1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích quy định của điều 18 và điều 19 về chấp nhận chào hàng của công ước viên (cisg) 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

15 64 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích quy định của điều 18 và điều 19 về chấp nhận chào hàng của Công ước viên (CISG) 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả Hoàng Trần Thanh Bình, Nguyễn Thị Minh Hiền, Doãn Thái Khả Hưng, Phan Nam Khánh, Trần Đăng Khoa, Chu Thị Thanh Phương
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại Quốc Tế
Thể loại bài viết luận văn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 70,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA QUỐC TẾ BÀI VIẾT LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ [PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU 18 VÀ ĐIỀU 19 VỀ CHẤP NHẬN CHÀO HÀNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN (CISG) 1980 V[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUỐC TẾ

BÀI VIẾT LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

[PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU 18 VÀ ĐIỀU 19 VỀ CHẤP NHẬN CHÀO HÀNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN (CISG)

1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ]

CLC45A

Trang 2

MỤC LỤC

I Mở đầu: 3

II Thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế? 3

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980: 4

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Pháp luật Việt Nam: 4

III Chấp nhận chào hàng trong quy định của Công ước Viên 1980: 5

Hoàn giá chào hàng: 5

IV Về Điều 18 trong Công ước Viên (CISG) 1980 6

V Về Điều 19 trong Công ước Viên (CISG) 1980 7

Điều khoản soạn sẵn trong quy định của Điều 19: 9

VI So sánh giữa Công ước Viên (CISG) và pháp luật VN 10

VII Ví dụ thực tiễn 10

#1: 11

#2: 12

VIII Kết luận: 14

Tài liệu tham khảo 15

Trang 3

I Mở đầu:

Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hóa, thương mại liên quan đến quyền

sở hữu trí tuệ, thương mại trong lĩnh vực đầu tư… Trong đó các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa luôn diễn ra sôi động nhất, giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế Một trong những “vật định” cho một giao dịch thương mại quốc tế được xem là thành công chính là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Xoay quanh chủ đề này, Công ước Viên năm 1980 đã có những điều khoản ràng buộc nhất định Tuy nhiên quy định tại Điều 18 và Điều 19 về “Chấp nhận chào hàng” vẫn chưa được hiểu rõ dẫn đến việc những người tham gia trên thương trường quốc tế vẫn chưa thật sự sử dụng chúng một cách đúng đắn để bảo vệ quyền và lợi ích của mình cũng như là giao dịch quốc tế mà họ tham gia Bài viết dưới đây sẽ giúp làm rõ nội hàm của những quy định lần lượt tại Điều

18 và Điều 19 cũng như là những vấn đề pháp lý liên quan khác thông qua thực tiễn áp dụng của cả hai điều luật vào quá trình mua bán hàng hóa quốc tế cũng như sự so sánh giữa hai hệ thống luật trong nước (Bộ luật Dân sự 2015) và Điều ước quốc tế (Công ước Viên CISG 1980)

II Thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế?

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa với đặc thù là có “yếu tố quốc tế” Khi sử dụng thuật ngữ “yếu tố nước ngoài” (foreign) hoặc “nhân tố nước ngoài” thì hàm ý quan hệ được đặt trong hệ quy chiếu với 1 quốc gia cụ thể, quốc gia sở tại Khi sử dụng thuật ngữ “yếu tố quốc tế” (international) hoặc “nhân tố quốc tế”, lúc này quan hệ được đề cập với một bối cảnh là sự liên quan tới hơn một quốc gia Như vậy, mặc dù việc sử dụng các thuật ngữ có đôi chút khác nhau nhưng việc dùng thuật ngữ nào cũng thể hiện bản chất của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế Theo đó, vấn đề xung đột pháp luật hoặc áp dụng pháp luật nước ngoài được coi là những điểm đặc trưng của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế

Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam và các văn bản pháp lí quốc tế điều chỉnh các loại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên cơ sở dấu hiệu lãnh thổ, hay nói chính xác hơn là địa điểm hoạt động thương mại của thương nhân Nhằm hạn chế các trường hợp xung đột pháp luật trong mua bán hàng hóa quốc tế, cộng đồng quốc tế đã xây dựng các điều ước quốc tế Tới thời điểm hiện nay, điều ước quốc tế phổ biến nhất trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế là Công ước Viên 1980 (CISG) vì nó dung hòa được hầu hết những quan điểm pháp lý của các hệ thống pháp luật quốc gia (đặc biệt là giữa Hoa Kỳ và châu Âu lục địa) Các nguyên tắc và quy định của CISG đã dần trở thành chuẩn mực mẫu để phân tích các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 4

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980:

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế Tính chất quốc tế của một hợp đồng mua bán được xác định phụ thuộc vào từng quy định quốc gia và quốc tế Theo Công ước Viên năm 1980 (CISG) thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau (khoản 1 Điều 1 của CISG) Từ quy định này, có nhiều quốc gia, học giả cho rằng yếu tố quốc tế của một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định dựa trên trụ sở chính của các bên chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế chứ không phải yếu tố quốc tịch Quan niệm này dựa trên căn cứ tình hình thực tế khi hiện nay các bên chủ thể tham gia quan hệ mua bán quốc tế thường có nhiều quốc tịch (các công ty đa quốc gia) Tuy nhiên, CISG có phạm vi áp dụng cho các quốc gia thành viên công ước và cả trong các trường hợp hợp đồng có quy định sẽ áp dụng CISG để điều chỉnh hợp đồng Căn cứ vào trụ

sở kinh doanh chính cũng là một trong số những căn cứ được nhiều quốc gia sử dụng để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Pháp luật Việt Nam:

Pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tuy nhiên Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Theo đó, một quan hệ dân sự được xem là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khi

có một trong ba yếu tố: chủ thể có yếu tố nước ngoài; việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài Mua bán hàng hóa quốc tế là quan hệ thương mại quốc tế và theo đó là một quan

hệ dân sự theo nghĩa rộng và thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế Như vậy, quy định tại Điều 663 được áp dụng để xác định một quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Một hợp đồng mua bán hàng hóa được xem là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi có một trong ba căn cứ sau:

– Ít nhất một trong các bên tham gia mua bán hàng hóa là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài;

– Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa theo pháp luật nước ngoài;

– Hàng hóa, đối tượng của hợp đồng, ở nước ngoài

Tuy nhiên, việc xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ sẽ gặp khó khăn trong trường hợp khi các bên có nhiều trụ sở thương mại Điều 10 của Công ước Viên năm 1980 quy định: nếu một bên có nhiều hơn một địa điểm kinh doanh thì sẽ chọn điểm kinh doanh nào có liên hệ gần nhất với hợp đồng và với việc thực hiện hợp đồng, có quan tâm đến những tình huống mà hai bên đã biết hoặc đã nghĩ đến tại thời điểm trước hay ngay khi kí hợp đồng Nếu một đương sự không có địa điểm kinh doanh thì chọn nơi thường trú của người này làm chuẩn

Trang 5

Hiện nay, đã có nhiều quốc gia tham gia Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế, vì vậy có thể nói rằng pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ của các bên ký kết hợp đồng

III Chấp nhận chào hàng trong quy định của Công ước Viên 1980:

Chấp nhận chào hàng trong thương mại quốc tế là sự đồng ý của người được chào hàng với những đề nghị của người chào hàng Chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị làm phát sinh quan hệ pháp lý giữa người chào hàng và người được chào hàng khi người chào hàng nhận biết được sự chấp nhận của người được chào hàng Để bày tỏ sự chấp nhận của mình, người được chào hàng có thể thực hiện một số hành vi nhất định Theo quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì sự chấp nhận chào hàng của người được chào hàng chỉ có giá trị pháp lý khi nó được thể hiện bằng lời tuyên bố hoặc bằng hành vi của người được chào hàng, biểu thị sự đồng ý của mình đối với nội dung của chào hàng Như vậy, theo quy định này thì sự im lặng hoặc không hành động của người được chào hàng sẽ không mặc nhiên có giá trị như một sự chấp nhận Chấp nhận chào hàng cũng phải được ghi rõ ràng là đồng ý như thế nào, mức độ ra sao so với chào hàng đã được gửi, và được gửi tới địa chỉ chính xác, rõ ràng của người chào hàng Hậu quả pháp lý trực tiếp của việc chấp nhận đề nghị chào hàng sẽ dẫn tới việc chấp nhận kí kết hợp đồng, chịu ràng buộc vào nội dung chào hàng

Một chấp nhận chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý khi tới tay người chào hàng nếu nó thỏa mãn các yêu cầu sau: Theo quy định của Công ước, trong một số trường hợp

– Chấp nhận phải vô điều kiện Mặc dù người được chào hàng không chấp nhận toàn bộ chào hàng mà đưa ra một số điều kiện mới thì việc chấp nhận này cũng có giá trị như chấp nhận vô điều kiện, nếu những điều kiện mới do người được chào hàng đưa ra không làm thay đổi nội dung chủ yếu của chào hàng (khoản 2 Điều 19)

– Chấp nhận phải được gửi cho người chào hàng trong thời hạn đã ghi trong chào hàng hoặc trong thời gian hợp lý quy định tại khoản 2 Điều 18 Công ước Viên 1980

Hoàn giá chào hàng:

Khi bên chào hàng gửi chào hàng cho bên nhận chào hàng mà bên nhận lúc này không đồng ý toàn bộ nội dung của chào hàng, tuy có sự bày tỏ chấp nhận chào hàng đồng thời đưa

ra những điểm mình muốn bổ sung, bớt đi hay thay đổi có trong chào hàng thì lúc này được gọi là hoàn giá chào (được quy định tại khoản 1 Điều 19) Trong đó nêu rõ các đề nghị sửa đổi, bổ sung, thay đổi theo ý kiến của mình thấy phù hợp bên cạnh việc chấp nhận, đồng ý với chào hàng ban đầu Từ đó có thể tạo ra một chào hàng mới của người được chào hàng đối với người chào hàng ban đầu nếu những nội dung muốn thay thế, sửa đổi làm thay đổi cơ bản nội dung của chào hàng Đây cũng có thể được xem là một dạng chấp nhận

Trang 6

chào hàng nếu nó không thật sự làm thay đổi những nội dung cơ bản của chào hàng gốc (khoản 2 Điều 19)

IV Về Điều 18 trong Công ước Viên (CISG) 1980

Theo quy định của Công ước thì giao kết hợp đồng thương mại quốc tế được thực hiện thông qua chào hàng và chấp nhận chào hàng Theo đó, hợp đồng sẽ được xác lập khi bên chào hàng gửi chào hàng cho bên được chào hàng và bên được chào hàng chấp nhận chào hàng này Khoản 1 Điều 18 Công ước Viên năm 1980 quy định: “Sự im lặng hoặc bất hợp tác thì không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận” Có thể nói, sự im lặng của người được chào hàng không thể là cơ sở đảm bảo chắc chắn với người chào hàng rằng sự chào hàng của họ đã được chấp nhận Trong mọi trường hợp, sau một khoảng thời gian im lặng nào đó, bên nhận chào hàng chắc chắn phải thực hiện một hành vi thể hiện rõ ràng khuynh hướng chấp nhận chào hàng của họ (như gửi hàng hoặc trả tiền) thì khi này chấp nhận chào hàng mới được xem là có hiệu lực

Pháp luật Việt Nam cũng có sự quy định về sự im lặng trong giao kết hợp đồng tại khoản 2 Điều 393 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên” Như vậy, pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể rằng sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp giữa hai bên có một sự thỏa thuận hoặc đã có thói quen

đã được xác lập giữa hai bên từ trước tới nay Sự im lặng được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nếu thuộc một trong các trường hợp sau: giữa các bên tồn tại thỏa thuận xem sự im lặng của bên nhận đề nghị giao kết là chấp nhận toàn bộ lời đề nghị hoặc theo thói quen được thiết lập lặp đi lặp lại, thường xuyên của các bên, không cần phải có sự trả lời Như vậy, quy định về sự im lặng trong Công ước Viên năm 1980 và Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 là giống nhau

Khoản 2 Điều 18 Công ước quy định trường hợp khi người đề nghị không ghi rõ một

thời hạn trả lời nhất định, chấp thuận phải được thực hiện trong một “thời hạn hợp lý”.

