1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ BÌNH LUẬN ÁN LỆ TRONG VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN VỪA QUA.

20 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận án lệ trong việc phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 813,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC I. Mở đầu 01 II. Nội dung 02 1. Phân định biển 02 1.1. Khái niệm phân định biển 02 1.2. Các phương pháp phân định biển 04 1.2.1. Phuơngpháp công bằng 04 1.2.2. Phương pháp đường trung tuyến cách đều 04 1.3. Các nguyên tắc phân định biển 04 1.3.1. Nguyên tắc thỏa thuận 04 1.3.2. Nguyên tắc công bằng 05 1.4. Quy định của luật quốc tế về các yếu tố, hoàn cảnh ảnh hưởng đến phân định biến 05 2. Một số án lệ trong việc phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua. 06 2.1. Vụ tranh chấp biển Peru và Chile 2008 07 2.2. Vụ Croatia và Slovenia 2009 08 2.3. Vụ Costa Rica và Nicaragua 2014 09 2.4. Vụ Mauritius và Maldives ở Ấn Độ Dương 2019 10 3.Bình luận án lệ trong việc phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua ...................................................................................................................................... 12 III. Kết luận 16 Tài liệu tham khảo 17 I. Mở đầu Biển và đại dương ngày càng trở nên quý giá ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển. Không chỉ thế, biển và đại dương còn là môi trường thương mại quốc tế và truyền thông bao gồm cuộc sống phong phú và tài nguyên phi sinh vật. Hòa chung với xu thế tiến ra biển và làm chủ biển cũng như sự phát triển của khoa học công nghệ mà sự ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 đã đánh dấu một bước ngoặc trong lịch sử phát triển của luật biển quốc tế hiện đại. Luật biển đúng với tên gọi là “Hiến chương của biển và đại dương” bởi vì vai trò của nó đã được thể hiện rõ nét trải qua 35 năm kể từ khi Công ước cũng có thể coi là một văn bản then chốt của pháp luật quốc tế hiện đại được thông qua. Pháp luật biển chủ yếu là điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế và các công ước, luật tục, quyết định và phán quyết của Tòa án quốc tế. Phân định biển và quá trình hoạch định đường ranh giới giữa hai hay nhiều quốc gia có các vùng biển tiếp giáp hoặc đối diện nhau cũng như việc xác định đường biên giới ngoài các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa luôn là vấn đề trung tâm của luật biển quốc tế. Sau khi UNCLOS 1982 ra đời thì vấn đề phân định biển ngày càng trở nên cấp thiết bởi vì nó liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lượi ích liên quan đến kinh tế, chính trị, an ninh xã hội của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Phân định biển là vấn đề quan trọng trong luật biển bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia có biển trong quá trình xác định biên giới lãnh thổ mà nó còn ảnh hưởng đến trật tự thế giới trên biển. Bởi vì thế, để tránh những xung đột, tranh chấp không đáng có thì việc phân định biển là việc rất cần thiết vì nó liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của quốc gia. Trong việc phân định biển phải tiến hành một cách hợp lý, tôn trọng pháp luật quốc tế và thực tiễn ở các quốc gia. Trong suốt thời gian gần đây, các phán quyết của tòa án không chỉ dựa trên luật pháp hay tập quán mà còn dựa trên các án lệ và nguyên tắc công bằng. Đặc biệt án lệ đã góp phần vào việc làm sáng tỏ các nguyên tắc ,quy định về luật biển là một trong những lĩnh vực cấu thành quan trọng của luật quốc tế. Sự ra đời của án lệ nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt của hệ thống pháp luật. Tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá đối với vụ việc đang cần giải quyết mà luật chưa có quy định hoặc có nhưng chưa rõ ràng, đang còn nhiều cách hiểu khác nhau và bản án này sẽ được Tòa án công bố là án lệ để áp dụng cho các trường hợp tương tự xảy ra trong tương lai. Không có luật, tập quán hoặc luật tương tự để áp dụng; các quy định pháp luật hiện hành không rõ ràng Page 1 và không có tập quán và luật tương tự để áp dụng và tòa án áp dụng tập quán, luật tương tự, công lý hoặc các nguyên tắc cơ bản của pháp luật để giải quyết các vụ việc thì khi đó án lệ sẽ ra đời. Án lệ tạo thành một nguồn luật áp dụng thứ cấp và cần được áp dụng một cách linh hoạt và không bắt buộc. Tuy nhiên, án lệ sẽ bị bãi bỏ trong trường hợp án lệ không phù hợp do có sự thay đổi của pháp luật. Án lệ trong các vụ phân định biển có vai trò quan trọng đến các vụ tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia trong tương lai. Nhờ các án lệ mà tòa án có thể đưa ra phán quyết chính xác, hợp lý, công bằng cho các bên trong quá trình tranh chấp. II. Nội dung 1. Phân định biển 1.1. Khái niệm phân định biển Trước khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển vào năm 1958 với năm 1982 được thành lập thì các quốc gia trên thế giới đã đưa ra các yêu sách về quyền chủ quyền, quyền tài phán của các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia mình. Để tạo ra sự ổn định và trật tự đối với việc sử dụng và quản lý biển thì Luật biển quốc tế đã ra đời để tất cả các quốc gia ven biển đều có quyền hoạch định các vùng biển của quốc gia trên các vùng như vùng lãnh hải, vùng nội thủy, vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế,...Trên khía cạnh nào đó thì đây không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của quốc gia, đặc biệt là các quốc gia thành viên của UNCLOS 1982. Luật biển quốc tế ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc các quốc gia ven biển đều nhằm đến mục đích chung là đem lại lợi ích bằng việc lợi dụng một cách triệt để các điều khoản của Công ước để guốc gia mình có thể mở rộng được các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giác và vùng thềm lục địa. Mỗi nước đều có một cách giải thích khác nhau nhưng đều có chung mục đích là đem lại lợi ích tối đa cho nước mình, yêu sách của các quốc gia về vùng biển chồng lấn lên nhau là điều cần thiết. Chính những vùng biển chồng lấn cần được phân định. Trong trường hợp mà vùng biển của quốc gia độc lập không ảnh hưởng đến lợi ích của bất cứ quốc gia nào thì thì ranh giới của các vùng biển do các quốc gia ven biển xác định phù hợp với pháp luật và thực tiễn của quốc tế. Bên cạnh đó còn có trường hợp vùng biển của các quốc gia ven biển nằm tiếp liền, đối diện hoặc chồng lấn với vùng biển của quốc gia khác thì việc hoạch định giữa hai quốc gia đó cần có sự thỏa thuận bởi các nước liên quan. Sau khi UNCLOS 1982 được ban hành thì vấn đề phân định biển giữa các nước trên thế giới Page 2 trở thành vấn đề cấp thiết bởi vì nó liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia trên trường quốc tế. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến các lợi ích kinh tế, an ninh chính trị, quốc phòng của các quốc gia cũng như quyền tự do biển cả của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, các điều khoản của Công ước vẫn chưa đủ làm cơ sở pháp lý để các quốc gia với nhau có thể dễ dàng thỏa thuận việc phân định các vùng biển của các quốc gia đang tranh chấp. Có thể hiểu, phân định biển một hoạt động mang tính quốc tế, nhằm hoạch định đường biên giới biển là nội thủy, lãnh hải và ranh giới biển làvùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa giữa hai hay nhiều quốc gia có bờ biển đối diện hay tiếp giáp nhau thông qua đàm phán trung gian hoặc các cơ chế tài phán quốc tế. Việc phân định chủ quyền quốc gia hoặc xác định đường biên giới phân chia vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia. Vì vậy, trên cơ sở đó các quốc gia tổ chức, bảo vệ và khai thác các nguồn lợi trong vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia mình theo ranh giới, đường biên giới đã được phân định nhằm góp phần xây dựng môi trường an ninh, hòa bình và ổn định trên vùng biển. Phân định biển được quy định ở các công ước là Công ước Geneva về thềm lục địa 1958, Công ước Geneva về Lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải 1958 và UNCLOS 1982. Các công ước nêu trên tất cả đều ưu tiên sử dụng biện pháp hòa bình là đàm phán để có thể đạt được thỏa thuận về phân định biển. 1.2. Các phương pháp phân định biển Việc thỏa thuận giữa các quốc gia trong việc phân định biển theo pháp luật quốc tế và thực tiễn giữa các quốc gia là sự thỏa thuận giữa các bên liên quan là yếu tố quyết định nên phương pháp và thẩm quyền phân định biển. các bên liên quan có thể thoả thuận lựa chọn hình thức đàm phán để cùng phân định biển. Ngoài ra, các quốc gia cũng có thể lựa chọn một bên thứ ba như toà án hoặc trọng tài quốc tế đứng ra phân định biển. Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp vấn đề phân định biển trở thành một tranh chấp quốc tế và việc giải quyết tranh chấp đó phải có sự tham gia của một cơ quan tài phán quốc tế. Phân định biển là quá trình phức tạp bởi vì nó ảnh hưởng đến chủ quyền và lợi ích của quốc gia đó. Nhìn chung, trên thực tiễn các quốc gia thường thỏa thuận dựa trên các phương pháp phân định biển. 1.2.1. Phương pháp công bằng Trong quá trình phân định biển của phương pháp này, các bên hữu quan cần phải xem xét cũng như cân nhắc các yếu tố cụ thể về hình dáng cụ thể, yếu tố đảo hay Page 3 yếu tố hàng hải để từ đó có thể tìm ra những giải pháp công bằng được các bên công nhận. Những giải pháp đó tất cả đều mang tính đặc thù và thích ứng với từng trường hợp phân định biển cụ thể 1.2.2. Phương pháp đường trung tuyến cách đều Phương pháp đường trung tuyến cách đều được áp dụng cho các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau. Phương pháp này, đường mà tất cả các điểm nằm trên đường đó đều cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quốc gia chính là đường ranh giới để phân định biển. Phương pháp này thường được áp dụng để phân định lãnh hải. Đối với việc áp dụng phương pháp đường trung tuyến cách đều thì các quốc gia phải xem xét một cách thích đáng những hoàn cảnh cụ thể để có thể đạt được kết quả chung một cách công bằng nhất. 1.3. Các nguyên tắc phân định biển Phân định biển là vấn đề cấp thiết và cũng rất phức tạp vì nó liên quan đến việc xác định giới hạn biên giới của vùng biển trên cơ sở pháp luật quốc tế của các quốc gia. Nó mang tính quốc tế nên cần sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế nên được thực hiện dựa trên những nguyên tắc của pháp luật quốc tế. Đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, Điều 15 của UNCLOS 1982 quy định: Khi hai quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến, trừ khi có thỏa thuận ngược lại. Đối với hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Điều 74 và 83 của UNCLOS 1982 quy định: Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng pháp luật quốc tế như đã được nêu ở điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế, để đi tới một giải pháp công bằng. Theo quy định của UNCLOS 1982 và phán quyết của tòa án công lý quốc tế có liên quan đến việc phân định thì có hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc thỏa thuận và nguyên tắc công bằng. 1.3.1. Nguyên tắc thỏa thuận Biển vốn là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia nên việc tranh chấp là điều không thể tránh khỏi bởi vì quốc gia nào cũng muốn nước mình được hưởng nhiều quyền lợi nhất đối với vùng biển. Khi mà tranh chấp xảy ra các bên liên quan cần thông qua đàm phán, thương lượng để có thể thoản thuận các phương pháp và tiêu chuẩn phân định. Ngay trong Công ước 1982 tại Điều 15, 74,83 cũng đặt nguyên tắc Page 4 thỏa thuận lên hàng đầu và các phán quyết của Tòa án quốc tế cũng nói đến nguyên tắc thỏa thuận: “Sự phân định này phải được yêu cầu và thực hiện qua một thoả thuận tiếp theo một cuộc đàm phán thiện chí với ý định thực tế đạt tới kết quả tích cực. Mỗi quốc gia đều có suy nghĩ và có những lập luận của riêng mình nhưng đều phải dựa trên nguyên tắc công bằng, tính hợp tình và phải chú ý đến tất cả mọi hoàn cảnh thích đáng, có tính đến tầm quan trọng của các lợi ích có liên quan đối với các bên tranh chấp và với cộng đồng quốc tế. 1.3.2. Nguyên tắc công bằng Điều 15, Điều 59, Điều 74 và Điều 83 của Công ước 1982 đã quy định thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan đến một vụ phân định biển phải thực hiện dựa trên giải pháp công bằng. Theo Công ước Giơnevo 1958 quy định về thềm lục địa đã chỉ ra phương pháp đường cách đều đường trung tuyến là một phương thức đảm bảo tính công bằng trong việc phân định thềm lục địa trừ trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt. Còn trong UNCLOS 1982 lại không quy định rõ về phương pháp phân định cho giải pháp công bằng. Nhưng phương thức đường trung tuyến cách đều của Công ước Giơnevo đã bị phán quyết của Tòa án quốc tế bác bỏ vì cho rằng nó không bắt buộc giữa các bên và nó chỉ là một trong những phương pháp kỹ thuật để phân định. Để có thể đạt được giải pháp công bằng thì cần đáp ứng hai yếu tố là sự kéo dài tự nhiên lãnh thổ đất liền và không gây chồng lấn sang phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia khác. Tuy nhiên, theo Điều 76 của Công ước 1982 lại thừa nhận thềm lục địa không chỉ có danh nghĩa sự kéo dài tự nhiên mà còn có danh nghĩa pháp lý. Danh nghĩa pháp lý cho phép thềm lục địa của quốc gia ven biển kéo dài ra tới 200 hải lý không phụ thuộc vào yếu tố cấu tạo tự nhiên của đáy biển và lòng đất dới đáy biển. Như vậy, khoảng cách trở thành yếu tố cơ bản để phân định pháp lý thềm lục địa. Một số nguyên tắc công bằng và tiêu chuẩn công bằng ra đời dựa trên thực tiễn xét xử của Tòa án quốc tế và vào năm 1984 trong vụ vịnh Maine đã có năm tiêu chuẩn công bằng được Tòa án công lý đề ra. 1.4. Quy định của luật quốc tế về các yếu tố, hoàn cảnh ảnh hưởng đến phân định biến Theo UNCLOS 1982 và Công ước Geneva về thềm lục địa 1958 quy định về phân định biển các quốc gia phải tính đến cả hoàn cảnh đặc biệt. Qua các án lệ quốc tế thì hoàn cảnh đặc biệt cùng xuất hiện và đồng nhất với hoàn cảnh liên quan. Nhưng Page 5 luật quốc tế cũng không đưa ra định nghĩa và cũng không liệt kê danh mục các yếu tố, hoàn cảnh đặc biệt hay hoàn cảnh liên quan ảnh hưởng đến phân định biển. Điều 15 của UNCLOS 1982 đã quy định về phân định lãnh hải rằng các quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện có thể phân định đường ranh giới lãnh hải bằng phương pháp đường trung tuyến cách đều. Tuy nhiên, phương pháp này khi gặp hoàn cảnh đặc biệt sẽ bị mất hiệu lực bởi nó không áp dụng khi có những danh nghĩa lịch sử hoặc những hoàn cảnh đặc biệt khác cần hoạch định đường biên giới lãnh hải của hai quốc gia theo hai cách khác nhau. Điều 74 và 83 quy định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa gần như giống nhau về nội dung và lời văn. Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khác với phân định lãnh hải vì UNCLOS không đưa ra một phương pháp cụ thể nào để phân định và cũng không đề cập đến hoàn cảnh liên quan hay đặc biệt mà chỉ nhấn mạnh hai nguyên tắc là thỏa thuận và công bằng. Có thể nói, đây là một quyết định hết sức bao quát và mang tính định hướng. Nguyên tắc công bằng và hoàn cảnh đặc biệt có quan hệ chặt chẽ với nhau và “công bằng không gì khác hơn là việc tính đến một tổ hợp những hoàn cảnh lịch sử và địa lý mà sự xem xét đến nó không phải là xóa đi sự công bằng mà làm cho công bằng hơn” mà hoàn cảnh đặc biệt thường tạo ra trường hợp không công bằng nên khi phân định áp dụng nguyên tắc công bằng cần đòi hỏi phải cân nhắc hoàn cảnh hiện có và dành cho từng hoàn cảnh một ý nghĩa thích hợp, cần thiết. Bởi vì không thể liệt kê các danh mục hoàn cảnh đặc biệt cũng như việc các quy phạm được thừa nhận chung nhưng việc nghiên cứu thực tiễn phân định biển giữa các quốc gia để hệ thống hóa những hoàn cảnh liên quan hoặc hoàn cảnh đặc biệt là việc cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. 2.Một số án lệ trong việc phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua Ởmỗi quốc gia có biển, vấn đề phân định biển đều là vấn đề quan trọng và cấp thiết vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của mỗi quốc gia trên vùng biển và nó cũng nhằm giải quyết ổn thỏa các tranh chấp , tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển cho từng khu vực biển cũng như đại dương trên toàn thế giới. Vì thế, phân định biển bao giờ cũng diễn ra phức tạp, trong thời gian tương đối dài, với nhiều nội dung liên quan giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau, thông qua đàm phán, trung gian hoặc các cơ chế tài phán quốc tế khác, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Trong suốt thời gian qua, có rất nhiều án lệ về phân định biển giữa các Page 6 quốc gia trên thế giới. Trong có có nhiều vụ đã được xét xử và nhiều vụ vẫn đang trong thời gian xét xử. Từ năm 1908 đến nay đã có 28 tám vụ về phân định biển và vụ mới nhất là vụ tranh chấp phân định ranh giới biển giữa Mauritius với Maldives ở Ấn Độ Dương. 