên nhiên khác, một thiên nhiên chưa thực sự là thiên nhiên Thiênnhiên được cảm nhận thông qua triết lí Thiền nên vẻ đẹp thiên nhiên mà ngwuofiđọc cảm nhận được hay vẻ đẹp mà thi nhân muốn truyền tải chưa phải là vẻ đẹpthật của thiên nhiên mà là vẻ đẹp của triết lí Thiền.

Thiền sư Giác Hải trước lúc lâm chung có làm một bài lệ để nhắc nhở đệ tửmình không nên đau lòng vì sự ra đi của mình:

“Xuân lai hoa điệp thiện tri thì Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ Hoa điệp bản lai giai thị ảo Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.”

Ở đây, thiền sư Giác Hải thông qua hình ảnh của bướm hoa mà bàn về sựtồn tại của con người Chuyện sống – chết của con người là tất yếu, là lẽ tựnhiên Con người đã được sinh ra ắt phải có lúc chết đi cũng như bướm hoa, đếnmùa xuân thì lại đua nhau khoe sắc theo như đúng quy luật của thiên nhiên Thânxác con người cũng mong manh, ngắn ngủi như cuộc đời hoa bướm kia Hìnhảnh bướm hoa đang khoa sắc kia cũng chỉ là huyền ảo mà thôi, chúng chỉ tồn tạitrong phút chốc rồi lại biến mất như chưa từng tồn tại Cho nên đừng thấy bướmhoa đẹp mà sinh lòng thương tiếc đau buồn khi nó không còn nữa bởi đó chỉ làquy luật của tạo hóa mà thôi

Ngược lại, trong thơ Thiền thời Trần, thiên nhiên không chỉ là phương tiện

để truyền đạt những triết lí Thiền mà còn là đối tượng thẫm mĩ thật sự của thơ ca.Trong những giai đoạn đầu của nhà Trần, thiên nhiên được đưa vào trong thơ vẫn

là một đối tượng quen thuộc để các Thiền sư truyền tải triết lí Thiền

“Hoặc nhân vấn ngã hà tiêu húc

20

Trang 21

Vân tại thanh thiên thủy tại bình”

( Trần Thánh Tông )

Mây trên trời xanh ( vân tại thiên thanh ) hay nước trong bình ( thủy tạibình ) đều là biểu tượng cho lẽ sống chết của con người Tùy theo hoàn cảnh màtuwj điều chỉnh bản thân mình, có lúc có thể tự do tự tại, thong dong như mâytrên trười xanh, nhưng ũng có lúc tự khuôn mình vào nơi nhỏ hẹp như nướctrong bình mà không lấy làm phiền muộn

Tuy nhiên, cũng trong những thời kì đầu của nhà Trần, đã có nhiều tácphẩm thơ Thiền mang đậm chất thơ

“Phong đả tùng quang nguyệt chiếu đình Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh.

Cá trung tư vị vô nhân thức Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh”

( Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn – Trần Thái Tông )

Bài thơ vừa đậm chất thơ vừa mang cái ý vị của triết lý Thiền Hình ảnhđêm trăng sáng với gió thu đập vào cánh cửa bằng gỗ thông vốn là hình ảnh màthường ngày ta vẫn thường thấy nhưng ở đây nhà vua lại cảm nhận được một ý

vị riêng Cái niềm vui nho nhỏ ấy đã khiến cho vị “sơn tăng” vui đến sáng.

Niềm vui nhỏ đó của nhà vua và cả vị thiền sư ấy là cái niềm vui tự tại trong tâmhồn không vướn bận Niềm vui ấy hòa nhập trọn vẹn vào với trăng, với gió màkhông hề có cái cảm thức kiếp người hữu hạn như cảm thức của thơ Thiền thời

kì trước

21

Trang 22

Càng về sau, thiên nhiên dần thoát ra khỏi cái khuôn mẫu có sẵn, đặc biệt

là vào cuối thời nhà Trần Khi ấy, thiên nhiên thực sự trở thành khách thể trữ tìnhcủa tác phẩm Triết lí Thiền giờ đây không còn được kí gửi vào thiên nhiên, nhờthiên nhiên nói hộ nữa mà hòa quyện hoàn toàn vào trong thiên nhiên Thơ Thiềnkhông chỉ mang cái ý vị trong triết lí của nhà Phật mà còn có cái phóng khoángthanh nhã của Nho gia, có cái nhàn dật của Lão Trang

“Tiểu đĩnh thừa phong phiếm diểu mang Sơn thanh thủy lục hựu thu quang

Sổ thanh ngue địch lô hoa ngoại Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương.”

( Phiếm chu – Huyền Quang )

Thiền sư Huyền Quang trong bài thơ này đã bày tỏ nỗi khát vọng đượcphiêu du, cưỡi mây, đạp gió hay lướt sóng ngao du như một khách hải hồ quanhững vần thơ bay bổng, phóng khoáng, bàng bạc thiền vị Thiên nhiên, conngười và ý vị của triết lí Thiền hòa lại với nhau làm một Có cái gì đó phóngkhoáng, nhẹ nhàng, không chút ràng buôc của khách ngao du Chủ thể trữ tìnhmang trong mình một cái tâm tĩnh và một tấm lòng đầy rộng mở Có thế mới cóthể cảm nhận hết cái ý vị của cảnh vật xung quanh mình

Như vậy, có thể kết luận rằng hình ảnh thiên nhiên trong thơ thiền đangdần rời xa cái chức năng là vật truyền tải của nó mà trở về với đúng bản chất củakhách thể trữ tình Thiên nhiên cuối thờ Trần đã không còn là một thiên nhiêntách biệt với hiện thực, thiên nhiên lúc này đã có thể bước vào trong thơ như nóvốn là vậy

22

Ngày đăng: 25/03/2023, 23:14

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w