Quy định về “thời hạn hợp lý” ở Công ước viên năm 1980 so với Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 có sự mềm dẻo và linh hoạt hơn khi áp dụng vào thực tiễn Khoản 1 Điều

394 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý” nhưng chưa quy định cụ thể về các yếu tố dựa trên đó để xác định “tính hợp lý” của thời hạn hiệu lực của chào hàng

Trong khi đó, theo Công ước Viên năm 1980, việc xác định “thời hạn hợp lí” trong trường hợp này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như hoàn cảnh giao dịch, phương tiện liên lạc được sử dụng để gửi chào hàng và chấp nhận chào hàng, cách thức giao dịch, khoảng cách địa lý giữa các bên… Ví dụ, bên chào hàng đưa ra một chào hàng bằng miệng với bên được chào hàng và bên được chào hàng chấp nhận chào hàng đó Tuy nhiên, sự chấp nhận

Trang 7

này chỉ có giá trị làm phát sinh hợp đồng giữa hai bên nếu chấp nhận này được đưa ra trong thời gian hợp lý Khi đó, “thời hạn hợp lí” trong trường hợp này là thời gian mà bên được chào hàng phải trả lời ngay lập tức bằng miệng đối với đề nghị của bên chào hàng trong lần giao dịch bằng miệng đó Hoặc nếu đề nghị được thực hiện bằng điện thoại hoặc các phương tiện truyền tin khác cho phép lời nói truyền dẫn thì chấp nhận chào hàng

sẽ phải được trả lời ngay bằng hình thức tương tự Đối với các hình thức như gửi thư… thì chấp nhận chào hàng có thể được trả lời trong một thời gian dài hơn Tuy nhiên, nếu thông báo việc chấp nhận chào hàng không thể giao tại địa chỉ của người chào hàng vào ngày cuối cùng của thời hạn quy định vì đó là ngày lễ hay ngày nghỉ việc tại đó thì thời hạn này sẽ được kéo dài tới ngày làm việc đầu tiên kế tiếp

Bên cạnh các biểu hiện thông qua văn bản, lời nói thì một số hành vi khác có liên quan đến nghĩa vụ như hành vi gửi hàng, mở thư tín dụng hay trả tiền vẫn được xem như là một sự chấp thuận đối với chào hàng trong giao kết hợp đồng, chủ yếu là do hiệu lực của chào hàng hoặc do những thỏa thuận thực tiễn giữa hai bên trong mối quan hệ tương hỗ hoặc tập quán

từ trước Như vậy, khoản 3 Điều 18 Công ước Viên năm 1980 cho phép chấp thuận chào hàng bằng hành vi nêu trên, dẫn đến hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực vào thời điểm hành vi đó được thực hiện mà không cần thông báo cho bên chào hàng, và việc này chỉ có hiệu lực nếu nó thỏa mãn được điều kiện khi đã được thực hiện xong trong thời hạn mà bên chào hàng đã ấn định, hoặc là trong một “thời hạn hợp lý” như quy định tại khoản 2 điều này Trong các trường hợp chấp thuận chào hàng bằng hành vi khác, thông thường bên chấp nhận chào hàng phải thông báo cho bên chào hàng, hoặc bên chào hàng phải có xác nhận về việc chấp nhận chào hàng bằng hành vi Trong trường hợp đó chỉ cần thông báo/xác nhận về một hành vi chấp thuận chào hàng bắt đầu được thực hiện là đủ cấu thành chấp thuận chào hàng bằng hành vi Một lưu ý khác là trong trường hợp bên nhận chào hàng thể hiện ý chí chấp nhận chào hàng thông qua hành vi giao hàng một phần, thì hành vi đó chưa cấu thành chấp nhận chào hàng bằng hành vi mà sẽ được coi là một chào hàng đối ứng mà bên chào hàng có quyền tự do chấp thuận hoặc từ chối

V Về Điều 19 trong Công ước Viên (CISG) 1980

Đối với Điều 19 của Công ước Viên, nội hàm của điều luật chủ yếu xoay quanh nội dung

về “phúc đáp chào hàng” và điều kiện để xác định lời phúc đáp đó có được xem là sự chấp nhận của bên được chào hàng hay không Cụ thể, ở khoản 1, đã nhấn mạnh rằng một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ được giao kết khi bên được chào hàng chấp nhận đầy đủ, chính xác mọi điều kiện nêu trong chào hàng (quy tắc “hình ảnh trong gương”) Nếu lời phúc đáp khuynh hướng “chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay các sửa đổi khác” thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một hoàn giá Một hoàn giá có thể hiểu nôm na là

“bước thứ ba trong các bước giao dịch thông thường trực tiếp”, đó là sự mặc cả về giá cả hoặc điều kiện giao dịch Khi người nhận được chào hàng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng đó, mà đưa ra đề nghị (sự thay đổi mới về điều kiện và điều khoản) mới thì đề nghị này

là trả giá Khi có sự trả giá, chào hàng trước coi như hủy bỏ

Trang 8

Vì thế, dù sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có kèm theo sự thay đổi, bổ sung thì sự trả lời đó sẽ dẫn đến lời chào hàng cũ không còn hiệu lực, thay vào đó là cấu thành một chào hàng mới hoặc một hoàn giá gồm nhiều trả giá Điều này là phù hợp với thực tiễn cuộc sống, khi cả bên chào hàng và bên được chào hàng đều giao dịch vì lợi nhuận thông qua một giao dịch hay nói cách khác là thông qua một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Và họ đều có riêng cho mình mẫu chào hàng và/hoặc chấp nhận chào hàng riêng chứa đựng những điều khoản soạn sẵn nhằm phục vụ cho lợi ích của họ Do đó, một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng lại làm thay đổi hoặc bổ sung chào hàng là điều dường như khó tránh khỏi Nên nếu chiếu theo quy tắc này, một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quốc tế sẽ khó có thể được tạo lập nếu

ta quá xét nét theo khoản 1 Điều 19 này

Lại nói, không hẳn tất cả những điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ khi người chào hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khác biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào hàng Vì vậy, với quy định tại khoản 2 Điều 19, đã làm giảm bớt sự cứng nhắc của quy tắc trên qua việc trở thành một ngoại lệ: vẫn chấp nhận chào hàng và giao kết hợp đồng nếu những sự thay đổi không làm biến đổi các nội dung cơ bản của chào hàng và người chào hàng không có bất kỳ hành động thể hiện sự phản đối “ngay lập tức” với các điều khoản được thay đổi Từ đó nhấn mạnh tinh thần tự do thỏa thuận giữa các bên và các nguồn luật chỉ góp phần bổ trợ chứ không mang tính cưỡng chế, bắt buộc và hà khắc Tuy nhiên, mặc dù nói rằng những sửa đổi hoặc bổ sung “không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung chào hàng” và người chào hàng không có bất kỳ hành động nào (bằng lời nói hoặc thông báo) biểu hiện sự phản đối “ngay lập tức” với những sửa đổi hoặc bổ sung đó thì hợp đồng xem như được giao kết Nhưng trên thực tế, Công ước Viên không hề đưa ra căn cứ xác định hay khái niệm hoặc định nghĩa rõ thuật ngữ “cơ bản” mà thay vào đó là liệt kê những điều kiện được xem là sửa đổi hoặc bổ sung một cách “cơ bản” nội dung của chào hàng tại khoản 3 Điều 19 Ở đây, có 2 trường hợp cần

được làm rõ: lời phúc đáp có khuynh hướng như thế nào là “đã” làm thay đổi nội dung

cơ bản của chào hàng, như thế nào là “không” làm thay đổi nội dung cơ bản của chào

hàng Ngoài ra, như đã đề cập bên trên là về điều khoản soạn sẵn trong cả lời phúc đáp lẫn chào hàng cũng là một vấn đề cần được giải đáp cụ thể

