1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giao trinh xu ly anh ky thuat so

306 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao trình xử lý ảnh kỹ thuật số
Tác giả Nguyễn Mạnh Huy
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ thuật số
Thể loại Giao trình
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 306
Dung lượng 12,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi giới thiệu máy phục chế màu quang cơ đầu tiên vào thập niên 1890, công nghệ này vẫn được tiếp tục sử dụng trong kỹ thuật phục chế màu mãi đến thập niên 1930.. Cũng trong năm này

Trang 1

KHOA IN & TRUYỀN THÔNG

Trang 2

Chương 1

Mở đầu

A Sơ lược quá trình phát triển

B Các định dạng tập tin thông dụng sử dụng trong xử lý ảnh

kỹ thuật số

C Hình ảnh dạng bitmap so với hình ảnh dạng đồ họa vectơ

Trang 3

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

A SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

Các máy quét màu (Scanner) đã xuất hiện vào năm 1937 và trở thành

sản phẩm thương mại vào thập niên 1950 Tuy nhiên mãi đến đầu thập

niên 1970 khi công nghệ kỹ thuật số và nguồn tia laser được đưa vào

ứng dụng, chúng mới được phát triển mạnh mẽ

Sau khi giới thiệu máy phục chế màu quang cơ đầu tiên vào thập niên

1890, công nghệ này vẫn được tiếp tục sử dụng trong kỹ thuật phục chế

màu mãi đến thập niên 1930 Vào thập niên 1930 công ty Eastman

Ko-dak đứng đầu là Alexander Murray đã phát triển một số phương pháp có

ảnh hưởng cho công nghệ chế bản phim sau này Năm 1934 cuốn sách

"Phương pháp bản che phục chế màu cho công nghệ in" được xuất bản,

và năm 1937 Murray cùng Richard S More được cấp bằng sáng chế đầu

tiên về tách màu điện tử

Lý thuyết quét của Murray và More dựa trên nguyên tắc "ống - xoay"

(Rotating Drum) Bài mẫu màu được gắn lên một ống trong suốt và được

quét theo từng dòng bởi một đầu quét được kết nối với nguồn sáng và

bộ phận quang học Đầu quét được di chuyển song song với trục ống

gắn bài mẫu và quét toàn bộ bài mẫu theo dạng xoắn ốc Tia sáng đi

vào đầu quét được tách làm 3 thành phần đi qua 3 kính lọc Red, Green,

Blue Sau khi được chuyển thành tín hiệu điện, các thông tin hình ảnh

này được hiệu chỉnh cường độ để chiếu lên phim được gắn trên một ống

khác có cùng trục quay với ống gắn bài mẫu Kỹ thuật sửa màu điện tử

cho máy quét Murray và More đã được hoàn chỉnh do công của Vincent

Hall vào năm 1941

Trang 4

Chûúng 1 : Múã àêìu 4

Nguyên lý đọc ghi của máy quét dạng ống-xoay

Vào ngày 21/1/1937 (năm ngày sau khi Murray và More đăng ký phát

minh), Arthur C Hardy, giáo sư của Viện Kỹ thuật Massaschusetts và

Công ty Interchemical Corp., đã đăng ký phát minh máy quét màu Phát

minh của Hardy thực sự là phát minh đầu tiên cho máy tách màu điện tử

Máy quét của Công ty Interchemical sử dụng một bàn chuyển động qua

lại kết hợp với 4 rãnh, nghĩa là nó đã sử dụng phương pháp quét phẳng

(Flatbed) Ba trong số bốn rãnh có gắn phim tách màu từ máy chụp quang

cơ, rãnh thứ tư gắn bản phim chưa lộ sáng Nguồn sáng chiếu qua các bản

tách âm bản theo từng dòng và sau đó được chuyển thành tín hiệu điện

Các tín hiệu điện này được đưa vào mạch sửa màu và sẽ điều khiển quá

trình chiếu sáng lên bản tách màu dương bản (bản phim chưa lộ sáng).

A Bản tách neg hay pos

B Bộ phận lưu trữ dữ liệu

C Bộ phận điều khiển nguồn sáng

D Nguồn chiếu sáng Nguyên lý chuyển động qua lại

của máy quét Interchemical

Trang 5

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Phòng thí nghiệm Springdale đã hợp tác với các nhà khoa học của Eastman Kodak cải tiến khâu sửa màu và một bo mạch khác của máy

quét nhằm đưa vào phục vụ thương mại Vào tháng 8 năm 1950, sáu

máy quét đã được lắp đặt và 60% hình ảnh tách màu của tạp chí Life đã

được phục chế từ hai trong số sáu máy này Máy quét nổi tiếng lúc bấy

giờ là máy Time-Springdale, sau này có tên là P.D.I do Công ty Printing

mua lại và phát triển

Máy quét Interchemical đã tỏ ra quá chậm trong công việc phục chế

Phương pháp quét theo từng điểm và dựa vào chuyển động qua lại của

bàn quét tỏ ra không có hữu hiệu bằng nguyên lý quay của máy quét

Kodak, do đó nguyên lý ống-xoay được sử dụng cho hầu hết các máy

quét sản xuất với mục đích thương mại, ít nhất là cho đến những năm

đầu thập niên 1980

Vào năm 1950 Công ty Radio Corporation of America (RCA) mua lại

và phát triển máy quét Interchemical RCA đã thay thế một công nghệ

quan trọng đó là sử dụng ống tia âm cực (Cathode-ray Tube (CRT)) để

quét đọc và ghi RCA cũng đã đưa vào một máy tính để giải quyết vấn

đề sai biệt cho 4 bản tách màu trong phương trình Neugebauer

Máy quét hàng đầu thế giới là máy Drum, máy quét của P.D.I với độ thu phóng rộng từ 34% - 300%, ghi phim dạng âm bản hoặc dương

bản, sử dụng kỹ thuật UCR (Under Color Removal), ghi 4 màu cùng

một lúc Cạnh tranh với P.D.I vào đầu thập niên 1950 là các máy quét

của các công ty Acme, Belin và Hunter-Penrose Năm 1960 máy quét

Scan-A-Color được sản xuất, nó cho phép tách màu cả bài mẫu phản xạ

và bài mẫu thấu minh

Máy quét đầu tiên của Murray và Morse

Trang 6

Chûúng 1 : Múã àêìu 6

Công ty Crosfield Electronics của Anh đã tham gia vào thị trường máy quét vào năm 1957 Máy Scanatron của họ giống y như máy Colorgraph

của công ty Hunter-Penrose Crosfield đã giải quyết vấn đề chậm chạm

của máy quét bằng cách sử dụng chùm tia âm cực (CRT) cho cả đầu ghi

và đầu đọc Scanatron là máy quét đầu tiên ghi phim được ở dạng nửa

tông (dạng tram) Scanatron đã ngừng sản xuất từ giữa những năm 1960

Năm 1957, Russell Kirsch đã quét bức ảnh kỹ thuật số đầu tiên với

176 x 176 pixel Đó là đứa con trai mới 3 tháng tuổi của ông ấy

Bức ảnh kỹ thuật số đầu tiên trên thế giới

Năm 1958, tại hội chợ Drupa, Hell giới thiệu máy quét dạng phẳng Hell Colorgraph Tuy nhiên tốc độ quét của máy này vẫn còn rất chậm

Với độ phân giải 500 ppi, nó quét một bài mẫu kích thước 30 x 40 cm

phải mất hàng giờ

Năm 1960, ASA (American Standards Association - Hiệp hội tiêu

ch-uẩn Hoa Kỳ) bắt đầu phát triển bộ mã ASCII (American Standard Code

for Information Interchange - Bộ mã tiêu chuẩn Hoa Kỳ cho việc chuyển

đổi thông tin) Thiết lập này dùng cho việc hiển thị văn bản trên máy

tính, các thiết bị kết nối và các thiết bị khác, giúp cho việc chuyển đổi

dữ liệu dễ dàng hơn Phiên bản đầu tiên được giới thiệu vào năm 1963

và phiên bản cuối cùng từ năm 1986

Năm 1962, tiến sĩ Ing Rudolf Hell giới thiệu máy HelioKlischograph K190, máy ghi trục ống đồng đầu tiên trên thế giới Dòng máy này vào

Trang 7

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

năm 1965 có đơn vị quét và ghi tách biệt (HelioKlischograph K193)

hoặc có thiết bị điện tử kỹ thuật số (HelioKlischograph K200 năm 1974)

Máy HelioKlischograph K190

Năm 1963, Compugraphic giới thiệu máy tính sắp chữ đầu tiên của họ, Linasec I và II Những máy tính sắp chữ này được sử dụng để chuẩn

bị băng đục lỗ dùng điều khiển các máy sắp chữ Linotype sử dụng trong

công nghiệp in báo Băng giấy được tạo ra trên máy đục lỗ Teletype

BRPE với tốc độ khoảng một dòng trên một giây, do đó nó có tên là

"Linasec".

