TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN BÀI TẬP LỚN Đề số 172 Phân tích đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền Vận dụng để phân tích thực trạng thu hút FDI công nghệ sạch ở Việt[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA: KHOA HỌC CƠ BẢN
BÀI TẬP LỚN
Đề số 172: Phân tích đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Vận dụng để phân tích thực trạng thu hút FDI công nghệ sạch ở Việt Nam hiện nay
Liên hệ trách nhiệm bản thân
Họ và tên: Lưu Tích Khánh Chung MSSV: 21010531
STT: 22 Giảng viên hướng dẫn: Đồng Thị Tuyền
Lớp: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN-1-1-22(N06)
Năm học: 2022-2023
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I Đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền 3
1 Chủ nghĩa tư bản độc quyền 3
2 Đặc điểm của xuất khẩu tư bản 3
3 Các hình thức xuất khẩu tư bản 4
4 Biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản 6
II Thực trạng thu hút FDI công nghệ sạch ở Việt hiện nay 7
1 FDI “xanh” 7
2 Thực trạng thu hút FDI xanh ở Việt Nam 7
III LIÊN HỆ BẢN THÂN 8
KẾT LUẬN 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3MỞ ĐẦU
Thời đại hiện nay là thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, với xu hướng hội nhập hoá-quốc tế hoá mạnh mẽ mang tính toàn cầu Sự vận động của các dòng vốn đầu tư diễn ra với quy mô và chất lượng ngày càng lớn và cùng với xu hướng đó sự phân công lao động quốc tế cũng ngày càng sâu sắc Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
là một nhân tố hết sức quan trọng, là xu hướng tất yếu khách quan đối với tất
cả các nước trong đó có Việt Nam
Việc nghiên cứu trên bình diện chung nhất đặc điểm của xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền cũng như những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh đó vấn đề bảo vệ môi trường được đề cao trong quá trình sản xuất đã tác động đến thu hút FDI vào Việt nam mang tính lý luận thực tiễn và vô cùng sâu sắc Chính vì vậy, em đã chọn
đề tài “Phân tích đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền Vận dụng để phân tích thực trạng thu hút FDI công nghệ sạch ở Việt hiện nay.” làm đề tài bài tiểu luận kết thúc học phần Kinh tế chính trị Mác - Lênin của mình
Trang 4NỘI DUNG
I Đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
1 Chủ nghĩa tư bản độc quyền
Chủ nghĩa tư bản độc quyền là chủ nghĩa tư bản trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Nếu trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, sự phân hóa giữa các nhà tư bản chưa thực sự sâu sắc nên quy luật thống trị của thời kỳ này là quy luật lợi nhuận bình quân, còn trong chủ nghĩa tư bản độc quyền, quy luật thống trị là quy luật lợi nhuận độc quyền
Chủ nghĩa tư bản độc quyền mang 3 đặc điểm chính: sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền, tư bản tài chính, xuất khẩu tư bản
2 Đặc điểm của xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản nước ngoài) nhằm bóc lột giá trị thặng dư và các nguồn lực khác của nước nhập khẩu tư bản Lê-nin khẳng định xuất khẩu tư bản khác về nguyên tắc với xuất khẩu hàng hoá và là một quá trình ký sinh Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất khẩu tư bản trở nên phổ biến vì:
Một là, trong một số ít nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng
lớn tư bản kếch xù và một bộ phận đã trở thành “tư bản thừa” do không tìm được nơi đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao ở trong nước
Hai là, khả năng xuất khẩu tư bản nảy sinh do nhiều nước lạc hậu về
kinh tế được thu hút bởi sự giao lưu kinh tế thế giới, nhưng lại thiếu vốn Ở
Trang 5các nước này, giá đất tương đối thấp, giá lao động thấp, nguyên liệu đầu vào
rẻ nên tỷ suất lợi nhuận cao
Ba là, chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn kinh tế – xã hội
càng gay gắt Xuất khẩu tư bản trở thành biện pháp làm giảm mức gay gắt đó
3 Các hình thức xuất khẩu tư bản
a Theo cách thức đầu tư
Xuất khẩu tư bản có thể được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp
Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư
để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao, biến nó thành một chi nhánh của
“công ty mẹ” ở chính quốc Các xí nghiệp mới hình thành thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp song phương hoặc đa phương, nhưng cũng có những xí nghiệp toàn bộ vốn là của công ty nước ngoài
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc cho vay để thu lợi tức, mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu
tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư
b Theo chủ sở hữu
Ta có xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tư nhân
Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà nước lấy tư bản từ ngân quỹ của mình đầu tư vào các nước nhập khẩu tư bản, hoặc viện trợ hoàn lại hay không hoàn lại để thực hiện những mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự
Trang 6Về kinh tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường hướng vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận cho đầu tư tư bản tư nhân
Về chính trị, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm cứu vãn chế độ chính trị thân cận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lâu dài
Về quân sự, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vào các khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải đa quân tham chiến chống nước khác, cho nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình hoặc đơn thuần để bán vũ khí
Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu tư bản do tư bản tư nhân thực hiện Ngày nay, hình thức này chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hành thông qua hoạt động đầu tư kinh doanh Hình thức xuất khẩu tư bản tư nhân có đặc điểm là thường được đầu tư vào các kinh tế có vòng quay ngắn và thu được lợi nhuận độc quyền cao Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức chủ yếu của xuất khẩu tư bản, có xu hướng tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng tư bản xuất khẩu Nếu những năm 70 của thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản tư nhân đạt trên 50% thì đến những năm 80 của thế kỷ này nó đã đạt đến
tỷ lệ 70% trong tổng tư bản xuất khẩu
c Theo cách thức hoạt động
Có các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia, hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng hay các trung tâm tín dụng và chuyển giao công nghệ, trong đó, hoạt động dưới hình thức chuyển giao công nghệ là biện pháp chủ yếu mà các nước xuất khẩu tư bản thường sử dụng để khống chế nền kinh
tế của các nước nhập khẩu tư bản Xuất khẩu tư bản về thực chất là hình thức
mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi quốc tế, là sự bành trướng thế lực của tư bản tài chính nhằm bóc lột nhân dân lao động thế giới, làm cho các nước nhập khẩu tư bản bị bóc lột giá trị thặng dư, cơ cấu kinh tế
Trang 7què quặt, lệ thuộc vào nền kinh tế nước tư bản chủ nghĩa Từ đó làm cho mâu thuẫn kinh tế – xã hội gia tăng
4 Biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản
Thứ nhất, trước kia luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản
phát triển sang các nước kém phát triển Nhưng những thập kỷ gần đây đại bộ phận dòng đầu tư lại chảy qua lại giữa các nước tư bản phát triển với nhau
Đó là do: ở các nước tư bản phát triển đã phát triển các ngành có hàm lượng khoa học - kỹ thuật cao và hàm lượng vốn lớn, nên đầu tư vào đây lại thu được lợi nhuận cao Ở các nước đang phát triển lại có kết cấu hạ tầng lạc hậu, tình hình chính trị kém ổn định, nên đầu tư có phần rủi ro và tỷ suất lợi nhuận của tư bản đầu tư không còn cao như trước đây
Thứ hai, chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trò của
các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation - TNCs) trong xuất khẩu
tư bản ngày càng to lớn, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ các nước đang phát triển
Thứ ba, hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan xen giữa xuất
khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá tăng lên Chẳng hạn trong đầu tư trực tiếp xuất hiện những hình thức mới như: xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BuildOperateTransfer BOT); xây dựng chuyển giao (Built and Transfer -BT) Sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản với các hợp đồng buôn bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám, không ngừng tăng lên
Thứ tư, sự áp đặt mang tính chất thực dân trong xuất khẩu tư bản đã
được gỡ bỏ dần và nguyên tắc cùng có lợi trong đầu tư được đề cao
Trang 8II Thực trạng thu hút FDI công nghệ sạch ở Việt hiện nay
Hiện nay, Việt Nam chưa có khái niệm riêng về FDI xanh, nhưng trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 đã đưa ra định nghĩa về công nghệ xanh và sản phẩm xanh Theo
đó, công nghệ xanh là “công nghệ phát triển, áp dụng sản phẩm, trang bị và những hệ thống được dùng để bảo tồn môi trường và tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động của con người”; còn sản phẩm xanh là “sản phẩm không độc hại, sử dụng năng lượng và nước hiệu quả và vô hại đối với môi trường”
Như vậy, có thể hiểu, FDI xanh là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sản xuất sản phẩm và dịch vụ môi trường, hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài có quy trình sản xuất giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhằm mục đích vừa phát triển kinh tế, trong khi sử dụng được hợp lý tài nguyên, tránh việc hủy hoại môi trường, biến đổi khí hậu và mất cân bằng sinh thái ở nước nhận đầu tư
2 Thực trạng thu hút FDI xanh ở Việt Nam
Qua hơn 30 năm, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào hầu hết các ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân Nhưng theo thống kê về các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tính đến hết năm 2020, trong tổng số hơn
33000 dự án, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm hơn 15000 dự án, bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy,… chiếm hơn 5000 dự án, các hoạt động nghiên cứu chuyên môn về khoa học, công nghệ chiếm khoảng 3500 dự án và lĩnh vực truyền thông chiếm khoảng 2300 dự án, còn lại được chia cho các ngành kinh tế khác Có thể thấy, đa phần các dự án FDI tập trung vào các lĩnh vực không thân thiện với môi trường lắm, xả nhiều rác thải và giá trị gia tăng
Trang 9thấp Dù vậy, các doanh nghiệp sở hữu các dự án FDI đa phần không tân tiến hơn các doanh nghiệp trong nước là bao (hơn 80%)
Thực trạng này còn tiếp diễn là do Việt Nam chưa có đủ kinh nghiệm
và cơ chế, tiêu chuẩn môi trường để sàng lọc hiệu quả các dự án FDI, đồng thời chưa lường hết được những nguy cơ tiềm ẩn về vấn đề gây ô nhiễm môi trường của một số dự án FDI, nhất là những dự án phát sinh nguồn thải lớn để
có biện pháp quản lý, giám sát hiệu quả Các quy định về bảo vệ môi trường chưa có sự chặt chẽ, bao quát cũng như tính răn đe, các cấp, các ngành chưa kiểm soát sát sao dẫn tới các nhà đầu tư không xem trọng việc đảm bảo công tác bảo vệ môi trường mà chỉ chú trọng vào gia tăng lợi nhuận
III LIÊN HỆ BẢN THÂN
Vẫn còn là sinh viên ngồi trên ghế nhà trường, em chưa thể có nhiều hành động giúp đỡ triệt để trong việc thu hút FDI cho nước nhà Dù vậy, là sinh viên học ngành Quản trị Du lịch, em có thể góp phần gây dựng nền kinh
tế trong tương lai với những nghề nghiệp em đang theo đuổi, hoàn toàn có thể vươn tới các quốc gia khác, kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài cũng như không ảnh hưởng gì đến vấn đề môi trường
Trang 10KẾT LUẬN
Qua các số liệu thông kê và các quan điểm tham khảo từ nhiều nguồn,
em có thể thấy việc thu hút FDI công nghệ sạch trong nước chưa thể hiện sự hiệu quả như kì vọng được đặt ra Nhưng với những chính sách nhà nước đã đặt ra và những chỉ tiêu được đảm bảo hoàn thành trước 2050, em tin Việt Nam có thể tiến gần hơn với công nghệ sạch hơn, vẫn có thể phát triển nền kinh tế sánh vai với cường quốc năm châu mà không gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường Từ những gì em đã tìm hiểu được, em mong bài tiểu luận đã làm rõ được những thiếu sót, những vấn đề còn gặp phải trong công tác thu hút FDI công nghệ sạch hiện nay ở nước ta
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác – Lênin (dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị) – Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Giải pháp thu hút FDI xanh tại Việt Nam – ThS Đàm Thị Thanh Thủy
- Thu hút FDI “sạch” cho phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam – PGS TS Nguyễn Thị Liên Hoa
- Phân tích đặc điểm xuất khẩu tư bản chủ nghĩa tư bản độc quyền – studocu.com
- Công nghệ sạch là gì? – Nguyễn Thùy Trang