Với trường hợp đầu tiên, những yếu tố sửa đổi hay bổ sung liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, đến phạm vi trách nhiệm của các bên hay đến sự giải quyết tranh chấp Về mặt nguyên tắc, nếu

sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng có chứa đựng những điều khoản sửa đổi hoặc bổ sung một trong các nội dung nêu trên thì đều bị xem là đã có sự sửa đổi hoặc bổ sung một cách cơ bản chào hàng Ở trường hợp thứ hai, xuất phát từ thực tiễn áp dụng Điều

19 của một số tòa án quốc gia, những sửa đổi hoặc bổ sung liên quan đến những vấn

Trang 9

đề sau được xem là không làm thay đổi cơ bản chào hàng: điều khoản điều chỉnh giá của chào hàng phù hợp với giá thị trường; điều khoản bảo lưu sự thay đổi ngày giao hàng trong điều khoản soạn sẵn của người bán; điều khoản yêu cầu giữ bí mật nội dung hợp đồng đến khi các bên công bố nội dung của hợp đồng đó; điều khoản quy định việc người mua từ chối hàng được giao trong thời gian được quy định Rõ ràng, một trả lời chào hàng có chứa đựng các điều khoản soạn sẵn mà sửa đổi hoặc bổ sung nội dung của chào hàng nhưng những sự sửa đổi hoặc bổ sung đó không làm thay đổi cơ bản nội dung chào hàng, tức không thuộc những yếu tố quy định tại khoản 3 Điều 19 thì trả lời chào hàng đó

sẽ cấu thành một chấp nhận chào hàng trừ khi bên chào hàng ngay lập tức thông báo rằng phản đối những sửa đổi hoặc bổ sung đó

Cần lưu ý là việc xác định một sửa đổi, bổ sung chào hàng có thay đổi cơ bản nội dung chào hàng hay không cần được thực hiện theo từng trường hợp, tùy thuộc vào các yếu tố của giao dịch và sự ảnh hưởng của sửa đổi/bổ sung chào hàng đối với toàn bộ nội dung hợp đồng

và đối với từng bên của hợp đồng Ví dụ, thông thường một sửa đổi bổ sung liên quan đến vấn đề bao bì hàng hóa thường được coi là “không cơ bản”, nhưng trong một số trường hợp, bao bì lại được coi là yếu tố cơ bản của hợp đồng Có thể tham khảo Án lệ về giao dịch mua bán đường được đóng trong bao bì có chất lượng (có thể là bao mới hay đã qua sử dụng),

trích dẫn bởi: Karl H Neumayer, Catherine Ming, Convention de Vienne sur les contrats de vente internationale de marchandise, Cedidac, 1993, tr.182 Hoặc án lệ về thịt hun khói,

theo đó việc người được chào hàng đề xuất giao hàng không có bao bì được coi là thay đổi

cơ bản nội dung chào hàng (trong chào hàng có nêu thịt hun khói được đóng gói), xem án lệ

của Đức: OIG Hamm, 22/09/1992- 19 U97/91.

Điều khoản soạn sẵn trong quy định của Điều 19:

Đối với đề mục cuối, xoay quanh điều khoản soạn sẵn của lời chào hàng và lời phúc đáp, sau khi xác định hợp đồng đã được giao kết, theo đúng quy định tại Điều 19 Công ước Viên, vấn đề khó khăn là xác định điều khoản soạn sẵn trong mẫu của bên nào sẽ là nội dung của hợp đồng, đặc biệt khi các điều khoản soạn sẵn đó xung đột nhau Công ước Viên không đưa

ra khái niệm về “điều khoản soạn sẵn” nhưng tại khoản 2 Điều 19 của Những nguyên tắc

Hợp đồng thương mại quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là PICC – Principles of International

Commercial Contracts) đưa ra khái niệm về “hợp đồng soạn sẵn”, theo đó hợp đồng soạn sẵn

là “những hợp đồng có những điều khoản được chuẩn bị từ trước cho việc sử dụng lại nhiều lần và nhìn chung được tiến hành không qua đàm phán với phía bên kia” Từ quy định này của PICC có thể hiểu điều khoản soạn sẵn là những điều khoản trong hợp đồng được các bên chuẩn bị trước để sử dụng nhiều lần hoặc đang được sử dụng cho bên kia mà không cần phải thỏa thuận lại nội dung của những điều khoản đó

Lúc này, có hai tình huống phát sinh: Những điều khoản soạn sẵn xung đột đó sẽ không

có giá trị pháp lý, tức là hợp đồng sẽ được giao kết gồm những điều khoản soạn sẵn chứa đựng trong mẫu của các bên, trừ những điều khoản soạn sẵn nào xung đột nhau; Một trong

Trang 10

các điều khoản soạn sẵn xung đột sẽ không có giá trị pháp lý, tức là hợp đồng sẽ được giao kết gồm những điều khoản soạn sẵn chứa đựng trong mẫu của các bên và một trong những điều khoản soạn sẵn xung đột Ở trường hợp thứ nhất, mặc dù hợp đồng được ký kết theo Điều 19 Công ước Viên nhưng những điều khoản soạn sẵn xung đột nhau sẽ không có giá trị pháp lý, có nghĩa là khi các điều khoản soạn sẵn xung đột nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau thì không có điều khoản soạn sẵn của bên nào cấu thành nội dung của hợp đồng Ở trường hợp thứ hai, khi các bên trao đổi cho nhau các hoàn giá, mà bên nhận được hoàn giá cuối cùng bắt đầu thực hiện hợp đồng nhưng không có phản đổi gì về các điều khoản soạn sẵn thì hợp đồng được coi như đã được giao kết dựa trên các điều khoản bên cuối cùng nhận được Tuy nhiên, nếu bên cuối cùng nhận được trả lời chào hàng có chứa đựng những điều khoản soạn sẵn làm biến đổi cơ bản hoặc không cơ bản nội dung chào hàng mà lại thực hiện theo sự trả lời hoặc không có sự phản đối sự trả lời thì một số tòa án xem hành động đó là sự chấp nhận các điều khoản soạn sẵn

VI So sánh giữa Công ước Viên (CISG) và pháp luật VN

Chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn chờ trả lời chấp nhận đã được bên đề nghị ấn định trong “đề nghị” Quá thời hạn trên, nếu bên đề nghị nhận được chấp nhận của bên được đề nghị, chấp nhận này sẽ được xem là đề nghị mới của bên được đề nghị đối với bên đề nghị Trong trường hợp giao tiếp trực tiếp (kể cả điện thoại hoặc các phương tiện khác), bên được đề nghị phải trả lời ngay khi có chấp nhận hay không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (khoản 2 Điều 393 BLDS 2015) Chấp nhận có thể được rút lại nếu đến trước hoặc vào cùng thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận này Đối chiếu với các quy định liên quan của Công ước Viên, có thể nói, ngoại trừ một số chi tiết

cụ thể, hầu hết các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến giao kết hợp đồng đều tương thích với những nguyên tắc cơ bản của Công ước Viên 1980 Chỉ có một số khác biệt nhỏ, thể hiện ở những quy định chi tiết hơn của Công ước

Ví dụ, Công ước Viên quy định cụ thể về điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa (gồm tên hàng, số lượng, giá cả), còn pháp luật về mua bán hàng hóa của Việt Nam hiện nay không có quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải có những điều khoản chủ yếu nào Ngoài ra, Công ước Viên còn quy định rất rõ tại khoản 3 Điều 19 về nội dung của chấp nhận chào hàng, qua đó có thể xác định được những sửa đổi bổ sung nào của chấp nhận chào hàng là cơ bản khiến cho chấp nhận chào hàng đó trở thành một chào hàng mới Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 không có quy định cụ thể như vậy Ngoài

ra, do yêu cầu của thực tiễn thương mại quốc tế, CISG còn đưa ra quy định về việc kéo dài thời hạn hiệu lực của chào hàng khi ngày cuối cùng của chào hàng lại rơi vào ngày nghỉ hay ngày lễ, trong khi luật Việt Nam không quy định gì về vấn đề này

VII Ví dụ thực tiễn

Ngày đăng: 25/03/2023, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w