2.1. Vụ tranh chấp biển Peru và Chile 2008 Vào ngày 16 tháng 1 năm 2008, Cộng hòa Peru đã nộp đơn kiện Cộng hòa Chile tại cơ quan thư kí của tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc liên quan đến tranh chấp ““việc phân định ranh giới giữa các vùng biển của hai quốc gia ở Thái Bình Dương, bắt đầu từ một điểm trên bờ biển có tên là Concordia điểm cuối của ranh giới đất đai được thiết lập theo Hiệp ước Lima ngày 3 tháng 6 năm 1929 ” và đây cũng là một sự công nhận có lợi cho Peru vì đây là một vùng biển trong phạm vi 200 hải lý của bờ biển Peru nên nó thuộc về Peru nhưng Chile lại coi nó là một phần của biển cả. Peru đã yêu cầu tòa phân định hai nội dung chính là phân định đường biên giới trên biển giữa hai quốc gia ở khu vực Thái Bình Dương bắt đầu từ một điểm trên bờ biển gọi là Concordia và công nhận một vùng biển nằm trong phạm vi 200 hải lý tính từ bờ biển Peru thuộc về Peru. Về quan điểm của hai phía thì phía Peru cho rằng không có đường biên giới biển tồn tại giữa hai nước và yêu cầu tòa án áp dụng phương pháp đường cách đều nhằm đại được kết quả công bằng. Còn đối với quan điểm của Chile thì cho rằng tuyên bố Santiago 1952 đã thiết lập một đường biên giới quốc tế, nó đi dọc theo đường vĩ tuyến đi qua điểm bắt đầu của ranh giới đất liền giữa Peru với Chile và mở rộng 200 hải lý Peru. Ngày 27 tháng 1 năm 2014, tòa án ICJ đã đưa ra phán quyết về tranh chấp giữa Cộng hòa Chile với Cộng hòa Peru. Đối tượng của tranh chấp là một khu vực không gian hàng hải ở Thái Bình Dương bao gồm gần bảy mươi nghìn km vuông, hay gần như một khu vực có kích thước bằng Sri Lanka hoặc Georgia”. Tòa án sau khi phân tích các tuyên bố trong đó gồm Tuyên bố 1947 của Peru và Tuyên bố Santiago của Chile và các thỏa thuận giữa các bên Peru, Chile và Ecuador thì tòa án đã kết luận rằng Hiệp định Vùng biên giới hàng hải riêng biệt 1954 thừa nhận rằng một ranh giới trên biển đã tồn tại, mặc dù văn bản đó không nêu rõ ranh giới đó đã được thỏa thuận khi nào và bằng cách nào. Vì vậy, Tòa án cho rằng sự thừa nhận rõ ràng của các bên về sự tồn tại của đường biên giới trên biển chỉ có thể phản ánh một thỏa thuận ngầm mà họ đã đạt được trước đó, và được củng cố bởi Hiệp định Vùng biên giới hàng hải riêng biệt1954. Page 7 Trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, Tòa án kết luận rằng đường ranh giới nói trên là đường ranh giới hàng hải mục đích và được mở rộng đến khoảng cách 80 hải lý dọc theo vĩ tuyến từ điểm xuất phát của nó là có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn. Theo hoàn cảnh của vụ án, Tòa án xác định đường biên giới biển giữa các bên mà không xác định các tọa độ địa lý chính xác. Nó nhắc lại rằng nó đã không được yêu cầu làm như vậy trong đệ trình cuối cùng của các bên. Vào ngày 25 tháng 3 năm 2014, Peru và Chile đã thông qua các phối hợp về ranh giới biển của họ. 2.2. Vụ Croatia và Slovenia 2009 Croatia và Slovenia có tranh chấp về biên giới trên biển ở vịnh Piran, phía Bắc biển Adriatic kể từ khi hai nước tuyên bố độc lập khỏi Liên bang Nam Tư từ năm 1991. Cũng do tranh chấp mà thời gian đàm phán gia nhập EU của Croatia đã từng bị hoãn 10 tháng vào năm 2008, và chỉ được tiếp nhận vào năm 2013. Năm 2009, qua trung gian của EU, hai nước đã ký với nhau thỏa thuận phân định trọng tài về tranh chấp liên quan đến khu vực ranh giới 13km2 gồm bờ biển và mặt biển trên vịnh Piran. Vào ngày 4 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Croatia và Slovenia đã ký Thỏa thuận Trọng tài , theo đó Croatia và Slovenia đệ trình tranh chấp lãnh thổ và hàng hải của họ lên trọng tài. Hai bên đã đệ trình liên quan đến ba vấn đề là đường ranh giới trên biển và trên bộ giữa Cộng hòa Slovenia và Cộng hòa Croatia, Ngã ba của Slovenia với Biển cả và chế độ sử dụng các khu vực biển liên quan. Ba vấn đề này đã được thỏa thuận và trọng tài đã ký năm 2009 được quy định ở Điều 3. Và Điều 4 tòa án yêu cầu tòa án áp dụng các quy tắc và nguyên tắc của luật pháp quốc tế cho các quyết định liên quan đến đường biên giới trên biển và đất liền, luật quốc tế, công bằng và nguyên tắc quan hệ láng giềng tốt đẹp nhằm đạt được một kết quả công bằng và chính đáng bằng cách tính đến tất cả các tình huống liên quan đối với các quyết định liên quan đến ngã ba của Slovenia với Biển Cao và chế độ sử dụng các khu vực biển liên quan. Tòa trọng tài được thành lập vào năm 2012 những đến năm 2015 đã có sự cố liên quan đến tính trung lập và độc lập của một trọng tài viên. Có thể nói, đây là trường hợp hiếm gặp cũng có thể nói là hi hữu trong giải quyết tranh chấp quốc tế khi trọng tài viên hay thẩm phán không giữ đúng tính trung lập và độc lập của bản thân. Chính vì vậy, ngày 297 với đa số phiếu thuận Quốc hội Croatia đã nhất trí rút khỏi thỏa thuận phân định trọng tài liên quan đến tranh cãi về hải giới trên vịnh Piran với Slovenia do cáo buộc nước này đã vi phạm nguyên tắc không thiên vị của tòa án, động thái được xem là cú

