HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG QUAN ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ 2008-2009 MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔN
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG QUAN
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
2008-2009
MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG HIỆN NAY
Chủ nhiệm đề tài: TS LÊ VĂN ĐỊNH
Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III
7489
21/8/2009
Đà Nẵng - Tháng 6 năm 2009
Trang 2CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN CHÍNH ĐỀ TÀI:
TS Lê Văn Định (Chủ nhiệm đề tài) ThS Nguyễn Thị Yến (Thư ký đề tài) PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn
PGS.TS Trương Minh Dục ThS Phan Thanh Giản
CN Phạm Đi
CN Vũ Thái Hạnh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG VÀ SỰ
NẢY SINH CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
19
1 Xây dựng, phát triển các KCN và tác động của chúng tới sự phát triển
2 Một số vấn đề xã hội chủ yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng, phát
Chương 2 THỰC TRẠNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CÁC KCN Ở VÙNG
KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG
44
1 Lao động và việc làm - vấn đề xã hội đáng quan tâm trong quá trình
xây dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 44
2 Đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong các KCN còn
3 Tái định cư trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN đang chứa
4 Bãi công, đình công, lãn công trong các KCN vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung đang báo hiệu nhiều vấn đề bất cập cần được giải quyết 70
5 Ô nhiễm môi trường sống do các KCN đang trở thành vấn đề nóng
6 Hiện tượng khiếu kiện, khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện tập thể gia
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIẢI QUYẾT
CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT
TRIỂN CÁC KCN Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN
TRUNG HIỆN NAY
91
1 Những quan điểm chủ đạo giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong
quá trình xây dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung
91
2 Một số giải pháp cơ bản giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong
quá trình xây dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung hiện nay
98 KẾT LUẬN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một xuất phát điểm rất thấp, quan điểm của Đảng và nhà nước ta là phải "Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, đẩy lùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội"1 Nghĩa là, chúng ta phải vừa coi trọng việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện đại, vừa phải giải quyết tốt nhất các vấn
đề xã hội nhằm đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội Thực tế, việc ưu tiên phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quốc tế hóa nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội (CNXH)… tự thân nó đã hướng đến việc giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra như tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và mức sống cho người dân,… Tuy nhiên, do những đặc trưng riêng của các vấn đề
xã hội mà đời sống kinh tế, dù rất phát triển cũng khó có thể giải quyết một cách toàn diện Thậm chí, đôi khi, chính các chương trình phát triển kinh tế lại là nguyên nhân làm nảy sinh, trầm trọng hóa các vấn đề xã hội Đến lượt
nó, các vấn đề xã hội đó lại trở thành lực cản đối với việc đảm bảo hiệu quả bền vững của các chương trình kinh tế Bởi vậy, việc chủ động giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thực hiện các chương trình phát triển kinh tế là một việc làm cần thiết đảm bảo cho sự phát triển bền vững của toàn
xã hội nói chung, của bản thân các chương trình kinh tế cụ thể nói riêng
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (có thể còn được gọi là vùng kinh
tế trọng điểm Trung bộ) bao gồm 5 tỉnh/thành là Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng,
8,47% diện tích đất nước), dân số năm 2007 khoảng 6,3 triệu người (chiếm 7,49% dân số cả nước) Do nằm trên các trục giao thông quốc gia, quốc tế về
1 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nxb Chính trị Quốc gia, tr.203
Trang 6đường sắt, đường bộ, đường biển, đường hàng không nên vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được đánh giá là vùng có điều kiện thuận lợi cho phát triển Đây cũng là vùng có tài nguyên thiên nhiên và xã hội phong phú, đa dạng,
có thể khai thác tạo ra lợi thế so sánh cho vùng trong phát triển
Quyết định 148/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 đã xác định: vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là vùng kinh tế động lực, có vai trò "đầu tàu" kéo cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên cùng phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong những năm qua, những chính sách, giải pháp đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng đã làm cho tốc
độ tăng trưởng kinh tế - xã hội của vùng luôn cao hơn mức tăng bình quân của
cả nước Trong thời gian này, các địa phương trong vùng đã xây dựng nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, (sau đây được gọi chung là khu công nghiệp
và xin được viết tắt là KCN)2 Tính đến nay, ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đã hình thành một hệ thống các KCN đa dạng với nhiều quy mô khác nhau Ngoài các Khu kinh tế lớn của vùng như Chân Mây, Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, trong vùng hiện có 19 KCN lớn đã đi vào hoạt động Đó là chưa kể đến hàng chục khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ khác ở các quận/huyện do cấp quận/huyện quản lý
Mặc dù, tổng diện tích các KCN này chỉ chiếm 8,1% tổng diện tích đất
tự nhiên các KCN trong cả nước nhưng 71% tổng diện tích của chúng đã được cho thuê (hay còn gọi là lấp đầy) Đây là tỷ lệ cao nhất so với các vùng kinh tế trọng điểm khác trong nước: vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ diện tích đã thuê đạt 57,7%; Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đạt 53,9% Các KCN này đã thu hút hàng nghìn dự án với số vốn đầu tư hàng tỷ đô la, giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, Như vậy, xây dựng và phát triển các
2Theo Nghị định số 192/CP ngày 25.12.1994 của Chính phủ, các KCN được định nghĩa là các khu vực công nghiệp tập trung, không có dân cư, được thành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗ trợ sản xuất KCN theo mô hình mới là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch
vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống được thành lập và tổ chức hoạt động theo chính sách đổi mới, mở cửa do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 khởi xướng
Trang 7KCN tập trung trong vùng là một hướng đi đúng đắn, phù hợp để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quốc tế hóa nền kinh tế của các địa phương trong vùng
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công và những lợi ích kinh tế - xã hội
to lớn mà các KCN mang lại, quá trình xây dựng, phát triển các KCN này cũng đang làm nảy sinh một số vấn đề xã hội bức xúc Đó là các vấn đề như:
- Mâu thuẫn giữa cung và cầu lao động diễn ra gay gắt Trong khi
nguồn cung lao động trên địa bàn khá dồi dào, tỷ lê thất nghiệp đô thị (thất nghiệp toàn phần) còn cao, tình trạng người lao động thiếu việc làm còn phổ biến thì các doanh nghiệp trong các KCN lại luôn ở trong tình trạng thiếu lao động một cách trầm trọng, nhất là lao động kỹ thuật, lao động trình độ cao Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế trước mắt cũng như xu hướng phát triển bền vững của các KCN trong vùng
- Vấn đề tái định cư và hậu tái định cư ngày càng trở nên bức xúc trong
dư luận xã hội Trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN, việc giải phóng mặt bằng, chuyển đổi một bộ phận đất ở, đất nông nghiệp sang đất công nghiệp là tất yếu nhưng mối quan hệ về lợi ích giữa các bên liên quan đã không được giải quyết thỏa đáng: phương án giải tỏa, đền bù chưa thật công khai, minh bạch; giá cả đền bù thấp hơn so với giá thị trường và luôn biến động tăng; các khu tái định cư, khu dân cư xây dựng với tiến độ chậm, chất lượng không đảm bảo; các vấn đề về việc làm, thu nhập, tổ chức đời sống, cho người dân sau tái định cư không được quan tâm giải quyết thỏa đáng khiến cho chất lượng đời sống của người dân tái định cư bị sút giảm Tình trạng tố cáo, khiếu kiện vì thế đã gia tăng, gây nên bất ổn xã hội
- Trong những KCN đã đi vào hoạt động, thời gian gần đây, hiện tượng
bãi công, đình công, lãn công bùng phát phức tạp Mặc dù số lượng các cuộc
bãi công, đình công, lãn công trong KCN vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chưa nhiều nếu so sánh với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nhưng cũng đã cho thấy sự gia tăng những bất ổn liên quan đến quan hệ lợi ích giữa người
Trang 8lao động với giới chủ doanh nghiệp trong các KCN đang ngày càng trầm trọng hơn Nó đòi hỏi phải được các cấp ngành chức năng và các bên liên quan quan tâm, giải quyết hầu đảm bảo sự phát triển bền vững của các KCN trong vùng
- Vấn đề ô nhiễm môi trường sống do các KCN không làm tốt công tác
bảo vệ môi trường cũng là một vấn đề “nóng bỏng” trong bối cảnh hiện nay Hiện tượng nước thải, khí thải, rác thải rắn từ các KCN xả trực tiếp ra các khu vực xung quanh KCN làm ô nhiễm nguồn nước, nguồn không khí, ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe của người dân đang gây nhiều bức xúc trong xã hội nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc người dân sống gần các KCN gửi nhiều đơn thư tố cáo, khiếu kiện đến nhiều cơ quan chức năng trong quá trình các KCN vận hành
- Các KCN được xây dựng, lấp đầy, các doanh nghiệp trong các KCN
được tạo điều kiện ưu đãi để phát triển sản xuất - kinh doanh nhưng đời sống
vật chất và tinh thần của người lao động vẫn chưa được quan tâm thích đáng,
lợi ích vật chất và tinh thần của người lao động không được bảo vệ đúng mức, thậm chí còn bị xem nhẹ, bị vi phạm Đây là vấn đề đáng báo động vì đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bãi công, đình công, lãn công và khiếu kiện (cá nhân, tập thể) kéo dài phức tạp
- Trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN trong vùng kinh tế
trọng điểm miền Trung, hiện tượng khiếu kiện, thậm chí là khiếu kiện vượt
cấp có xu hướng gia tăng Đây là một trong những vấn đề xã hội đáng báo
động vì nó cho thấy rằng việc giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi ích của người dân của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN đang có nhiều vấn đề phức tạp cũng như cho thấy chính sách của Đảng và Nhà nước ta về các vấn đề có liên quan vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp Đáng lưu ý rằng, phần lớn các khiếu kiện của người dân là liên quan đến vấn đề đất đai, việc đền bù, giải tỏa - một trong những lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm nhất hiện nay
Trang 9Tuy chưa phải là tất cả, nhưng những vấn đề xã hội trên đang phản ánh những bất cập trong quá trình xây dựng, phát triển KCN vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Đến lượt nó, các vấn đề đó lại trở thành lực cản làm giảm hiệu quả kinh tế - xã hội của các KCN, làm chậm quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong vùng Nhất là trong thời đại ngày nay, xu hướng phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung, của mô hình KCN nói riêng đang đòi hỏi bất kỷ một chương trình, chiến lược kinh tế - xã hội nào cũng phải đảm bảo được tính toàn diện và cân đối trong phát triển, tức là phải đảm bảo giải quyết đồng bộ hài hòa giữa “cái kinh tế” và “cái xã hội”, giữa giải quyết các vấn đề kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh, giữa giải quyết cái trước mắt
với cái lâu dài, UNESCO đã từng cảnh báo rằng: bất cứ quốc gia nào tự đặt
cho mình mục tiêu tăng trưởng kinh tế tách rời mục tiêu phát triển xã hội thì sớm muộn quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó sẽ xảy ra sự mất cân đối nghiêm
trọng và sẽ sớm rơi vào tình trạng bất ổn Đây là bài học kinh nghiệm quí báu
rút từ thực tế phát triển của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, việc nhận diện và tìm cách giải quyết một cách căn bản các vấn đề xã hội nêu trên có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển bền vững của các KCN nói riêng và của nền kinh tế - xã hội trong toàn vùng nói chung Đây chính là lý do chủ yếu nhất thúc đẩy chúng
tôi nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình xây
dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Ở ngoài nước, là một phạm trù cơ bản của xã hội học nên vấn đề xã
hội (social problems) đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu Xã
hội học khác nhau Tại các quốc gia công nghiệp phát triển, vấn đề xã hội nói
chung, các vấn đề xã hội của quá trình công nghiệp hóa nói riêng đã được
nghiên cứu khá kỹ lưỡng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau từ lý luận đến thực tiễn Ở đây có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu, có ý nghĩa nhất đối với việc triển khai nghiên cứu đề tài:
Trang 10- Công trình có tính kinh điển nhất nghiên cứu về các vấn đề xã hội của
xã hội công nghiệp cần tham khảo là tác phẩm rất kinh điển của nhà xã hội
học nổi tiếng Elton Mayo: “The social problems of an industrial civilization”
(Tạm dịch là: Những vấn đề xã hội của nền văn minh công nghiệp) được xuất
bản năm 1948 ở Mỹ Trong công trình này, Elton Mayo đã phân tích nguồn gốc, bản chất của phần lớn các vấn đề xã hội mà xã hội Âu - Mỹ đối mặt trong bối cảnh các quốc gia này đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa TBCN
- Cuốn sách “Social Problems in a Diverse Society” (Tạm dịch là:
Những vấn đề xã hội trong xã hội đang thay đổi) của Diana Kendall, do Nhà
xuất bản Paperback và Prentice Hall xuất bản năm 2006 là một công trình nghiên cứu những vấn đề xã hội của các quốc gia đang phát triển nhanh như các con rồng châu Á, Trung Quốc và một số quốc gia đang công nghiệp hóa khác Đây là một tài liệu tham khảo bổ ích khi nghiên cứu các vấn đề xã hội của KCN ở vùng nói riêng, ở Việt Nam nói chung
Ngoài 2 công trình có liên quan trực tiếp đến quá trình nghiên cứu đề tài nêu trên, có thể tham khảo thêm một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài sau đây:
- Cuốn sách “The Sociology of Social Problems” (Tạm dịch là: Xã hội
học về các vấn đề xã hội) của Paul B Horton, Gerald R Leslie, Richard F
Larson, and Robert L Horton, do Nhà xuất bản Paperback ấn hành năm 1997
- Cuốn sách “Social Problems - Issues and Solutions” (Tạm dịch là:
Những vấn đề xã hội - hậu quả và những giải pháp) của Charles Zastrow, do
Nhà xuất bản Hardcover ấn hành năm 1999
- Công trình “Social Problem Solving: Theory, Research, and
Training” (Tạm dịch là: Giải quyết vấn đề xã hội - Lý thuyết, nghiên cứu và thực hành) của Edward C Chang, Thomas J D'Zurilla, and Lawrence J
Sanna, do Nhà xuất bản Hardcover ấn hành năm 2004
Trang 11- Công trình “Social Problems” (Tạm dịch là: Những vấn đề xã hội)
của John J Macionis do Nhà xuất bản Paperback xuất bản năm 2005
- Tác phẩm “Mặt trái của những con rồng” của Walden Bello và
Stephanie Rosenfeld do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia dịch và phát hành năm 1996
Phần lớn các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã nêu trên bước đầu thiết lập các lý luận cơ bản về các vấn đề xã hội nói chung, các vấn đề xã hội của quá trình công nghiệp hóa nói riêng cũng như đã đề xuất các cách thức, giải pháp khác nhau để giải quyết chúng nhằm hướng đến sự phát triển bền vững Vì vậy, đây là những tài liệu tham khảo hữu ích khi nghiên cứu đề tài
Ở trong nước, cho đến thời điểm này, trên bình diện lý luận cơ bản rất
hiếm những công trình nghiên cứu cơ bản, công phu, đầy đủ về các vấn đề xã hội nói chung, các vấn đề xã hội nảy sinh từ quá trình xây dựng, phát triển các KCN nói riêng Những công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến vấn
đề này trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung càng hiếm hơn
Trong bối cảnh đất nước ta thực hiện phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời gian gần đây đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu có đề cập một cách rải rác các chiều cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu Các tiếp cận như vậy được đề cập một cách riêng rẽ theo góc độ của từng khoa học khác nhau từ kinh tế học, hành chính học, đến văn hóa và xã hội học Dưới đây có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến quá trình nghiên cứu đề tài:
- Luận án tiến sĩ xã hội học “Những vấn đề xã hội của người nhập cư ở
thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986 - 1996” của NCS Trần Trọng Đức
Phần có thể tham khảo trong luận án này là phần lý luận và các luận giải xoay quanh các vấn đề xã hội của người nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986 - 1996 Thêm vào đó việc phát hiện và tìm cách giải quyết những vấn đề xã hội của người nhập cư được trình bày trong luận án cũng là phần tham khảo có ích cho nghiên cứu đề tài
Trang 12- “Kỷ yếu KCN và khu chế xuất Việt Nam 2002” do Nhà xuất bản Tp
Hồ Chí Minh và Thời báo kinh tế Sài Gòn ấn hành năm 2002 Đây là tổng quan giới thiệu về các KCN, khu chế xuất cũng như các vấn đề liên quan đến quản lý, phát triển các KCN và khu chế xuất này, trong đó phần giới thiệu các KCN, khu chế xuất vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là tài liệu tham khảo
có ích cho đề tài, mặc dù số liệu, nhận định trong tài liệu cần phải được cập nhật, bổ sung
- Cuốn sách “Kết hợp giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề
xã hội ở nông thôn Bắc Trung Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Đoàn Minh Duệ và Đinh Thế Định xuất bản năm 2003 Phần có ý
nghĩa đối với đề tài là những luận giải về quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và những giải pháp chủ yếu để kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn vùng bắc Trung bộ
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động ở các
tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Trần Thị Bích Hạnh” (Bảo vệ năm 2003) Phần mà đề tài
có thể tham khảo hữu ích là đánh giá về nguồn lao động và tình hình sử dụng nguồn lao động vùng kinh tế trọng điểm miền Trung cũng như những đề xuất nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao động này trong giai đoạn hiện nay
- Cuốn sách “Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý
nhà nước về bảo vệ môi trường ở các KCN, khu chế xuất” của Trương Thị
Minh Sâm do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2004 Cuốn sách này là tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài khi nghiên cứu vấn đề ô nhiễm môi trường trong các KCN vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
- Luận án tiến sĩ kinh tế “Các giải pháp hoàn thiện và phát triển KCN
ở Việt Nam” của NCS Trần Ngọc Hưng (Bảo vệ năm 2004) Luận án này đã
đánh giá khái quát về tình hình phát triển và đề xuất các giải pháp hoàn thiện, phát triển các KCN ở Việt Nam
Trang 13- Luận án tiến sĩ kinh tế “Những biện pháp phát triển và hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước đối với KCN ở Việt Nam” của NCS Lê Tuyển Cử
(Bảo vệ năm 2004) Luận án đã phân tích quá trình hình thành và phát triển của các KCN ở Việt Nam; Đánh giá những ưu, nhược điểm trong công tác quản lý nhà nước các KCN và nguyên nhân của chúng Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài về quá trình phát triển các KCN vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và trong vấn đề quản lý nhà nước các KCN
- Công trình “Đời sống văn hóa đô thị và KCN Việt Nam” do
GS.TSKH Đình Quang chủ biên và Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2005 Công trình này đã khái quát đặc điểm quá trình đô thị hóa, thực trạng đời sống văn hóa ở một số đô thị và KCN Việt Nam; Từ đó đề xuất những khuyến nghị xây dựng, phát triển đời sống văn hóa ở các đô thị và KCN trong bối cảnh đô thị hóa và công nghiệp hóa ở Việt Nam ở thế kỷ 21 Những đánh giá về đời sống văn hóa ở các KCN (trong đó có khảo sát một số KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung) có thể được tham khảo khi nghiên cứu các vấn đề về đời sống văn hóa - tinh thần ở các KCN vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung
- Cuốn sách “Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường ở một số KCN phía
Bắc tới sức khoẻ cộng đồng” của Trần Văn Tùng, Đặng Phương Hoa, Nguyễn
Bá Thủy do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2005 Các tác giả cuốn sách đã phân tích mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, phát triển bền vững với sức khỏe cộng đồng Từ thực trạng ô nhiễm môi trường ở một số KCN phía Bắc, từ kinh nghiệm bảo vệ môi trường ở một số nước Đông Nam
Á các tác giả đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị bảo vệ môi trường khi phát triển các KCN ở đây Đây là một nghiên cứu so sánh rất bổ ích trong nghiên cứu vấn đề ô nhiễm môi trường trong KCN
- Bài viết “Xây dựng và phát triển KCN, khu kinh tế - kết quả đạt được
trong năm 2006, những vấn đề đặt ra và nhiệm vụ cần triển khai trong năm 2007” của TS Trần Ngọc Hưng đăng ở tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam,
Trang 14số 1 năm 2007 Bài viết khái quát tình hình phát triển các KCN, khu kinh tế ở Việt Nam, phát hiện những vấn đề đặt ra và những nhiệm vụ cần triển khai tiếp trong năm 2007 nhằm thực hiện tốt các mục tiêu phát triển KCN và khu kinh tế trên bình diện cả nước
- Đề tài khoa học trọng điểm cấp bộ năm 2005 “Những giải pháp thu
hút đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” do Lê Thế Giới làm chủ nhiệm (bảo vệ năm
2006) đã cho những đánh giá, nhận định khái quát tình hình xây dựng, phát triển, thu hút đầu tư tại các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong thời gian qua
- Tập Kỷ yếu Hội nghị - Hội thảo quốc gia: “15 năm xây dựng và phát
triển các khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam do Bộ Kế hoạch và
Đầu tư ấn hành tháng 7/2006 Đây là tập kỷ yếu tập hợp các bài viết của nhiều nhà khoa học, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý ở trung ương và các địa phương đánh giá về quá trình xây dựng, phát triển các KCN, khu chế xuất cũng như các vấn đề liên quan đến quản lý, phát triển các KCN và khu chế xuất Trong tập kỷ yếu này có một số bài viết đánh giá quá trình xây dựng, phát triển các KCN, khu chế xuất ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Ngoài các cuốn sách, luận án, đề tài nghiên cứu, các bài tạp chí đã nêu trên, liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài còn có một số bài viết ngắn
đã được đăng tải trên các tạp chí vùng và quốc gia:
- “Phát triển khu công nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung” của Nguyễn Kim Hiệu đăng ở Tạp chí Công nghiệp, số 9 năm 2001
- “Kinh tế mở Chu Lai, hướng đi mới của vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung” của Trần Minh Cả đăng ở tạp chí Kinh tế và dự báo, số 10 và 11 năm
2000
- “KCN miền Trung nơi tạo thế và lực cho kinh tế xã hội miền Trung
phát triển” của Nguyễn Minh Sơn đăng ở tạp chí Phát triển Kinh tế của
Trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, số 86 năm 1997
Trang 15- “Cung và cầu lao động vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Nguyễn Tiệp đăng ở tạp chí Kinh tế
& phát triển, số 30 - 33; và bài “Giải pháp phát triển thị trường lao động
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung giai đoạn 2006 - 2010” của cùng tác giả
đăng ở tạp chí Lao động và xã hội, số 294 năm 2006
- “Bảo vệ tài nguyên và môi trường trong quá trình công nghiệp hóa ở
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và tỉnh Quảng Nam” của Ngô Văn Hùng
đăng ở tập san Khoa học và Sáng tạo (Quảng Nam), số 27 năm 2004
- “Một số vấn đề xã hội Trong xây dựng và phát triển các KCN ở Việt
Nam” của Nguyễn Ngọc Dũng đăng ở tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 3/2000
- “Nâng cao tầm nhìn phát triển khu công nghiệp ở nước ta trong giai
đoạn mới” của GS Trần Ngọc Hiên đăng ở tạp chí Khu công nghiệp Việt
Nam, số 68(104) tháng 5/2006
- “Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao tính khả thi của chính sách, pháp luật về KCN” của Lê Xuân Trinh đăng ở tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam,
số 68/2006
- “Quản lý phát triển bền vững các khu kinh tế đặc biệt ở Việt Nam”
của Lê Thị Kim Dung đăng ở tạp chí Kinh tế và dự báo, số 8/2008
,
Trong thời gian gần đây, dưới sự bảo trợ của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Phòng Thương mại & Công nghiệp VN và UBND tỉnh Quảng Nam, Báo Tuổi Trẻ và Công ty Hòa Nhan PR (Tp Hồ Chí Minh) đã tổ chức Diễn đàn kinh tế miền Trung Tại Diễn đàn này các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà báo
và các nhà lãnh đạo quản lý đã trao đổi, bàn bạc các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư ở miền Trung, trong đó có đề cập đến những vấn đề xã hội nảy sinh trong các KCN trong vùng Các bài viết, các phát biểu tại diễn đàn này
có thể là những tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu đề tài
Trang 16Như vậy, dù số lượng các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài không nhiều, nhưng đó là những tài liệu tham khảo có giá trị khi triển khai nghiên cứu đề tài này
3 Mục tiêu của đề tài:
3.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài là: Nhận diện một số vấn đề xã hội
nảy sinh trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; trên cơ sở đó đề ra được một hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi giải quyết những vấn đề này
3.2 Để thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, đề tài sẽ thực hiện các
mục tiêu cụ thể sau đây:
- Làm rõ khái niệm vấn đề xã hội và lý giải một số vấn đề lý luận liên quan đến giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển KCN
- Phân tích làm rõ thực trạng, nguyên nhân, mức độ tác động của một
số vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
- Nêu và phân tích các quan điểm, phương hướng, đề xuất và luận chứng hệ thống các giải pháp chủ yếu giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung hiện nay
Sau khi thực hiện được 3 mục tiêu con đó thì mục tiêu tổng quát (mục tiêu mẹ) cũng sẽ được thực hiện
4 Phương pháp nghiên cứu:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận của đề tài Trong đó, các phương pháp như lịch sử và lô- gích, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, sẽ được sử dụng phổ biến Ngoài ra, trong quá trình thu thập thông tin, dữ liệu, đề tài sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
Trang 17- Một số cán bộ và lãnh đạo doanh nghiệp trong các KCN
- Một số chuyên gia công tác trong các lĩnh vực có liên quan đến các vấn đề xã hội nảy sinh trong các KCN, như Công an, cán bộ Lao động - Thương binh và xã hội, cán bộ quản lý môi trường, cán bộ ngành văn hóa, và một số người dân trong vùng chịu ảnh hưởng của KCN,v.v
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Vì các KCN hết sức đa dạng về hình thức tổ chức, quy mô và cấp độ quản lý, nên để tiện cho việc nghiên cứu, đề tài chủ yếu chỉ nghiên cứu các KCN tập trung có quy mô khá lớn do tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương quản lý Các KCN trực thuộc các khu kinh tế, các KCN, cụm công nghiệp nhỏ
do cấp quận/huyện quản lý không thuộc phạm vi nghiên cứu trong đề tài này
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này về mặt lãnh thổ là vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh/thành phố là Thừa Thiên - Huế, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này về mặt thời gian là giai đoạn hiện nay khi vùng kinh tế trọng điểm miền Trung cùng cả nước bước vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa
6 Kết cấu của báo cáo tổng quan khoa học của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Báo cáo tổng quan khoa học của đề tài được kết cấu thành 3 chương 10 tiết trong 160 trang Sau đây là nội dung của Báo cáo tổng quan
Trang 18phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
2.1 Khái quát về vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Theo Quyết định ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ
về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội các vùng kinh tế trọng điểm đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020, vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung bao gồm 5 tỉnh/thành phố là Thừa thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định
So với hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có khá nhiều lợi thế nhưng cũng đối mặt với không ít khó khăn trong phát triển ở hiện tại và tương lai
Về các lợi thế của vùng:
Trước hết, so với hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam,
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có vị trí địa lý tự nhiên rất thuận lợi cho giao thương: Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nằm trên trục giao thông Bắc - Nam của đất nước về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, hệ thống đường quốc lộ trong các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (như quốc lộ 14B, 24 và 19) khá hoàn chỉnh là những huyết mạch nối các cảng biển trong vùng đến vùng Tây Nguyên và trong tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á qua Lào, đông bắc Campuchia, Thái Lan, Myanmar theo hành lang kinh tế Đông Tây; vì vậy, vùng có thể sẽ là cửa ngõ
ra biển của Tây Nguyên và các nước trên đến các nước vùng Bắc Á Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có nhiều vịnh nước sâu như Chân Mây (Thừa Thiên - Huế), Liên Chiểu, Tiên Sa (Đà Nẵng), Kỳ Hà (Quảng Nam), Dung
Trang 19Quất (Quảng Ngãi), Quy Nhơn, Nhơn Hội (Bình Định) nằm không xa tuyến hàng hải quốc tế, cho phép xây dựng thành các cảng biển nước sâu lớn (có thể trở thành những cảng trung chuyển quan trọng của khu vực tiểu vùng sông
Mê Kông và các nước thuộc hành lang kinh tế Đông Tây
Thứ hai, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có nguồn tài nguyên khá
đa dạng, phong phú về đất, rừng, biển, khoáng sản,… nhất là tài nguyên du lịch Với những nguồn tài nguyên này, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
có thể phát triển nền kinh tế tổng hợp, trong đó có các ngành và các sản phẩm mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh cao Sau đây là một số lợi thế tài nguyên đáng
lưu ý:
- Với chiều dài bờ biển hơn 550 km, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có tiềm năng nổi trội về kinh tế biển Bờ biển của vùng dài với thềm lục địa khá rộng, có nhiều cửa sông, đầm, vịnh và bãi, có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ,… là nơi chứa đầy tiềm năng trong nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và chứa đựng nhiều lợi thế để phát triển
công nghiệp và du lịch biển
- Với tổng diện tích đất tự nhiên 27.953,2km2, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có tiềm năng khá lớn về đất đai và tài nguyên thiên nhiên trên đất Toàn vùng hiện có 850,5 nghìn héc ta đất có rừng với trữ lượng gỗ trên 7,4 triệu m3 Rừng của vùng có nhiều loại gỗ quý như giáng hương, cẩm lai, gụ mật, kiền kiền và sao đen, Động vật rừng cũng rất phong phú, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: hổ, báo, gấu, rùa vàng, bò rừng Nhiều vùng đất của vùng có thể trồng nhiều loại cây có giá trị như cây nguyên liệu gỗ, cao su,
hồ tiêu, quế,…
- Trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đã hình thành một hệ thống đô thị phân bố khá đều trên toàn vùng: các đô thị lớn như Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn,… cùng với các đô thị vừa và nhỏ như Lăng Cô, Hội An, Tam Kỳ, Quảng Ngãi,… đang tạo nên một dải đô thị ven biển với các KCN, khu kinh tế nằm xen kẽ hoặc kề cận (trong đó nổi bật nhất là KCN lọc hóa
Trang 20- Về dân số và nguồn nhân lực, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có một nguồn nhân lực khá dồi dào, với những phẩm chất có tính cạnh tranh cao Năm 2007, dân số toàn vùng là 6,3 triệu người, chiếm khoảng 7,5% dân số so với cả nước, trong đó khoảng 55% trong độ tuổi lao động nên lực lượng lao động khá dồi dào Dự kiến đến năm 2025, dân số toàn vùng đạt 8,5 triệu người với 6,5 triệu lao động trong độ tuổi Một bộ phận lao động ở vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung có trình độ tay nghề cao, có khả năng thích nghi, có thể tiếp cận nắm bắt nhanh các thành tựu khoa học - công nghệ và quản lý tiên tiến Người lao động ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có truyền thống hiếu học, cần cù, chịu khó, có ý chí vươn lên… là những phẩm chất rất
tốt để phát triển kinh tế - xã hội
- Những năm đổi mới vừa qua, nhất là trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của toàn vùng luôn ở mức 2 con số (trên 10%/ năm) Nhiều địa phương trong vùng như Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Ngãi có tốc độ phát triển GDP khá ngoạn mục Thu nhập của người dân trong vùng không ngừng tăng nhanh (2000 - 2005, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân trên toàn vùng đạt tới 61%) Sự năng động, sáng tạo trong phát triển thời gian qua bước đầu đã tạo nên thế và lực phát triển mới cho vùng Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu
Trang 21Về những khó khăn, thách thức:
- Khó khăn đầu tiên đối với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong quá trình phát triển là điều kiện tự nhiên của vùng chứa đựng nhiều yếu tố không thuận lợi cho phát triển Những yếu tố này bao gồm: địa hình hẹp và dốc, khí hậu khắc nghiệt, nhiều hạn hán vào mùa khô, nhiều bão, lốc, lũ lụt vào mùa mưa Có thể nói rằng, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thuộc vào vùng không “mưa không thuận, gió không hòa” chứa đựng nhiều rủi ro tiềm
ẩn có thể làm tăng thêm chi phí ngoài dự tính của các nhà đầu tư Chính vì vậy, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đã không khỏi nản lòng khi họ muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư vào vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
- Với địa hình dài, hẹp và có độ dốc cao nên các điều kiện phát triển nông nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung rất hạn chế nếu so với hai đầu đất nước Vì vậy, cho đến nay, nền kinh tế trong vùng về cơ bản vẫn
là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu: chủ yếu dựa vào nghề trồng lúa nước; chăn nuôi gia súc - gia cầm với quy mô nhỏ lẻ là phổ biến Mặt khác,
do địa hình dốc, hẹp, chia cắt mạnh, hay bị xói lở nên chi phí cho xây dựng, phát triển, bảo dưỡng kết cấu hạ tầng trong vùng rất cao Đây là nhân tố góp phần làm giảm khả năng cạnh tranh của vùng trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển, nhất là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
- Về thị trường tiêu thụ sản phẩm:
Để sản xuất phát triển bền vững, không chỉ các nguồn lực đầu vào mà đầu ra - tức thị trường tiêu thụ cũng đóng vai trò quan trọng Đặc biệt là trong thời đại, nền kinh tế bắt đầu có xu hướng dịch chuyển từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu sang dựa vào sức mua của thị trường nội địa như hiện nay thì điều
đó càng có ý nghĩa So với hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, quy mô dân số của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung không lớn, độ tập trung dân cư không cao (đến nay, mật độ dân số của vùng chỉ bằng 24,6% mật
độ dân số vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc và bằng 45,7% so với mật độ dân
số vùng kinh tế trọng điểm miền Nam), lại trải dài hơn 500km trên dải đất
Trang 22hẹp Đã thế, tỷ lệ hộ nghèo trong vùng vẫn ở mức cao (khoảng 23,3%), thu nhập bình quân của người dân còn thấp (Tính đến năm 2005, thu nhập bình quân đầu người vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chỉ bằng 73,6% so với chỉ tiêu tương tự của vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc và bằng 29,6% so với vùng kinh tế trọng điểm miền Nam) Thu nhập thấp, chi tiêu của người dân tập trung vào những nhu cầu thiết yếu khiến sức mua của người dân trong vùng rất chậm được cải thiện, đã làm cho thị trường tiêu thụ sản phẩm của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trở nên kém cạnh tranh hơn so với các vùng kinh tế trọng điểm hai đầu đất nước
Bảng 1: So sánh một số chỉ tiêu chủ yếu giữa các VKTTĐ (năm 2005)
VKTTĐ miền Trung
VKTTĐ miền Bắc
VKTTĐ miền Nam
FDI thực hiện trên đầu người giai đoạn
Vốn đầu tư tư nhân trong nước bình
Nguồn: theo Vũ Thành Tự Anh tại “Diễn đàn kinh tế miền Trung lần 1” - Hội An tháng 4 năm 2007
- Vì nhiều lý do khác nhau mà vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến nay vẫn là vùng có kết cấu hạ tầng kỹ thuật yếu kém nhất trong ba vùng kinh
tế trọng điểm Mặc dù, xét về tổng quát, điều kiện về giao thông có nhiều lợi thế nhưng nếu đi vào cụ thể thì kết cấu hạ tầng cứng ở đây, cho đến nay vẫn còn nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ Chẳng hạn, địa phương nào trong vùng cũng có sân bay quốc tế, có cảng nước sâu nhưng chất lượng, sản lượng thiết kế của cảng hàng không lẫn cảng biển đều thấp hơn so với hai đầu Trong khi đó, hệ thống giao thông đường bộ nội vùng xuống cấp, nhỏ hẹp… lại rất chậm đựơc cải thiện Đây là một bất lợi rất đáng kể đối với vùng trong cạnh tranh phát triển
- Do cơ cấu dân số trẻ nên nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung khá dồi dào nhưng chất lượng hiện đang kém hơn so với hai đầu đất nước Lao động của vùng phần lớn là lao động nông nghiệp - nông thôn,
Trang 23có trình độ học vấn thấp, ít được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Thêm vào
đó, phong cách làm việc của phần đông người lao động còn lạc hậu, ý thức tổ
chức kỷ luật kém, khả năng làm việc tập thể, làm việc theo nhóm không cao
Bảng 2: Trình độ lao động của các vùng KTTĐ và cả nước năm 2005
VKTTĐ miền Trung
VKTTĐ miền Bắc
VKTTĐ miền Nam
Cả nước
Nguồn: theo Vũ Thành Tự Anh tại “Diễn đàn kinh tế miền Trung lần 1” - Hội An tháng 4 năm 2007
Bảng này cho thấy, ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung vẫn còn hơn
50% lực lượng lao động có trình độ tiểu học trở xuống (cao hơn tỷ lệ bình
quân của cả nước và cao nhất trong ba vùng kinh tế trọng điểm) Cho đến nay,
tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung mới chỉ
đạt khoảng 28,7% Trong khi đó, con số tương ứng của vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc là 33,7%, của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là 33,02%
Nguồn nhân lực có trình độ cao của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung cũng
rất hạn chế: tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cao đẳng đại học của vùng chỉ đạt
5,9%, trong khi tỷ lệ này của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc là 8,5%, của
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là 7,5% Đặc biệt, tại Khu kinh tế mở Chu
Lai - khu kinh tế mở đầu tiên của Việt Nam, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo Cao
đẳng Đại học chỉ chiếm chưa đến 1%, trong khi nhu cầu về nguồn nhân lực
trình độ cao tại đây lại rất lớn Lao động chất lượng cao đã ít nhưng trong
những năm vừa qua, nhiều người trong số đó có xu hướng muốn chuyển ra
khỏi vùng đến vùng kinh tế trong điểm phía Nam và đến thủ đô Hà Nội Một
nghiên cứu gần đây cho thấy, vùng Duyên hải Nam Trung bộ (trong đó có
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung) có tỷ lệ lao động di chuyển khỏi vùng
Trang 24bộ là 21% và vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ là 36%), mức đóng góp của vùng trong thu ngân sách của cả nước là 4,6% Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người/năm mới chỉ đạt 149 USD năm 2005 (con số tương ứng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ là 447 USD và của vùng kinh tế trọng điểm Nam
bộ là 1.467 USD) Về sản lượng công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chỉ mới đóng góp 10% Trong khi đó, hơn một nửa sản lượng công nghiệp quốc gia do vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đóng góp, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đóng góp 37%
Những nghiên cứu so sánh đó cho thấy, bên cạnh những thế mạnh và thuận lợi, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có rất nhiều khó khăn, bất lợi trong quá trình cạnh tranh phát triển Tất nhiên, những tiềm năng, lợi thế nếu không được khai thác thì mãi vẫn ở dạng tiềm năng, ngược lại, những nhược điểm, bất lợi nếu cố gắng khắc phục có thể sẽ biến thành cơ hội, thậm chí lại biến thành điểm mạnh trong phát triển Đó chính là biện chứng của sự phát
triển trong điều kiện cạnh tranh Để trở thành “một trong những vùng phát
triển năng động của cả nước, bảo đảm vai trò hạt nhân tăng trưởng và thúc đẩy phát triển khu vực miền Trung và Tây Nguyên" 3, các chủ thể lãnh đạo - quản lý ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung phải tích cực, chủ động, sáng tạo, phát huy tối đa các cơ hội - thế mạnh, khắc phục hiệu quả các khó khăn, thách thức, thúc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm nhanh chóng đạt tới các mục tiêu phát triển cơ bản đã đặt ra
3 Quyết định 148/QĐ- TTg ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội các vùng kinh tế trọng điểm đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020
Trang 251.2 Sự hình thành các KCN và tác động của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Những tiềm năng, lợi thế và những khó khăn, không thuận lợi nêu trên
đã được tính đến trong quá trình đề ra các chính sách phát triển toàn vùng cũng như các chính sách phát triển của từng địa phương trong vùng Một trong những giải pháp hàng đầu để các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có thể thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ là tiến hành xây dựng và phát triển các KCN tập trung Bởi vì, các KCN tập trung có nhiều ưu điểm trong đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp - dịch vụ nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói chung
Hiện nay, tất cả các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đều đã có KCN Nếu không kể các KCN đang xây dựng chưa đưa vào vận hành, toàn vùng kinh tế trọng điểm miền Trung hiện nay có 19 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích là 2.395 héc ta, chiếm 8,1% tổng diện tích các KCN cả nước Đó là một nỗ lực lớn của các địa phương trong vùng Xét
về diện tích lấp đầy thì các KCN của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đạt
tỷ lệ cao nhất cả nước là 71% so với 57,7% của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 53,9% của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.4
Về mặt lịch sử, việc xây dựng, phát triển các KCN ở Việt Nam nói chung, ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nói riêng đã được hoạch định, triển khai thực hiện trước cả việc quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm Cụ thể, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, với việc khởi xướng đường lối đổi mới, Đảng ta đã có những chủ trương ban đầu về việc đổi mới cơ chế kinh tế, mở cửa nhằm thu hút các nguồn vốn, công nghệ từ nước ngoài để đẩy nhanh tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước Quá trình tổng kết thực tiễn, học tập kinh nghiệm phát triển KCN, khu chế xuất ở nước ngoài đã dẫn đến hình thành đường lối, chính sách xây dựng,
4 Trần Ngọc Hưng Xây dựng và phát triển KCN, khu kinh tế - kết quả đạt được trong năm 2006, những vấn đề đặt ra và
nhiệm vụ cần triển khai trong năm 2007 Tạp chí KCN Việt Nam số 1/2007
Trang 26phát triển các KCN của Đảng và Nhà nước ta Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định rõ sự cần thiết phải xây dựng, hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả khu chế xuất, khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới, phát triển công nghiệp vùng nông thôn và vùng ven đô thị Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng xác định: “Phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả hoạt động các KCN"
Việc xây dựng, phát triển và đưa các KCN vào hoạt động được triển khai vào đầu những năm 1990 ở một số tỉnh Đông Nam bộ như thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai,… Ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, KCN đầu tiên chính thức được cấp phép xây dựng vào năm 1994 là KCN Đà Nẵng Các KCN khác trong vùng được cấp phép xây dựng muộn hơn vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước
Mặc dù phần lớn các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung mới chỉ hoàn thành giai đoạn một và chính thức đi vào hoạt động trong những năm gần đây, nhưng các KCN này thực sự đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nói riêng Cụ thể, điều này thể hiện ở một số phân tích sau:
Thứ nhất, việc xây dựng và phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung là một trong những phương thức huy động và khai thác có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng
Như trên đã trình bày, mặc dù là vùng đất giàu tiềm năng nhưng trong thực tế, xuất phát điểm phát triển của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thấp hơn nhiều so với các vùng kinh tế khác trong nước Do vậy, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh chóng và hiệu quả, vùng cần huy động được các nguồn lực lớn trong nước và nước ngoài về vốn, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý tiên tiến Việc xây dựng, phát triển các KCN tập trung ở những vùng thuận lợi với những chính sách đặc biệt đã cho phép vùng tạo ra
Trang 27điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư, kỹ thuật và công nghệ, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý từ các công ty lớn ở hai đầu đất nước đến và từ nước ngoài vào Tỷ lệ lấp đầy các KCN trong vùng đạt mức cao nhất cả nước cũng như sự đa dạng trong danh sách các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong các KCN của vùng đã nói lên thành công này
Chỉ xét thuần túy khía cạnh thu hút vốn đầu tư, dù chiếm diện tích đất không lớn, các KCN trong vùng đã thu hút hàng chục ngàn tỷ đồng vốn đầu
tư Hầu hết các KCN trong vùng hoạt động có hiệu quả tốt, nhiều KCN có diện tích cho thuê đạt tỷ lệ rất cao, như KCN Phú Tài (tỉnh Bình Định) có diện tích cho thuê đã đạt 98,9% tổng diện tích đất có thể cho thuê Đến hết năm 2005, 2 KCN của Bình Định là Phú Tài và Long Mỹ đã thu hút được hơn 2.000 tỷ đồng vốn đầu tư Chỉ với khoảng 448 héc ta diện tích nhưng giá trị sản xuất trong 2 KCN này đã chiếm hơn 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Bình Định, giải quyết việc làm cho trên 20.000 người Ở Quảng Nam, đến hết năm 2005, các KCN trong tỉnh đã thu hút được hơn 1,5
tỷ USD và hàng ngàn tỷ đồng vốn đầu tư, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, tạo ra trên 36% tổng giá trị ngành công nghiệp và chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh Theo thống kê, đến hết năm 2007, các KCN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thu hút được 41 dự án đầu tư với tổng nguồn vốn đăng ký 2.928 tỉ đồng, tổng diện tích đất cho thuê đạt 272 ha, trong đó có 10 dự án đầu tư nước ngoài với tổng nguồn vốn đăng ký 77 triệu USD Đối với thành phố Đà Nẵng, tính đến cuối quý I/2008, cũng đã thu hút được 332 dự án với tổng vốn đầu tư gần 16.000 tỷ đồng vào các KCN
Rõ ràng, mặc dù chưa được như mong muốn nhưng số vốn thu hút được vào các KCN trong thời gian qua là những nguồn lực không nhỏ góp phần làm gia tăng nhanh tổng mức vốn đầu tư và thực hiện trên địa bàn Theo
số liệu thống kê từ các địa phương: tổng vốn đầu tư thực hiện của vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung năm 2006 tăng 38% so với năm 2005, năm 2007 tăng 47% so với năm 2006… Từ đó, các KCN đã đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn vùng luôn đạt mức cao Theo báo cáo
Trang 28của Ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm của Chính
phủ thì hiện 5 tỉnh/thành của vùng trọng điểm kinh tế miền Trung là Thừa
Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định đang có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao nhất trong ba vùng kinh tế trọng điểm của cả nước
Nhờ đó, tỷ lệ đóng góp của vùng năm 2005 trong GDP cả nước đã vượt mục
tiêu 5,5,% mà Chính phủ đề ra cho năm 2010 và đến 2007 đã vượt mục tiêu
đề ra cho tầm nhìn năm 2020 là 6,5%
Bảng 3: Một số chỉ tiêu tổng hợp của vùng KTTĐ miền Trung
Tổng sản phẩm theo giá so sánh (tỷ đ) 21.276,6 23.980,3 26.813,6 30.298,1
Vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế (tỷ đ) - 24.891,1 34.413,0 50.523,7
Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê các tỉnh
Bảng 4: So sánh các chỉ tiêu về tổng sản phẩm trên địa bàn với mục
tiêu của Chính phủ trong Quyết định 148 TTg
Mức đạt được của vùng Chỉ tiêu Mục tiêu của Chính phủ
Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê các tỉnh trong vùng
Thứ hai, xây dựng, phát triển các KCN giúp vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ
Trang 29Một trong những mục tiêu cơ bản của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung được biết đến là như là một vùng có kinh tế chậm phát triển với cơ cấu kinh tế lạc hậu, chủ yếu là nông nghiệp Do xuất phát điểm thấp, các nguồn lực nội lực hạn chế nên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng rất cần tới việc huy động các nguồn lực từ bên ngoài Chính vì thế, quá trình xây dựng, phát triển các KCN được coi là một giải pháp hữu hiệu để nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hiện đại Trong thực tế, sự gia tăng nguồn vốn đầu tư vào các KCN, sự
mở rộng, phát triển sản xuất ở khu vực này trong những năm qua đã góp phần làm cơ cấu kinh tế vùng chuyển dịch mạnh So với năm 2000, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ của vùng đã tăng 8,5% Quá trình phát triển các KCN đã góp phần đáng kể làm gia tăng mạnh lĩnh vực công nghiệp - xây dựng: từ chỗ chỉ chiếm 28,6% (năm 2000), công nghiệp - xây dựng đã tăng nhanh, chiếm
tỷ trọng 38,1% vào năm 2007
Ngoài việc trực tiếp góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, các KCN còn giúp hình thành các trung tâm công nghiệp gắn với phát triển đô thị, thúc đẩy quá trình đô thị hóa Chính điều này đã thúc đẩy lĩnh vực dịch vụ phát triển theo Mặt khác, khi các KCN này đi vào hoạt động đã kéo theo sự tập trung một lượng lớn người lao động, dân cư vào các khu đô thị dẫn đến nhu cầu đối với các loại hình dịch vụ gia tăng Ngay cả nông nghiệp, nhờ nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng cao ở các KCN cũng đã chuyển dịch mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa với các loại nông sản, thực phẩm phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày của người lao động trong các KCN Nhờ đó, hiệu quả sản xuất nông nghiệp các vùng ven KCN cũng tăng lên
Bảng 5: Cơ cấu tổng sản phẩm theo ngành ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (% theo giá thực tế)
Trang 30Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê các tỉnh
Thứ ba, quá trình xây dựng, phát triển các KCN giúp vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ và nắm bắt kỹ năng quản lý tiên tiến
Một trong những vấn đề có ý nghĩa đối với sự phát triển của vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung là vấn đề chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nắm bắt kỹ năng tổ chức quản lý sản xuất Vì theo đánh giá của nhiều tổ chức nghiên cứu, trình độ công nghệ sản xuất của vùng hiện đang thấp hơn nhiều so với trình độ chung của khu vực và thế giới Nếu không có những giải pháp mang tính đột phá thì mục tiêu mỗi năm phải đạt tốc độ đổi mới công nghệ 20% (để theo kịp trình độ công nghệ của khu vực vào năm 2020) mà Chính phủ đề ra cho vùng là không thể thực hiện được Phát triển sau, xuất phát điểm thấp nên để có thể tăng tốc, "đi tắt, đón đầu", nắm bắt nhanh chóng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức, quản lý tiên tiến của nước ngoài cần phải có nhiều cách làm khác nhau, nhưng việc xây dựng, phát triển các KCN tập trung, nhất là các KCN công nghệ cao (với những cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài)
là một cách làm hay được các địa phương trong vùng lựa chọn thực hiện
Thực tế hoạt động của các KCN trong vùng thời gian qua cho thấy, các địa phương vùng đã gặt hái được một số thành công nhất định trong vấn đề chuyển giao công nghệ, nắm bắt các kỹ năng quản lý tiên tiến từ việc thu hút các nhà đầu tư có công nghệ cao, có kỹ năng quản lý tiên tiến vào các KCN trong vùng Quá trình đào tạo, sử dụng đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề nắm bắt các công nghệ hiện đại trong một số các doanh nghiệp nước ngoài, quá trình nâng cao trình độ quản lý của các nhân viên quản lý người Việt Nam trong các KCN cũng có thể coi là những đóng góp của KCN trong nắm
Trang 31bắt khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Tiết 2 Một số vấn đề xã hội chủ yếu nảy sinh trong quá trình xây
dựng, phát triển các KCN ở Việt Nam hiện nay
Trong những thập kỷ gần đây, các vấn đề xã hội (Social Problems) thu
hút sự quan tâm nghiên cứu, tìm cách giải quyết của nhiều nhà khoa học, nhiều nhà hoạt động xã hội ở nhiều nước trên thế giới Ở nhiều trường đại học, các vấn đề xã hội và những chính sách giải quyết các vấn đề đó đã trở thành một môn học quan trọng trong chương trình học của nhiều chuyên ngành - nhất là ngành xã hội học và công tác xã hội Dù vậy, cho đến nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, trong các văn bản chính sách cũng như trong các giáo trình, chưa có một định nghĩa thật sự mang tính kinh điển nào về vấn đề xã hội Một cách mặc nhiên, hầu hết mọi người đều ngầm hiểu
rằng, các vấn đề xã hội là những vấn đề xuất hiện từ các quan hệ xã hội có
tác động, ảnh hưởng hoặc đe dọa đến sự phát triển bình thường cũng như quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, của cộng đồng người đòi hỏi xã hội phải có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết theo hướng có lợi cho sự tồn tại, phát triển bền vững của cộng đồng
Với ý nghĩa như vậy, có thể thấy phạm vi của các vấn đề xã hội rất rộng lớn, chúng liên quan đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa,… của con người và cộng đồng dân cư Tuy nhiên, trong thực tế, người ta thường khu biệt các vấn đề xã hội với các vấn đề về kinh tế (mức tăng trưởng, cơ cấu kinh tế…) hay các vấn đề chính trị (như mức độ tham gia của người dân vào việc thực thi quyền lực nhà nước; vấn đề thành lập các tổ chức chính trị…), thậm chí là khu biệt cả với vấn đề văn hóa Từ đó, nói đến vấn đề xã hội, người ta thường chỉ tập trung vào các vấn đề thuộc về quan hệ người - người
có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau tới sự phát triển của con người và cộng đồng xã hội như các loại hình bất bình đẳng: về phân hóa xã hội (phân hóa thu nhập và mức sống hay phân hóa giàu nghèo); sự phân biệt, bất bình
Trang 32đẳng giới, lứa tuổi; các vấn đề liên quan đến sự phát triển dân số, gia đình, người già và trẻ em; vấn đề y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân; vấn đề giáo dục - đào tạo, giải quyết việc làm, vấn đề bảo hiểm xã hội; vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ an ninh trật tự cộng đồng; vấn đề ô nhiễm môi trường - cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, vấn đề đảm bảo môi trường văn hóa -
xã hội lành mạnh vì sự phát triển bền vững,v.v…
Như vậy, thực chất, các vấn đề xã hội là những vấn đề liên quan đến lợi ích, đến mức độ công bằng, bình đẳng trong cơ hội tiếp cận và hưởng thụ các thành quả phát triển xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển của mỗi người, mỗi cộng đồng dân cư… Giải quyết những vấn đề này là nhằm đảm bảo nâng cao dân trí, dân sinh, dân chủ, từ đó, thúc đẩy tiến bộ xã hội
Các vấn đề xã hội thông thường thì lúc nào cũng có Tuy nhiên, không phải bất cứ vấn đề xã hội nào cũng được xã hội lưu tâm chú ý Trong các vấn
đề xã hội, tùy từng lúc, từng nơi có thể xuất hiện các vấn đề xã hội với các mức độ gay cấn/bức xúc khác nhau Đó là các vấn đề xã hội đã đạt đến cái ngưỡng mà nếu không được giải quyết kịp thời, hiệu quả, tích cực sẽ dễ dẫn đến sự bùng nổ, biến dạng xã hội, đẩy một bộ phận khá lớn vào tình trạng lệch chuẩn và đẩy xã hội vào sự rối loạn, mất ổn định và suy thoái Chẳng hạn, sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng bình thường trong kinh tế thị trường, tuy nhiên phân hóa giàu nghèo thái quá, nhanh quá với khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa, hố ngăn cách giàu nghèo quá lớn lại trở thành vấn
đề xã hội nổi cộm đối với nhiều quốc gia, có thể đẩy nhiều quốc gia lún sâu vào cuộc khủng hoảng xã hội, chính trị hết sức tiêu cực và đương nhiên là có tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững Tệ nạn mại dâm, nhất là mại dâm trẻ em, và nhiều tệ nạn xã hội khác đang là vấn nạn đẩy nhiều xã hội đứng trước nguy cơ rối loạn, suy tàn Bệnh dịch HIV/AIDS đang là vấn đề xã hội bức xúc ở nhiều nước đang phát triển, nhất là ở nhiều nước Châu Phi khiến các quốc gia này đã nghèo lại nghèo thêm do thiếu hụt lực lượng lao động vì một bộ phận khá lớn người lao động, nhất là giới trẻ bị nhiễm bệnh…
Trang 33Dĩ nhiên, việc xác định các vấn đề xã hội bức xúc không có nghĩa là bỏ qua các vấn đề xã hội khác Đó chỉ là xác định trọng tâm ưu tiên trong những điều kiện nhất định Trong thực tế, các quốc gia trên thế giới đều nhìn nhận rằng, các vấn đề xã hội đều phải được quan tâm, giải quyết hiệu quả hướng đến công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội Chỉ có như vậy mới tạo điều kiện
để nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI), nâng cao năng lực tiếp cận và
sử dụng các nguồn lực xã hội vì mục tiêu phát triển giàu mạnh, dân chủ và văn minh của mọi người dân trong xã hội
Thật ra, nhận thức về vị trí, vai trò của việc giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển như trên đã không dễ dàng nhận được sự đồng thuận của mọi người, mọi chính phủ trên thế giới Đã một thời gian dài, chính phủ của hầu hết các quốc gia trên thế giới có xu hướng tập trung cho mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bỏ mặc các vấn đề xã hội Các "lý thuyết phát triển" mà thực chất là lý thuyết tăng trưởng kinh tế, rất thịnh hành ở phương Tây trong thế kỷ trước như: Lý thuyết "tăng trưởng cân bằng" của Nurkse, Lý thuyết "cú hích lớn" của Roseinsteins - Rodan, Lý thuyết "các giai đoạn tăng trưởng" của Rostow,… đều có đặc điểm nổi bật là coi trọng các yếu tố kinh tế
và kỹ thuật của sự tăng trưởng kinh tế Theo các lý thuyết đó, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là hai mục tiêu mâu thuẫn không thể dung hòa Nếu muốn kinh tế tăng trưởng nhanh thì phải hy sinh công bằng xã hội, hy sinh con người Còn nếu đề cao công bằng xã hội thì kinh tế không thể tăng trưởng nhanh được5 Ở một mức độ chừng mực hơn so với các lý thuyết trên, Kuznets lại đề ra lý thuyết "chữ U ngược" Theo đó, giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế, sự mất công bằng xã hội tăng lên nhưng đến khi tăng trưởng kinh tế đã đạt mức cao thì nó sẽ tạo điều kiện cho các vấn đề xã hội tự triệt tiêu dần đi, công bằng xã hội sẽ dần được thiết lập Rõ ràng, ở đây, các nhà lý luận sáng tạo ra các lý thuyết kinh tế này đã tách biệt kinh tế ra khỏi xã hội, khỏi yếu tố con người Họ không nhận ra rằng, tất cả các quá trình xã hội, xét
5 Đào Thế Tuấn Các lý thuyết phát triển Tạp chí Xã hội học, số 2/1992
Trang 34- Tăng trưởng kinh tế cao nhưng phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc Một bộ phận lớn dân cư thế giới bị bần cùng hóa, bị đẩy ra khỏi xu thế phát triển chung, và rốt cuộc, họ lại trở thành lực cản cho sự phát triển bền vững với các tệ nạn như nghèo đói, bệnh tật, thất học, thất nghiệp, tội phạm… gây bất ổn xã hội gia tăng
- Tăng trưởng kinh tế nhưng việc làm ngày càng giảm đi Một tỷ lệ lớn người lao động, đa số là thanh niên, do không có cơ hội tiếp cận các yếu tố kỹ thuật, công nghệ mới nên không thể tìm được việc làm, lâm vào tình trạng thất nghiệp, bị bần cùng hóa, tệ nạn xã hội phát sinh
- Tăng trưởng kinh tế cao không đi kèm với sự gia tăng hạnh phúc của con người Văn hóa, đạo đức, lối sống bị suy thoái, con người lâm vào tình trạng trống rỗng về tâm hồn, sống không lý tưởng, bi quan, yếm thế, cô đơn, sống gấp…
- Tăng trưởng kinh tế nhưng môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị cạn kiệt Cân bằng sinh thái suy giảm… khiến con người ngày càng khó thích nghi hơn với môi trường xung quanh Bệnh tật ngày càng gia tăng, chất lượng đời sống có nguy cơ bị giảm sút…
Rõ ràng, những lý thuyết, những mô hình phát triển trên chứa nhiều sự sai lệch, mà sai lệch căn bản nhất là đã chia cắt sự phát triển xã hội, vốn mang tính toàn diện, phức hợp, đa chiều, các bộ phận của nó có quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau, thành những mặt tách rời nhau một cách siêu hình Không những vậy, các lý thuyết đó còn có xu hướng tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế
Trang 35thành yếu tố duy nhất, đồng nhất sự tăng trưởng kinh tế với sự phát triển xã hội nói chung, xem kinh tế là liều thuốc vạn năng để thúc đẩy tiến bộ xã hội Biểu hiện rõ nhất là Liên hiệp quốc từng coi mức thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita) là thước đo duy nhất trình độ phát triển của các quốc gia, vùng lãnh thổ, cộng đồng người trên thế giới Từ đó, nhiều nước đã tìm mọi cách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bất chấp cái giá về mặt xã hội mà
họ phải trả là rất đắt Đến lượt nó, những vấn đề xã hội như đã kể trên lại trở thành lực cản, thành nguy cơ tiềm ẩn đe dọa sự tồn tại và phát triển bền vững của kinh tế
Dĩ nhiên, không ai trên thế giới có thể phủ nhận vai trò nền tảng của yếu tố kinh tế Xét đến cùng, mọi quá trình phát triển đều xuất phát từ các nguyên nhân kinh tế Nhưng vấn đề đặt ra là mọi thành tựu kinh tế đều do con người sáng tạo ra và đều vì mục đích thúc đẩy sự tiến bộ, nhân văn hóa đời sống của con người Trong thực tế, các chương trình kinh tế, vì nhu cầu nội tại của mình cũng đương nhiên tham gia giải quyết các vấn đề xã hội rất cơ bản như: giải quyết việc làm; nâng cao thu nhập và mức sống cho người dân - chống đói nghèo, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho người lao động; góp phần phòng chống tệ nạn xã hội… Chẳng hạn, trong thời gian vừa qua, cùng với việc xây dựng, phát triển, đưa vào hoạt động ngày càng nhiều hơn các dự
án kinh tế trong các KCN, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đã gia tăng với tốc độ nhanh hơn Thu nhập bình quân đầu người, nhờ đó, cũng không ngừng được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo đói trong vùng đã giảm với tốc độ khá nhanh, thu nhập và chất lượng đời sống của mỗi người dân đang được cải thiện đáng kể Nhiều địa phương trong vùng, do kinh tế phát triển đã chi tiêu nhiều hơn cho các nhu cầu phát triển xã hội và do đó đã góp phần giải quyết tốt hơn một số vấn đề xã hội nảy sinh Đây là minh chứng rõ nét nhất cho vai trò của nhân tố kinh tế trong giải quyết các vấn đề xã hội
Tuy nhiên, do tác động của quy luật phát triển không đều, do tác động của các quy luật thị trường (như quy luật giá trị, quy luật cung - cầu; quy luật
Trang 36cạnh tranh…) sự phát triển của kinh tế tự nó không bao giờ hướng tới giải quyết được những vấn đề xã hội một cách tự động, tự giác Vì các vấn đề xã hội vốn rất đa diện, phức tạp với nhiều nội dung, đối tượng, cấp độ khác nhau nên để giải quyết chúng không chỉ cần “tiền” mà còn cần đến sự nhận thức và
nỗ lực của những nhân tố chủ quan Hơn nữa, trong thực tế, đôi khi chính các chương trình kinh tế (thường chạy theo lợi nhuận tối đa) lại là tác nhân làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề xã hội bức xúc như làm gia tăng bất bình đẳng
về thu nhập và mức sống; bất bình đẳng về cơ hội phát triển giữa các nhóm người; tiềm tàng nguy cơ làm gia tăng các tệ nạn xã hội, làm suy thoái môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên; thậm chí có thể là căn nguyên làm suy thoái môi trường văn hóa - đạo đức - lối sống,… Chẳng hạn, sự phát triển công nghiệp một cách thiếu cân nhắc có thể đưa lại nguồn thu rất lớn, thúc đẩy kinh
tế tăng trưởng nhanh, cải thiện thu nhập và mức sống của một bộ phận người dân Nhưng, mặt khác, có thể dẫn đến môi trường ô nhiễm nặng nề, sinh thái mất cân bằng nghiêm trọng và từ đó có thể làm nảy sinh những vấn đề xã hội gay cấn khác như phân hóa giàu nghèo thái quá, lối sống tiêu dùng trong môi trường đầy rẫy tệ nạn xã hội (như mại dâm, ma túy, tội phạm,…)
2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển lực lượng sản xuất,
chuyển nền sản xuất quốc gia từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn là con đường phát triển có tính quy luật chung của nhiều nước trên thế giới Chúng ta thực hiện đường lối đổi mới, CNH, HĐH trong bối cảnh thế giới đang đi vào giai đoạn hậu công nghiệp và toàn cầu hóa Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH phù hợp với xu thế thời đại, Đảng ta đã lựa chọn con đường CNH, HĐH rút ngắn, phải đi tắt đón đầu bằng nhiều phương thức khác nhau, trong đó phát triển KCN, khu chế xuất,… là một phương thức hết sức quan trọng Từ đó, trong giai đoạn đổi mới, CNH, HĐH đất nước, các KCN đã, đang và sẽ được xây dựng trên khắp các địa phương, vùng, miền
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tính đến cuối tháng 7/2008, cả nước có 186 KCN đã được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 45.041
ha, trong đó diện đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 29.469 ha, chiếm 66.6%
Trang 37Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của các KCN trên cả nước đạt gần 50%, riêng các KCN đã vận hành đạt tỷ lệ lấp đầy gần 74% ở một số địa phương có thế mạnh về thu hút vốn đầu tư như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, số KCN đạt tỷ lệ lấp đầy 100% tương đối cao.
Trước hết, với các mục tiêu kinh tế tự thân, sự ra đời, vận hành của các KCN đã đóng góp đáng kể vào việc giải quyết các vấn đề xã hội to lớn của cả nước Cụ thể, là nơi tiếp nhận vốn đầu tư, mở rộng, phát triển sản xuất nên KCN đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập cải thiện mức sống của người dân Bằng cách đó:
Thứ nhất, các KCN đã và đang góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo
Bằng việc đảm bảo việc làm cho hơn một triệu lao động trực tiếp, tốc
độ gia tăng khoảng 10 - 15% mỗi năm cùng việc làm cho khoảng hơn 1,5 triệu lao động gián tiếp (lao động hoạt động trong khâu xây dựng cơ bản, cung cấp bán thành phẩm, dịch vụ cho KCN) đã có tác động tích cực trực tiếp đến việc nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng dân cư đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên Theo con số của các chuyên gia thì hiện có khoảng 40%
số lao động làm việc trong các KCN là những người nghèo đến từ nhiều địa phương Tỷ lệ này cho biết, các KCN hoạt động đã giúp trên dưới 40 vạn người thoát nghèo trực tiếp, nếu tính thêm sự trợ giúp cho người thân có thêm nguồn lực để xóa đói, giảm nghèo thì con số thoát nghèo thực tế có thể đạt
Trang 38xấp xỉ một triệu người Như vậy, các KCN đã đóng góp đáng kể vào thành công của công cuộc xóa đói, giảm nghèo của nước ta thời gian qua vốn đã được cộng đồng quốc tế cũng như trong nước đánh giá cao
Thứ hai, phát triển các KCN góp phần nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực Với việc mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh mới tiềm
năng giải quyết việc làm trong môi trường công nghiệp cho một số lượng lớn người lao động, các KCN mặc nhiên có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta Đặc biệt, KCN bao giờ cũng là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế nên nó tạo nên sức ép và môi trường đào tạo nguồn nhân lực với trình độ ngày càng cao hơn Kết quả điều tra của Viện khoa học lao động và xã hội cho thấy, cơ cấu tuyển dụng lao động vào các KCN nước ta thời gian qua là: trong 100 lao động thì có 57 lao động phổ thông, 29 công nhân kỹ thuật, 14 trung cấp, cao đẳng, đại học Sau khi tuyển dụng, số lao động phổ thông được đào tạo, kèm cặp trực tiếp tại doanh nghiệp theo yêu cầu của dây chuyền công nghệ để nhanh chóng tham gia vào sản xuất Số còn lại (hơn 40%) được đào tạo bổ sung kỹ năng mới cho phù hợp với trình độ công nghệ áp dụng trong sản xuất
Ngoài ra, các KCN, nhất là KCN kỹ thuật cao thường tạo sức ép đối với người lao động trong việc nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp
vụ để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp hoạt động trong KCN Đồng thời, tay nghề, trình độ kỹ thuật và chuyên môn của người lao động làm việc trong các KCN thường xuyên được nâng lên trong quá trình phát triển của KCN Theo thống kê, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở miền Đông Nam Bộ (nơi tập trung nhiều KCN nhất) đã đạt trên 30% trong vòng hơn một thập kỷ Các KCN khác ở các vùng kinh tế thường là nơi tập trung các lao động trình độ cao, được đào tạo và góp phần tăng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cho địa phương nơi có KCN Một phần rất lớn nhờ vào phát triển các KCN mà cho đến nay, tỷ lệ người lao động được đào tạo của nước ta đã không ngừng được cải thiện, và người lao động ở nước ta đang
Trang 39ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của môi trường lao động công nghiệp
Ý thức tổ chức, kỷ luật, tinh thần, thái độ lao động của người lao động cũng dần chuyển biến theo hướng phù hợp với yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một xã hội có kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội công dân, thực thi dân chủ Nói tóm lại, các KCN góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các địa phương từ gia tăng tỷ lệ đào tạo đến nâng cao ý thức lao động tiến bộ
Mặt khác, thực tế cho thấy, ở các vùng có KCN, kinh tế thường phát triển hơn, thu nhập của người dân tăng lên nhanh hơn nên họ có điều kiện hơn
để tăng mức đầu tư giáo dục - đào tạo, y tế để phát triển nguồn lực con người Nếu trước đây, họ thường chi xấp xỉ 80% thu nhập của mình cho nhu cầu ăn uống thì đến nay, con số đó chỉ còn ở mức trên 30%, số còn lại họ chủ yếu đầu tư cho nhà ở, chăm sóc sức khỏe và nhất là cho việc học hành của con cái
và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa của vùng Ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, dải công nghiệp dọc quốc lộ 5, Sài Đồng, Phố Nối, Nam Sách, Hải Phòng - Nomura, Đình Vũ, dọc quốc lộ 18 Bắc Thăng Long, Tiên Sơn, Quế Võ đang góp phần hình thành các đô thị mới Khu đô thị Nam Thanh - Bắc Nghệ đang dần hình thành bên cạnh các KCN như KCN Nghi Sơn, Hoàng Mai và Nam Cấm Khu kinh tế Dung Quất với Nhà máy lọc dầu số 1, các cơ sở hóa chất, luyện kim đang gắn với sự ra đời của những khu dân cư đô thị và thành phố Vạn Tường Tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1992 đến nay cùng với khu chế xuất Tân Thuận, 5 cụm đô thị dọc tuyến đường Bắc Nhà Bè - Nam Bình
Trang 40Chánh đã xuất hiện đô thị mới Nam Sài Gòn Ngoài ra còn nhiều khu đô thị mới gần các KCN đã và đang được hình thành tạo nên một bức tranh sống động về việc các KCN là hạt nhân để hình thành các khu đô thị mới
Đó là những tác động đa diện mang tính tích cực của các KCN đối với đời sống xã hội Thực tế cho thấy, bên cạnh các tác động tích cực như đã nêu, quá trình xây dựng, phát triển các KCN ở nước ta nói riêng trong điều kiện cơ chế thị trường cũng đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác nhau, trong
đó có không ít những vấn đề nổi cộm, bức xúc
Nếu trong quy hoạch phát triển các KCN không tính đến vấn đề lao
động và việc làm, cơ cấu lao động, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động tại chỗ thì sớm hay muộn các KCN sẽ đối đầu với nhiều vấn đề liên quan đến lao động - việc làm Chẳng hạn, một số KCN ở nước ta được xây dựng trong các vùng nông thôn xa các trung tâm đô thị nhưng lại không tính đến việc đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực phù hợp nên các KCN này đã rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn lao động, nhất là lao động trình độ cao
Ở một số KCN khác, trong khi xây dựng, phát triển các KCN, các nhà hoạch định, quản lý đã không tính toán một cách đầy đủ khả năng đáp ứng nhu cầu việc làm của cộng đồng dân cư trên địa bàn, cũng như cách thức phát triển nguồn nhân lực tại chỗ đáp ứng nhu cầu lao động của các KCN Điều này dẫn đến tình trạng KCN được xây dựng nhưng người dân địa phương mất việc làm (do mất đất sản xuất) Mặc dù được ưu tiên nhưng do không được chuẩn bị nên họ không có cơ hội được tuyển dụng vào làm việc trong KCN Đến lượt mình, sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm trong các cộng đồng dân cư địa phương là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật, mất an ninh trật tự, nảy sinh những tệ nạn xã hội trong vùng có KCN
Quá trình xây dựng, phát triển các KCN cũng làm nảy sinh nhiều vấn
đề bức xúc liên quan đến việc di dời, tái định cư người dân để lấy đất xây dựng các KCN Những vấn đề như áp giá đền bù, phương án cấp nhà, đất ở, đất sản xuất, cách thức tạo việc làm, tăng thu nhập, tổ chức đời sống sau tái