Năm 1963, Hell cũng giới thiệu máy tách màu điện tử (scanner) đầu

tiên của họ, máy Chromagraph

Máy Chromagraph của Hell

Công ty Dainipon Screen của Nhật cũng tham gia vào thị trường máy tách màu điện tử vào năm 1965 với một máy quét tương tự như Scana-

tron Vào thời điểm này các máy quét đều có những đặc điểm tương tự

Trang 8

Chûúng 1 : Múã àêìu 8

như nhau: cho phép quét các bài mẫu phản xạ cũng như thấu minh, cho

ra các bản tách màu riêng rẽ, các bản tách thường là các dương hay âm

bản có tông liên tục Các bo mạch sửa màu, phục chế tầng thứ, UCR

và bản che không nét (Unsharp masking) của các máy quét này có khả

năng cho chất lượng phim cao

Máy tách màu Dainipon Screen SG-888

Năm 1966, Hell giới thiệu máy Digiset, máy sắp chữ đầu tiên sử dụng font chữ kỹ thuật số dạng bitmap Chữ được ghi bởi ống âm cực

(CRT - Cathod ray tube), dữ liệu sẽ được in ra phim hoặc trên giấy nhạy

sáng Máy Digiset có thể ghi được 1.000 ký tự trong 1 giây Năm 1967,

Berthold giới thiệu máy sắp chữ phim Diatronic Nó bao gồm máy tính,

bàn phím và hệ thống ghi quang cơ Phía trên bàn phím có màn hình với

chỉ một dòng ký tự để hiển thị các ký tự vừa được đánh trước đó Máy

này sử dụng được 8 kiểu chữ Hệ thống quang học có thể ghi được các

ký tự có co chữ từ 6pt đến 20pt trên giấy cảm quang Đây là máy đầu

tiên có thể xuất ra các dòng chữ nằm ngang hoặc dọc

Máy sắp chữ phim Berthold Diatronic

Trang 9

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Năm 1968 Công ty Scitex được thành lập bởi Efraim (Efi) Arazi Nó sẽ trở thành một trong những nhà cung cấp các thiết bị chế bản ấn tượng

nhất trong 30 năm tới Cũng trong năm này Cossor (Anh) và Hendrix

(Mỹ) là những công ty đầu tiên triển khai các hệ thống sắp chữ phim

có màn hình CRT, cho phép người vận hành thấy được những gì họ đã

nhập và sửa lỗi

Năm 1969, các máy sắp chữ phim 7200 và 2900 của Compocraphic cho phép người sử dụng nhập văn bản bằng máy vi tính và ghi thông tin

vào băng Băng này được đưa vào máy sắp chữ, nó sẽ in các thông tin

này lên giấy nhạy sáng Kodak Ektamatic

Cùng trong năm này Công ty ECRM cũng được thành lập bởi ba giáo

sư Viện công nghệ Massachusetts (Massachusetts Institute of

Technol-ogy - MIT), một học viện rất nổi tiếng về kỹ thuật của Hoa Kỳ, và một

chàng trai đến từ Hội in Đây là công ty phát triển một trong những thiết

bị nhận dạng ký tự quang học (OCR - Optical Character Recognition)

đầu tiên thành công về mặt thương mại

Cũng vào năm 1969 Crosfield đã giới thiệu máy Magnascan 450 tại

Hội chợ Thương mại tại Milan (Ý) Máy quét này có độ thu phóng lớn

nhờ việc ứng dụng kỹ thuật số (Digital Techniques) và một máy tính mini

Các tín hiệu xuất được chuyển dưới dạng kỹ thuật số (digital) thay vì

dạng tương tự (analog) như trước đây và được "đọc ra" chậm hay nhanh

hơn tùy theo độ thu phóng Magnascan còn cho phép tạo các bản tách

màu dạng tram bằng cách sử dụng bản tram công tắc quấn ép sát chung

quanh tấm phim chưa lộ sáng

Máy quét Chromagraph DC 300

Hell cũng giới thiệu một máy quét giống như Magnascan là máy Chromagraph DC 300 vào năm 1970 Đầu ghi của máy quét này là một

Trang 10

Chûúng 1 : Múã àêìu 10

cuộc cách mạng trong công nghệ xuất dữ liệu, khi nó sử dụng laser argon

chia thành sáu tia để đồng thời ghi các dữ liệu được quét Đây là máy

được ưa chuộng nhất trong thời gian này Đã có 1.600 máy được bán cho

đến khi nó ngưng sản xuất vào năm 1981

Cũng trong năm 1970, phòng thí nghiệm máy tính Xerox PARC mở cửa tại Palo Alto, California Nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn trong thập kỷ

tới Năm 1971, Abhay Bhushan viết các thông số ban đầu cho FTP (File

Transfer Protocol - Giao thức chuyển đổi tập tin) Tuy nhiên nó phải mất

thêm gần ba thập kỷ nữa trước khi nó trở thành cách thức thông dụng cho

việc trao đổi dữ liệu giữa các nhà thiết kế và các nhà in

Cũng vào năm 1971, P.D.I giới thiệu một phát minh quan trọng đó là:

Kỹ thuật tạo điểm nữa tông điện tử (Electronic halftone-dot generation)

Hình dạng điểm, vị trí, tần số tram, góc xoay tram đều có thể được hiệu

chỉnh bằng máy tính và hệ thống gương Tia laser đã được sử dụng làm

nguồn sáng P.D.I đã công nhận rằng hệ thống tạo tram dạng điểm cho

độ phân giải hình ảnh cao hơn kỹ thuật tạo tram truyền thống

Hell cũng giới thiệu kỹ thuật tạo điểm bằng cách sử dụng Split laser beam mà mãi đến ngày nay đa số máy quét đều sử dụng Ưu điểm lớn

nhất của việc sử dụng tia laser để tạo điểm là do nó có cường độ sáng

mạnh nên có thể sử dụng phim rẻ tiền có độ nhạy sáng yếu hơn và tốc

độ ghi nhanh hơn

Máy CompuWriter của Compugraphic

Cũng trong năm 1971, dòng máy CompuWriter là máy sắp chữ phim đầu tiên của Compugraphic cho phép người sử dụng xuất văn bản trực

tiếp mà không cần sử dụng băng Chúng nhắm tới các cửa hàng in nhỏ,

các cơ quan quảng cáo, và các nhà xuất bản CompuWriter bao gồm hai

kiểu chữ 96 ký tự với co chữ từ 5pt đến 12pt Chúng sử dụng việc thay

đổi ống kính thủ công và co chữ có thể tăng đến 24pt

Trang 11

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Năm 1972 là một năm quan trọng đối với các hệ thống biên tập cho báo chí Harris giới thiệu hệ thống Harris 2500 trong khi DEC thông báo

hệ thống Typeset 11 Một số tờ báo lớn và IBM thành lập "Nhóm phát

triển Hệ thống Báo chí" (The Newspaper Systems Development Group)

để xác định và thực hiện một hệ thống cho việc tạo các trang hoàn chỉnh

bao gồm cả văn bản và hình ảnh Điều đó đã dẫn đến một hệ quả: đó là

năm mà máy Linotype cuối cùng được sản xuất tại Mỹ

Cũng trong năm này, DuPont Cromalin được công bố Nó sẽ trở thành hệ thống kiểm tra tiêu chuẩn ngành công nghiệp cho đến khi các máy

in phun không còn tồn tại

Năm 1973, Automix Ultracomp là hệ thống đầu tiên sử dụng bộ vi xử lý Intel đã giới thiệu bộ vi xử lý chip đơn đầu tiên trên thế giới, Intel

4004, hai năm trước Xerox phát triển giao diện đồ họa cho người dùng

trên máy tính Alto của họ Máy tính này sẽ ảnh hưởng đến nhiều hệ thống

trong thập kỷ tới, bao gồm Apple Lisa và Macintosh, và các máy trạm

Sun đầu tiên Bravo, một chương trình chuẩn bị tài liệu cho Alto, thường

được coi là ứng dụng WYSIWYG (What You See Is What You Get) đầu

tiên, có khả năng hiển thị chính xác kết quả in trên màn hình máy tính

Giao diện đồ họa trên máy tính Alto của Xerox

Cũng trong năm 1973, Công ty Atex được thành lập tại Massachusetts bởi Douglas Drane và hai anh em, Charles và Richard Ying Công ty

bán hệ thống sắp chữ điện tử đầu tiên của mình tại Mỹ một năm sau đó

Trong 25 năm tiếp, Atex luôn là nhà cung cấp chính các hệ thống biên

tập, soạn thảo văn bản trong ngành báo chí

Trang 12

Chûúng 1 : Múã àêìu 12

Năm 1975, Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (International Standards

Organisation) công bố ISO 216 Tiêu chuẩn này định nghĩa các khổ giấy

như A3 và A4, sau đó nó được áp dụng trên toàn cầu

Cũng trong năm này, các máy in laser đầu tiên, như IBM 3800 và Xerox 9700, đã xuất hiện trên thị trường Chúng khá đắt, nhưng rất hữu

ích cho các ứng dụng như in kiểm tra

Máy in laser IBM 3800

Trước năm 1976 văn bản và hình ảnh được xử lý riêng biệt, điều đó đã thay đổi khi máy Monotype Lasercomp xuất hiện vào năm 1976 Nó

có một cấu trúc vẫn được sử dụng đến ngày nay: một máy tính gọi là

RIP hay là Raster Image Processor tính toán các điểm ghi với một thiết

bị ghi riêng biệt Monotype Lasercomp là hệ thống sắp chữ phim đầu

tiên sử dụng laser đi kèm với RIP Đơn vị này không chỉ có thể tạo ra

các kiểu chữ kỹ thuật số, mà nó còn có thể ghi được dạng đồ họa (thô)

Trang 13

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Máy Monotype Lasercomp 3000

Apple được thành lập bởi Steve Jobs, Steve Wozniak và Ronald Wayne Máy tính thứ hai, Apple II, được giới thiệu vào ngày 16 tháng 4

năm 1977 và trở thành một thành công ngoài mong đợi của Apple Logo

thứ hai của Apple được thiết kế bởi Rob Jannoff và được một trong những

giám đốc điều hành của Apple mô tả là "logo đắt nhất từng được thiết

kế" bởi vì chi phí cho việc hiển thị nó trên thiết bị và tờ rơi.

Năm 1977, Compugraphic EditWriter 7500 được giới thiệu và nhanh chóng thành công Máy sắp chữ phim này kết hợp bàn phím và màn hình

trong cùng một thiết bị, cho phép một công việc được thực hiện trong

Trang 14

Chûúng 1 : Múã àêìu 14

khi người vận hành đồng thời sử dụng trên một bàn phím khác Các

đơn vị riêng biệt như Mini-Disk Terminal (MDT) và Mini-Disk Reader

(MDR) cho phép nhập văn bản ngoài và máy sắp chữ sử dụng một đĩa

mềm 8 inch Đầu ra là dữ liệu được ghi lên giấy ảnh có chiều rộng lên

đến 8 inch Co chữ từ 6pt đến 72pt, sử dụng một hệ thống các đĩa font

chữ có thể thay thế và các ống kính cố định khác nhau gắn trên một cái

tháp bên trong

Máy sắp chữ phim Compugraphic EditWriter 7500

Tại Israel, Benny Landa đã phát minh ra máy in kỹ thuật số Indigo với mục tiêu hoàn thiện việc in kỹ thuật số bằng mực lỏng Một thành

viên mới đến khác là Xitron, công ty đã phát triển giao diện "blue box"

giữa các hệ thống biên tập báo và máy ghi phim laser

Việc chuyển từ các máy quét màu sang các hệ thống ghi điện tử đã bắt đầu từ năm 1977 với máy Magnascan 570, nó có khả năng định vị

một cách độc lập hình ảnh trên tờ phim Hell giới thiệu Chromaskop với

màn hình điều khiển được kết nối trực tiếp Khả năng ghi dữ liệu hình

ảnh quét sang đĩa từ để xử lý trên máy tính hoặc xuất sang một máy

khác cũng đã được nghiên cứu và phát triển

Năm 1978, máy sắp chữ phim Linotron 202 bắt đầu sử dụng các font chữ kỹ thuật số được lưu trữ dưới dạng vectơ Nó vẫn là một trong những

máy sắp chữ được ưa chuộng hàng đầu cho đến khi Destop Publishing

xuất hiện vào thập niên 1980

Trang 15

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Phiên bản đầu tiên của TeX, một ứng dụng sắp chữ hướng tới việc sản xuất sách, được viết bởi Giáo sư Donald Knuth Ông viết phần mềm

này, mà nó vẫn còn được sử dụng đến ngày nay, sau khi bị ám ảnh bởi

chất lượng kém của font chữ được sử dụng để thiết kế ấn bản hiệu chỉnh

lần hai của cuốn sách "Nghệ thuật lập trình máy tính".

Cũng trong năm này, Bobst Graphics Scrib máy tính xách tay dành cho các nhà báo được giới thiệu Sử dụng một bộ ghép âm thanh riêng

biệt, các phóng viên có thể gửi bài báo của họ tới tòa soạn qua đường

dây điện thoại tiêu chuẩn Máy ghi âm tích hợp có thể lưu đến 8000 ký

tự trên một microcassette Nắp ngăn trắng ở phía trên giữ một tấm gương

gập lại được sử dụng để hiển thị văn bản đã gõ từ màn hình máy tính 7

inch Máy tính nặng 16 kg

"Máy tính xách tay dành cho phóng viên" Bobst Graphics Scrib

Năm 1978 cũng đánh dấu sự kết thúc một thập kỷ hoạt động của máy Linotype, vì chúng được sử dụng lần cuối cùng để thiết lập văn bản cho

tờ New York Times, số phát hành vào ngày 02/7/1978

Hệ thống Response 300 của Scitex

Trang 16

Chûúng 1 : Múã àêìu 16

Vào năm 1979 Hãng Scitex đã giới thiệu hệ thống chế bản Response

300 cho phép tạo và chỉnh sửa màu cho toàn bộ trang tài liệu Nó là

một hệ thống tích hợp bao gồm một máy quét màu dạng trống, máy tính

cho phép chỉnh sửa hình ảnh và máy ghi phim bằng tia laser Phần mềm

chỉnh sửa hình ảnh của Scitex cung cấp nhiều chức năng tuy không bằng

Photoshop ngày nay, nhưng nó rất tuyệt vời vào năm 1979 Đây cũng

được xem là tiền thân của các máy ghi phim sau này

Cũng trong năm này, Hell ra mắt hệ thống xử lý hình ảnh điện tử ChromaCom Và các máy in laser như IBM 6670 và Wang Image Printer

có giá cả hợp lý hơn những mẫu đầu tiên IBM 6670 cũng có thể được

sử dụng như là một máy photocopy, với tốc độ 36 trang/phút

Những năm đầu thập niên 1980, ba công ty chiếm lĩnh thị trường cao cấp cho các hệ thống dàn trang và chỉnh sửa hình ảnh là: Crosfield, Scitex

và Hell Hệ thống dàn trang Crosfield 570 là một ví dụ, chúng nhằm mục

đích tạo ra các catalog, brochure và các ấn phẩm khác đòi hỏi nhiều công

sức Nó có thể được sử dụng cùng với trạm sửa màu Crosfield để điều

khiển việc quét hình ảnh bằng một máy quét dạng trống Magnascan 570

Crosfield là công ty đầu tiên tung ra thị trường các hệ thống như vậy

Nhưng Scitex và Hell cũng không chậm chân lắm trong lĩnh vực này

Vào đầu những năm 80 nhiều công nghệ, vẫn còn sử dụng đến ngày nay, lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường IBM ra mắt máy tính cá nhân

(Personal Computer) Microsoft tung ra hệ điều hành MS-DOS, tiếp đó

là hệ điều hành Windows Apple cung cấp một cái nhìn đầu tiên về giao

diện đồ họa mà sau này được thực hiện phổ biến trên các máy Macintosh

Ethernet connector

Năm 1980, các thông số kỹ thuật của Ethernet được giới thiệu bởi một nhóm công nghiệp được thành lập bởi 3Com, Digital, Intel và Xerox Tốc

độ truyền dữ liệu 10 Mbit/ giây của nó là cực kỳ nhanh trong thời gian đó

Năm 1981, Công ty IBM giới thiệu máy tính cá nhân đầu tiên của họ IBM PC

Trang 17

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Máy tính cá nhân IBM PC

Máy Xerox Star 8010 không phải là một thành công thương mại của hãng Xerox, nhưng nó là một trong những hệ thống máy tính quan trọng

nhất thời đó Nó giới thiệu khái niệm "desktop metaphor" với các tài

liệu được biểu diễn bằng các biểu tượng và trình soạn thảo WYSIWYG

(What You See What You Get).

Cũng trong năm 1981, Công ty Adaptec được thành lập Nó sẽ trở

thành nhà sản xuất quan trọng nhất của thẻ nhớ (card) SCSI, được sử

dụng để kết nối các thiết bị ngoại vi như máy quét (scanner) và ổ đĩa

CD-ROM vào máy tính

Năm 1982, đánh dấu sự ra đời một công ty mới, nhưng sẽ là người khổng lồ trong lĩnh vực công nghệ thông tin sau này, với ngôn ngữ

PostScript và những phần mềm thiết kế đồ họa nổi tiếng Đó là Adobe

Systems Inc, được đồng sáng lập bởi Charles Geschke và John Warnock

Cả hai đã từng làm việc cho Xerox trên một ngôn ngữ mô tả trang gọi

là Interpress Đối với Adobe, họ tạo ra một ngôn ngữ mô tả trang mới,

được gọi là PostScript Nó được coi là trung tâm của trình điều khiển

máy in mà Adobe sẽ bán sau này

Thập niên 1980 cũng đánh dấu một cuộc cách mạng về chế bản điện tử với sự ra đời Desktop Publishing nhờ các thành tựu của Apple với giao

diện đồ họa và con chuột máy tính; Adobe với ngôn ngữ PostScript và

Aldus (sau này Adobe mua lại) với phần mềm PageMaker, phần mềm

đầu tiên trên máy tính cho phép đặt cả chữ và hình vào trang thiết kế

Trang 18

Chûúng 1 : Múã àêìu 18

Công ty Eikonik Corporation (sau này là một thành viên của Công

ty Eastman Kodak) của Mỹ đã giới thiệu máy Designmaster 8000 vào

năm 1982 sử dụng dạng quét theo từng dòng để nhận dữ liệu hình ảnh

Hình ảnh được nhận bởi một chuỗi gồm 2.048 phần tử qua một hệ thống

gương Một bản phẳng dùng đặt bài mẫu được di chuyển ba lần, mỗi lần

cho một kênh màu R, G, B qua các kính lọc tách màu Các máy quét

của các hãng khác như Scitex, Crosfield, Hell cũng đã ứng dụng nguyên

tắc quét dòng như là một thiết bị Charge-Coupled Devices (CCDs) Với

CCD máy quét phẳng đã cải tiến được tốc độ của nó rất nhiều Một vài

CCDs hiện nay có đến 7.000 phần tử

Năm 1982 tại Hội chợ Triển lãm DRUPA, Scitex đã giới thiệu hệ thống Raystar có thể ghi lên phim cả chữ và hình ảnh bằng kỹ thuật

Rater Imaging Bộ phận tạo tram (Raster Imaging Processing (RIP)) xuất

hiện, ban đầu là RIP cứng - tức là một thiết bị phần cứng được gắn liền

với máy ghi phim Do tốc độ tính toán chậm các hãng đã nghiên cứu

và tung ra các RIP mềm - là các phần mềm được chạy trên một máy

tính được kết nối với máy ghi phim - nổi tiếng nhất là các RIP mềm của

Halerquin và Adobe Ưu điểm của RIP mềm là tốc độ tính toán nhanh

và dễ nâng cấp, sửa chữa

Năm 1983, Apple Lisa là máy tính WIMP đầu tiên (Windows, Icons, Menus & Pointing device) được sản xuất hàng loạt Giá 9.995 USD đã

cản trở thành công thương mại của nó

Máy tính Apple Lisa

Compugraphic cũng thông báo Personal Composition System kết nối Apple Lisa với trình biên dịch Compugraphic 8400 của họ Compu-

graphic đã bỏ ra khoảng 20 triệu USD trên hệ thống Lisa cho mục đích

phát triển, đào tạo và bán hàng nhưng hệ thống của họ là một thất bại

về mặt thương mại Nó đã làm cho Compugraphic miễn cưỡng đầu tư

nhiều hơn vào các sản phẩm khác của Apple khoảng một năm sau đó

Trang 19

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Năm 1983 cũng đánh dấu việc Arpanet hoàn thành công việc trên giao thức mạng TCP/ IP

Năm 1984, Apple cho ra mắt Apple Macintosh, với hệ điều hành cintosh, là một máy tính đột phá mà lần đầu tiên kết hợp giao diện đồ

Ma-họa cho người dùng và một con chuột với một mức giá hợp lý là 2.490

USD (tương đương 5.000 USD hiện nay) Mặc dù bộ nhớ của nó chỉ giới

hạn ở 128K, nó có một ổ đĩa 400K và màn hình 9-inch chỉ có độ phân

giải 512 × 342 pixel, nhưng khái niệm này đã đi trước thời đại và sẽ có

ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường thiết kế đồ họa sau này

Máy Apple Macintosh

Cũng trong năm này, Adobe ra mắt PostScript, một ngôn ngữ mô tả trang có thể được sử dụng để điều khiển các thiết bị xuất như máy in

laser chẳng hạn Nó cung cấp một số lợi thế to lớn mà các hệ thống lúc

đó không cung cấp: ngôn ngữ độc lập với thiết bị, có nghĩa là một tập

tin PostScript có thể được xuất ra trên cả máy in laser 300 dpi và máy

ghi phim có độ phân giải cao Bất kỳ nhà sản xuất nào cũng có thể mua

bản quyền cho trình biên dịch PostScript và các thông số kỹ thuật của

nó có sẵn cho các công ty viết phần mềm sử dụng các cấu hình mạnh

mẽ của PostScript

Linotype cũng giới thiệu máy ghi phim Linotronic 300, thiết bị xuất với độ phân giải 2400dpi đầu tiên đi kèm với một RIP PostScript RIP

giúp chuyển đổi dữ liệu mô tả trang được tạo ra bởi các ứng dụng như

PageMaker chẳng hạn, sang dạng các điểm ghi (pixel) mà tia laser bên

trong máy ghi Linotronic sẽ ghi lên phim hoặc lên giấy

Trang 20

Chûúng 1 : Múã àêìu 20

Máy ghi phim Linotronic 300 của Linotype

Trong năm 1985, Apple cũng đã bắt đầu tìm kiếm một "ứng dụng sát

thủ" (killer application) để thúc đẩy doanh số bán máy tính Macintosh

Steve Jobs đã thuyết phục John Warnock của Adobe tạo ra một trình

điều khiển PostScript cho máy in Apple LaserWriter của họ, điều này

cho phép nó in ra các trang có chất lượng cao hơn hẵn so với các máy

in của các hãng khác

Máy in LaserWriter của hãng Apple

Apple và Adobe đã rất may mắn khi có một công ty tuy nhỏ, nhưng đã tạo ra một ứng dụng lớn giúp cho Mac và LaserWriter được sử dụng

Trang 21

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

hết tính năng của nó Công ty đó có tên là Aldus và sản phẩm phần mềm

của họ là ứng dụng dàn trang PageMaker, phần mềm đầu tiên trên máy

tính cho phép đặt cả chữ và hình vào trang thiết kế Paul Brainerd của

hãng Aldus là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "desktop publishing" để

mô tả phần mềm của họ cung cấp Thuật ngữ này sau đó đã được sử

dụng như một thuật ngữ chung để gọi cho lĩnh vực chế bản điện tử hiện

đại ngày nay

Giao diện phần mềm dàn trang PageMaker

Cũng trong năm này, Microsoft giới thiệu hệ điều hành Windows 1.0

Mặc dù tên của nó là windows, nhưng hệ điều hành không hề có "cửa

sổ" Khi đó người sử dụng chỉ có thể chia cửa sổ chính thành các khu vực

riêng biệt cho mỗi ứng dụng và tối thiểu hoặc tối đa hoá mỗi ứng dụng

Một ví dụ về giao diện làm việc của Hệ điều hành Windows 1.0

Scitex Handshake đã liên kết các máy Mac với hệ thống chế bản Response cao cấp của họ Và cùng với sự hợp tác chặt chẽ với các đối

Trang 22

Chûúng 1 : Múã àêìu 22

thủ cạnh tranh như Crosfield, Dainippon Screen và Hell, một bộ các tiêu

chuẩn dữ liệu số đã được phát triển để chuẩn hóa việc trao đổi thông tin

giữa các hệ thống

Mặc dù Desktop publishing đã được giới thiệu trước trên máy cintosh của Apple, nhưng các hệ thống khác cũng nhanh chóng bắt kịp

Ma-Năm 1987, phần mềm Ventura Publisher là phần mềm dàn trang đầu tiên

trên máy tính IBM Phần mềm chạy trên hệ điều hành được gọi là GEM

Các phiên bản mới của phần mềm này vẫn có sẵn cho đến năm 2002

Phần mềm dàn trang Ventura Publisher phiên bản 1.1

Năm 1985, Microtek đã tung ra máy quét để bàn (desktop scanner) dạng nét (B&W - Black and White) đầu tiên với độ phân giải 300 dpi