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT



BỘ MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

BÌNH LUẬN ÁN LỆ TRONG VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG THỜI GIAN

VỪA QUA.

Trang 2

MỤC LỤC

I Mở đầu 01

II Nội dung 02

1 Phân định biển 02

1.1 Khái niệm phân định biển 02

1.2 Các phương pháp phân định biển 04

1.2.1 Phuơngpháp công bằng 04

1.2.2 Phương pháp đường trung tuyến cách đều 04

1.3 Các nguyên tắc phân định biển 04

1.3.1 Nguyên tắc thỏa thuận 04

1.3.2 Nguyên tắc công bằng 05

1.4 Quy định của luật quốc tế về các yếu tố, hoàn cảnh ảnh hưởng đến phân định biến 05 2 Một số án lệ trong việc phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua 06 2.1 Vụ tranh chấp biển Peru và Chile 2008 07

2.2 Vụ Croatia và Slovenia 2009 08

2.3 Vụ Costa Rica và Nicaragua 2014 09

2.4 Vụ Mauritius và Maldives ở Ấn Độ Dương 2019 10

3 Bình luận án lệ trong việc phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua 12

III Kết luận 16

Tài liệu tham khảo 17

Trang 3

I Mở đầu

Biển và đại dương ngày càng trở nên quý giá ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển Không chỉ thế, biển và đại dương còn là môi trường thương mại quốc tế và truyền thông bao gồm cuộc sống phong phú và tài nguyên phi sinh vật Hòa chung với xu thế tiến ra biển và làm chủ biển cũng như sự phát triển của khoa học công nghệ mà sự ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 đã đánh dấu một bước ngoặc trong lịch sử phát triển của luật biển quốc tế hiện đại Luật biển đúng với tên gọi là “Hiến chương của biển và đại dương” bởi vì vai trò của nó đã được thể hiện rõ nét trải qua 35 năm kể từ khi Công ước cũng có thể coi là một văn bản then chốt của pháp luật quốc tế hiện đại được thông qua Pháp luật biển chủ yếu là điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế và các công ước, luật tục, quyết định và phán quyết của Tòa án quốc tế Phân định biển và quá trình hoạch định đường ranh giới giữa hai hay nhiều quốc gia có các vùng biển tiếp giáp hoặc đối diện nhau cũng như việc xác định đường biên giới ngoài các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa luôn là vấn

đề trung tâm của luật biển quốc tế Sau khi UNCLOS 1982 ra đời thì vấn đề phân định biển ngày càng trở nên cấp thiết bởi vì nó liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lượi ích liên quan đến kinh tế, chính trị, an ninh xã hội của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung Phân định biển là vấn đề quan trọng trong luật biển bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia có biển trong quá trình xác định biên giới lãnh thổ mà nó còn ảnh hưởng đến trật tự thế giới trên biển Bởi vì thế, để tránh những xung đột, tranh chấp không đáng có thì việc phân định biển là việc rất cần thiết vì nó liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của quốc gia Trong việc phân định biển phải tiến hành một cách hợp lý, tôn trọng pháp luật quốc tế và thực tiễn ở các quốc gia Trong suốt thời gian gần đây, các phán quyết của tòa án không chỉ dựa trên luật pháp hay tập quán mà còn dựa trên các án lệ và nguyên tắc công bằng Đặc biệt án lệ đã góp phần vào việc làm sáng tỏ các nguyên tắc

, quy định về luật biển là một trong những lĩnh vực cấu thành quan trọng của luật quốc

tế Sự ra đời của án lệ nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt của hệ thống pháp luật Tòa án

sẽ viện dẫn những căn cứ được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá đối với vụ việc đang cần giải quyết mà luật chưa có quy định hoặc có nhưng chưa rõ ràng, đang còn nhiều cách hiểu khác nhau và bản án này sẽ được Tòa án công bố là án

lệ để áp dụng cho các trường hợp tương tự xảy ra trong tương lai Không có luật, tập quán hoặc luật tương tự để áp dụng; các quy định pháp luật hiện hành không rõ ràng

Trang 4

và không có tập quán và luật tương tự để áp dụng và tòa án áp dụng tập quán, luật tương tự, công lý hoặc các nguyên tắc cơ bản của pháp luật để giải quyết các vụ việc thì khi đó án lệ sẽ ra đời Án lệ tạo thành một nguồn luật áp dụng thứ cấp và cần được

áp dụng một cách linh hoạt và không bắt buộc Tuy nhiên, án lệ sẽ bị bãi bỏ trong trường hợp án lệ không phù hợp do có sự thay đổi của pháp luật Án lệ trong các vụ phân định biển có vai trò quan trọng đến các vụ tranh chấp giữa hai hay nhiều quốc gia trong tương lai Nhờ các án lệ mà tòa án có thể đưa ra phán quyết chính xác, hợp lý, công bằng cho các bên trong quá trình tranh chấp

II Nội dung

1 Phân định biển

1.1 Khái niệm phân định biển

Trước khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển vào năm 1958 với năm

1982 được thành lập thì các quốc gia trên thế giới đã đưa ra các yêu sách về quyền chủ quyền, quyền tài phán của các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia mình Để tạo ra

sự ổn định và trật tự đối với việc sử dụng và quản lý biển thì Luật biển quốc tế đã ra đời để tất cả các quốc gia ven biển đều có quyền hoạch định các vùng biển của quốc gia trên các vùng như vùng lãnh hải, vùng nội thủy, vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế, Trên khía cạnh nào đó thì đây không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của quốc gia, đặc biệt là các quốc gia thành viên của UNCLOS 1982 Luật biển quốc tế ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc các quốc gia ven biển đều nhằm đến mục đích chung là đem lại lợi ích bằng việc lợi dụng một cách triệt để các điều khoản của Công ước để guốc gia mình có thể mở rộng được các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giác và vùng thềm lục địa Mỗi nước đều có một cách giải thích khác nhau nhưng đều có chung mục đích là đem lại lợi ích tối đa cho nước mình, yêu sách của các quốc gia về vùng biển chồng lấn lên nhau là điều cần thiết Chính những vùng biển chồng lấn cần được phân định Trong trường hợp mà vùng biển của quốc gia độc lập không ảnh hưởng đến lợi ích của bất cứ quốc gia nào thì thì ranh giới của các vùng biển do các quốc gia ven biển xác định phù hợp với pháp luật và thực tiễn của quốc tế Bên cạnh đó còn có trường hợp vùng biển của các quốc gia ven biển nằm tiếp liền, đối diện hoặc chồng lấn với vùng biển của quốc gia khác thì việc hoạch định giữa hai quốc gia đó cần có sự thỏa thuận bởi các nước liên quan Sau khi UNCLOS 1982 được ban hành thì vấn đề phân định biển giữa các nước trên thế giới

