TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU 2 1. Đặt vấn đề 2 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của tiểu luận 3 2.1. Mục tiêu nghiên cứu 3 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận 3 3.1. Đối tượng nghiên cứu 3 3.2. Phạm vi nghiên cứu 3 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4 4.1. Cơ sở lý luận 4 4.2. Phương pháp nghiên cứu 4 5. Kết cấu của tiểu luận 4 B. NỘI DUNG 6 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC LIÊN CHÍNH PHỦ 6 1.1. Định nghĩa 6 1.2. Phân loại các Tổ chức liên chính phủ 7 1.3. Đặc điểm của Tổ chức liên chính phủ 7 1.4. Vai trò của Tổ chức liên chính phủ 8 Chương 2: THