Lý luận nhận thức nghiên cứu để trả lời câu hỏi về nhận thức của con người đối với hiện thực xung quanh: liệu con người có thể nhận thức được thế giới hay không..?. Như các nhà kinh điển
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
⸎⸎⸎⸎⸎
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN
TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN
Đề tài 06 : “Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và liên hệ trong quá trình học tập của
sinh viên hiện nay? ” Giảng viên hướng dẫn: ThS Đồng Thị Tuyền
Sinh viên : Nguyễn Thị Phượng
Lớp : Triết học Mác- Lênin_1_2(15.1FS).8_LT
Mã sinh viên : 21013171
Năm học 2021 – 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Khái quát về lý luận nhận thức 3
2 Nêu nguyên tắc về thực tiễn 5
NỘI DUNG 8
PHẦN I: PHÂN TÍCH CÁC KHÁI NIỆM 8
1.1 Thực tiễn 8
1.2 Nhận thức 9
PHẦN 2: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC 10
PHẦN 3: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN 12
1 Ý nghĩa của phương pháp luận 12
2 Sự liên hệ của sinh viên trong quá trình học tập 12
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Khái quát về lý luận nhận thức
Trước hết ta sẽ khái quát về Lý luận nhận thức (hay được gọi là Nhận thức luận) là 1 bộ phận của Triết học hệ thống các quan điểm nhất định về vấn đề nhận thức Lý luận nhận thức nghiên cứu để trả lời câu hỏi về nhận thức của con người đối với hiện thực xung quanh: liệu con người có thể nhận thức được thế giới hay không ?
Tiếp theo, ta sẽ đến với bốn nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức: Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan so với con người, tồn tại độc lập đối với cảm giác tư duy và ý thức của con người Hiện thực khách quan là đối tượng của nhận thức Thừa nhận năng lượng nhận thức thế giới của con người Về nguyên tắc không có cái gì là không thể biết Hay có thể nói rằng chỉ có những điều hiện nay con người chưa biết nhưng tương lai nhất định sẽ biết với sự phát triển của khoa học và thực tiễn Lý luận nhận thức Mác xít khẳng định con người có sức và khả năng nhận thức và cải tạo thế giới Một quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi đi đến thực tiễn Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện thực đến bản chất từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, mục đích, tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức Nhận thức
là quá trình con người phản ánh biện chứng, năng động sáng tạo thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội
Khi ta đã tìm hiểu rõ về bốn nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức rồi thì ta sẽ cùng tìm hiểu đến hai giai đoạn của lý luận nhận thức Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của một quá trình nhận thức Tuy chúng có sự khác nhau về vị trí, mức độ và phạm vi phản ánh, nhưng có
Trang 4liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Mỗi giai đoạn đều có mặt tích cực
và mặt hạn chế Giai đoạn nhận thức cảm tính, tuy nhận thức hiện thực trực tiếp thế giới khách quan, nhưng đó chỉ là nhận thức những hiện tượng bề ngoài, giản đơn, nông cạn Còn nhận thức lý tính, tuy không phản ánh trực tiếp sự vật hiện tượng, nhưng vạch ra những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong, vạch ra quy luật vận động phát triển của sự vật, hiện tượng Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của quá trình nhận thức, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ thực tiễn, đều lấy sự vật, hiện tượng làm đối tượng, nội dung phản ánh Giữa chúng có liên hệ mật thiết với nhau Nhận thức cảm tính là tiền đề, điều kiện của nhận thức lý tính Nhận thức lý tính không thể thực hiện nếu thiếu tài liệu của nhận thức cảm tính đưa lại Ngược lại, nhận thức lý tính sau khi đã hình thành thì tác động trở lại nhận thức cảm tính làm cho nó nhận thức nhạy bén hơn, chính xác hơn trong quá trình phản ánh hiện thực Tư duy trừu tượng phản ánh gián tiếp hiện thực nên dễ có nguy cơ phản ánh sai lạc Do vậy, nhận thức của tư duy trừu tượng phải trở về thực tiễn để thực tiễn kiểm nghiệm, phân biệt giữa nhận thức đúng với nhận thức sai Như vậy, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn, là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý khách quan Trong đó, thực tiễn vừa là tiền đề xuất phát, vừa là điểm kết thúc của một vòng khâu, một quá trình nhận thức Kết thúc vòng khâu này lại là điểm khởi đầu của vòng khâu khác cao hơn Đó là quá trình vô tận, liên tục của sự nhận thức chân lý khách quan