Trang 5

trở thành vấn đề cấp thiết bởi vì nó liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia trên trường quốc tế Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến các lợi ích kinh tế, an ninh chính trị, quốc phòng của các quốc gia cũng như quyền tự

do biển cả của cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, các điều khoản của Công ước vẫn chưa

đủ làm cơ sở pháp lý để các quốc gia với nhau có thể dễ dàng thỏa thuận việc phân định các vùng biển của các quốc gia đang tranh chấp

Có thể hiểu, phân định biển một hoạt động mang tính quốc tế, nhằm hoạch định đường biên giới biển là nội thủy, lãnh hải và ranh giới biển làvùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa giữa hai hay nhiều quốc gia có bờ biển đối diện hay tiếp giáp nhau thông qua đàm phán trung gian hoặc các cơ chế tài phán quốc tế Việc phân định chủ quyền quốc gia hoặc xác định đường biên giới phân chia vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia Vì vậy, trên cơ sở đó các quốc gia tổ chức, bảo vệ và khai thác các nguồn lợi trong vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia mình theo ranh giới, đường biên giới đã được phân định nhằm góp phần xây dựng môi trường an ninh, hòa bình và ổn định trên vùng biển Phân định biển được quy định ở các công ước là Công ước Geneva về thềm lục địa 1958, Công ước Geneva về Lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải 1958 và UNCLOS

1982 Các công ước nêu trên tất cả đều ưu tiên sử dụng biện pháp hòa bình là đàm phán để có thể đạt được thỏa thuận về phân định biển

1.2 Các phương pháp phân định biển

Việc thỏa thuận giữa các quốc gia trong việc phân định biển theo pháp luật quốc tế và thực tiễn giữa các quốc gia là sự thỏa thuận giữa các bên liên quan là yếu tố quyết định nên phương pháp và thẩm quyền phân định biển các bên liên quan có thể thoả thuận lựa chọn hình thức đàm phán để cùng phân định biển Ngoài ra, các quốc gia cũng có thể lựa chọn một bên thứ ba như toà án hoặc trọng tài quốc tế đứng ra phân định biển Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp vấn đề phân định biển trở thành một tranh chấp quốc tế và việc giải quyết tranh chấp đó phải có sự tham gia của một cơ quan tài phán quốc tế Phân định biển là quá trình phức tạp bởi vì nó ảnh hưởng đến chủ quyền và lợi ích của quốc gia đó Nhìn chung, trên thực tiễn các quốc gia thường thỏa thuận dựa trên các phương pháp phân định biển

1.2.1 Phương pháp công bằng

Trong quá trình phân định biển của phương pháp này, các bên hữu quan cần phải xem xét cũng như cân nhắc các yếu tố cụ thể về hình dáng cụ thể, yếu tố đảo hay

Trang 6

yếu tố hàng hải để từ đó có thể tìm ra những giải pháp công bằng được các bên công nhận Những giải pháp đó tất cả đều mang tính đặc thù và thích ứng với từng trường hợp phân định biển cụ thể

1.2.2 Phương pháp đường trung tuyến cách đều

Phương pháp đường trung tuyến cách đều được áp dụng cho các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau Phương pháp này, đường mà tất cả các điểm nằm trên đường đó đều cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quốc gia chính là đường ranh giới để phân định biển Phương pháp này thường được áp dụng để phân định lãnh hải Đối với việc áp dụng phương pháp đường trung tuyến cách đều thì các quốc gia phải xem xét một cách thích đáng những hoàn cảnh cụ thể để có thể đạt được kết quả chung một cách công bằng nhất

1.3 Các nguyên tắc phân định biển

Phân định biển là vấn đề cấp thiết và cũng rất phức tạp vì nó liên quan đến việc xác định giới hạn biên giới của vùng biển trên cơ sở pháp luật quốc tế của các quốc gia Nó mang tính quốc tế nên cần sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế nên được thực hiện dựa trên những nguyên tắc của pháp luật quốc tế Đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, Điều 15 của UNCLOS 1982 quy định: Khi hai quốc gia có bờ biển liền

kề hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến, trừ khi có thỏa thuận ngược lại Đối với hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Điều 74 và 83 của UNCLOS 1982 quy định: Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng pháp luật quốc tế như đã được nêu ở điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế, để đi tới một giải pháp công bằng Theo quy định của UNCLOS 1982 và phán quyết của tòa án công

lý quốc tế có liên quan đến việc phân định thì có hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc thỏa thuận và nguyên tắc công bằng

1.3.1 Nguyên tắc thỏa thuận

Biển vốn là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia nên việc tranh chấp là điều không thể tránh khỏi bởi vì quốc gia nào cũng muốn nước mình được hưởng nhiều quyền lợi nhất đối với vùng biển Khi mà tranh chấp xảy ra các bên liên quan cần thông qua đàm phán, thương lượng để có thể thoản thuận các phương pháp và tiêu chuẩn phân định Ngay trong Công ước 1982 tại Điều 15, 74,83 cũng đặt nguyên tắc

Trang 7

thỏa thuận lên hàng đầu và các phán quyết của Tòa án quốc tế cũng nói đến nguyên tắc thỏa thuận: “Sự phân định này phải được yêu cầu và thực hiện qua một thoả thuận tiếp theo một cuộc đàm phán thiện chí với ý định thực tế đạt tới kết quả tích cực" Mỗi quốc gia đều có suy nghĩ và có những lập luận của riêng mình nhưng đều phải dựa trên nguyên tắc công bằng, tính hợp tình và phải chú ý đến tất cả mọi hoàn cảnh thích đáng,

có tính đến tầm quan trọng của các lợi ích có liên quan đối với các bên tranh chấp và với cộng đồng quốc tế

1.3.2 Nguyên tắc công bằng

Điều 15, Điều 59, Điều 74 và Điều 83 của Công ước 1982 đã quy định thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan đến một vụ phân định biển phải thực hiện dựa trên giải pháp công bằng Theo Công ước Giơnevo 1958 quy định về thềm lục địa đã chỉ ra phương pháp đường cách đều đường trung tuyến là một phương thức đảm bảo tính công bằng trong việc phân định thềm lục địa trừ trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt Còn trong UNCLOS 1982 lại không quy định rõ về phương pháp phân định cho giải pháp công bằng Nhưng phương thức đường trung tuyến cách đều của Công ước Giơnevo đã bị phán quyết của Tòa án quốc tế bác bỏ vì cho rằng nó không bắt buộc giữa các bên và nó chỉ là một trong những phương pháp kỹ thuật để phân định Để có thể đạt được giải pháp công bằng thì cần đáp ứng hai yếu tố là sự kéo dài tự nhiên lãnh thổ đất liền và không gây chồng lấn sang phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia khác Tuy nhiên, theo Điều 76 của Công ước 1982 lại thừa nhận thềm lục địa không chỉ có danh nghĩa sự kéo dài tự nhiên mà còn có danh nghĩa pháp lý Danh nghĩa pháp lý cho phép thềm lục địa của quốc gia ven biển kéo dài ra tới 200 hải lý không phụ thuộc vào yếu tố cấu tạo tự nhiên của đáy biển và lòng đất dới đáy biển Như vậy, khoảng cách trở thành yếu tố cơ bản để phân định pháp lý thềm lục địa Một

số nguyên tắc công bằng và tiêu chuẩn công bằng ra đời dựa trên thực tiễn xét xử của Tòa án quốc tế và vào năm 1984 trong vụ vịnh Maine đã có năm tiêu chuẩn công bằng được Tòa án công lý đề ra

1.4 Quy định của luật quốc tế về các yếu tố, hoàn cảnh ảnh hưởng đến phân định biến

Theo UNCLOS 1982 và Công ước Geneva về thềm lục địa 1958 quy định về phân định biển các quốc gia phải tính đến cả hoàn cảnh đặc biệt Qua các án lệ quốc tế thì hoàn cảnh đặc biệt cùng xuất hiện và đồng nhất với hoàn cảnh liên quan Nhưng

Trang 8

luật quốc tế cũng không đưa ra định nghĩa và cũng không liệt kê danh mục các yếu tố, hoàn cảnh đặc biệt hay hoàn cảnh liên quan ảnh hưởng đến phân định biển Điều 15 của UNCLOS 1982 đã quy định về phân định lãnh hải rằng các quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện có thể phân định đường ranh giới lãnh hải bằng phương pháp đường trung tuyến cách đều Tuy nhiên, phương pháp này khi gặp hoàn cảnh đặc biệt

sẽ bị mất hiệu lực bởi nó không áp dụng khi có những danh nghĩa lịch sử hoặc những hoàn cảnh đặc biệt khác cần hoạch định đường biên giới lãnh hải của hai quốc gia theo hai cách khác nhau Điều 74 và 83 quy định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa gần như giống nhau về nội dung và lời văn Phân định vùng đặc quyền kinh tế

và thềm lục địa khác với phân định lãnh hải vì UNCLOS không đưa ra một phương pháp cụ thể nào để phân định và cũng không đề cập đến hoàn cảnh liên quan hay đặc biệt mà chỉ nhấn mạnh hai nguyên tắc là thỏa thuận và công bằng Có thể nói, đây là một quyết định hết sức bao quát và mang tính định hướng Nguyên tắc công bằng và hoàn cảnh đặc biệt có quan hệ chặt chẽ với nhau và “công bằng không gì khác hơn là việc tính đến một tổ hợp những hoàn cảnh lịch sử và địa lý mà sự xem xét đến nó không phải là xóa đi sự công bằng mà làm cho công bằng hơn” mà hoàn cảnh đặc biệt thường tạo ra trường hợp không công bằng nên khi phân định áp dụng nguyên tắc công bằng cần đòi hỏi phải cân nhắc hoàn cảnh hiện có và dành cho từng hoàn cảnh một ý nghĩa thích hợp, cần thiết Bởi vì không thể liệt kê các danh mục hoàn cảnh đặc biệt cũng như việc các quy phạm được thừa nhận chung nhưng việc nghiên cứu thực tiễn phân định biển giữa các quốc gia để hệ thống hóa những hoàn cảnh liên quan hoặc hoàn cảnh đặc biệt là việc cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn

2 Một số án lệ trong việc phân định biển giữa các quốc gia trong thời gian vừa qua

Ởmỗi quốc gia có biển, vấn đề phân định biển đều là vấn đề quan trọng và cấp thiết vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của mỗi quốc gia trên vùng biển và nó cũng nhằm giải quyết ổn thỏa các tranh chấp , tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển cho từng khu vực biển cũng như đại dương trên toàn thế giới Vì thế, phân định biển bao giờ cũng diễn ra phức tạp, trong thời gian tương đối dài, với nhiều nội dung liên quan giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau, thông qua đàm phán, trung gian hoặc các cơ chế tài phán quốc tế khác, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 Trong suốt thời gian qua, có rất nhiều án lệ về phân định biển giữa các

Trang 9

quốc gia trên thế giới Trong có có nhiều vụ đã được xét xử và nhiều vụ vẫn đang trong thời gian xét xử Từ năm 1908 đến nay đã có 28 tám vụ về phân định biển và vụ mới nhất là vụ tranh chấp phân định ranh giới biển giữa Mauritius với Maldives ở Ấn