Máy quét Agfa Focus cũng giới thiệu cùng thời điểm nhưng cung cấp

bước chuyển thang xám (grayscale) 6-bit Các phiên bản sau này cung

cấp bước chuyển lên đến 8-bit (Focus II) và có hỗ trợ quét màu

Máy quét để bàn (Desktop scanner) Agfa Focus II

Năm 1986, Harlequin được thành lập Phần mềm RIP của nó, có cùng tên, đã làm cho Harlequin trở thành công ty hàng đầu về phần mềm số

Trang 23

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

cho ngành in Cũng trong năm này, hãng Compaq tung ra DeskPro 386

giá 6.499 USD, đây là hệ thống đầu tiên sử dụng CPU 32-bit 80386 của

Intel Từ thời điểm này, IBM đã không còn là người thiết lập các quy

tắc trong cuộc chơi của thế giới PC nữa

Máy tính DeskPro 386 của Compaq

Năm 1986 cũng đánh dấu sự ra đời của máy Scantrephic Scantext

2000 là một trong những máy ghi phim dạng trống nội (internal drum

imagestter) đầu tiên Phim nằm ở bên trong trống, có cơ chế các gương

phản chiếu tia laser đến phim Các bộ phận chuyển động ít hơn và khoảng

cách tiêu cự cố định làm cho nhiều nhà cung cấp chuyển sang thiết kế

tương tự trong những năm tới

Phần mềm QuarkXPress phiên bản 1.0

Năm 1987 có hai phần mềm mới, quan trọng được giới thiệu Thứ nhất là hãng Quark tung ra phần mềm dàn trang QuarkXPress cho Macintosh,

cạnh tranh trực tiếp với PageMaker Phiên bản Windows của nó xuất

hiện đầu tiên 5 năm sau đó Thứ hai là Adobe tung ra phần mềm đồ họa

Adobe Illustrator 1.0 phiên bản cho Macintosh Phiên bản cho hệ điều

hành Windows đến năm 1989 mới xuất hiện Với phần mềm này, Adobe

chủ yếu muốn minh chứng cho các khả năng của ngôn ngữ mô tả trang

PostScript Nhiều thiết lập trong phần mềm này trực tiếp tham chiếu đến

các lệnh PostScript tương quan

Trang 24

Chûúng 1 : Múã àêìu 24

ImageStudio của Letraset là chương trình chỉnh sửa hình ảnh trắng

đen (grayscale image) hàng đầu cho Macintosh và là nguồn cảm hứng

cho các nhà phát triển phần mềm Photoshop sau này Trong năm 1987,

Người dùng máy tính có thể nâng cấp lên hệ điều hành MS-DOS 3.3

hoặc nâng cao khả năng video của hệ thống với một card đồ hoạ VGA

Sau khi cài đặt hệ điều hành Windows 2.0, họ có thể bắt đầu với phiên

bản đầu tiên của Aldus PageMaker trên máy PC Cũng trong năm này,

Microsoft đã thay đổi logo lần thứ tư trong lịch sử của họ

Logo của Microsoft năm 1987

Năm 1988, NeXTcube là một máy trạm cao cấp (high-end

worksta-tion) được phát triển, sản xuất và bán bởi NeXT, công ty được thành lập

bởi Steve Jobs sau khi ông ấy rời khỏi Apple

Máy tính NeXTcube của hãng NeXT

NeXT chỉ tồn tại cho đến năm 1993, nhưng máy tính của nó và hệ điều hành NeXTSTEP đã có ảnh hưởng lớn đến ngành công nghiệp đồ

họa Máy chủ web đầu tiên trên thế giới chạy trên hệ thống NeXT Phần

mềm bình bản điện tử (imposition) SignaStation của Heidelberg và các

ứng dụng của OneVision ra mắt trên nền tảng này và hỗ trợ hiệu quả cho

Display PostScript NeXTSTEP sau này trở thành nền tảng của Mac OS X

Trang 25

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Giao diện của Hệ điều hành NeXTSTEP

Cũng trong năm 1988, Aldus phát hành FreeHand 1.0, một phần mềm đồ họa mà trong nhiều năm sau là đối thủ cạnh tranh chính của Adobe

Illustrator

Phần mềm đồ họa FreeHand phiên bản 1.0

Công ty Hyphen Inc giới thiệu phần mềm RIP đầu tiên của họ Cho đến lúc đó tất cả các nhà cung cấp đã sử dụng phần cứng riêng của họ

cho RIP Hyphen RIP là một bản sao PostScript chạy trên nền máy tính

PC tiêu chuẩn Trong khi đó, đối thủ cạnh tranh là Adobe cũng ra mắt

phiên bản mới của Atlas PostScript RIP, chạy trên máy tính với 6 MB

RAM và đĩa cứng 80 MB

Trang 26

Chûúng 1 : Múã àêìu 26

Máy in HP DeskJet ngay khi xuất hiện vào năm 1988 đã là một thành công nhanh chóng trong thị trường in văn phòng nhưng nó vẫn sẽ mất

vài năm trước khi kỹ thuật in phun mực bắt đầu có tác động lớn đến thiết

kế đồ họa Apple LaserWriter II cũng là một máy in khác được tung ra

trong năm đó Nó có một số phiên bản khác nhau để nhắm mục tiêu

người dùng chuyên nghiệp

Máy in HP DeskJet của hãng HP

Vì các máy tính để bàn vẫn còn khá yếu, nên nhiều công ty dựa vào các máy chủ mạnh để xử lý một phần công việc Năm 1989, công ty

Helios của Đức lần đầu tiên giới thiệu EtherShare, một tập tin dựa trên

hệ điều hành Unix và máy chủ in (printer server), sau đó họ thêm tính

năng OPI (Open Prepress Interface) để giảm thiểu thời gian xử lý và

tăng năng suất Ngoài ra học thêm các cấu hình của quản lý màu (color

management).

Phần mềm CorelDraw 1.0 của hãng Corel

Trang 27

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Năm 1989, hãng Corel tung ra phần mềm đồ họa CorelDRAW 1.0, một ứng dụng vẽ vector, phiên bản được sử dụng cho hệ điều hành Win-

dows 3.1 Cũng trong năm này, Letraset tung ra phần mềm chỉnh sửa

ảnh màu ColorStudio, một chương trình có kỹ thuật cao hơn Photoshop

nhưng giá gấp đôi ở mức 1.995 USD Bán hàng không đáp ứng được kỳ

vọng, Letraset cuối cùng đã từ bỏ thị trường về phần mềm

Năm 1990 Xerox ra mắt hệ thống DocuTech đầu tiên, được biết đến với cái tên DocuTech Production Publisher Hệ thống này dựa trên công

cụ in xerographic độ phân giải 600 dpi, in đen trắng tốc độ 600 trang/

phút với thiết bị quét (scanner) và các chức năng thành phẩm được tích

hợp trong máy (inline finishing options) Đây là hệ thống xuất bản "in

theo yêu cầu" (print-on-demand) có giá phải chăng đầu tiên Vào năm

1992, tùy chọn Network Server được thêm vào để cho phép các công

việc được in kỹ thuật số từ mạng máy tính cá nhân (PC network)

Hệ thống DocuTech của Xerox thập niên 1990

Mac IIfx được phát hành và trong hai năm sau đó, nó vẫn là máy tính nhanh nhất trong dòng sản phẩm của Apple Nó có giá đến 10.000

USD bao gồm cả màn hình Cũng trong năm 1990, Microsoft giới thiệu

Windows 3.0, phiên bản "hữu dụng" đầu tiên của hệ điều hành này và

đạt được thành công thương mại to lớn Trong năm đầu tiên, đã có một

triệu bản được bán ra

Giao diện Hệ điều hành Microsoft Windows 3.0

Trang 28

Chûúng 1 : Múã àêìu 28

Linotype kết hợp với Hell để trở thành Công ty Linotype-Hell AG

Linotype-Hell là công ty đầu tiên đưa ra một thuật toán tạo tram để loại

bỏ các hiệu ứng moire là nhược điểm của tram PostScript Công nghệ

của họ được gọi là HQS Screening (High Quality Screening) và dựa trên

thuật toán Accurate Screening của Adobe, sẽ được cung cấp cùng với

PostScript level 2 Agfa cũng có một giải pháp tươn tự được gọi là Agfa

của định dạng font Type 1, trong khi các nhà cung cấp khác phải sử dụng

định dạng font Type 3 Điều này đã thay đổi vào năm 1991 khi Apple và

Microsoft hợp tác và tung ra font TrueType, nó được phát triển bởi Apple

do họ đã quá chán ngán với việc phải trả chi phí đắt tiền cho bản quyền

font chữ cho các máy in laser của họ Apple thiết lập font TrueType là

một phần tích hợp của hệ điều hành System 7, trong khi Microsoft cho

phép hỗ trợ font TrueType trong Windows 3.1 vào đầu năm 1992 Adobe

phản ứng lại mối đe dọa này bằng cách phát hành một công cụ gọi là

Adobe Type Manager (ATM) để cải thiện sự xuất hiện trên màn hình

của các font chữ PostScript Adobe cũng thông báo các thông số kỹ thuật

của font chữ PostScript Type 1 Ngay sau đó, các nhà thiết kế font đã

cung cấp font chữ Type 1 chất lượng cao

Năm 1991, Adobe phát hành PostScript level 2, một phiên bản mạnh hơn và đáng tin cậy hơn của ngôn ngữ PostScript Bằng cách phát hành

các thông số kỹ thuật trước khi tung ra sản phẩm, các đối thủ cạnh tranh

như Harlequin có thể bán các RIP tương thích trước khi các sản phẩm

của Adobe tham gia vào thị trường Và cũng trong năm này, công nghệ

ổ đ4a DLT đã đặt ra các tiêu chuẩn mới cho độ tin cậy, tốc độ và dung

lượng Nó vẫn là công nghệ lưu trữ được yêu thích trong việc lĩnh vực

chế bản trong nhiều năm sau đó

Phiên bản 1.07 của Photoshop, phần mềm xử lý hình ảnh mạnh mẽ của Adobe phát hành một năm trước, đã bao gồm một tính năng rất quan

trọng trong lĩnh vực chế bản hiện đại: hỗ trợ không gian màu CMYK

Nó không hỗ trợ trực tiếp, vì thế chúng ta không thể nhìn thấy các kênh

riêng biệt, nhưng chúng ta có thể mở một tập tin được quét ở hệ màu

RGB và sau đó lưu nó lại với hệ màu CMYK Bản cập nhật này đánh

dấu sự bắt đầu kết thúc của các hệ thống cao cấp đắt tiền từ các nhà

cung cấp như Crossfield và Hell

Trang 29

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Phiên bản Adobe Photoshop 1.07 phát hành năm 1990

EFI Fiery RIP cho máy photocopy kỹ thuật số đã nhanh chóng thành công Canon, Xerox, Kodak và Agfa đã tích hợp hệ thống với máy pho-

tocopy màu của họ EFI được thành lập vào năm 1988 bởi Efraim Arazi,

người cũng đã thành lập Scitex vào năm 1968 Nó sẽ trở thành một trong

những nhà cung cấp hàng đầu các giải pháp in kỹ thuật số và phần mềm

quản lý chu trình công việc (workflow management software) Một công

ty được thành lập cùng năm và tập trung vào in kỹ thuật số là Caldera

Sản phẩm đầu tiên của nó là Cameleo, một công cụ tạo ICC Profile

Logo của công ty Caldera

Năm 1992, tại Hội chợ Comdex Fall, định dạng file PDF đã nhận được

giải "Best of Comdex" Phần mềm Acrobat Reader có giá bán 50 USD

trong khi các phiên bản cá nhân và mạng của Acrobat Distiller tương

ứng là 695 USD và 2.495 USD Cũng trong năm này, thông số kỹ thuật

cho thuật toán JPEG để nén hình ảnh được công bố Hai năm sau đó, nó

trở thành một tiêu chuẩn ISO

FrameMaker 3, một phần mềm dàn trang được tối ưu hóa cho các tài liệu dài được giới thiệu, phiên bản cho Windows cũng được công bố Bản

đầu tiên chạy trên hệ điều hành Solaris và Apollo, và từ năm 1990 trở

đi được Macintosh hỗ trợ Năm 1995, Adobe đã mua lại phần mềm này

Trang 30

Chûúng 1 : Múã àêìu 30

Scitex mua hệ thống Leaf Một năm sau đó, máy chụp ảnh kỹ thuật số định dạng trung bình Hasselblad hoặc Mamiya được giới thiệu Nó có

độ phân giải 4 megapixel và có giá khoảng 37.000 USD

Công ty Artwork Systems được thành lập Sản phẩm đầu tiên của họ là ArtPro, một phần mềm chế bản cho nhãn hàng và bao bì 1.000 bản

quyền đã được bán trong vòng 4 năm đầu và 8.000 bản được bán cho

đến năm 2007, biến công ty trở thành nhà cung cấp phần mềm bao bì

lớn trên thế giới

Logo phần mềm chế bản ArtPro của Artwork Systems

Năm 1992, cũng đánh dấu sự ra đời của Viện nghiên cứu Công nghệ Điện tử CRON Họ đã giới thiệu máy ghi phim bằng laser đầu tiên của

Trung Quốc vào năm 1993, tiếp theo là máy in danh thiếp màu với độ

chính xác cao đầu tiên vào năm 1994

Hội chợ thương mại ngành in IPEX năm 1993 tại Anh là đáng chú ý nhất từ trước tới nay Tại sự kiện đó, hệ thống CtP đầu tiên được giới

thiệu cùng với 2 máy in kỹ thuật số: Indigo E-Print 1000 và Xeikon

DCP-1 Indigo E-Print 1000 là một máy in kỹ thuật số dạng tờ rời có sử

dụng ElectroInk, một loại mực chất lỏng đầu tiên có thể in được lên giấy

Máy in kỹ thuật số Indigo E-Print 1000

Indigo là sản phẩm trí tuệ của Benny Landa, người đã thành lập Indigo Digital Printing năm 1977 Ông đã bán công ty cho Hewlett-Packard vào

năm 2002 và thành lập Tập đoàn The Landa với mục tiêu xây dựng một

loạt các máy in mới dựa trên mực nano (nanographic ink).

Trang 31

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Benny Landa, người sáng lập Indigo Digital Printing và The Landa Group

ScanView ScanMate là một ví dụ điển hình của một thế hệ máy quét

dạng trống để bàn (destop drum scanner) nhỏ gọn mới xuất hiện trên thị

trường Những thiết bị này đôi khi được gọi là baby drum scanner Một

số máy trong số đó sử dụng ống nhân quang (photomultiplier) trong khi

số khác có giá rẻ hơn thì sử dụng CCD

Máy quét dạng trống ScanView ScanMate

Bộ vi xử lý PowerPC là sự phát triển chung của Motorola, IBM và Apple Apple sẽ sử dụng trong dòng máy Power Macintosh của hệ thống

Nó cũng được có sẵn trên một thẻ add-on cho máy Macintosh Quadra

Năm 1993, Microsoft cũng đã tung ra Windows NT, một hệ điều hành

dành riêng cho máy chủ (server operating system) Ban đầu NT chạy trên

nhiều nền tảng phần cứng (multiple hardware platforms), bao gồm Dec

Alpha được nhiều nhà cung cấp sử dụng để chạy phần mềm RIP của họ

Cũng trong năm 1993, Agfa đã giới thiệu CristalRaster, giải thuật tram

ngẫu nhiên (tram FM) đầu tiên Công ty đã không đăng ký bằng sáng

chế công nghệ và nó sớm có các giải pháp cạnh tranh khác xuất hiện như

Diamond Screening của Linotype-Hell hoặc Monet Screening của Barco

Trang 32

Chûúng 1 : Múã àêìu 32

Tại hội nghị Fogra năm này, tổ chức Intercolor Consortium (ICC -

Hiệp hội màu quốc tế) được thành lập Mục tiêu của nó là chia sẻ kiến

thức về màu sắc và phát triển các tiêu chuẩn về quản trị màu (color

management) Một năm sau, ICC chấp nhận ColorSync của Apple và ra

mắt phiên bản 2 của định dạng ICC Profile Các bảng kiểm tra IT8 (IT8

test charts), chẳng hạn như IT8.7/2, mục tiêu là để định chuẩn các thiết

bị đầu vào như máy quét hoặc quá trình in

Bài mẫu IT8.7/2

Layers là tính năng mới của Photoshop 3.0, bên cạnh các cải tiến khác như bảng màu và hỗ trợ định dạng RAW của các máy ảnh kỹ thuật số

khác nhau

Aldus FreeHand 4 bao gồm các tính năng đa trang (multi-page

capa-bilities), đã làm cho ứng dụng phù hợp với các tài liệu có bố cục trang

nhỏ Sau khi hợp nhất Aldus-Adobe, Adobe trả lại Freehand cho Altsys,

những người sáng tạo ban đầu, sau này được Macromedia mua lại Adobe

Systems và Aldus Corporation hợp nhất đã trở thành nhà cung cấp phần

mềm lớn thứ năm trên thế giới, với doanh thu hàng năm khi đó là 500

triệu USD

Năm 1994, Creo giới thiệu máy ghi bản 3244 Platesetter, một hệ thống CTP dựa trên công nghệ ánh sáng khả kiến Đơn đặt hàng lớn của R.R

Donnelly & Sons, người đã tài trợ một phần cho sự phát triển của thiết bị

này, đã làm cho Creo trở thành nhà cung cấp hàng đầu các hệ thống CTP

Cũng trong năm này, Iomega giới thiệu ổ ZIP, một loại siêu đĩa mềm với dung lượng 100 MB, sau đó được mở rộng lên 250 và 750 MB Apple

đã tích hợp ổ đĩa này trong một số máy Mac của họ, nhưng sự phổ biến

của nó đã không bao giờ có được từ một vấn đề về độ tin cậy mà được

gọi là "click of death".

Trang 33

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Ổ đĩa ZIP của Iomega

Hiệp hội màu quốc tế (International Color Consortium) công bố các

thông số kỹ thuật cho ICC Profile Nó sẽ mất thêm 10 năm nữa để phát

triển, nhưng ít nhất là những điều cơ bản về ICC Profile bây giờ đã có

Năm 1995 là một năm rất quan trọng cho chế bản và in ấn, bởi vì trong năm này có hai sự kiện xảy ra Trước tiên, đây là năm của TrendSet-

ter, hệ thống ghi kẽm nhiệt đầu tiên của Creo Như tên gọi của nó, hệ

thống này đã trở thành một xu hướng - đó là sự phát triển cho công nghệ

ghi kẽm (Computer to Plate - CTP) sau đó Đây là hệ thống thành công

nhất của tất cả 42 hệ thống CTP được trưng bày tại triển lãm thương mại

Drupa năm đó Hình bên dưới là TrendSetter 800 Magnum của một vài

năm sau đó Nó giống với phiên bản gốc

Máy ghi bản nhiệt TrendSetter 800 Magnum của Creo

Một xu hướng lớn khác là sự xuất hiện của một số dịch vụ web (web

services) sẽ có tác động lớn đến ngành công nghiệp Vistaprint được

thành lập tại Paris, Pháp bởi Robert Keane, người tin tưởng vào khả

Trang 34

Chûúng 1 : Múã àêìu 34

năng cung cấp các ấn phẩm in nhanh cho các doanh nghiệp nhỏ Trong

vòng vài năm, dịch vụ web này có ảnh hưởng rất lớn đến báo chí ở Mỹ

vì họ lấy mất một phần lớn thu nhập từ quảng cáo trên báo giấy vào

trang web Một công ty khởi nghiệp khác, gọi là Amazon, họ tập trung

vào việc bán sách trực tuyến (bán hàng trên internet - sale online) Hiện

nay, Amazon đã trở thành một người khổng lồ trong dịch vụ bán hàng

trên mạng internet

Năm 1995, Microsoft đã giới thiệu Windows 95 và họ đã bán được một triệu bản chỉ trong vòng 4 ngày Apple cho phép lựa chọn các nhà

cung cấp khác như Power Computing, Motorola và UMAX để chấp nhận

thị trường bản sao Macintosh Sau khi trở lại hãng Apple, Steve Jobs đã

hủy bỏ chính sách này vào năm 1998

Năm 1995 cũng là năm của sự ra đời các tiêu chuẩn kết nối mới:

Apple ra mắt Firewire (IEE 1394) và một nhóm các nhà cung cấp ngành

công nghiệp phát hành các thông số kỹ thuật cho Universal Serial Bus

(USB) Tốc độ của Ethernet tăng từ 10 Mb/s lên 100 Mb/s với việc phát

hành các đặc tính của Fast Ethernet

Cổng kết nối Firewire (IEE 1394)

Năm 1996, QuarkXPress 3.3 được công bố và nó chính thức qua mặt Pagemaker để trở thành phần mềm dàn trang hàng đầu Trong nhiều

năm đã có sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà cung cấp phần mềm

Các nhà thiết kế, trung tâm dịch vụ và nhà in cần phải có các phần mềm

của QuarkXPress, Pagemaker, Illustrator, FreeHand và Photoshop cho

công việc của họ

Scitex phát hành Brisque, một hệ thống làm việc dựa trên hệ điều

hành Unix sử dụng CT/LW như là một định dạng tập tin nội (internal file

format) Một sản phẩm mới nữa của Scitex, sẽ trở nên phổ biến và giành

được nhiều giải thưởng, là máy quét dạng phẳng Eversmart

Năm 1996, Adobe và Microsoft cũng đã gây ngạc nhiên cho toàn bộ ngành công nghiệp bằng cách thông báo sự phát triển chung của một

định dạng font mới có tên mã là OpenType Thông số kỹ thuật của nó

được xuất bản năm 1997 nhưng bộ font đầu tiên thì mãi đến năm 2000

mới xuất hiện Cũng trong năm này, Agfa giới thiệu Avantra 30, một ghi

phim khổ 4 trang (4-up imagesetter).

Trang 35

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Máy ghi phim Advantra 30 của Agfa

Global Graphics được thành lập tại Nancy, Pháp Sau một loạt các vụ mua lại, kể cả của Harlequin Group Plc năm 1999, nó trở thành một

công ty lớn trong thị trường phần mềm chế bản

Vào cuối những năm 90, ngành công nghiệp in đang chuyển đổi mạnh mẽ sang công nghệ CTP, cho phép họ ngừng sử dụng phim và ghi dữ liệu

trực tiếp từ máy tính lên bản in Các công ty đầu tư vào CTP, họ thường

có các thư viện phim lớn còn lại từ trước, do đó họ có nhu cầu cần phải

sử dụng lại các trang phim này Máy quét có chức năng Copydot như

EskoScan 2540 của Eskofot có thể quét những bộ phim đó và lưu lại dữ

liệu dưới dạng các tập tin DCS Tuy nhiên các máy quét dạng này chỉ

tồn tại trong vài năm, cho đến khi tài liệu lưu trữ đã được quét lưu dưới

dạng tập tin và tất cả dữ liệu đã chuyển sang dạng kỹ thuật số

Năm 1997, Enfocus bắt đầu phát hành PitStop 1.0, một plug-in chỉnh sửa PDF cho Acrobat Exchange 3.0 Apple cũng công bố hệ điều hành

Mac OS 8 và bán được hơn 1,2 triệu bản trong hai tuần đầu tiên Hệ điều

hành này sử dụng được nhiều màu sắc hơn và bao gồm cả hỗ trợ cho cả

hệ thống tệp tin mới gọi là HFS Plus và PowerPC multithreaded Finder

Lúc này, Apple đang gặp phải các vấn đề tài chính nghiêm trọng và chỉ

tồn tại được là nhờ Microsoft đầu tư 150 triệu USD vào công ty Nó hứa

hẹn sẽ tiếp tục phát triển phần mềm cho hệ điều hành này trong khi

Apple cam kết sẽ tích hợp Internet Explorer làm trình duyệt mặc định

cho Macintosh

Trang 36

Chûúng 1 : Múã àêìu 36

Vào năm 1998, PostScript 3, được công bố năm 1997, đã bắt đầu được bán Nó cung cấp giải thuật tạo tram 12-bit và cải thiện việc hỗ trợ in

các trang PDF và chức năng tách màu trong RIP Đây là phiên bản cuối

cùng ngôn ngữ mô tả trang của Adobe

Cũng trong năm này, Agfa là nhà cung cấp đầu tiên công bố một chu trình làm việc dựa trên PDF, được gọi là Apogee Hệ thống này chạy trên

nền hệ điều hành Windows NT và sử dụng PDF 1.2 như là định dạng tập

tin nội bộ Apogee Series3, ra mắt vào năm 2001 và sử dụng PDF 1.3,

là phiên bản mạnh mẽ nhất trước khi ApogeeX, một phần mềm viết lại

hoàn chỉnh của phần mềm này, sẽ được công bố vào năm 2003

IMac được công bố và nhanh chóng trở thành máy tính được ưa chuộng trong lĩnh vực chế bản