Như vậy ta đã cùng tìm hiểu hết các vấn đề về nhận thức và thực tiễn Tiếp sau đây sẽ là một số ví dụ: Trồng lúa, nuôi gà, buôn bán thực phẩm; xây nhà, sửa ô tô, sửa xe máy, quét rác; làm cách mạng, bầu cử, xây dựng luật pháp Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mác-xít nói riêng mà còn của toàn bộ triết học Mác – Lênin nói chung
Trang 52 Nêu nguyên tắc về thực tiễn
Hoạt động thực tiễn gồm 3 hình thức cơ bản sau Thứ nhất hoạt động sản xuất vật chất Ví dụ ở khắp mọi nơi trong cuộc sống, như trồng lúa, trồng
khoai, dệt vải, sản xuất giày dép, ô tô, xe máy… Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì: hoạt động sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đồng thời, dạng hoạt động này quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn, là cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật Thứ hai, hoạt động chính trị – xã hội: dạng hoạt động này nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội
Sau đây ta sẽ có một số ví dụ về hoạt động chính trị – xã hội như: đi bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội; đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri; thanh niên tham gia tình nguyện giúp đồng bào vùng sâu vùng xa
Thứ ba, hoạt động thực nghiệm khoa học Đó là dạng hoạt động này ra đời cùng với sự xuất hiện của các ngành khoa học Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hiện nay (cách mạng 4.0), hoạt động thực nghiệm khoa học ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Như vậy, ta cùng tìm hiểu về vai trò của mỗi hình thức Thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức Thực tiễn là cơ sở của nhận thức Thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chúng Ban đầu, con người thu nhận những tài liệu cảm tính Sau đó, con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa… để phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận Thứ hai, thực tiễn là mục đích của nhận thức Nhân thức về vấn đề, khía cạnh, lĩnh vực gì cũng phục vụ thực tiễn Nhận
Trang 6thức mà không phục vụ thực tiễn thì không phải là “nhận thức” theo đúng nghĩa Do đó, kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn Hơn thế, thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức Thực tiễn cung cấp năng lượng nhiều nhất, nhanh chóng nhất giúp con người nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc về thế giới Trong quá trình hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực thể chất, trí tuệ của mình
Thứ hai, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Như các nhà kinh điển của triết học Mác – Lênin đã khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người
có thể đạt tới chân lý khách quan hay không hoàn toàn không phải là một vấn
đề lý luận, mà là một vấn đề thực tiễn.”
Những tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý Thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân
lý Tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn không đứng nguyên một chỗ mà luôn biến đổi và phát triển Thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của con người thành những chân lý tuyệt đích cuối cùng Trong quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và hiện nay vẫn phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo, tiếp tục được thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn
Trang 7NỘI DUNG PHẦN I: PHÂN TÍCH CÁC KHÁI NIỆM
1.1 Thực tiễn
Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính
xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới Con người không thể thoả mãn với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng
có sẵn Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điểu cần thiết đối với con người
Tuy trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người Hoạt động đó chỉ có thể được tiến hành trong các quan hệ xã hội Do đó, về mặt nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử – xã hội
Thực tiễn bao gồm nhiều yêu tố và nhiều dạng hoạt động Bất kỳ quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm những yếu tố như nhu cầu, lợi ích, mục
Trang 8đích, phương tiện và kết quả Các yếu tố đó có liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được
Ví dụ: hoạt động sản xuất vật chất: Hoạt động gặt lúa của nông dân, lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp…Hoạt động chính trị –
xã hội: Hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội, tiến hành Đại hội Đoàn Thanh niên trường học, Hội nghị công đoàn Hoạt động thực nghiệm khoa học: Hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học để tìm ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng.mới, vác-xin phòng ngừa dịch bệnh mới
1.2 Nhận thức