Độ Dương

2.1 Vụ tranh chấp biển Peru và Chile 2008

Vào ngày 16 tháng 1 năm 2008, Cộng hòa Peru đã nộp đơn kiện Cộng hòa Chile tại cơ quan thư kí của tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc liên quan đến tranh chấp ““việc phân định ranh giới giữa các vùng biển của hai quốc gia ở Thái Bình Dương, bắt đầu từ một điểm trên bờ biển có tên là Concordia điểm cuối của ranh giới đất đai được thiết lập theo Hiệp ước Lima ngày 3 tháng 6 năm 1929 ” và đây cũng là một sự công nhận có lợi cho Peru vì đây là một vùng biển trong phạm vi 200 hải lý của

bờ biển Peru nên nó thuộc về Peru nhưng Chile lại coi nó là một phần của biển cả Peru đã yêu cầu tòa phân định hai nội dung chính là phân định đường biên giới trên biển giữa hai quốc gia ở khu vực Thái Bình Dương bắt đầu từ một điểm trên bờ biển gọi là Concordia và công nhận một vùng biển nằm trong phạm vi 200 hải lý tính từ bờ biển Peru thuộc về Peru Về quan điểm của hai phía thì phía Peru cho rằng không có đường biên giới biển tồn tại giữa hai nước và yêu cầu tòa án áp dụng phương pháp đường cách đều nhằm đại được kết quả công bằng Còn đối với quan điểm của Chile thì cho rằng tuyên bố Santiago 1952 đã thiết lập một đường biên giới quốc tế, nó đi dọc theo đường vĩ tuyến đi qua điểm bắt đầu của ranh giới đất liền giữa Peru với Chile

và mở rộng 200 hải lý Peru

Ngày 27 tháng 1 năm 2014, tòa án ICJ đã đưa ra phán quyết về tranh chấp giữa Cộng hòa Chile với Cộng hòa Peru Đối tượng của tranh chấp là một khu vực không gian hàng hải ở Thái Bình Dương bao gồm gần bảy mươi nghìn km vuông, hay gần như

"một khu vực có kích thước bằng Sri Lanka hoặc Georgia” Tòa án sau khi phân tích các tuyên bố trong đó gồm Tuyên bố 1947 của Peru và Tuyên bố Santiago của Chile

và các thỏa thuận giữa các bên Peru, Chile và Ecuador thì tòa án đã kết luận rằng Hiệp định Vùng biên giới hàng hải riêng biệt 1954 thừa nhận rằng một ranh giới trên biển đã tồn tại, mặc dù văn bản đó không nêu rõ ranh giới đó đã được thỏa thuận khi nào và bằng cách nào Vì vậy, Tòa án cho rằng sự thừa nhận rõ ràng của các bên về sự tồn tại của đường biên giới trên biển chỉ có thể phản ánh một thỏa thuận ngầm mà họ đã đạt được trước đó, và được củng cố bởi Hiệp định Vùng biên giới hàng hải riêng biệt1954

Trang 10

Trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, Tòa án kết luận rằng đường ranh giới nói trên là đường ranh giới hàng hải mục đích và được mở rộng đến khoảng cách 80 hải lý dọc theo vĩ tuyến từ điểm xuất phát của nó là có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn Theo hoàn cảnh của vụ án, Tòa án xác định đường biên giới biển giữa các bên mà không xác định các tọa độ địa lý chính xác Nó nhắc lại rằng nó đã không được yêu cầu làm như vậy trong đệ trình cuối cùng của các bên Vào ngày 25 tháng 3 năm 2014, Peru và Chile đã thông qua các phối hợp về ranh giới biển của họ

2.2 Vụ Croatia và Slovenia 2009

Croatia và Slovenia có tranh chấp về biên giới trên biển ở vịnh Piran, phía Bắc biển Adriatic kể từ khi hai nước tuyên bố độc lập khỏi Liên bang Nam Tư từ năm

1991 Cũng do tranh chấp mà thời gian đàm phán gia nhập EU của Croatia đã từng bị hoãn 10 tháng vào năm 2008, và chỉ được tiếp nhận vào năm 2013 Năm 2009, qua trung gian của EU, hai nước đã ký với nhau thỏa thuận phân định trọng tài về tranh chấp liên quan đến khu vực ranh giới 13km2 gồm bờ biển và mặt biển trên vịnh Piran Vào ngày 4 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Croatia và Slovenia đã ký Thỏa thuận Trọng tài , theo đó Croatia và Slovenia đệ trình tranh chấp lãnh thổ và hàng hải của họ lên trọng tài Hai bên đã đệ trình liên quan đến ba vấn đề là đường ranh giới trên biển

và trên bộ giữa Cộng hòa Slovenia và Cộng hòa Croatia, Ngã ba của Slovenia với Biển

cả và chế độ sử dụng các khu vực biển liên quan Ba vấn đề này đã được thỏa thuận và trọng tài đã ký năm 2009 được quy định ở Điều 3 Và Điều 4 tòa án yêu cầu tòa án áp dụng các quy tắc và nguyên tắc của luật pháp quốc tế cho các quyết định liên quan đến đường biên giới trên biển và đất liền, luật quốc tế, công bằng và nguyên tắc quan hệ láng giềng tốt đẹp nhằm đạt được một kết quả công bằng và chính đáng bằng cách tính đến tất cả các tình huống liên quan đối với các quyết định liên quan đến ngã ba của Slovenia với Biển Cao và chế độ sử dụng các khu vực biển liên quan Tòa trọng tài được thành lập vào năm 2012 những đến năm 2015 đã có sự cố liên quan đến tính trung lập và độc lập của một trọng tài viên Có thể nói, đây là trường hợp hiếm gặp cũng có thể nói là hi hữu trong giải quyết tranh chấp quốc tế khi trọng tài viên hay thẩm phán không giữ đúng tính trung lập và độc lập của bản thân Chính vì vậy, ngày 29/7 với đa số phiếu thuận Quốc hội Croatia đã nhất trí rút khỏi thỏa thuận phân định trọng tài liên quan đến tranh cãi về hải giới trên vịnh Piran với Slovenia do cáo buộc nước này đã vi phạm nguyên tắc không thiên vị của tòa án, động thái được xem là "cú

Ngày đăng: 25/03/2023, 19:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w