Máy tính IMac của Apple

Cũng trong năm 1998, Pantone được cấp bằng sáng chế cho kỹ thuật Hexachrome, một quy trình in sáu màu dựa trên các loại mực CMYK

thêm màu cam (orange) và màu xanh lá (green) để mở rộng khoảng phục

chế màu (color gamut) Quy trình CMYKOG này không phải là thành

công lớn vì phí bản quyền, chi phí cộng thêm cho in hai màu bổ sung và

lợi ích hạn chế cho nhiều loại hình ảnh Pantone đã ngưng công nghệ

này trong năm 2008

Có tên mã là K2 mà một số người cho là "Quark Killer", năm 1999,

Adobe tung ra phần mềm dàn trang InDesign 1.0 dựa trên phần mềm

PageMaker mà họ đã mua trước đó Nhưng nó nhanh chóng thất bại do

tốc độ chậm và hay bị lỗi

Trang 37

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Phần mềm dàn trang Adobe InDesign

Acrobat 4 được phát hành vào tháng 4 năm 1999 Nó hỗ trợ định dạng tập tin PDF 1.3, đây là phiên bản PDF đầu tiên thực sự phù hợp cho việc

chế bản Cũng trong năm này, Heidelberg và Creo thông báo Prinergy,

một chu trình làm việc được phát triển chung dựa trên công nghệ PDF

và Adobe Extreme Sau sự tan vỡ về hợp tác giữa hai công ty vào năm

2003, Creo tiếp tục phát triển của Prinergy trong khi Heidelberg ra mắt

chu trình PrintReady

Transparency là một hiệu ứng thị giác đã có một tác động lớn đến ngành công nghiệp đồ họa Trong năm 2000 Illustrator 9 là ứng dụng

của Adobe đầu tiên hỗ trợ thuộc tính Transparency Các chương trình

khác như Corel Draw đã làm việc này từ rất lâu nhưng họ phải sử dụng

các thủ thuật phần mềm để mô phỏng hiệu quả Adobe có thể đi xa hơn

nữa: họ hỗ trợ thêm thuộc tính Transparency cho định dạng tập tin PDF

cũng như nền tảng APPE RIP của họ Tiếp thị cho các ứng dụng thiết

kế và bố trí của mình, Adobe nhấn mạnh nhiều vào lợi thế sáng tạo của

việc sử dụng thuộc tính Transparency Tuy nhiên, phải mất vài năm

trước khi việc xử lý các tập tin có thuộc tính Transparency không bị lỗi

trong quá trình xuất

Hãng Screen giới thiệu Trueflow, một chu trình làm việc trước in dựa trên trình biên dịch của PostScript 3 và các công cụ trapping và bình bản

mạnh mẽ của Screen Đây là trình duyệt web đầu tiên dựa trên chu trình

làm việc, chủ yếu nhắm vào phân khúc thấp của thị trường

Tại Drupa năm 2000, Agfa đã giới thiệu một phiên bản của hệ thống

Galileo CTP của họ mà nó có thể ghi bản với ánh sáng tím (violet) trong

vùng ánh sáng khả kiến Với thiết bị này, đã đánh dấu một công nghệ ghi

Trang 38

Chûúng 1 : Múã àêìu 38

bản mới - công nghệ ghi kẽm violet Cuộc tranh luận về ghi kẽm nhiệt

hay violet diễn ra trong nhiều năm, và được thay thế bằng các cuộc thảo

luận xung quanh các công nghệ không xử lý bản sau khi ghi (process-free

technology) 5 đến 6 năm sau đó.

Máy ghi bản violet Galileo của Agfa

Năm 2001, Apple ra mắt phiên bản máy tính để bàn đầu tiên của OS

X, hệ điều hành dựa trên Unix có tên mã là Cheetah Phiên bản máy chủ

(server)đã có sẵn từ năm 1999 Cũng cùng năm này, Microsoft giới thiệu

Windows XP Hiệp hội màu quốc tế công bố phiên bản 4 cho ICC Profile

Tạp chí Times xử lý quảng cáo đầu tiên được cung cấp dưới dạng tập tin PDF/X-1a: 2001 Định dạng tập tin mới này là một phiên bản của

PDF 1.3 được tối ưu hóa để chuyển đổi các trang trong môi trường trước

in (prepress).

Giao diện của phần mềm bình bản Preps của ScenicSoft

Trang 39

Giấo trịnh Xûã lyá ẫnh kyä thuêåt sưë

Đến năm 2002, PDF đã được xem như là một tiêu chuẩn để chuyển đổi các tập tin giữa các nhà thiết kế, nhà xuất bản và các công ty in ấn

Do tính chất linh hoạt của định dạng tập tin, có rất nhiều vấn đề với việc

sử dụng nó như là một định dạng chuyển đổi Câu trả lời của ngành là

cần xác định một loạt các yêu cầu bổ sung cho các tập tin PDF mà nó

có ý nghĩa cho việc chuyển đổi Chuẩn PDF/X-3 là một ví dụ điển hình

về điều này Phiên bản đầu tiên của nó được phát hành vào năm 2002

Trong khi tiêu chuẩn PDF/X-1 bị hạn chế sử dụng trên toàn thế giới, thì

PDF/X-3 được sử dụng phổ biến ở châu Âu

Cùng năm đó, Creo mua lại ScenicSoft, nhà phát triển Preps, phần mềm bình bản điện tử hàng đầu của ngành công nghiệp in với hơn 20.000

bản được bán ra

Cũng trong năm 2002, Heidelberg thông báo "hoạt động sản xuất và

phát triển của máy quét sẽ bị ngưng và phạm vi của các máy ghi phim

cũng sẽ bị giới hạn ở các dòng cao cấp" không thực sự là chủ đề tin tức

chính nhưng nó cho thấy rõ rằng ngành công nghiệp in đang trải qua

những thay đổi lớn

PlateRite Micra là thiết bị CTP 2-up đầu tiên của Screen được tung ra trong năm 2003, và đã trở thành nhà sản xuất thiết bị ghi bản CTP lớn

nhất Máy của họ cũng được bán bởi Agfa, Fuji và Heidelberg

Các kỹ thuật tạo tram tiếp tục được cải thiện Agfa Sublima là một ví

dụ về kỹ thuật tram lai (hybrid screening technology) Các nhà cung cấp

khác như Creo và Heidelberg cũng đưa ra các phiên bản "thứ hai" đã

được hiệu chỉnh cho các thuật toán tram ngẫu nhiên (tram FM) của họ

Những cải tiến này sử dụng các cấu trúc giống như "con sâu" (worm-like)

để giảm sự tăng tầng thứ trong quá trình in (dotgain) ở vùng tông trung

gian (midtone) của hình ảnh.

Máy chụp ảnh kỹ thuật số Canon 300D

Trang 40

Chûúng 1 : Múã àêìu 40

Canon 300D hoặc Digital Rebel như tên gọi của nó ở Mỹ, là máy chụp ảnh kỹ thuật số sử dụng ống kính đơn đầu tiên Ngay cả những studio

nhỏ cũng có thể mang lại những hình ảnh kỹ thuật số tuyệt vời nhờ độ

phân giải 300D của 6 megapixel Việc áp dụng các máy chụp ảnh kỹ

thuật số (digital camera) trong việc phục chế hình ảnh đã nhanh chóng

giết chết thị trường máy quét (scanner).

Hầu hết các thông tin trong ngành in đã mô tả chương trình Drupa năm

2004 là "JDF-drupa" Mặc dù thông số kỹ thuật mới nhất của JDF 1.2

lần đầu tiên có thể được coi là "trưởng thành" và một chiến dịch "JDF

Now" được khởi động để quảng cáo việc sử dụng nó, tuy nhiên việc sử

dụng JDF thực tế vẫn còn hạn chế

Cũng trong năm 2004, Punch International mua lại basysPrint, một công ty nhỏ của Đức có hệ thống ghi bản UV-Setter, được giới thiệu tại

Drupa năm 1995, sử dụng các bản in truyền thống (conventional plate) rẻ

hơn các bản in kỹ thuật số (digital plate) Hệ thống của họ còn được gọi

là CTcP hoặc máy ghi bản truyền thống (Computer to conventional Plate).

Máy ghi bản PS (bản truyền thống) UV-Setter 710 của basysPrint

Năm 2005, Kodak tiếp quản Creo với giá 980 triệu USD Trong năm

này họ cũng giới thiệu các bản in không cần xử lý (process-free plate)

đầu tiên, được gọi là Thermal Direct và nhắm mục tiêu đến các máy in

khổ nhỏ và vừa Trong năm 2005, thị trường máy in kỹ thuật số tiếp tục

mở rộng với sự ra mắt của Konica Minolta Bizhub và Canon Imagepress

Năm 2006, Adobe công bố Adobe PDF Print Engine (APPE), viết lại hoàn toàn cấu trúc RIP của họ Thay vì dựa vào PostScript làm ngôn ngữ

mô tả trang cốt lõi, APPE sử dụng định dạng tập tin PDF

Ngày đăng: 25/03/2023, 19:33

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm