1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015

114 498 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường Việt Nam, giai đoạn 2011-2015
Tác giả Nguyễn Lộc An
Trường học Cục Thị Trường Trong Nước - Bộ Công Thương
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về tổng thể cung cầu đường là bảo đảm, nhu cầu tiêu thụ không tăng đột biến, nhưng sự bất ổn của thị trường đường với biểu hiện giá đường tăng cao đã gây bức xúc trong dư luận xã hội, ản

Trang 1

VỤ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC - BỘ CÔNG THƯƠNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG

ĐƯỜNG VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 2011-2015

CNĐT : NGUYỄN LỘC AN

9027

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

Chương 1:TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG THẾ GIỚI 6

1.1 Sản xuất đường thế giới 7

1.1.1 Sản xuất mía 7

1.1.2 Sản lượng đường thế giới 8

1.2 Tiêu thụ đường thế giới 12

1.3 Diễn biến giá đường thế giới 15

1.4 Một số chính sách tác động tới thị trường đường thế giới 21

1.4.1 Những quy định chung 21

1.4.2 Một số chính sách và thông lệ cụ thể của các nước 25

1.5 Kinh nghiệm của một số nước trong việc bình ổn thị trường đường và bài học cho Việt Nam 27

1.5.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 27

1.5.2 Kinh nghiệm của Philipin 30

1.5.3 Bài học cho Việt Nam 32

Chương 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM 35

2.1 Một số vấn đề chung 35

2.1.1 Đặc điểm của thị trường đường .35

2.1.2 Phân loại thị trường tiêu thụ đường 38

2.2 Thực trạng thị trường đường Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 41

2.2.1 Tình hình cung ứng mặt hàng đường 41

2.1.2.Cung từ nhập khẩu 46

2.2.2 Nhu cầu tiêu thụ mặt hàng đường 48

2.2.4 Diễn biến giá và các yếu tố ảnh hưởng đến giá đường 52

2.3 Các chính sách của nhà nước nhằm bình ôn thị trường đường Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 57

2.3.1 Chính sách đảm bảo năng lực sản xuất để nuôi dưỡng nguồn cung 57

2.3.2 Chính sách đảm bảo nguồn cung thông qua nhập khẩu 59

2.3.3 Chính sách thuế 60

2.3.4 Chính sách tài chính, tiền tệ 61

2.3.5 Chính sách bình ổn thị trường đường thông qua chương trình bình ổn giá 63

2.3.6 Thực trạng tổ chức thực hiện 63

2.4 Đánh giá về những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối với thị trường đường ở Việt Nam 68

2.4.1 Những thành tựu đạt được 68

2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 71

2.4.3 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 74

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG GIAI ĐOẠN 2011-2015 79

3.2 Quan điểm, nguyên tắc và định hướng các giải pháp bình ổn thị trường đường ở Việt Nam 89

3.2.1 Quan điểm bình ổn thị trường đường 90

Trang 3

3.2.2 Các nguyên tắc bình ổn thị trường đường 92

3.2.3 Định hướng bình ổn thị trường đường 95

3.3 Một số giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường trong nước giai đoạn 2011-2015 97

3.3.1 Giải pháp trong lĩnh vực sản xuất 97

3.3.2 Giải pháp trong lĩnh vực tiêu thụ 101

3.3.3 Giải pháp về quản lý và chính sách điều tiết của Nhà nước 102

3.3.4 Các giải pháp khác 106

3.3.5 Một số kiến nghị 107

KẾT LUẬN 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài:

Việt Nam là nước nông nghiệp với điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi và thời tiết thích hợp cho việc phát triển mía nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến đường Trong thời gian qua, với nhiều chính sách hỗ trợ phát triển ngành mía đường của Đảng và Nhà nước, từ con số 9 nhà máy đường năm 1995 đến nay

cả nước đã có khoảng 40 nhà máy đường Tuy nhiên, đa phần là các nhà máy có công suất nhỏ và hiện chưa có nhà máy đường nào có sản lượng đường vượt quá 80.000 tấn đường/vụ Trong 5 năm trở lại đây, sản lượng đường sản xuất trong nước dao động trong khoảng từ 0,9 triệu tấn đến trên 1,2 triệu tấn Với nhu cầu tiêu thụ dao động từ 1,2 – 1,3 triệu tấn, hàng năm Việt Nam vẫn nhập khẩu một lượng đường nhất định để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước

Sau một thời gian tương đối ổn định, từ giữa năm 2009 trở lại thị trường đường trong nước đã có lúc xảy ra tình trạnh sốt hàng, sốt giá tại một số địa phương Về tổng thể cung cầu đường là bảo đảm, nhu cầu tiêu thụ không tăng đột biến, nhưng sự bất ổn của thị trường đường với biểu hiện giá đường tăng cao đã gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng tới quyền lợi của người tiêu dùng và gây khó khăn cho các doanh nghiệp dùng đường làm nguyên liệu sản xuất

Trên thực tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

Bộ Tài chính cũng như Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã có nhiều biện pháp đảm bảo cung cầu, kiểm soát giá cả nhằm bình ổn thị trường đường như xây dựng nhiều chính sách đảm bảo nguồn cung từ sản xuất trong nước, đẩy nhanh hoặc giãn tiến độ nhập khẩu trong trường hợp thiếu hoặc thừa đường, kiểm tra sát tình hình tăng hoặc giảm giá bất thường, đưa mặt hàng đường vào danh sách các mặt hàng thuộc chương trình bình ổn giá tại một số địa phương Bên cạnh đó, đường cũng là mặt hàng thuộc danh mục hành hóa và dịch

vụ bình ổn giá theo Thông tư số 104/2008/TT-BTC ngày 13/11/2008 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá

và Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi h ành một số điều của Pháp lệnh Giá Tuy nhiên, với sự phụ thuộc vào nguyên liệu sản xuất chính từ cây mía - sản xuất chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết, dịch bệnh và mang tính mùa vụ rõ rệt, giá đường thường có khá nhiều bất ổn, đặc biệt trong các thời điểm giáp vụ hoặc đầu vụ mới khi nhu cầu tiêu dùng đường tăng cao Tình trạng này thường xuyên lặp đi lặp lại mà chưa có

Trang 5

giải pháp hữu hiệu để kiềm chế sự bất ổn của giá đường trong các giai đoạn nhạy cảm

Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về thị trường đường nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách toàn diện về tổng thể cung cầu mặt hàng đường, diễn biến giá cả, các nhân tố tác động tới cung cầu cũng như đề xuất những giải pháp nhằm điều tiết, bình ổn thị trường Vì vậy, hy vọng rằng việc thực hiện đề tài nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015” sẽ góp một phần nhỏ trong việc giải quyết những bất ổn của thị trường đường ở Việt Nam, đảm bảo sự ổn định và phát triển thị trường một cách có trật tự, đảm bảo sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần phát triển ổn định kinh tế trong nước

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá tổng quan thị trường đường thế giới, kinh nghiệm một số nước trong việc bình ổn thị trường đường, để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;

- Phân tích, đánh giá thực trạng về sản xuất, xuất nhập khẩu, thị trường tiêu thụ, hệ thống phân phối; đồng thời đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến thị trường, hoạt động sản xuất, kinh doanh đường;

- Phân tích, đánh giá các chính sách của nhà nước có tác động tới thị trường đường cũng như thực trạng tổ chức thực hiện các chính sách này; xác định những thành tựu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết đối với thị trường đường tại Việt Nam

- Đánh giá xu hướng phát triển và đề xuất một số giải pháp đảm cân đối cung cầu, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước, giúp giá cả ở mức hợp lý và góp phần bình ổn thị trường đường trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu bình ổn thị trường đường đối với một

quốc gia

Phạm vi nghiên cứu: thị trường đường Việt nam giai đoạn 2006 – 2010 và

giai đoạn 2011 – 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập lấy số liệu;

- Khảo sát các lĩnh vực/ngành kinh tế;

- Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp;

- Hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia

Trang 6

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương bao gồm:

Chương 1: Tổng quan thị trường đường thế giới giai đoạn 2006 - 2010

Chương 2: Thực trạng về thị trường đường của Việt Nam giai đoạn 2006

-2010

Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường đường Việt Nam giai đoạn 2011

– 2015

Trang 7

Trong đời sống hàng ngày, hầu hết các tầng lớp dân cư đều sử dụng đường trong nấu nướng ăn uống hàng ngày, có thể dùng như một thứ gia vị để tẩm ướp thực phẩm, dùng kèm với các đồ uống để tạo vị như mong muốn như pha cùng với cà phê hoặc một số loại trà, nước giải khát… Là mặt hàng dễ hút ẩm và dễ bị chua, mốc hoặc bị lên men nên các sản phẩm đường luôn đòi hỏi phải được bao gói kỹ, tránh tiếp xúc trực tiếp với không khí bên ngoài Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm khi đưa vào phục vụ cho công nghiệp chế biến thực phẩm và đời sống hàng ngày của dân cư, từ khâu sản xuất, chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm là các yếu tố được đặt lên vị trí hàng đầu Bên cạnh đó, mặt hàng đường cũng đòi hỏi rất nghiêm ngặt về cách bao gói, chất liệu sử dụng làm bao bì của sản phẩm, phương thức vận chuyển, điều kiện nhiệt độ để bảo quản đường… trong quá trình đưa các sản phẩm đường từ nơi sản xuất qua khâu lưu thông đến nơi tiêu thụ

Đường được sản xuất từ nguyên liệu chính là mía đường và củ cải đường Tại Châu Á, đường được sản xuất chủ yếu từ cây mía, một mặt hàng nông sản nằm trong danh mục nhạy cảm trong chương trình cắt giảm thuế quan vì có thể gây tác động mạnh đến đời sống và sản xuất trong nước Chính vì vậy tại nhiều quốc gia Châu Á, đường được coi là mặt hàng quan trọng, có ảnh hưởng rộng khắp tới đời sống của người dân trong đó bao gồm những người tiêu dùng mặt hàng đường và cả những người nông dân trồng mía, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất đường Chương này sẽ đánh giá tổng quan về diện tích trồng mía, cung cầu đường, cụ thể là sản lượng, tiêu dùng, cũng như biến động giá cả mặt hàng đường trên thế giới trong giai đoạn 2006-2010

Trang 8

1.1 Sản xuất đường thế giới

1.1.1 Sản xuất mía

Diện tích trồng mía trên thế giới liên tục tăng từ năm 2006 đến năm 2008

do các nước mở rộng diện tích canh tác để đáp ứng nhu cầu sản xuất đường trong nước ngày càng cao và phục vụ ngành công nghiệp sản xuất ethanol (tại Brazil, niên vụ 2007/2008 tỉ lệ giữa sản xuất đường và sản xuất ethanol là 45:54) Năm

2008, diện tích trồng mía thế giới đạt khoảng 24 triệu ha, tăng 20% so với năm

2006 Tuy nhiên từ năm 2009 diện tích trồng có chiều hướng giảm nhẹ, cụ thể năm 2009 diện tích trồng mía giảm 0,3 triệu ha so với năm 2008 và ước năm

2010 diện tích trồng mía chỉ còn khoảng 21 triệu ha, giảm 2,7 triệu ha so với năm

2009 do tại một số nước sản xuất lớn (như Ấn Độ, Trung Quốc), nông dân chuyển sang trồng các loại cây có lợi nhuận cao hơn như ngô và đậu tương

Các quốc gia sản xuất mía đường lớn nhất thế giới phải kể đến Brazil, Ấn

Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Philipins… trong đó Brazil là nước có diện tích trồng mía lớn nhất, chiếm từ 30 – 35% tổng diện tích trồng mía trên thế giới, tiếp theo là Ấn Độ với diện tích chiếm khoảng 20% diện tích canh tác mía toàn cầu

Biểu đồ 1.1 Diện tích, năng suất mía thế giới

Trang 9

Biểu đồ 1.2 Sản lượng mía thế giới

0 200 400 600 800 1000

1.1.2 Sản lượng đường thế giới

Mía đường là một mặt hàng nông sản và giống như đặc điểm các mặt hàng nông sản khác, sản xuất chịu nhiều tác động của yếu tố mùa vụ, thời tiết, năng suất, dịch bệnh….Trong giai đoạn 2006-2010 sản xuất đường thế giới có biến động tăng, giảm nhưng chủ yếu là tăng so với niên vụ trước đó Sản lượng đường thế giới trong giai đoạn này bình quân tăng 2,81%/năm Các nhân tố chính tác động đến sản lượng mía đường thế giới bao gồm: điều kiện thời tiết, diện tích canh tác , việc áp dụng giống mới, năng suất cao, đáng chú ý là biến động giá đường tăng cao trong năm (2006/2007) khuyến khích người trồng mở rộng diện tích trồng mía (nhất là tại các nước có diện tích trồng mía lớn)…

Trang 10

Biểu đồ 1.3 Sản lượng đường thế giới

Sản lượng đường thế giới qua các niên vụ gần đây:

Niên vụ 2005/2006 sản lượng đường thế giới đạt khoảng 144,151 triệu tấn, tăng 2,3% so với niên vụ trước Đóng góp phần lớn vào sự tăng trưởng này là các nước đang phát triển với sản lượng đạt trên 100 triệu tấn, trong đó đứng đầu là Brazil có mức thu hoạch kỉ lục 28,7 triệu tấn Sản lượng của Ấn Độ cũng phục hồi trong niên vụ này và đạt 18,4 triệu tấn Thời tiết thuận lợi tại nhiều quốc gia

là nhân tố giúp cho sản lượng mía của niên vụ cao hơn và giúp tăng sản lượng đường

Niên vụ 2006/2007 sản lượng đường thế giới tăng mạnh (14%) so với niên

vụ 2005/2006 và đạt 164,526 triệu tấn Đây là mức tăng lớn nhất kể từ năm 2002 đến nay Trong đó sản lượng ở Brazil, Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Đông Á và Đông

Âu tăng khoảng 4,3% so với niên vụ 2005/2006 Sản xuất toàn cầu tăng lên phần lớn là do các nước đang phát triển với sản lượng vào khoảng 116,5 triệu tấn, tăng 9,7% so với niên vụ trước Giá đường tăng cao trong hai năm trước đã khuyến khích các nhà sản xuất đường tìm cách mở rộng diện tích trồng mía và nỗ lực hỗ trợ để khôi phục lại ngành công nghiệp đường, đặc biệt là những nhà sản xuất đường ở các nước đang phát triển Nhu cầu xuất khẩu ethanol phát triển cũng như các sáng kiến nhiên liệu sinh học tại nhiều nước cũng góp phần thúc đẩy xu

Trang 11

hướng mở rộng diện tích trồng mía toàn cầu và cải tạo, xây dựng các cơ sở chế biến và tinh chế

Niên vụ 2007/2008, sản lượng đường thế giới đạt 163,297 triệu tấn, giảm nhẹ (0,8%) so với niên vụ trước và tiếp tục giảm mạnh trong niên vụ 2008/2009 với sản lượng đạt 143,781 triệu tấn, giảm 11,9% so với niên vụ trước Nguyên nhân là do sự suy giảm diện tích trồng mía trên toàn cầu, nhất là ở Ấn Độ, Liên minh Châu Âu và Pakistan Người nông dân chuyển sang trồng ngô, đậu tương với kì vọng đạt lợi nhuận cao hơn khi giá của các loại nông sản này đã tăng cao trong những tháng đầu năm 2008 Tại Ấn Độ, diện tích trồng mía niên vụ 2008/2009 đã giảm 16% so với niên vụ trước, chỉ còn 4,4 triệu ha do tác động của những vấn đề phát sinh trong việc thanh toán tiền mía thu mua của nông dân làm lượng phân bón, thuốc trừ sâu cho cây trồng giảm, ảnh hưởng đến năng suất mía Bên cạnh đó, mưa lớn và lũ lụt trong tháng 7 và tháng 8 ở miền Bắc Ấn Độ cũng góp phần khiến cho sản lượng mía giảm Hệ quả là sản lượng mía của Ấn

Độ niên vụ 2008/2009 sụt giảm 43%, tương đương 12.500 triệu tấn so với niên

vụ trước

Từ niên vụ 2009/2010 đến nay, sản lượng đường thế giới bắt đầu tăng trở lại Niên vụ 2009/2010 sản lượng đường thế giới đạt 153,678, tăng 6,8% so với niên vụ trước Tổng diện tích trồng mía tại các nước sản xuất đường lớn như Brazil, Ấn Độ, không đổi so với niên vụ trước nhưng do điều kiện thuận lợi nên năng suất mía tăng lên Tại Brazil năng suất mía tăng từ 79,75 tấn/ha so với 78,95 tấn/ha của niên vụ trước, sản lượng đường cũng tăng 3,9 triệu tấn Tại Ấn Độ, sản lượng đường tăng 1,1 triệu tấn so với niên vụ trước

Sản lượng đường niên vụ 2010/2011 ước đạt 160,948 triệu tấn, tăng 4,7%

so với niên vụ trước Trong đó, sản lượng mía của Brazil tăng 4,8% đạt 38,15 triệu tấn Tại Ấn Độ, sản lượng đường tăng lên mức 26,65 triệu tấn, tăng 29% so với niên vụ 2009/2010 do điều kiện thời tiết thuận lợi tại các vùng trồng mía lớn giúp cho năng suất mía cao

Các nước sản xuất đường lớn trên thế giới bao gồm Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan…Sản lượng của các nước này thường chiếm khoảng trên 50% tổng sản lượng đường thế giới

Trang 12

Biểu đồ 1.4 Các quốc gia sản xuất đường lớn nhất thế giới

Đứng sau Brazil về sản lượng đường là các quốc gia Châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan Ấn Độ hiện dẫn đầu Châu Á và thứ hai thế giới về sản xuất đường Sản lượng đường của Ấn Độ từ niên vụ 2006/2007 đến 2008/2009 giảm dần do diện tích trồng mía giảm, nhiều nông dân chuyển sang trồng các loại cây có lợi nhuận cao hơn như ngô và đậu tương Tuy nhiên từ niên vụ 2009/2010 đến nay, sản lượng đường của Ấn Độ bắt đầu tăng dần trở lại và đạt 20,63 triệu tấn đường, chiếm 13,4% tổng sản lượng đường thế giới Tiếp theo là Trung Quốc với sản lượng 11,42 triệu tấn, chiếm khoảng 7,4% lượng đường thế giới

Thái Lan là nước sản xuất đường lớn thứ tư thế giới với sản lượng tăng dần qua các năm Niên vụ 2009/2010, sản xuất đường của Thái Lan đã đạt 6,93 triệu tấn, chiếm khoảng 4,5% lượng đường thế giới

Trang 13

1.2 Tiêu thụ đường thế giới

Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến sử dụng đường

và chất lượng đời sống ngày một nâng cao thì lượng đường tiêu thụ trong giai đoạn 2006-2010 ngày càng tăng, mức tăng bình quân là 1,99 %/năm

Tồn kho đường thế giới niên vụ 2006/2007 và 2007/2008 ở mức cao vào khoảng 39 triệu tấn Tuy nhiên từ niên vụ 2008/2009 đến niên vụ 2010/2011 tồn kho đường giảm và duy trì quanh mức 28 triệu tấn

Biểu đồ 1.5 Tiêu dùng và tồn kho đường thế giới

Tiêu thụ đường thế giới qua các niên vụ gần đây:

Niên vụ 2005/2006 tiêu thụ đường thế giới đạt khoảng 144,2 triệu tấn, tăng 2,2% so với niên vụ trước, do tăng trưởng tiêu thụ tại các nước đang phát triển ở khu vực Viễn Đông và Mỹ Latinh Đường tiêu thụ ở các nước đang phát triển ước đạt 100 triệu tấn Tại các nước phát triển như EU, Hoa Kì, nhu cầu tương đối ổn định Niên vụ 2006/2007 tiêu thụ đường thế giới tăng khoảng 6% so với niên vụ trước và đạt 152,964 triệu tấn Đường tiêu thụ ở các nước đang phát triển được

dự báo ở mức 104,3 triệu tấn, với mức tăng trưởng 1,8% Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với trung bình các năm qua, phản ánh những tác động tiêu cực của giá đường toàn cầu cao hơn đối với các nước nhập khẩu ròng, đặc biệt là ở châu Phi

và châu Á, cũng như việc gia tăng sử dụng các chất làm ngọt thay thế dựa vào tinh bột hoặc chất ngọt có cường độ cao tại một số quốc gia tiêu thụ đường lớn như Trung Quốc và Mêxicô Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế tiếp tục làm cho tiêu

Trang 14

thụ đường tăng lên ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Ấn Độ và các nước Đông Á Đối với các nước phát triển, bình quân đầu người tiêu thụ tiếp tục giảm, tương tự như trong thập kỷ qua, phản ánh mối quan tâm về sức khỏe, đường và thị trường chất ngọt Tiêu thụ ở các nước đang phát triển tăng trưởng ít hơn một phần trăm

Niên vụ 2007/2008 lượng tiêu thụ giảm nhẹ (0,5%) so với niên vụ trước Suy thoái kinh tế bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính ảnh hưởng tới các ngành công nghiệp sử dụng đường, kéo theo nhu cầu đường dùng trong công nghiệp chế biến giảm Trong khi đó tiêu thụ ở các hộ gia đình chỉ bị ảnh hưởng vừa phải

Tuy nhiên từ niên vụ 2008/2009 đến nay lượng đường tiêu thụ toàn thế giới tiếp tục tăng trở lại Niên vụ 2008/2009 tiêu thụ đường đạt 153,723 triệu tấn, tăng 0,97% so với niên vụ trước do thu nhập bình quân đầu người tại các nước đang phát triển tăng, dẫn đầu là các nước ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh

và vùng Caribe Trung bình lượng tiêu thụ đường tính theo đầu người tăng từ 23,1/kg trong niên vụ 2007/2008 lên 23,4 kg/người trong niên vụ 2008/2009

Tiêu thụ đường niên vụ 2009/2010 đạt 153,723 triệu tấn, tăng 1,25% so với niên vụ trước Giá đường tăng cao cũng làm hạn chế tăng trưởng tiêu dùng đường Một số nước đang phát triển đã thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế tác động tăng cao của giá đường thế giới như miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu, kiểm soát giá bán lẻ

Sự phục hồi kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ kích thích tăng trưởng tiêu thụ, chủ yếu ở các nước mới nổi và đang phát triển trong niên vụ 2010/2011 Lượng tiêu thụ dự kiến đạt 159,322 triệu tấn, tăng 2,36% so với niên vụ 2009/2010 Nhu cầu

về đường vẫn được duy trì bởi các ngành công nghiệp sản xuất và chế biến thực phẩm, bao gồm ngành công nghiệp nước giải khát Các ngành này chiếm phần lớn trong tổng lượng đường tiêu thụ và là ngành tương đối nhạy cảm với những thay đổi trong thu nhập Lượng đường tiêu thụ của các nước đang phát triển dự kiến chiếm 71,4% lượng tiêu thụ toàn cầu Triển vọng tích cực của nền kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ hỗ trợ tăng trưởng tiêu thụ đường nhưng giá đường trong nước cao nhất là ở các nước tiêu thụ đường nhiều như Trung Quốc và Indonesia

sẽ góp phần hạn chế gia tăng tiêu thụ đường

Trang 15

Mức tiêu thụ bình quân đầu người trên thế giới hiện nay đạt khoảng 22-24 kg/người/năm Nam Mỹ là khu vực dẫn đầu thế giới với mức tiêu thụ khoảng 42,02 kg/người/năm Tiếp theo là Châu Úc với 40,05 kg/người/năm; Bắc và Trung Mỹ là 30,09 kg/người/năm Trong khi đó lượng đường tiêu thụ ở các nước Châu Á chỉ là 14 kg/người/năm

Các quốc gia tiêu thụ đường lớn nhất thế giới bao gồm các nước như Ấn

Độ, Trung Quốc, Brazil, Mỹ…Các nước này đồng thời cũng là một trong những nước sản xuất đường lớn nhất thế giới Lượng tiêu thụ đường của các nước này thường chiếm khoảng 38% tổng lượng tiêu thụ của toàn thế giới và ít có biến động bất thường qua các niên vụ

Biểu đồ 1.6 Các quốc gia tiêu thụ đường lớn nhất thế giới

là nước sản xuất đường hàng đầu thế giới nhưng tiêu thụ của nước này chỉ đứng thứ ba, sau Ấn Độ và Trung Quốc Mức tiêu thụ bình quân trong các niên vụ gần đây đạt khoảng trên 11 triệu tấn, tương đương 7% tổng tiêu thụ toàn thế giới Mỹ

có mức tiêu dùng thấp hơn, bình quân khoảng 9,6 triệu tấn

Trang 16

1.3 Diễn biến giá đường thế giới

Giá đường thế giới trong những năm gần đây có nhiều biến động, tuy nhiên chiều hướng chung là theo xu thế gia tăng Trong suốt giai đoạn 2000-2004, giá đường thô giao dịch trên thị trường New York đều giữ ở mức dưới 200 USD/tấn Tuy nhiên từ năm 2005 giá đã tăng trở lại và đạt mức cao nhất vào năm 2006 khi chạm ngưỡng 341,7 USD/tấn, tăng 36% so với năm 2005 và tăng 82% so với năm 2000 Năm 2007, giá đường thô giảm nhưng vẫn ở mức cao 255,75 USD/tấn Từ năm 2008 đến nay, giá đường liên tục tăng cao và đạt mức 595,8 USD/tấn trong năm 2010, tăng 44% so với năm 2009 Đây là mức giá cao nhất từ trước đến nay

Bảng 1.1 Bảng giá đường kỳ hạn tại thị trường Luân Đôn và New York

(giá bình quân năm)

so với năm 2000 Năm 2007 giá đường giảm nhưng vẫn ở mức trên 300 USD/tấn

Trang 17

và tăng trở lại từ năm 2008 đến năm 2010 với mức tăng mạnh nhất là 38,6% trong năm 2009

Biểu đồ 1.7 Giá đường thế giới

0 100

Giá đường tinh luyện Luân Đôn và đường thô New York trong năm 2006

có sự biến động mạnh Sản lượng sản xuất toàn thế giới niên vụ 2005/2006 chỉ đạt 140,8 triệu tấn, giảm 1,1% so với niên vụ trước, trong khi nhu cầu tiêu thụ đạt

141 triệu tấn, tăng 1,7% so với niên vụ trước Nguồn cung thiếu hụt đã đẩy giá đường tăng cao trong Quý I Giá đường thô đạt mức cao nhất 417,3 USD/tấn trong tháng 2 và tiếp tục duy trì ở mức cao đến tháng 5.Hoạt động mua bù thiếu của các thương nhân kinh doanh và giới đầu cơ diễn ra mạnh mẽ cũng là nguyên nhân khiến giá đường thế giới tăng cao Sang Quý III giá đường tại cả hai thị trường có xu hướng giảm dần Sự giảm giá dầu mỏ kéo theo sự giảm sút nhu cầu đối với nguồn nhiên liệu thay thế là ethanol làm giá đường cũng đi xuống Thêm vào đó là tình trạng dư thừa dự trữ đường trên toàn thế giới do hậu quả của thời gian sốt giá đường trong thời gian quý I và đầu quý II Những dự báo về sự gia tăng sản lượng của niên vụ 2006/2007 bắt đầu đi vào thu hoạch cũng là một yếu

tố quan trọng làm sụt giảm giá đường thế giới Giá đường thô New York tháng 9

Trang 18

giảm còn 273,8 USD/tấn và giá đường tinh luyện Luân Đôn ở mức 381,8 USD/tấn

Các tháng cuối năm giá đường tiếp tục giảm Tháng 12, giá đường tinh luyện Luân Đôn ở mức 349,6 USD/tấn, giảm 27% so với mức giá cao nhất hồi tháng 5 và giá đường thô New York đạt 274,9 USD/tấn, giảm 30% so với mức tháng 5 Nguyên nhân của sự đi xuống trên cả 2 thị trường đường kỳ hạn vào cuối năm 2006, đặc biệt là sự tụt giảm mạnh trong quý cuối cùng, đó là sự chi phối của các quỹ hàng hoá khi đẩy mạnh bán ra trong bối cảnh nhiều tổ chức quốc tế điều chỉnh tăng mức dự đoán dư thừa cung đường trong niên vụ 2006/07 Nguồn cung đường tăng cao từ các nước sản xuất như Braxin, Ấn Độ và Thái Lan trong khi nhu cầu nhập khẩu giảm từ các nước như Trung Quốc, Nga, Pakistan, Indonesia là nhân tố gây sức ép mạnh lên thị trường trong những tháng cuối cùng của năm 2006

- Năm 2007

Sản lượng đường thế giới tăng mạnh, vượt nhu cầu tiêu thụ 11.500 tấn gây

áp lực giảm giá trên thị trường Giá đường thô New York liên tục giảm từ tháng 1 đến tháng 5 (giá đường thô tháng 5 đạt 237,6 USD/tấn, giảm 10% so với tháng 1) Giá đường tinh luyện Luân Đôn có nhiều biến động, giá giảm trong tháng 2, tăng trở lại trong tháng 3 và có xu hướng giảm xuống vào tháng 4 khi Chính phủ

Ấn Độ thông báo sẽ cung cấp các biện pháp khuyến khích xuất khẩu đường tinh luyện của các nhà máy đường quốc gia Giá đường tinh luyện Luân Đôn đã giảm xuống còn 313,2 USD/tấn trong tháng 4 so với 470,6 USD/tấn của cùng kì năm 2006

Giá đường thô New York tăng từ tháng 5 đến tháng 7 và đạt mức cao nhất

từ đầu năm đến nay 268,5 USD/tấn, tăng 13% so với tháng 5 Nguyên nhân là do Brazil đã được chuyển đổi mía để sản xuất ethanol nhiều hơn Tuy nhiên, sự phục hồi giá không giữ được lâu khi Tổ chức đường thế giới ISO dự báo thặng dự đường toàn cầu là 9,2 triệu tấn vào cuối tháng 9 Giá đường thô NewYork đã giảm trong tháng 8 và tháng 9, giá chỉ còn 255,9 USD/tấn Tại thị trường Luân Đôn, từ tháng 5 đến tháng 9 đường tinh luyện giảm giá liên tiếp, giá đường ở mức 276,4 USD/tấn trong tháng 9 so với mức 329,3 USD/tấn của tháng 5 Các tháng cuối năm giá đường tăng trở lại trên cả hai thị trường do nhu cầu về mía cho sản xuất ethanol tăng lên tại các nước trồng mía lớn Đồng Đô la Mỹ giảm giá cũng khiến cho giá của nhiều loại hàng hóa tăng lên, trong đó có mặt hàng

Trang 19

đường Giá đường thô New York ở mức 274,9 USD/tấn trong tháng 12, (tăng 7,4% so với tháng 9), giá đường tinh luyện ở mức 303,7 USD/tấn (tăng 9,8% so với tháng 9)

- Năm 2008

Năm 2008 là năm thứ hai liên tiếp sản lượng đường thế giới vượt xa nhu cầu (11 triệu tấn) Tuy vậy giá đường thế giới hai tháng đầu năm vẫn tăng do sự mất giá của đồng Đô la Mỹ và giá năng lượng thế giới ở mức cao Tháng 2 giá đường thô New York đạt 334,1 USD/tấn (tăng 21% so với tháng 12/2007), đường tinh luyện Luân Đôn ở mức 366,1 USD/tấn (tăng 20% so với tháng 12/2007) Thị trường trở lên dễ dàng hơn vào tháng 4 khi đường có xu hướng giảm giá như các hàng hóa khác trên thị trường Xu thế này kéo dài đến hết tháng 5 và được hỗ trợ bởi giá năng lượng đã ở mức thấp hơn, đồng Đô la Mỹ lên giá và triển vọng xấu

đi đối với cổ phiếu và trái phiếu Giá đường thô New York tháng 5 giảm còn 269,6 USD/tấn và giá đường tinh luyện Luân Đôn ở mức 328,9 USD/tấn

Từ tháng 6 đến tháng 8, giá đường lại có xu hướng tăng lên, chủ yếu là do

dự đoán thiếu hụt đáng kể tại các nước sản xuất đường lớn trên thế giới như Ấn

Độ và Brazil trong niên vụ này Tuy nhiên, kể từ tháng 9 giá đã được giảm, điều này cho thấy thu hoạch mía tại các nước đạt được kết quả tốt hơn so với dự kiến hồi tháng 6 Giá đường thô New York tháng 12 giảm xuống còn 271,3 USD/tấn, giảm khoảng 21% so với mức giá cao nhất hồi tháng 8, tương tự, giá đường tinh luyện Luân Đôn ở mức 314,5 USD/tấn, giảm 20% so với giá tháng 8

- Năm 2009

Giá đường thế giới tăng liên tục qua các tháng Giá đường trung bình năm

2009 đã tăng 35% so với năm 2008 Sau 2 năm dư thừa nguồn cung, sản lượng đường năm niên vụ 2008/2009 đã giảm mạnh (11,9%) do thời tiết xấu, trong khi

đó lượng đường tiêu thụ tăng lên (0,97%) làm cho giá đường thế giới tăng cao Tính đến tháng 6 giá đường thô New York đã tăng lên mức 373,4 USD/tấn, tăng 29% so với tháng 1 và tăng 27% so với cùng kì năm ngoái, giá đường tinh luyện Luân Đôn đạt mức 440,4 USD/tấn, tăng 27% so với tháng 1 và tăng 22% so với

cùng kì năm ngoài

Các tháng cuối năm, giá đường thế giới đã liên tục leo lên các đỉnh cao mới và đạt mức cao nhất 3 năm trở lại đây trong bối cảnh hoạt động mua đầu cơ nhộn nhịp với tâm lí lo ngại nguồn cung đường thế giới giảm trong khi nhu cầu

Trang 20

tiêu thụ tăng cao trong những tháng hè tại Châu Âu và Châu Á Giá đường thô New York tháng 12 tăng lên mức 557,3 USD/tấn và giá đường tinh luyện Luân Đôn cũng ở mức 654,9 USD/tấn, đều tăng khoảng 49% so với tháng 6/2009

- Năm 2010

Trong những tháng cuối năm 2009 và đầu năm 2010 giá đường thế giới tiếp tục tăng cao Giá đường thô NewYork vào thời điểm tháng 01/2010 là 638 USD/tấn, tăng 14,4% so với tháng 12/2009 và tăng 121% so với tháng 1/2009; giá đường tinh luyện Luân Đôn đạt mức 735 USD/tấn, tăng 12% so với tháng 12/2009 và tăng 112% so với tháng 1/2009

Trước những dấu hiệu mất cân bằng của thị trường đường thế giới, Liên minh châu Âu đã phải xuất thêm 500.000 tấn đường từ kho dự trữ, nhiều hơn 30% so với hạn ngạch hàng năm, thời gian từ tháng 01 đến tháng 7/2010 nhằm làm giảm sức ép của thị trường đường thế giới Mặc dù lượng đường bán ra của Liên minh châu Âu không thấm tháp so với lượng đường thiếu hụt nhưng động thái này đã có tác động tích cực đến giá đường thế giới Ngay trong tháng 02, giá đường thô NewYork đã giảm xuống còn 601USD/tấn, đồng thời giá đường tinh luyện Luân Đôn cũng giảm xuống mức 711 USD/tấn và đến tháng 3, giá đường thô NewYork chỉ ở mức 470 USD/tấn, trong khi đường tinh luyện Luân Đôn cũng giảm xuống còn 540USD/tấn, giảm 26% so với tháng 1/2010

Biểu đồ 1.8 Giá đường thế giới theo tháng

Trang 21

đường của cả hai nước đều tăng Do vậy giá đường thế giới tháng 4 giảm, đường thô NewYork giảm xuống còn 438 USD/tấn, trong khi đường tinh luyện Luân Đôn củng chỉ ở mức 477 USD/tấn Tiếp nối xu hướng giảm giá trong tháng 4, giá đường trong tháng 5 tiếp tục suy giảm, giá đường thô NewYork giảm xuống còn

431 USD/tấn, trong khi đường tinh luyện Luân Đôn cũng chỉ ở mức 471 USD/tấn

Từ tháng 6 đến tháng 12/2010, giá đường thế giới tăng dần Giá đường thô NewYork tháng 7 đạt mức 516 USD/tấn, tăng 19% so với tháng 5 và tăng 26% so với cùng kì năm ngoái, trong khi giá đường tinh luyện Luân Đôn cũng đạt mức

571 USD/tấn, tăng 21% so với tháng 5/2011 và so với cùng kì năm ngoái Bốn tháng cuối năm giá đường thô New York lại thấp hơn giá đường tinh luyện Luân Đôn Tháng 9, giá đường thô thế giới tăng 24% so với tháng trước và ở mức 687 USD/tấn trong khi giá đường tinh luyện Luân Đôn chỉ ở mức 594 USD/tấn, tăng 6,4% so với tháng 8/2010 Tháng 10 và tháng 11, giá đường tăng lên mức trên

700 USD/tấn Đến tháng 12, giá đường thô đã tăng lên mức cao nhất từ trước đến nay đạt 795 USD/tấn trong khi giá đường tinh luyện ở mức 766 USD/tấn, tăng 17% so với cùng kì năm ngoái

Như vậy từ năm 2006 đến năm 2010 giá đường thế giới diễn biến phức tạp

do nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Sản lượng mía đường tại các nước sản xuất đường lớn trên thế giới biến động tăng giảm do ảnh hưởng của thời tiết, đặc biệt tại các nước có diện tích trồng mía lớn, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng mía đường; ngoài ra còn do

sự cạnh tranh của các loại cây nông nghiệp khác cho lợi nhuận cao hơn (ngô, đậu tương) dẫn tới việc người dân chuyển đổi loại cây trồng, diện tích canh tác mía bị thu hẹp

- Nhu cầu tiêu thụ đường ngày một cao hơn đặc biệt tại các nước đang phát triển nơi thu nhập bình quân đầu người và dân số ngày càng tăng Nhu cầu phục

vụ cho các ngành công nghiệp thực phẩm chế biến đồ ngọt qua đó cũng tăng cao nhưng sự phát triển của những ngành này còn chịu tác động mạnh mẽ của tình hình kinh tế thế giới chung

- Sự biến động của lượng đường tồn kho trên thế giới và tại một số nước sản xuất chính

- Ảnh hưởng chính sách xuất nhập khẩu đường của một số nước

Trang 22

- Hoạt động của các nhà đầu cơ trên thị trường kỳ hạn, ảnh hưởng của yếu

tố tâm lý trước những thông tin dự báo về sự thiếu hụt sản lượng của các niên vụ tiếp theo

- Do chính sách về phát triển nhiên liệu sinh học kéo theo nhu cầu sử dụng mía cho ngành sản xuất ethanol tại một số nước, đặc biệt là Brazil, làm giảm lượng mía dành cho sản xuất đường

- Giá các loại năng lượng tăng cao làm tăng nhu cầu sử dụng ethanol, qua

đó tác động làm tăng giá đường

- Sự tăng hoặc giảm giá của đồng Đô la ảnh hưởng tới hoạt động đầu cơ trên thị trường hàng hóa và cũng tác động đến việc tăng, giảm giá đường trên thị trường thế giới…

1.4 Một số chính sách tác động tới thị trường đường thế giới

1.4.1 Những quy định chung

Với đặc điểm nguyên liệu đầu vào sản xuất chủ yếu từ mía hoặc củ cải đường, giống như các hàng hóa nông sản khác trên thế giới, mặt hàng đường chịu tác động của các quy định liên quan tới nông nghiệp Xét trên phạm vi toàn cầu, luật chơi của các tổ chức đa phương và song phương như Tổ chức thương mại thế giới (WTO), EU, ASEAN… đều có ảnh hưởng tới sản xuất, thương mại đường thế giới, cụ thể:

1.4.1.1 Quy định của WTO đối với thương mại đường toàn cầu

• Hiệp định về nông nghiệp (AoA)

Hiệp định về nông nghiệp(AoA) là một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán Uruguay, qua đó đề ra những nguyên tắc và quy định cơ bản trong kinh doanh nông sản trên thế giới và đường là một mặt hàng nông sản quan trọng được quy định trong đó Hiệp định về nông nghiệp bao gồm 2 lĩnh vực chính: Tiếp cận thị trường, Hỗ trợ quốc nội và Trợ cấp xuất khẩu

Về tiếp cận thị trường, Hiệp định quy định các thành viên WTO không được tự định giá cao hơn mức giá đã thoả thuận trong Điều khoản nhân nhượng Ngoài ra, các thành viên còn phải tạo ra sự tiếp cận tối thiểu đến thị trường của mình, thường là thông qua việc lập hạn mức giá ràng buộc

Trang 23

Về Hỗ trợ quốc nội, Điều khoản Nhân nhượng quy định mức trợ giá tối đa cho sản xuất trong nước mà mỗi nước thành viên được phép cấp EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản đều trợ giá cho các nhà sản xuất đường trong nước, hoặc can thiệp bằng giá cả hoặc thông qua cơ chế lãi suất vay

Cuối cùng, trợ giá xuất khẩu cũng bị hạn chế bởi Điều khoản nhân nhượng của các thành viên, Hoa Kỳ và Nhật Bản không trợ giá xuất khẩu cho các nhà sản xuất đường, trong khi đó EU trợ giá cho các nhà xuất khẩu của họ bằng cách hoàn trả phần chênh lệch giữa giá can thiệp cao (thị trường trong nước) và giá xuất khẩu thấp (thị trường thế giới)

Một điều khoản liên quan nữa của Hiệp định về Nông nghiệp là ở Điều 13, còn gọi là "Điều khoản hoà bình" Điều khoản này không cho phép các thành viên phản đối những trợ giá do các thành viên khác cung cấp trong khuôn khổ được AoA cho phép, ngay cả khi chúng trái với Hiệp định về Trợ giá và các Biện pháp đối phó (SCM)

• Hiệp định về Trợ giá và Biện pháp đối kháng

Hiệp định về Trợ giá và Biện pháp đối kháng (SCM) đề ra những quy định

về cung cấp các khoản trợ giá cho tất cả các loại sản phẩm và cho nông sản khi không áp dụng điều khoản hoà bình hoặc khi không còn điều khoản đó nữa Các điều khoản quan trọng nhất được nêu trong Phần II, về trợ giá xuất khẩu, và trong Phần III, về hỗ trợ trong nước

Trợ giá xuất khẩu thường bị cấm Đối với sản phẩm nông nghiệp, chỉ được phép trợ giá khi các thành viên không vượt quá các mức giới hạn trong Điều khoản nhân nhượng của mình

Hỗ trợ trong nước có thể thực hiện được nếu việc đó gây thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nước ở thị trường nhập khẩu, dẫn đến mất hoặc cản trở các lợi ích, hoặc làm thiệt hại lớn Dịch chuyển hoặc cản trở nhập khẩu, cắt giảm giá và giảm bớt thị phần là những ví dụ về thiệt hại nghiêm trọng mà trợ giá có thể gây ra Trong trường hợp trợ giá trong nước cho nông nghiệp, trước hết người

ta phải phân tích xem điều khoản hoà bình có cho phép trợ giá hay không (số tiền trợ giá dưới các mức năm 1992), trước khi đánh giá xem SCM có bị vi phạm hay không

Trang 24

• Vòng đàm phán phát triển của WTO tại Doha

Các cuộc đàm phán trong vòng đàm phán Doha đều nhằm giảm thiểu sự bóp méo trong thương mại nông nghiệp được thực hiện bởi thuế quan cao và các hàng rào khác, trợ cấp xuất khẩu, và một số hỗ trợ nội địa Tháng 12 năm 2008, các nước thành viên đã thảo luận và đưa ra bản dự thảo về nông nghiệp và tiếp cận thị trường phi nông nghiệp Các vấn đề chính về nông nghiệp được đề cập đến bao gồm hỗ trợ trong nước, thâm nhập thị trường và trợ giá xuất khẩu

Hỗ trợ trong nước bao gồm hỗ trợ về giá hay về thu nhập tùy theo mức sản xuất hay mức tiêu thụ, sẽ bị cắt giảm đáng kể nhưng không bị loại bỏ hoàn toàn Những quốc gia đang cung cấp các khoản hỗ trợ lớn sẽ phải cắt giảm nhiều nhất, nhiều nước đã và đang cải cách các chương trình hỗ trợ của họ Các nước đó và những nước còn lại sẽ vẫn được cho phép một mức hỗ trợ tượng trưng khá nhỏ, hoặc mức tối thiểu là 2,5% giá trị sản lượng với các nước phát triển và 6,7% với các nước đang phát triển Mức hỗ trợ cho các sản phẩm cụ thể cũng bị giới hạn để tránh việc tập trung vào một sản phẩm nhất định

Đối với những hỗ trợ trong nước làm biến dạng thương mại nói chung (hộp

hổ phách và mức tối thiểu) thì EU phải cắt giảm 80%; Mỹ/Nhật Bản cắt giảm 70%; các nước còn lại cắt giảm 55% Trong đó, cắt giảm ngay lần đầu của Mỹ,

EU, Nhật Bản là 33% và các nước còn lại là 25% Các nước phát triển khác có mức tổng hỗ trợ chiếm % giá trị sản lượng nhiều hơn sẽ cắt giảm lớn hơn Việc cắt giảm được thực hiện trong thời gian 5 năm (với nước phát triển) và 8 năm (với nước đang phát triển)

Tuy nhiên một loạt các hỗ trợ nông nghiệp một cách tổng thể có thể sẽ được cho phép mà không bị giới hạn dưới dạng các “Hộp xanh lá cây” (Green Box), được xem là không làm biến dạng thị trường, ví dụ như: dành cho phát triển cơ sở hạ tầng, các hoạt động nghiên cứu, khuyến nông, điều chỉnh cơ cấu Các điều kiện cũng sẽ được thắt chặt nhằm ngăn chặn việc các khoản hỗ trợ thu nhập trực tiếp, ví dụ từ thúc đẩy sản xuất

Đối với vấn đề thâm nhập thị trường, các loại thuế quan chủ yếu cắt giảm theo một công thức, theo đó buộc các mức thuế càng cao phải cắt giảm càng nhiều Hiện nay chủ yếu là cắt giảm theo các con số cụ thể thay vì là một khoảng Với các nước phát triển, các mức cắt giảm có thể tăng từ 50% thuế suất dưới 20%, 70% cho thuế suất trên 75%, tùy theo mức trung bình tối thiểu 54%, hạn

Trang 25

chế đối với các mức thuế suất trên 100% (với những nước đang phát triển, mức cắt giảm với mỗi bậc có thể là 2/3 của bậc tương ứng của các nước phát triển, tùy theo mức trung bình tối đa 36%)

Một vài sản phẩm có thể có mức cắt giảm thấp hơn nhờ những sự linh hoạt được tính đến từ nhiều quan ngại, bao gồm các sản phẩm nhạy cảm (áp dụng với tất cả nước), mức cắt giảm thuế thấp hơn được bù đắp bởi các hạn ngạnh thuế quan cho phép thâm nhập thị trường nhiều hơn với những mức thuế thấp hơn; các sản phẩm đặc biệt (dành cho các nước đang phát triển, các nền kinh tế dễ bị tổn thương)

Các nước phát triển sẽ loại bỏ hoặc giảm bớt các “biện pháp tự vệ đặc biệt”

cũ (đối với hàng hóa đã bị đánh thuế) Lựa chọn cho cho các nước này giữ lại một số biện pháp đã bị dỡ bỏ Chi tiết các đề xuất khác về “cơ chế tự vệ đặc biệt” mới cho các nước đang phát triển được bổ sung vào dự thảo

Các hình thức trợ cấp xuất khẩu sẽ bị loại bỏ từ năm 2013, bao gồm trợ cấp

ẩn dưới dạng xuất khẩu tín dụng, phân biệt đối xử với doanh nghiệp nhà nước và trợ cấp lương thực không khẩn cấp

1.4.1.2 Các hiệp định thương mại khu vực

• Hiệp định thương mại khu vực (RTA)

Đối với mục đích tự do hóa thương mại, các hiệp định thương mại khu vực, như được định nghĩa theo Điều 24 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994), được coi là lựa chọn thứ hai sau các hiệp định đa phương

Theo Điều 24 GATT 1994, có hai dạng RTA mà các nước thành viên WTO có thể thiết lập: các liên minh thuế quan và các khu vực tự do thương mại

Về cơ bản, cả hai dạng này đều yêu cầu loại bỏ các rào cản thương mại đối với tất

cả các giao dịch thương mại giữa các nước thành viên Trong trường hợp liên minh thuế quan, các nước thành viên cũng phải áp dụng cách xử lý tương tự đối với hoạt động thương mại với các nước khác Các RTA được hệ thống WTO/GATT nhận thức như tiền thân của sự tự do hóa đa phương

Ở giai đoạn cuối cùng của mình, các RTA phải xóa bỏ hoàn toàn các rào cản đối với thương mại giữa các nước thành viên và vì vậy được xem xét như trường hợp đặc biệt đối với nguyên tắc Tối huệ quốc (MNF) tổng quát (nhờ đó về

Trang 26

cơ bản các nhượng bộ thương mại mà các nước thành viên WTO chấp thuận sẽ được áp dụng đối với tất cả các nước thành viên RTA) Do đó, các RTA phải phù hợp với các điều khoản và điều kiện của Điều 24 trong GATT 1994 để có thể đáp ứng với các quy định của WTO

• Khu vực thương mại tự do Đông Nam Á (AFTA)

Khu vực thương mại tự do của Hiệp hội các nước Đông Nam Á được thành lập năm 1992 nhằm mục đích loại bỏ các rào cản thuế quan giữa các nước Đông Nam Á, có xét đến sự hợp nhất các nền kinh tế ASEAN thành một cơ sở sản xuất duy nhất và một thị trường khu vực với nửa tỷ dân Ngày nay, người ta cho rằng hơn 96% các hoạt động thương mại của ASEAN được thực hiện trong nhóm các nước AFTA

Từ năm 1995, chương trình hoạt động của AFTA đã được mở rộng để bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, kể cả dịch vụ, rào cản kỹ thuật đối với thương mại, các tiêu chuẩn và vấn đề về tính phù hợp, vệ sinh và vệ sinh thực vật, sự công nhận và giấy chứng nhận giữa hai bên với nhau, các thủ tục hải quan, các vấn đề về đầu tư và bảo vệ tài sản trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) Cũng như đối với việc cắt giảm thuế, các thành viên ASEAN có thể quyết định loại trừ một số lĩnh vực khỏi tự do hóa

Trong phạm vi liên quan với thương mại, ngay cả với AFTA, mía đường vẫn là một thị trường được bảo hộ ở một số nước Dạng bảo hộ chủ yếu là thuế nhập khẩu hoặc hạn ngạch thuế quan Indonexia, Philippin, Việt Nam và Đài Loan đã đưa mía đường vào danh mục các sản phẩm nhạy cảm của mình, vì vậy thuế suất sẽ được cắt giảm dần trong một thời gian dài hơn Năm 2010, Việt Nam

đã phải cắt giảm thuế đánh vào sản phẩm đường mía nhập khẩu từ 10% xuống còn 5%

1.4.2 Một số chính sách và thông lệ cụ thể của các nước

Không những là một sản phẩm nông nghiệp quan trọng, đường còn nằm trong danh mục nhạy cảm khi cắt giảm thuế quan ở nhiều nước đang phát triển, vì thế các nước tùy thuộc vào mục tiêu phát triển của mình có những chính sách riêng, chủ yếu để bảo vệ sản xuất trong nước Tuy nhiên các chính sách này đều được vận dùng phù hợp với các quy định đa phương và song phương kể trên Vì vậy xét theo phạm vi hẹp có thể liệt kê một số thông lệ/chính sách sau có ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường đường:

Trang 27

Vốn vay trở thành “hỗ trợ” nếu hạn ngạch thuế quan nhập khẩu (TRQ) ở mức 1,5 triệu tấn hoặc thấp hơn, bất kể giá như thế nào Khi TRQ trên 1,5 triệu tấn, nhà sản xuất có thể xin vốn vay “ không hỗ trợ” Theo vốn vay không hỗ trợ, nhà sản xuất có thể mất thế chấp cho Tổ chức Tín dụng Hàng Hóa (một tổ chức bảo hộ thu nhập và giá nông nghiệp) thay vì trả vốn vay trong trường hợp giá đường thị trường giảm xuống mức vốn vay Nhà sản xuất có vốn vay không hỗ trợ phải trả tiền mía đường cho nông dân theo tỉ lệ thuận với giá trị vốn vay

1.4.2.2 Chính sách hạn chế nhập khẩu đường của Indonesia

Chính phủ Indonesia bắt đầu áp dụng chính sách mới về thương mại đường vào tháng 9 năm 2002 Chính phủ hạn chế nhập khẩu đường của 3 đồn điền quốc doanh, nhưng chỉ khi giá đường nhà máy trên 0,16 USD/kg Mức giá này được coi là hòa vốn đối với nhà sản xuất trong nước Đường nhập khẩu được dành để các đồn điền quốc doanh chế biến thêm và được chào bán cho dân chúng hoặc các nhà chế biến khác Ngoài ra, Chính phủ áp dụng những tiêu chuẩn mới cho đường thô với mục đích được nêu là “bảo vệ” người tiêu dùng tiêu thụ hàng hóa này Yêu cầu này sẽ có lợi cho ngành tinh luyện nội địa và có thể làm tăng nhu cầu đường tinh luyện

Ngoài chính sách thương mại này, các nhà sản xuất đường Indonesia không được lợi nhiều từ chính sách bảo hộ của Chính phủ Đặc điểm của ngành

Trang 28

đường Indonesia là phương thức canh tác lạc hậu, giá đầu vào cao, thiếu phân bón trong mùa trồng mía và thiếu tiếp cận với tín dụng Nạn nhập lậu đường vào nước này là một vấn đề dai dẳng cho dù chính phủ đã áp dụng giấy phép nhập khẩu và báo cáo hàng tháng trước khi có chính sách thương mại mới như đã mô

tả ở trên

1.4.2.3 Chính sách hạn ngạch thuế quan nhập khẩu của Thái Lan

Mặc dù đã là thành viên của WTO và tôn trọng những quy định về tự do hóa thị trường nhưng chính phủ một số nước vẫn duy trì chính sách bảo hộ ngành thông qua áp dụng TRQ Hàng năm các nước phải cam kết nhập khẩu ít nhất một lượng đường theo TRQ và số lượng nhập khẩu sẽ gia tăng mỗi năm (theo cam kết) cho tới khi hạn ngạch này được bãi bỏ hoàn toàn Lượng đường nhập khẩu theo TRQ sẽ được hưởng mức thuế suất ưu đãi (mức thấp) còn lượng đường nhập khẩu ngoài TRQ sẽ phải chịu thuế suất cao hơn nhiều

Tại Thái Lan, theo cam kết WTO, chính phủ Thái xác lập thuế suất đối với đường nhập khẩu, cụ thể TRQ năm 2003 được định ở mức 13.687 tấn, thuế suất trong TRQ là 65%, thuế suất ngoài TRQ là 95%

Ngoài ra, chính phủ Thái lan còn áp dụng 3 loại hạn ngạch trong chính sách đường, trong đó hạn ngạch A dùng cho tiêu dùng trong nước, hạn ngạch B

để đáp ứng cam kết xuất khẩu lâu dài, hạn ngạch C (không hạn chế) dành cho xuất khẩu Các công ty xuất khẩu được trao quyền xuất khẩu 6 tháng trước mùa chặt mía Các nhà máy đường phải hoàn thành hạn ngạch A và B trước khi được trao quyền xuất theo hạn ngạch C Ủy ban mía đường Thái lan chịu trách nhiệm giám sát ngành đường cũng như việc thực hiên các hạn ngạch này

Tóm lại, những trường hợp trên cho thấy các mô hình khác nhau về sự hỗ trợ và bảo hộ của chính phủ Mô hình của Thái Lan với sự kiểm soát giá và hỗ trợ tài chính của Chính phủ, được coi là một mô hình thành công trong khu vực, nếu xét trong sự tăng trưởng của ngành đường Thái Lan và vị trí của nước này trên thị trường đường thế giới Trong khi đó, mô hình của Indonesia, với sự đặc trưng là kiểm soát chặt chẽ hàng xuất nhập khẩu của Chính phủ, có thể xem là một mô hình không hiệu quả cho các nền kinh tế đang phát triển tương tự

1.5 Kinh nghiệm của một số nước trong việc bình ổn thị trường đường

và bài học cho Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm của Thái Lan

Trang 29

Hiện nay Thái Lan đã trở thành nước sản xuất đường lớn thứ 4 thế giới và

là nước xuất khẩu lớn thứ 2 thế giới với sản lượng đường hàng năm trên 7 triệu tấn và 2/3 trong số đó là xuất khẩu Đường xuất khẩu của Thái Lan chủ yếu sang các nước Châu Á (98%), riêng các nước ASEAN chiếm gần 50% Ngành công nghiệp mía đường Thái Lan phát triển mạnh do có những thuận lợi về đất đai, khí hậu và địa lý

Từ năm 1984 Luật Mía – Đường ra đời tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức sản xuất – kinh doanh và công tác quản lý, điều hành để ngành mía đường phát triển nhanh và bền vững Ngành đường của Thái Lan được Chính phủ điều tiết và kiểm soát chặt chẽ Tuy nhiên, sự tham gia của các bên liên quan trong việc điều tiết và quản lý chính sách cũng rất quan trọng Hội đồng Mía – Đường Thái Lan gồm quan chức Chính phủ và đại diện của các nhà sản xuất đường là cơ quan chính giám sát ngành Đường Thái Lan

Hội đồng Mía – Đường (CSB) phụ trách toàn bộ công việc quản lý và điều hành ngành mía đường, bao gồm xây dựng cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển công nghiệp mía đường và công nghiệp liên quan là ethanol; giám sát việc sản xuất mía và đường, phân phối hạn ngạch tiêu thụ đường trong nước và xuất khẩu, ấn định giá đường tiêu thụ trong nước và xác định giá mía trên cơ sở đảm bảo tỷ lệ phân chia thu nhập giữa người sản xuất mía và nhà máy đường là 70:30

Thái Lan áp dụng ba loại hạn ngạch trong chính sách đường, cụ thể như sau:

Hạn ngạch A bao gồm đường trắng và đường tinh luyện do các nhà máy đường sản xuất để tiêu dùng trong nước CSB giao cho Ủy ban Đường căn cứ nhu cầu tiêu dùng trong nước để xác định số lượng đường cần cung cấp và phân phối cho các nhà máy đường bán ra Tổng số đường thuộc hạn ngạch A được chia làm 52 phần, tương ứng với 52 tuần lễ của 1 năm Các nhà máy đường được cấp phép bán ra cho các nhà kinh doanh hay các nhà sản xuất sử dụng nguyên liệu đường theo số lượng tương ứng với quy định cho mỗi tuần lễ

Hạn ngạch B là đường thô do các nhà máy đường sản xuất theo quy định của CSB, giao cho Tổng công ty Đường Thái Lan xuất khẩu theo các hợp đồng dài hạn

Hạn ngạch C bao gồm đường thô, đường trắng và đường tinh luyện để xuất khẩu sau khi các nhà may đường đã đáp ứng đủ nhu cầu của Hạn ngạch A và B

Trang 30

Đường thuộc Hạn ngạch C được xuất khẩu thông qua 6 công ty xuất khẩu theo các hợp đồng hàng năm và đột xuất

Chính phủ Thái Lan kiểm soát giá đường dựa trên giá thị trường trong nước và thế giới Doanh thu của nông dân từ mía đường được xác định bởi một

hệ thống chia sẻ doanh thu, được đi vào hoạt động từ năm 1982

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tiêu thụ đường và phân chia thu nhập

Thu nhập thuần từ tiêu thụ đường được chia làm 2 phần, người sản xuất mía nguyên liệu được 70% và nhà máy đường được 30% Quỹ hỗ trợ và phát triển ngành mía đường (Quỹ Mía – Đường) được thành lập bằng cách trích 1-2%

từ hệ thống phân chia thu nhập hàng năm Chính phủ Thái Lan cũng thông qua Quỹ Mía – Đường để cung cấp các chương trình tín dụng hỗ trợ người nông dân vay tiền với mức lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường

NHÀ MÁY ĐƯỜNG

Hạn ngạch

B (Xuất khẩu)

Hạn ngạch C (Xuất khẩu)

Tổng công ty Đường Thái Lan

Các công ty xuất khẩu (6 công ty)

Người trồng mía (70%)

Nhà máy đường (30%)

Trang 31

Việc định giá mía được xác định như sau:

Pc = 0,7 x (NR1 + NR2)/Qc

Trong đó: Pc : giá một tấn mía

NR1: thu nhập thuần do tiêu thụ đường trong nước

NR2: thu nhập thuần do xuất khẩu đường

Qc : Tổng số mía ép trong mỗi niên vụ (tấn)

Việc định giá mía được thực hiện qua 2 đợt:

- Đợt đầu là định giá sơ bộ, vào đầu vụ sản xuất, trên cơ sở ước tính thu nhập từ việc tiêu thụ đường, thực hiện vào tháng 11 và công bố vào tháng 12 Về nguyên tắc, giá mía sơ bộ và thu nhập từ sản xuất đường khi ước tính phải bảo đảm không dưới 80% giá thành

- Đợt hai là ấn định giá cuối cùng, được tính toán vào tháng 9 năm sau và công bố vào tháng 10 trên cơ sở đã biết được tổng thu nhập thuần và thực hiện phân chia theo tỉ lệ 70:30

Nếu mức giá cuối cùng cao hơn mức giá sơ bộ, phần thu nhập bổ sung sẽ được chi trả cho người nông dân, nếu giá cuối cùng thấp hơn hơn giá sơ bộ thì Chính phủ Thái Lan sẽ đền bù cho các nhà máy theo các mức mức khác nhau của Quỹ Mía – Đường Việc thanh toán tiền mía căn cứ vào số lượng và chất lượng mía Việc đo chữ đường của mía được thực hiện tại cổng các nhà máy đường, có

sự giám sát của đại diện người trồng mía, nhà máy đường và Văn phòng Hội đồng Mía – Đường

Chính cơ chế gắn kết lợi ích của người trồng mía và nhà máy đường này giúp cho người nông dân yên tâm trồng mía, bảo đảm vùng nguyên liệu cho sản xuất đường, thông qua đó góp phần đảm bảo nguồn cung đường và ổn định thị trường

1.5.2 Kinh nghiệm của Philipin

Ngay từ những năm 1850, mía đường đã được đưa vào trồng ở Philipin và trở thành một loại cây trồng quen thuộc của người dân.Với hiệp định Laurel-Langley, Mỹ dành cho Philipin một hạn ngạch nhập khẩu đường lớn vào thị trường này Từ đó, đường đã trở thành một cây trồng xuất khẩu hàng đầu của Philipin Hàng năm, Philipin sản xuất trên 2 triệu tấn đường và xuất khẩu trên

Trang 32

200.000 tấn, trong đó Mỹ là thị trường chủ yếu Giá đường sản xuất trong nước của Philipin hiện nay cao hơn so với đường sản xuất ở các nước khác Tuy nhiên nhu cầu sử dụng đường trong chế biến thực phẩm, đồ uống, bánh kẹo gia tăng đã giữ cho ngành công nghiệp đường trong nước phát triển

Năm 1986 Philipin đã thành lập cơ quan quản lý đường (Sugar Regulator Administration) viết tắt là SRA Đây là một cơ quan của Chính phủ Philipin thuộc Sở Nông nghiệp, chịu trách nhiệm về việc thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của ngành công nghiệp đường thông qua việc gia tăng sự tham gia của khu vực tư nhân và cải thiện điều kiện làm việc của người lao động

Khung pháp lý cho việc marketing đường đã giới hạn nguồn cung và giữ giá cao ở thị trường nội địa Philipin có những quy định cụ thể để kiểm soát nguồn cung trong nước như:

a Hệ thống hạn ngạch thị trường phân chia đường sản xuất thành 5 nhóm: nhóm A dành cho thị trường nhập khẩu theo hạn ngạch của Mỹ, nhóm B dành cho thị trường trong nước, nhóm C để dự trữ, nhóm D dành cho xuất khẩu sang các nước khác ngoài Mỹ và E là nhóm có thể được mua ở mức giá thế giới thông qua các công ty xuất khẩu sử dụng đường như là nguyên liệu đầu vào Năm 1992, SRA tạo ra một nhóm hạn ngạch khác, gọi là đường "Bl", đây là nhóm được đưa vào thị trường trong nước nhưng có thể được thu hồi từ lưu trữ chỉ sau 120 ngày

SRA ước tính sản lượng khi vụ thu hoạch bắt đầu và dựa trên cơ sở này ban hành “thứ tự phân bổ đường”, liên quan đến tỷ lệ phần trăm phân bổ đường được sản xuất cho những nơi khác nhau Tỷ lệ phân bổ được điều chỉnh hoặc sửa đổi khi sản lượng đường ước tính thay đổi hoặc thị phần của Philipin trong thị trường nhập khẩu theo hạn ngạch của Mỹ thay đổi Tất cả các nhà sản xuất và nhà máy ép đều tuân theo việc phân bổ hạn ngạch này Hệ thống phân bổ hạn ngạch này được áp dụng để cho phép tất cả người trồng mía và nhà máy đường tiếp cận một cách công bằng với thị trường có giá cao hơn theo tỷ lệ tương ứng,

cụ thể hơn là thị trường hạn ngạch của Mỹ

b Hạn ngạch thị trường được thực hiện thông qua một hệ thống quedan và kiểm soát việc lấy đường từ các kho Tại tất cả các nhà máy, đường được gửi vào đăng ký trong kho và chủ sở hữu đường được cấp quedan quy định rõ việc phân loại đường theo thị trường tiêu thụ Các mẫu quedan được đánh số tuần tự và việc

in số quedan được SRA giám sát và kiểm soát Vì quedan được coi là bằng chứng

Trang 33

chứng minh quyền sở hữu đường nên quedan có thể được chuyển nhượng Đường được giao dịch bằng cách sử dụng quedan Đường sẽ được xuất kho khi có lệnh của SRA và quedan được giao lại

Năm 1992, SRA bắt đầu một hệ thống quedan đối với cả đường tinh luyện Trong trường hợp nhà máy sản xuất cả đường thô và đường tinh thì quedan chỉ được áp dụng cho đường tinh khi trả lại hạn ngạch đương thô, cách thức cũng làm tương tự như trên

c Mặc dù Chính phủ đã thực hiện chương trình tự do hóa nhập khẩu và chương trình cải cách thuế quan nhưng các rào cản nhập khẩu vẫn tiếp tục bảo vệ ngành công nghiệp đường khỏi sự cạnh tranh quốc tế EO 8 được ban hành năm

1992 được cho là đã mở đường cho việc dỡ bỏ hạn chế định lượng đường vì nó

đã điều chỉnh mức thuế đến 75% Tỷ lệ này đã được giảm xuống trong khoảng thời gian hai năm về mức thuế thông thường là 50% vào giữa năm 1995 Tuy nhiên năm 1995 Philippin tham gia vòng đàm phán Urugoay của WTO, do đó phải cam kết dỡ bỏ tất cả các hạn ngạch hạn chế nhập khẩu bằng định lượng đối với các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu (trừ mặt hàng gạo) và thay thế bằng hạn ngạch thuế quan Tuy nhiên điều này đã mở cửa cho việc điều chỉnh lại thuế nhập khẩu đối với mặt hàng đường lên mức 100% và chỉ với một lượng đường tối thiểu (38.000 tấn trong năm 1996) được nhập khẩu với mức thuế 50% Điều này giúp loại bỏ một cách hiệu quả việc nhập khẩu ngoài hạn ngạch (vượt quá 38.000 tấn) vì ngành công nghiệp đường trong nước chỉ có thể cạnh tranh khi thuế nhập khẩu vẫn cao hơn 40% Việc nhập khẩu đường đã được tự do hóa từ năm 1992 nhưng đường nhập khẩu chỉ bắt đầu vào từ năm 1995 khi mà thuế suất theo nguyên tắc tối huệ quốc đã giảm xuống còn 50% và nhập khẩu từ các nước ASEAN được áp dụng mức thuế 32,5%

Với việc phân bổ hạn ngạch, sử dụng quedaning và những quy định về nhập khẩu đường, SRA có thể kiểm soát nguồn cung đường trên thị trường nội địa Tác động lên giá chính là việc giá trong nước sẽ dựa theo giá trên thị trường nhập khẩu theo hạn ngạch của Mỹ và do vậy cao hơn mức giá đường của thế giới

1.5.3 Bài học cho Việt Nam

Thị trường đường thế giới giai đoạn 2006-2010 đã có sự tăng trưởng đáng

kể Sản lượng đường tăng trung bình 2,18%/năm và tiêu thụ tăng trung bình 1,19%/năm Ngoài các yếu tố như thời tiết, năng suất ảnh hưởng tới biến động về

Trang 34

sản lượng thì sự gia tăng của giá đường thế giới cũng là một trong những nhân tố chính khuyến khích nông dân mở rộng diện tích trồng, ảnh hưởng tới nguồn cung

về mía đường Giá đường thế giới trong giai đoạn này cũng có nhiều biến động bất thường, giá tăng lên đỉnh cao trong năm 2006, sau đó giảm mạnh và từ năm

2008 đến nay thì liên tục tăng Nhìn chung diễn biến giá đường thế giới trong thời gian qua thể hiện xu hướng liên tục tăng cao Với tiến trình mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới ngày một sâu rộng, thị trường trong nước ngày một liên thông với thế giới, biến động về cung cầu và giá đường thế giới cũng là một trong những nhân tố tác động tới giá đường của Việt Nam, đặc biệt là thông qua tác động tâm

lý tới các nhà kinh doanh đường trong nước

Trong nông nghiệp đường là mặt hàng khá nhạy cảm, gắn với đời sống người dân và đặc biệt là gắn với quyền lợi của người nông dân trồng mía nên mặc

dù phải tuân thủ luật chơi chung của các tổ chức đa phương và song phương nhưng tùy mục đích mà nhiều nước vẫn đang áp dụng hình thức bảo hộ cho ngành sản xuất đường trong nước với các chính sách phù hợp với quy định chung Tại nhiều nước đang phát triển như Việt Nam, thuế suất nhập khẩu đường đang giảm dần theo cam kết mở cửa hội nhập Ngành đường Việt Nam có tính cạnh tranh thấp và trong thời gian qua giá đường trên thị trường cũng có khá nhiều biến động, ảnh hưởng tới người trồng mía cũng như gây bức xúc trong dư luận xã hội Từ phân tích về thị trường đường thế giới, các chính sách tác động tới thị trường đường và kinh nghiệm áp dụng các chính sách/thông lệ của một số nước, nhất là những nước trong khu vực có điều kiện tương đồng như Việt Nam, đặc biệt là Thái Lan, chúng ta có thể rút ra một số bài học để tạo điều kiện cho thị trường đường phát triển một cách ổn định, bền vững như sau:

Ở nước ta hiện nay sự liên kết giữa người trồng mía và nhà máy mía đường còn yếu mà nguyên nhân chính là do thiếu hành lang pháp lý và cơ chế giám sát

từ Chính phủ trong việc phân chia lợi nhuận Việc đảm bảo lợi ích công bằng cho người trồng mía và nhà máy đường là rất quan trọng vì người nông dân khi được đảm bảo nguồn thu nhập ổn định và công bằng thì mới yên tâm trồng mía Các nhà máy đường khi đã đảm bảo sở hữu nguồn nguyên liệu ổn định và đạt năng suất cao là tiền đề hướng tới quy mô sản xuất công nghiệp ổn định, gia tăng thêm tính lợi ích theo quy mô của nhà máy và toàn ngành Trong khi đó ở nước ta giá mua mía nguyên liệu chưa được quy định bằng văn bản pháp luật cụ thể, nhà nước chỉ khuyến cáo giá mua mía tương đường 60-65 kg đường trắng, tuy nhiên

Trang 35

vì chưa có cơ quan giám sát nên lợi ích của người nông dân chưa được đảm bảo Dựa trên kinh nghiệm của Thái Lan, Chính phủ Việt Nam, trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm nòng cốt cần sớm ban hành văn bản pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý, bảo vệ quyền lợi của người nông dân, xây dựng cơ chế phân chia lợi nhuận hợp lý nhằm khuyến khích cả người nông dân trồng mía

và nhà máy đường cùng phát triển

Mô hình Quỹ Mía đường của Thái Lan đã góp phần hỗ trợ cho cơ chế phân chia lợi nhuận được hoạt động ổn định trong những năm giá đường sụt giảm mạnh Do đó việc nghiên cứu để hình thành Quỹ mía đường tại Việt Nam cũng là điều cần thiết nhằm giúp ngành mía đường hạn chế những thay đổi lớn về giá do tính chu kỳ ngành nghề và diễn biến giá hàng hóa thế giới gây ra

Bên cạnh việc xây dựng quy định pháp luật về hệ thống phân chia lợi nhuận, Chính phủ Việt Nam cũng cần kết hợp đồng bộ các gói giải pháp với sự tham gia của tất cả các bên Sự phân chia trách nhiệm giữa các bên bao gồm Chính phủ, nhà máy và người trồng mía được xác định rõ trên cơ sở các thế mạnh của mỗi thành viên, trong đó Chính phủ giữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất, đặc biệt trong việc xây dựng định hướng, thực thi các biện pháp nhằm tái cấu trúc ngành mía đường, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển giống mía, cơ giới hóa nền nông nghiệp, ngăn ngừa dịch bệnh, mở rộng vùng nguyên liệu, nhất là khâu phát triển mía giống phù hợp với điều kiện của từng vùng nguyên liệu

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 2.1 Một số vấn đề chung

2.1.1 Đặc điểm của thị trường đường

a Đặc điểm về mặt hàng

Trên thế giới có hai loại đường chính là đường mía và đường củ cải Từ hai loại đường cơ bản này lại chia ra làm nhiều loại đường khác nhau về độ ngọt, độ màu, độ tinh khiết như: đường mật, đường phèn (đường thủ công), đường luyện

và đường kính

Tại Việt Nam, đường được tiêu thụ chủ yếu trên thị trường là đường được làm từ cây mía Còn đường củ cải hầu như không xuất hiện trên thị trường, do cây củ cải đường không thuận lợi với khí hậu và thổ nhưỡng của Việt Nam, chỉ trồng được ở vùng khí hậu ôn đới Ngành sản xuất đường Việt Nam được bảo hộ khá mạnh bằng chính sách hạn ngạch và thuế, ngay khi thực hiện Chương trình

“Sản xuất 1 triệu tấn đường ( năm 1997), Chính phủ đã hạn chế việc nhập khẩu đường Mặt hàng đường hiện là mặt hàng nhạy cảm có sự quản lỹ chặt chẽ của Chính phủ và liên Bộ (Tài Chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương ) về điều hành cung cầu và trình Chính phủ quyết định lượng nhập khẩu mỗi năm Ngoài ra, đường cũng năm trong danh mục mặt hàng thiết yếu được xác định theo Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá

b Đặc điểm về nguồn cung

Trong nhiều năm trở lại đây, nguồn cung đường từ sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ nội địa, do đó phần thiếu hụt phải dựa vào nhập khẩu Dưới đây là một số khái quát về đặc điểm nguồn cung từ sản xuất trong nước và nguồn cung từ nhập khẩu

Đặc điểm của nguồn cung từ sản xuất trong nước

Tương tự như các nước sản xuất và cung ứng đường trên thế giới, sản xuất đường ở Việt Nam mang tính mùa vụ (do nguyên liệu sản xuất từ cây mía), sản

Trang 37

lượng sản xuất phụ thuộc vào năng suất, chất lượng mía,… nên nguồn cung mặt hàng này không ổn định trong năm (sản xuất chỉ 6 tháng nhưng tiêu thụ cả năm)

Nguồn cung đường cho thị trường tiêu thụ nội địa từ sản xuất trong nước thường bị thiếu hụt trong hai giai đoạn (đầu niên vụ1 và giáp vụ) Do đó, vào các thời điểm trên các nhà máy sản xuất, các doanh nghiệp thương mại đều có kế hoạch dự trữ đường để đáp ứng nhu cầu thị trường

Đến thời điểm hiện tại, cả nước có 40 nhà máy đường đang hoạt động, tuy nhiên chỉ có 08 nhà máy có công suất từ 3.500 tấn mía/ngày (TMN) trở lên, chiếm trên 53% tổng công suất thiết kế của các nhà máy đường Việt Nam và chiếm 43% sản lượng đường cả nước, cụ thể:

Tại Miền Bắc: 3 nhà máy đường tổng sản lượng 179.445 tấn

Công ty TNHH mía đường Việt Đài Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn Công ty liên doanh mía đường Nghệ An – T&L

Tại Miền Trung: 3 nhà máy tổng sản lượng 177.000 tấn

An khê – Công ty cổ phần đường Quảng Ngãi;

Công ty TNHH KCP Công ty cổ phần đường Biên Hòa

Tại Miền nam: 2 nhà máy, tổng sản lượng 132.323 tấn

Công ty cổ phần Bourbon Công ty cổ phần Nagarjuna

32 nhà máy đường còn lại chỉ có công suất bình quân 1.742 TMN (công suất bình quân của các nhà máy đường Thái Lan là 12.000 TMN, của Úc là 10.000 TMN và của Mexco khoảng 5.000 TMN), còn công suất tối thiểu được coi là có hiệu quả kinh tế là 6.000 – 7.000 TMN

Bên cạnh nguồn cung từ các nhà máy đường còn có sự đóng góp của các

cơ sở sản xuất đường thủ công Các cơ sở này xuất hiện nhiều ở các vùng trồng mía truyền thống nhưng không đủ điều kiện để xây dựng nhà máy đường hoặc ở các khu vực có hạ tầng giao thông hạn chế, việc thu mua và vận chuyển mía

Trang 38

nguyên liệu khó khăn và đặc biệt để có các sản phẩm đường phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ đường của dân cư tại địa phương Khi các nhà máy đường sản xuất theo công nghệ hiện đại được xây dựng thì số lượng các cơ sở sản xuất đường thủ công giảm nhưng nhu cầu tiêu thụ mía cho hoạt động của đối tượng này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến các nhà máy đường trong thu mua mía nguyên liệu

Đặc điểm của nguồn cung từ nhập khẩu

Việt Nam nhập khẩu đường chủ yếu từ Thái Lan, thông thường là các hình thức nhập khẩu cần hạn ngạch (thuế nhập khẩu từ các nước ASEAN có C/O mẫu

D là 5%, 15% áp dụng với đường nhập khẩu từ các nước ngoài ASEAN và còn nhập khẩu không cần hạn ngạch vì mức thuế quá cao (từ 80-100%) nên các doanh nghiệp không thể dụng biện pháp này.Tuy nhiên, đường nhập lậu cũng đóng góp một số lượng không nhỏ vào nguồn cung từ nhập khẩu

Trong nhiều năm trở lại, nguồn cung đường từ nhập khẩu đã chịu nhiểu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố như tình hình sản xuất, cung ứng và giá đường thế giới Bên cạnh đó, các yếu tố trong nước như vấn đề nguồn nguyên liệu, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các nhà máy đường, diễn cung cầu, giá cả… đã tác động không nhỏ đến sự ổn định của nguồn cung nhập khẩu

c Đặc điểm về thị trường tiêu thụ

Tại Việt Nam, đường sử dụng trực tiếp được tiêu thụ rộng rãi cả ở thị trường khu vực thành thị lẫn nông thôn Với phạm vi không gian tiêu thụ rộng lớn và được tiêu dùng phổ biến ở mọi tầng lớp dân cư nên khối lượng đường sử dụng trực tiếp chiếm khá lớn trong tổng lượng đường cung ứng ra thị trường

Bên cạnh đó, đường với vai trò là nguyên liệu cho các ngành sản xuất thực phẩm công nghệ như sản xuất bánh, kẹo, sữa, kem, nước ngọt, dược phẩm và một

số ngành khác như chế biến rau quả, thực phẩm, rượu bia… Theo nghiên cứu2của Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương thì ngành sản xuất và kinh doanh đường và bánh kẹo có mối quan hệ mật thiết với nhau Theo như tính toán thông thường chi phí đường chiếm khoảng từ 40% - 60% chi phí sản xuất kẹo và khoảng 20% chi phí sản xuất bánh

2 Trích trong báo cáo thường niên ngành đường Việt Nam năm 2009 và triển vọng 2010 của Viện nghiên cứu thương mại

Trang 39

d Đặc điểm diễn biến giá cả mặt hàng đường trên thị trường

Do chịu ảnh hưởng gián tiếp từ cây mía, là mặt hàng nông sản bị tác động mạnh từ yếu tố mùa vụ nên giá đường ở Việt Nam chênh lệch theo mùa rất rõ rệt Vào đầu niên vụ khi sản lượng đường chưa dồi dào, giá đường thường đứng ở mức cao và giá có xu hướng giảm vào chính vụ Thời điểm tiêu thụ đường lớn nhất trong năm cũng là những tháng giá đường đứng ở mức cao, rơi vào tháng 1 (chuẩn bị cho Tết Nguyên đán) và tháng 7,8 (chuẩn bị cho Tết Trung Thu)

Theo nghiên cứu, giá cả và lượng tiêu thụ các sản phẩm đường rất khác nhau giữa các khu vực thị trường Tại thị trường đường miền Nam, mặc dù tiêu thụ lớn hơn nhưng giá lại thấp hơn so với giá cả thị trường đường tại miền Bắc,

do miền Nam tập trung nhiều nhà máy đường lớn, cũng như có hệ thống phân phối khá tốt

2.1.2 Phân loại thị trường tiêu thụ đường

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà thị trường tiêu thụ sản phẩm đường được phân loại một cách khác nhau Cụ thể như sau:

a Phân loại thị trường tiêu thụ đường căn cứ vào tính chất sử dụng

- Thị trường đường công nghiệp

Đây là thị trường tiêu thụ đường gián tiếp hay nói cách khác, là thị trường tiêu thụ đường phục vụ công nghiệp chế biến thực phẩm công nghệ

Theo số liệu từ Bộ Công Thương, trong năm 2010 ngành sữa, bánh kẹo tiêu thụ khoảng 190.294 tấn đường, chiếm gần 42% tổng lượng đường sử dụng trong các ngành công nghiệp và chiếm 14,64% lượng đường tiêu thụ của cả nước; ngành đồ uống tiêu thụ 176.360 tấn; nhóm ngành khác 21.090 tấn; đường thô là 63.300 tấn

Cũng theo Bộ Công Thương, tăng trưởng tiêu thụ đường của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm công nghệ trong năm 2011 sẽ là 49,76% khi đạt mức tiêu thụ 646.690 tấn đường

Thị trường đường công nghiệp tiêu thụ chủ yếu đường tinh luyện RE (viết tắt của từ tiếng Anh: Refined Extra) và đường trắng công nghiệp RS (viết tắt của

từ tiếng Anh: Refined Standard) do các doanh nghiệp mía đường cung cấp

- Thị trường đường sử dụng trực tiếp

Trang 40

Đây là thị trường tiêu thụ đường trực tiếp của các hộ gia đình, quán cà phê, giải khát, cửa hiệu ăn uống quy mô nhỏ… Thị trường đường ăn tiêu thụ phổ biến

là đường trắng công nghiệp RS và đường sản xuất thủ công (đường tinh luyện RE được tiêu thụ ở mức không lớn)

b Phân loại thị trường tiêu thụ đường căn cứ theo địa bàn

Theo nghiên cứu của Cục Chế biến thương mại, nông lâm thủy sản và nghề muối – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn3 về tình hình tiêu thụ sản phẩm đường theo địa bàn trên phạm vi cả nước cho thấy, mức độ sử dụng và thói quen

sử dụng đường ở các vùng miền là không giống nhau

Trong chế biến thức ăn và trong sinh hoạt hàng ngày, người miền Trung và miền Nam thường sử dụng nhiều đường hơn người miền Bắc Nguyên nhân của vấn đề nêu trên là do thói quen, tập quán ăn uống và điều kiện khí hậu, thời tiết khiến nhu cầu sử dụng đường phục vụ sinh hoạt hàng ngày của dân cư khá cao Mặt khác, ở khu vực miền Nam và miền Trung, các nhà máy, cơ sở sản xuất bánh kẹo từ nhân đã hình thành từ lâu và hoạt động khá mạnh Những năm gần đây, các doanh nghiệp, cơ sở hoạt động trong lĩnh vực này đã tăng quy mô vốn đầu tư, năng lực đổi mới khoa học công nghệ, khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình nên nhu cầu đường làm nguyên liệu phục vụ sản xuất tăng Ở các tỉnh miền Bắc, số lượng và quy mô hoạt động của các doanh nghiệp chế biến bánh kẹo tư nhân gia tăng nhanh khiến mức tiêu thụ đường tăng mạnh

Như vậy, phân loại thị trường tiêu thụ căn cứ theo địa bàn thì miền Nam là thị trường tiêu thụ đường lớn nhất trong cả nước, tiếp đến là miền Bắc và miền Trung

c Phân loại thị trường tiêu thụ đường theo chất lượng đường cung cấp trên thị trường

Đường sản xuất để cung cấp ra thị trường Việt Nam chủ yếu là: đường

trắng công nghiệp, đường tinh luyện, đường sản xuất thủ công…

+ Đường trắng công nghiệp RS: là loại đường trắng tiêu chuẩn, hàm lượng tạp chất ít được dùng làm nguyên liệu chế biến thực phẩm công nghệ như: bánh

3 Báo cáo tổng hợp Dự án điều tra nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm đường trong nước – Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn

Ngày đăng: 17/04/2014, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Báo cáo nghiên cứu ngành mía đường Việt Nam đến năm 2010-2020" - Ông Phạm Văn Phương, Tổng Giám đốc Công ty Mía đường , Báo cáo tại Khóa họp lần thứ hai: "Nông nghiệp, phát triển nông nghiệp và chính sách công cộng", năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu ngành mía đường Việt Nam đến năm 2010-2020
Tác giả: Ông Phạm Văn Phương
Nhà XB: Khóa họp lần thứ hai: Nông nghiệp, phát triển nông nghiệp và chính sách công cộng
Năm: 2010
9. Báo cáo cập nhật “Mía đường và các cổ phiếu trong ngành” của Công ty CP Chứng khoán Liên Việt, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mía đường và các cổ phiếu trong ngành
1. Cam kết về thuế nhập khẩu của thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT) và Hiệp định thương mại tự do Asean (AFTA); Cam kết WTO về hạn ngạch thuế quan, năm 2007 Khác
3. Tổng điều tra dân số 2009 và dự báo phát triển dân số đến 2025, Tổng cục Thống kê, năm 2009 Khác
4. Niên giám thống kê của Nhà xuất bản Thống kê, năm 2009 Khác
5. Báo cáo Kết quả khảo sát ngành mía đường Thái Lan, Hiệp hội Mía – Đường Việt Nam, năm 2009 Khác
6. Sugar outlook in 2005 – 2009, Hiệp hội Đường thế giới Khác
8. Báo cáo thường niên ngành mía đường Việt Nam năm 2009, 2010, của Trung tâm Thông tin PTNNNT , Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT - Bộ Nông nghiệp & PTNT, năm 2009 và năm 2010 Khác
10. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI - Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, năm 2011 Khác
11. Báo cáo ngành Mía đường Việt Nam & Triển vọng năm 2011, Công ty Chứng khoán Dầu khí, năm 2011 Khác
12. Báo cáo ngành mía đường của Công ty Chứng khoán Hà Thành, năm 2011 Khác
13. Một số giải pháp cho ngành mía đường phát triển, Thành Long, Chuyên mục Kinh tế, Đài tiếng nói thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011 Khác
14. Báo cáo Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển cây mía ở Việt nam, của Hội Thảo phát triển cây Mía và cây Điều của Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ tiêu thụ đường và phân chia thu nhập - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ tiêu thụ đường và phân chia thu nhập (Trang 30)
Bảng 2.3. Kết quả tiêu thụ đường các niên vụ - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Bảng 2.3. Kết quả tiêu thụ đường các niên vụ (Trang 49)
Sơ đồ 2.1. Kênh thu mua nguyên liệu mía - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Sơ đồ 2.1. Kênh thu mua nguyên liệu mía (Trang 50)
Sơ đồ 2.2.  Mô hình kênh phân phối đường được sản xuất trong nước - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Sơ đồ 2.2. Mô hình kênh phân phối đường được sản xuất trong nước (Trang 51)
Sơ đồ 2.3. Mô hình kênh phân phối đường nhập khẩu - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Sơ đồ 2.3. Mô hình kênh phân phối đường nhập khẩu (Trang 52)
Biểu đồ 2.4. Đồ thị giá bán buôn đường kính trắng, đường tinh luyện - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
i ểu đồ 2.4. Đồ thị giá bán buôn đường kính trắng, đường tinh luyện (Trang 53)
Biểu đồ 2.5. Đồ thị giá bán buôn đường kính trắng, đường tinh luyện - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
i ểu đồ 2.5. Đồ thị giá bán buôn đường kính trắng, đường tinh luyện (Trang 54)
Biểu đồ 2.7. Đồ thị giá bán buôn đường kính trắng, đường tinh luyện - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
i ểu đồ 2.7. Đồ thị giá bán buôn đường kính trắng, đường tinh luyện (Trang 55)
Biểu đồ 2.8. Đồ thị tương quan tiêu dùng – tồn kho đường thế giới - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
i ểu đồ 2.8. Đồ thị tương quan tiêu dùng – tồn kho đường thế giới (Trang 57)
Bảng 2.5. Thuế suất nhập khẩu đường của Việt Nam để thực hiện hiệp định - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Bảng 2.5. Thuế suất nhập khẩu đường của Việt Nam để thực hiện hiệp định (Trang 61)
Bảng 2.4. Thuế suất nhập khẩu đường ngoài hạn ngạch - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Bảng 2.4. Thuế suất nhập khẩu đường ngoài hạn ngạch (Trang 61)
Bảng 2.8. Diện tích trồng mía Vùng Duyên hải miền Trung và - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Bảng 2.8. Diện tích trồng mía Vùng Duyên hải miền Trung và (Trang 66)
Bảng 3.3. Tổng hợp nhu cầu sử dụng đường 2011 - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Bảng 3.3. Tổng hợp nhu cầu sử dụng đường 2011 (Trang 85)
Bảng 3.5. Kế hoạch sản xuất của 25 nhà máy đường đến năm 2015 và  năm 2020 (Theo báo cáo của các Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn) - Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần bình ổn thị trường đường việt nam, giai đoạn 2011 2015
Bảng 3.5. Kế hoạch sản xuất của 25 nhà máy đường đến năm 2015 và năm 2020 (Theo báo cáo của các Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn) (Trang 88)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w