Với chủ đề 1 : ‘’Mối quan hệ giữa dân số và phát triển cùng vai trò ý nghĩa của môn học’’, chúng ta sẽ đi làm rõ 2 vấn đề nêu trên để hiểu được nội dung, đối tượng và mục đích nghiên cứ
Trang 1Mở đầu :
Mở đầu :
Dân số & phát triển là một môn học phổ biến và quan trọng trong giáo dục Đại học, hướng tới nghiên cứu, đánh giá hai phạm trù cơ bản là dân số và phát triển Theo đó, đối tượng nghiên cứu chính của môn học là mối quan hệ chặt chẽ hai chiều giữa một bên là dân số và bên kia là sự phát triển Với chủ đề 1 : ‘’Mối quan hệ giữa dân số và phát triển cùng vai trò
ý nghĩa của môn học’’, chúng ta sẽ đi làm rõ 2 vấn đề nêu trên để hiểu được nội dung, đối tượng và mục đích nghiên cứu của môn học, từ đó có thể rút ra được tầm quan trọng cùng phương pháp học tập bộ môn này cho hiệu quả và thú vị cuối cùng là thu được những kết quả tương xứng…
Bài luận gồm 2 vấn đề chính cần làm rõ là là : +) Mối quan hệ của Dân số & Phát triển ; +) Vai trò, ý nghĩa của môn học
Trên cơ sở luận điểm và những vấn đề của giáo trình Dân số & Phát triển (chủ biên: PGS.TS Nguyễn Nam Phương) viết, cùng sự góp ý quý báu của cô, chúng em viết theo ý hiểu của nhóm và có tham khảo thêm những kiến thức của các tài liệu khác Tuy vậy, chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót trong bài tập này, nên chúng em rất mong được tiếp thu sự góp
ý và sửa chữa của cô cùng các bạn…
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÍ NGUỒN NHÂN LỰC
BỘ MÔN DÂN SỐ & PHÁT TRIỂN
BÀI TẬP NHÓM
Chủ đề 1: Mối hệ giữa dân số & Phát triển cùng
vai trò ý nghĩa môn học
Nhóm 11: Nguyễn Thanh Tùng;
Nguyễn Tiến Dũng;
Nguyễn Thu Hương;
Nguyễn Thị Hiền;
Mai Thị Phương Anh;
Nguyễn Thị Thu Hà
Hà Nội, 25/08/2013
Trang 2Mở đầu :
Dân số & phát triển là một môn học phổ biến và quan trọng trong giáo dục Đại học, hướng tới nghiên cứu, đánh giá hai phạm trù cơ bản là dân số và phát triển Theo đó, đối tượng nghiên cứu chính của môn học là mối quan hệ chặt chẽ hai chiều giữa một bên là dân số và bên kia là sự phát triển Với chủ đề 1 : ‘’Mối quan hệ giữa dân số và phát triển cùng vai trò
ý nghĩa của môn học’’, chúng ta sẽ đi làm rõ 2 vấn đề nêu trên để hiểu được nội dung, đối tượng và mục đích nghiên cứu của môn học, từ đó có thể rút ra được tầm quan trọng cùng phương pháp học tập bộ môn này cho hiệu quả và thú vị cuối cùng là thu được những kết quả tương xứng…
Bài luận gồm 2 vấn đề chính cần làm rõ là là : +) Mối quan hệ của Dân số & Phát triển ; +) Vai trò, ý nghĩa của môn học
Trên cơ sở luận điểm và những vấn đề của giáo trình Dân số & Phát triển (chủ biên: PGS.TS Nguyễn Nam Phương) viết, cùng sự góp ý quý báu của cô, chúng em viết theo ý hiểu của nhóm và có tham khảo thêm những kiến thức của các tài liệu khác Tuy vậy, chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót trong bài tập này, nên chúng em rất mong được tiếp thu sự góp
ý và sửa chữa của cô cùng các bạn…
Chúng em chân thành cảm ơn
Nhóm 11
Hà Nội 25/08/2013
Trang 3I) Mối quan hệ giữa dân số & phát triển :
1) Các khái niệm liên quan :
a) Khái niệm dân số :
-‘’Theo nghĩa thông thường dân số là số lượng dân trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định, trong một thời điểm nào đó’’-GT DSPT
Có thể thấy theo nghĩa hẹp này, dân số được xác định tại một khoảng không gian và thời gian nào đó, được cụ thể hóa Việc quy định không gian đó được quy định từ trước (theo quy định tại nước ta, vùng không gian cấp thấp nhất là xã, phường…) và được nghiên cứu tại một thời điểm xác định
+Ví dụ : Thành phố Hà Nội, ở thời điểm 0h ngày 01/4/2009 dân số Hà Nội có 6.448.837 người, chiếm 7,51% dân số cả nước…
-Tuy nhiên ‘’Dân số nghĩa rộng được hiểu là một tập hợp người Tập hợp này không chỉ là số lượng mà còn gồm cả cơ cấu và chất
lượng…’’-GT DSPT Có thể nói, phức tạp hơn, dân số còn được nghiên cứu trên các khía cạnh về cơ cấu và chất lượng nữa…Nó thường xuyên biến động, tăng lên, giảm xuống về số lượng, trẻ hóa, già hóa, hay ổn định, trình độ dân cư, tỷ lệ giới tính…
+Ví dụ : Trong thập kỷ qua, dân số nam ở Mỹ tăng thêm 9,9% so với 9,5% của dân số nữ Như vậy, dân số nữ chỉ hơn dân số nam là 5,18 triệu năm 2010 so với 5,3 triệu năm 2000 Tỷ số giới tính (số nam/100 nữ) cũng tăng từ 96,3 năm 2000 lên 96,7 năm 2010 – một sự phục hồi đáng kể từ năm 1910…
Tóm lại, dân số thường được nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh (một thời điểm) và trạng thái động (một thời kì), khi nghiên cứu rộng hơn, chúng ta lại xét tới nhiều vấn đề nảy sinh và liên quan nữa…
b) Khái niệm phát triển :
-‘’Phát triển được hiểu là một khái niệm rộng, chỉ tất cả hoạt động của con người nhằm thúc đẩy xã hội tiến lên về đời sống vật chất và tinh thần Khái niệm phát triển có quá trình hoàn thiện dần từ đơn sơ, phiếm diện tới toàn diện, và đầy đủ hơn, từ đơn thuần tăng trưởng kinh tế tới phát triển bền vững’’- GT DSPT
Có thể hiểu nôm na rằng đó là quá trình một xã hội đạt tới sự thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội đó coi là thiết yếu…
Ví dụ, những nhu cầu thiết yếu của xã hội thường là : Dinh dưỡng, giáo dục bậc Tiểu học, sức khoẻ, vệ sinh, nước sạch và nhà ở…
-Tuy nhiên, ngày nay thuật ngữ ‘’phát triển bền vững’’ được quan tâm
và xây dựng nhiều hơn Theo đó, ‘’Phát triển bền vững là quá trình
Trang 4tăng tiến toàn diện về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, nó biến đổi liên tục cả lượng và chất của nền kinh tế’’- GT DSPT
Ta có mô hình của phát triển bền vững :
Tăng trưởng kinh tế
Môi trường bền vững Tiến bộ xã hội
c) Tổng quan về mối quan hệ giữa dân số và phát triển :
-Dân số và phát triển là hai phạm trù luôn đi kèm với nhau, có sự tác động qua lại mật thiết với nhau, có thể nói dân số tác động toàn diện tới phát triển Điều này có nghĩa là dân số tác động tới tất cả các yếu tố thành phần của quá trình phát triển, như kinh tế, xã hội và môi trường Ngược lại, kết quả của quá trình phát triển cũng nâng cao chất lượng
và phát triển con người toàn diện sẽ tác động trở lại với các quá trình dân số như : sinh, chết, di dân Đó là mối quan hệ tác động qua lại, chuyển hóa nhân quả giữa mức sinh và mức sống nói riêng, trình độ phát triển và dân số nói chung, giữa dân số và phát triển ta có mối liên
hệ sẽ được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ mô tả mối quan hệ tác động qua lại giữa dân số & phát triển
Trang 5
D
E
C
-Ta có thể thấy được, qua hai khía cạnh là ‘’quá trình’’ và ‘’kết quả’’ của dân số và phát triển, quá trình của vấn đề này sẽ tạo ra kết quả của
chính nó, rồi kết quả đó sẽ tác động tới quá trình xảy ra của vấn đề kia,
từ đó tạo thành kết quả của vấn đề còn lại Nó tạo thành một vòng tuần hoàn, không có điểm đầu, điểm cuối, mà thực tế, ta xem xét bắt nguồn
từ đâu cũng được Tuy nhiên, có một điều đáng chú ý là ‘’quá trình dân số’’ lại tác động trực tiếp tới ‘’quá trình phát triển’’ và ngược lại…Điều
đó lại cho thấy, sự tương tác với nhau khá mật thiết của ‘’dân số’’ và
‘’phát triển’’ với nhau
-Cụ thể, sự tác động của quá trình phát triển tới kết quả của nó được xác định bởi mũi tên A, việc sử dụng những nguồn lực mà ta có cùng hoạt động tiết kiệm, đầu tư, được điều chỉnh qua các chính sách của chính phủ có hiệu quả hay không sẽ được xác định bằng tình trạng sức khỏe, thu nhập, chất lượng môi trường Từ đó, đã cấu thành quá trình dân số (mũi tên C Tương tự, từ quá trình dân số, bao gồm sinh, chết và
di cư, sẽ tác động trực tiếp tới kết quả của nó, biểu hiện thành quy mô,
Kết quả dân số
-Quy mô dân số;
-Cơ cấu tuổi, giới tính;
-Phân bố dân cư
Quá trình phát triển
-Sử dụng nguồn nhân lực;
-Sử dụng vật chất (đất, tiền vốn, CN);
-Sử dụng tài nguyên, môi trường;
-Tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ (TP,
y tế, giáo dục, nhà ở…) -Tích lũy/đầu tư;
-Chi tiêu công
Quá trình dân số
-Sinh đẻ;
-Tử vong;
-Di cư
Kết quả phát triển
-Thu nhập và phân phối;
-Việc làm;
-Tình hình giáo dục;
-Điều kiện sức khỏe, sinh dưỡng;
-Chất lượng môi trường;
-Công bằng và bình đẳng xã hội
Trang 6cơ cấu và phân bố của nó (mũi tên B) Kết quả này cuối cùng lại quay trở lại ảnh hưởng tới quá trình phát triển (mũi tên D)…
-Sơ đồ trên đã mô tả mối quan hệ giữa dân số và phát triển, từ đó tạo lên khung cho nội dung nghiên cứu của chủ đề này Tuy nhiên, sự tác động qua lại đó nhìn chung khá phức tạp, nhưng nếu chúng ta nhìn nhận và phân tích trên các khía cạnh đơn giản hơn, ta có thể sẽ thấy rõ được mối quan hệ chặt chẽ đó Cụ thể, ta sẽ nghiên cứu trên những vấn
đề sau đây : Kinh tế, xã hội và tài nguyên môi trường Theo đó, dân số
và phát triển sẽ tác động qua lại theo những vấn đề trên…
2) Phân tích mối quan hệ :
2.1) Tác động của dân số tới phát triển :
a) Tác động của dân số tới kinh tế:
+) Tác động của dân số tới kinh tế được nhìn nhận với những quan điểm hết sức khác nhau, thậm chí hoàn toàn trái ngược nhau…
Theo tài liệu về Dân số & Phát triển của GS.TS Nguyễn Đình Cử - Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội- Trường ĐH KTQD có viết và nêu một số quan điểm điển hình sau đây:
-Quan điểm bi quan của R.T Malthus (1766 -1834) giáo sư kinh tế, người Anh cho rằng: ‘’ dân số tăng theo cấp số nhân: 1; 2; 4; 8; 16; 32 , thời gian cần thiết để tăng gấp đôi dân số khoảng 25 đến 30 năm Trong khi đó, lương thực chỉ tăng theo cấp số cộng: 1; 2; 3;4; 5; 6; Như vậy, khoảng cách giữa cung và cầu về lương thực cứ rộng dần.Đây chính là nguyên nhân của nghèo đói…’’
-Quan điểm lạc quan của J L Simon (1932 - 1998) là giáo sư về quản trị kinh doanh của Trường đại học Maryland ( Hoa Kỳ) viết: ‘’ Dân số có tác động tích cực đến kinh
tế bởi những lẽ sau đây: Quy mô dân số tăng lên kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên, thị trường mở rộng thúc đẩy sản xuất phát triển Sản xuất với quy mô lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn ’’
-Quan điểm trung hòa…
-Quan điểm của Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển tại Cairô (Ai cập), năm 1994
về dân số và kinh tế :’’ (1)Tăng dân số không đủ để tạo ra thay đổi và phát triển kinh
tế Phát triển kinh tế phải là kết quả của một chuỗi phức hợp các yếu tố, như thể chế, quyền sở hữu, chính sách, ổn định chính trị, (2)Tác động tiêu cực của tăng trưởng dân số đối với phát triển kinh tế nói chung và ở cấp độ gia đình nói riêng và (3)Trong các giai đoạn biến động khác nhau của mức sinh và mức chết thì có những mối quan
hệ khác nhau giữa dân số và phát triển…’’
+) Tóm lại, ta có thể thấy rất nhiều quan điểm trái chiều của dân số tác động tới tình hình kinh tế, tuy nhiên mỗi quan điểm lại tương ứng và có chiều hướng đúng đắn với mỗi giai đoạn, lịch sử, văn hóa khác nhau Muốn hiểu rõ được sự tác động của dân số tới kinh tế, ta phải xem xét tới nhiều khía cạnh trong lĩnh vực kinh tế với nhiều yếu tố khác nhau như:
⏏Các yếu tố sản xuất:
Trang 7-Trong một nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế được xác định qua chỉ số GDP hoặc GNP Chúng được xác định thông qua thu nhập, lượng hàng hóa được sản xuất ra trong một vùng lãnh thổ, trong một thời điểm nhất định Chính vì thế, ta có thể đánh giá qua năng lực sản xuất của nền kinh tế đó, ta có hàm sản xuất như sau: Y= f(R,K,L,T) Trong đó: Y: sản lượng;
K: vốn sản xuất;
L: Lao động;
R: Tài nguyên thiên nhiên; T: Khoa học công nghệ
-Có thể thấy được dân số sẽ tác động trực tiếp tới những yếu tố trên; số lượng, cơ cấu dân số sẽ ảnh hưởng tới số lao động (L), chất lượng dân số sẽ quyết định nền sản xuất đó được cải tiến, ứng dụng khoa học công nghệ như thế nào(R)? ; có khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên có không (T)? Số lượng dân cũng ảnh hưởng tới nguồn vốn chi tiêu của quốc gia đó Vì vậy
từ dân số, ta có thể thấy được năng lực sản xuất của nền kinh tế
đó qua sự tác động tới các yếu tố sản xuất R, K, L, T…Ta sẽ phân tích cụ thể dân số tác động tới những yếu tố trên như thế nào :
∎Nguồn lao động (L) :
Khi ta xét đến dân số, ta nói đến quy mô, cơ cấu và chất lượng từ đó sẽ tác động tới nguồn cung lao động, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất Cụ thể :
-Về quy mô, cơ cấu : Dân số tác động thông qua ‘’dân số trong
độ tuổi lao động’’ và ‘’tỷ lệ tham gia lực lượng lao động’’
+Dân số trong độ tuổi lao động thông tường từ 15-59t Dân
số tăng lên, sau một thời gian nhất định, số người trong độ tuổi này cũng tăng lên, lực lượng LĐ từ đó mà tăng lên Khi dân số tăng, tức là L tăng, khiến tổng sản phẩm tăng, nhưng xét ra theo
bình quân đầu người lại giảm=> Thể hiên sự tăng không tương
xứng của dân số LĐ và chất lượng LĐ, số dân trong độ tuổi LĐ không quyết định năng suất của nền kinh tế…
+Ví dụ : Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất, cùng diện tích lãnh thổ lớn thứ 3 trên thế giới, chứa đựng nhiều tài nguyên và ưu đãi của tự nhiên Tuy trình độ dân cư ở đất nước này không cao và không đồng đều Nhưng bù lại với nguồn lao động dồi dào và rẻ mạt, tài nguyên dồi dào, đất nước này đã nắm bắt được thế mạnh vốn có của mình, phát triển, đầu tư những ngành sản xuất có lợi thế Hệ quả, năm 2011 đã vượt qua Nhật Bản trở thành cường quốc đứng thứ 2 trên TG sau Mĩ, tuy nhiên GDP/đầu người ở nước này khá thấp…
Trang 8+Ví dụ : Theo thống kê lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2011 của nước ta là 51,39 triệu người, tăng 1,97% so với năm 2010 Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,48 triệu người, tăng 0,12%
+Tỷ lệ tham gia lực lượng LĐ phức tạp hơn, vì không phải ai nằm trong độ tuổi LĐ cũng tham gia LĐ, và cũng không phải ai nằm ngoài độ tuổi LĐ cũng thôi không LĐ nữa Những bộ phận dân số LĐ đã qua đào tạo sẽ có chất lượng và năng suất cao
hơn=>Năng suất sản xuất của nền kinh tế sẽ dựa vào tỷ lệ tham
gia LĐ và chất lượng của lực lượng đó…
Ví dụ : Singapore là nước ít dân cư, LĐ phổ thông, thường phải thuê LĐ ở những nước đang phát triển Tuy nhiên, vì có chất lượng dân cư tham gia LĐ được đào tạo và có trình độ cao
mà nền kinh tế Sing vẫn rất Pt, GDP năm 2010 đứng đầu TG
-Về chất lượng : Khi dân số tăng nhanh, làm những nguồn lực
của xã hội phải chia nhỏ để đáp ứng nhu cầu mỗi người, điều này làm chất lượng cuộc sông bị giảm xuống, do đó năng suất
LĐ không cao , khiến GDP hoặc GNP tăng chậm…
Ví dụ : Tối 23/4/013, Australia đã đón công dân thứ 23 triệu trong bối cảnh các nhà nhân khẩu học dự báo dân số nước này có thể lên tới 40 triệu người vào năm 2050 Tuy nhiên điều này gây vô cùng nhiều lo ngại cho đất nước này Số liệu thống
kê cho thấy trong tài khóa kết thúc tháng 9/2012, tỷ lệ sinh của Australia tăng 2,7% lên 303.600 trường hợp, trong khi tỷ lệ tử cũng tăng 1,3% lên 149.100 trường hợp…
∎Nguồn vốn, công nghệ và tài nguyên : -Tài nguyên : Dân số tăngCần khai thác nhiều tài nguyên hơn để phục vụ hđ sản xuất, mặc dù :
LLLĐ tăng GDP (GNP) tăng, nhưng nguồn tài nguyên có hạn, ví dụ đất, nước sạch… Tổng sp tăng nhưng bình quân đầu người giảm đi…
-Nguồn vốn : Dân số tăng trong khi nguồn vốn, phúc lợi xã hội
có hạn, ta có : Y=f(K,L)=> Y/L= f(K/l ;1) Với tình trạng trên, thương số K/L sẽ tăng rất chậm=> Sản phẩm bình quân đầu người sẽ giảm…
-Công nghệ : Có quan điểm cho rằng, dân số tăng nhanh sẽ tác động và thúc đẩy máy móc, KHCN phát triển Nhưng các tiến bộ KHKT cần nguồn vốn lớn và một thời gian đầu tư dài, nó còn phụ thuộc chất lượng và công tác giáo dục đào tạo Trong khi
đó, nguồn vốn đầu tư giảm do dân số tăng=> Tóm lại dân số tăng vẫn làm CN-KH khó phát triển, khiến nền Kt tăng trưởng chậm lại…
Trang 9=> Vậy trên góc độ về vốn, công nghệ và tài nguyên ta thấy sự tác động khá sâu sắc của dân số, mà cụ thể là dân số tăng đều tác động tiêu cực tới K, R, T, mặc dù có sự tăng trưởng về tổng sản phẩm nhẹ
∎Chi tiêu công (G): Nền kinh tế hỗn hợp có sự tham gia điều
tiết của nhà nước bằng ngân sách của mình, nó được sử dụng vào chi tiêu CP, QS_QP, điều hành nền kinh tế bằng CS tài khóa ; giải quyết các vấn đề xã hội Qua đó, ta có thể thấy, việc dân số tăng sẽ gây ra việc chia nhỏ ngân sách và nguồn lực, gây sự phân tán, ảnh hưởng tiêu cực…
Cụ thể, dân số tăng làm tăng nhu cầu sử dụng những Dv công, cần thêm trường học, bệnh viện, các thủ tục hành chính phát sinh, phức tạp và giải quyết các hậu quả, tệ nạn XH…
∎Tiết kiệm và đầu tư : Tiết kiệm trong nước là nguồn cấp vốn
an toàn cho đầu tư phát triển Có TK mới có tiền đầu tư Tiết kiệm là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn tới sự PT của nền KT Tiết kiệm sẽ tạo ra nguồn vốn cho đầu tư, tỷ lệ đầu tư cao thì tăng trưởng nhanh Tuy nhiên TK lại chịu ảnh hưởng rất lớn của cơ cấu và gia tăng dân số
Dân số tăng nhanh Tiêu dùng tăng Tiết kiệm giảm nguồn vốn cho đầu tư cũng sẽ giảm…=> Tóm lại với những nước nghèo, gia tăng dân số sẽ gây tiêu cực lớn cho TK và ĐT ảnh hưởng trực tiếp tới sự PT của nền KT Tuy nhiên với những nước PT, do cơ cấu dân số, có sự khác biệt, thường là già hóa, việc tăng dân số, cũng có ý nghĩa tích cực, tất nhiên phụ thuộc tăng dân số bằng cách nào…
Vậy qua việc phân tích dân số ảnh hưởng tới kinh tế như thế nào qua những yếu tố tác động tới các biến số sản xuất, ta rút ra được kết luận, đó là một sự ảnh hưởng sâu rộng, trên mọi mặt,
là thành tố quyết định chính và gần như tất cả tới sự phát triển kinh tế
b) Tác động của dân số tới các vấn đề xã hội :
-Trong quá trình phát triển, các quá trình dân số (sinh, chết, di dân) không tồn tại độc lập với sự phát triển kinh tế-xã hội Trái lại, chúng luôn luôn có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Khi nghiên cứu về tác động của DS tới các vấn đề xã hội, chúng ta sẽ nghiên cứu trên một số vấn đề khác nhau, tuy không phải tất cả các vấn đề, nhưng đây là những vấn đề chính :
Dân số tác động tới giáo dục :
Trang 10+) Qui mô và tốc độgia tăng dân sốtác động đến phát triển giáo dục Ta có một bảng thống kê sau :
Nội dun
g
1979
-1980
1989
-1990
1995
-1996
1999
-2000
2001
-2002
2004
-
2005
2005
-2006
2006
-2007
2007
-2008 Quy
mô dân
số
54 65 74 77 79 81 83 84 85
Số học sinh
PT
11,6 12,5 15,6 17,7 17,9 17,2
5
16,7
6
16,3
7 15,8
+)Cơcấu dân sốtheo tuổi ảnh hưởng đến phát triển giáo dục : Qui mô của nền giáo dục tương ứng với dân số này có số học sinh Tiểu học > THCS > THPT Ngược lại ởnhững nước có cơcấu dân sốgià cấu trúc của nền giáo dục tương ứng sẽcó sốlượng học sinh Tiểu học < THCS < THPT…
+)Phân bố địa lý dân cư ảnh hưởng đến phát triển giáo dục : Ởthành thị và các vùng đông dân, kinh tếthường phát triển hơn
Vì vậy, ở những nơi này hệthống giáo dục cũng phát triển hơn, nên trẻ em có nhiều cơ hội được đến trường hơn những vùng kém phát triển dân cư thưa thớt Ngoài ra, một số quốc gia không chú ý đến sự phát triển giáo dục ở các vùng hẻo lánh và nhiều giáo viên cũng không muốn đến làm việc ở các vùng này Mật độ dân sốcũng ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của giáo dục…
Dân số tác dộng tới y tế : Sự phát triển của hệ thống y tế của mỗi quốc gia phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Trình độ phát triển kinh tế, xã hội (công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, khoa học - kỹ thuật )
+ Điều kiện vệ sinh môi trường (môi trường sinh thái)
+ Tình hình phát triển dân số(qui mô, tốc độ gia tăng, cơcấu, phân bố dân số…)
+ Chính sách của Nhà nước đối với y tế và các điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân (chính sách đầu tư, đào tạo cán bộ, động viên các nguồn lực )
Như vậy dân số là một yếu tốcó tính chất khách quan và cùng với các yếu tố khác, nó qui định sự phát triển của y tế về số lượng, chất lượng, hiệu quả cũng như cơ cấu của ngành y tế
Dân số tác động tới bình đẳng giới và an sinh xã hội : Ảnh hưởng của gia tăng quá nhanh dân số đối với bình đẳng giới :