Triết học Mác – Lênin cho rằng nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người; là quá trình tạo thành tri thức về thế giới khách quan trong bộ óc con người: “Tri giác và biểu tượng của chúng ta là hình ảnh của các sự vật đó”; “Cảm giác của chúng ta, ý thức của chúng ta chỉ là hình ảnh của thế giới bên ngoài và dĩ nhiên là nếu không có cái bị phản ánh thì không thể có cái phản ánh, nhưng cái bị phản ánh tồn tại độc lập với cái phản ánh”
Nhận thức là một quá trình biện chứng có vận động và phát triển, là quá trình
đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít tới biết nhiều hơn, từ biết chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn
Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người
Bản chất của nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo thế giới vật chất khách quan bởi con người Vì thế, chủ thể nhận thức chính là con người Nhưng đó là con người hiện thực, đang sống, đang hoạt động thực tiễn
và đang nhận thức trong những điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể nhất định, tức
là con người đó phải thuộc về một giai cấp, một dân tộc nhất định, có ý thức, lợi ích, nhu cầu, cá tính, tình cảm,v.v Hoạt động thực tiễn của con người chính là là cơ sở của mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận
Trang 9thức Ví dụ: pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý xã hội, mọi người dân nhận thức được tầm quan trọng của Pháp luật, nếu vi phạm sẽ bị Nhà nước trừng phạt Do đó, người dân sẽ luôn sống và làm việc tuân theo pháp luật của nhà nước Tiền là một phương tiện dùng để mua bán trao đổi các hàng hóa, dịch vụ mà chúng ta sử dụng phục vụ cho cuộc sống, nhận thức được vai trò quan trọng của tiền do đó, người ta phải cố gắng học tập, làm việc chăm chỉ
để kiếm được nhiều tiền, hoặc thậm chí có những người còn bất chấp đạo đức
và pháp luật để kiếm nhiều tiền như buôn bán hàng cấm, cho vay nặng lãi…
PHẦN 2: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN
THỨC
Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức chân lý Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức : Bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới khách quan, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người nhận thức Chính thực tiễn cung cấp những tài liệu, vật liệu cho nhận thức của con người Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có khoa học, không
có lý luận, bởi lẽ tri thức của con người xét đến cùng là được nảy sinh từ thực tiễn
Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy cho sự ra đời của các ngành khoa học Thực tiễn có tác dụng rèn luyện các giác quan của conngười, làm cho chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn, trên cơ sở đó giúp quá trình nhận thức của con người tốt hơn Vì vậy, Ph Ăngghen đã khẳng định: “chính việc người ta biến đổi tự nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy
Trang 10con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”
Hoạt động thực tiễn còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức, chẳng hạn kính hiển vi, kính thiên văn, máy vi tính, vv., đã mở rộng khả năng của các khí quan nhận thức của con người Như vậy, thực tiễn chính là nền tảng, cơ sở để nhận thức của con người nảy sinh, tồn tại, phát triển Không những vậy, thực tiễn còn là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển
Ví dụ: Chẳng hạn, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn con người cần phải “đo đạc diện tích và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian và sự chế tạo cơ khí” mà toán học đã ra đời và phát triển
Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Nhận thức của con người ngay từ khi mới xuất hiện trên trái đất đã bị quy định bởi những nhu cầu thực tiễn, bởi lẽ, muốn sống, muốn tồn tại, con người phải sản xuất và cải tạo xã hội Chính nhu cầu sản xuất vật chất và cải tạo xã hội buộc con người phải nhận thức thế giới xung quanh Nhận thức của con người là nhằm phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn chứ không phải để trang trí hay phục vụ cho những ý tưởng viển vông Nếu không vì thực tiễn, nhận thức sẽ mất phương hướng,
bế tắc Mọi tri thức khoa học - kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa khi được
áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ con người
Ví dụ: Ngay cả những thành tựu mới đây nhất là khám phá và giải mã bản
đồ gien người cũng ra đời từ chính thực tiễn, từ mục đích chữa trị những căn bệnh nan y và từ mục đích tìm hiểu, khai thác những tiềm năng bí ẩn của con người…có thể nói, suy cho cùng, không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ một mục đích nào đó của thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn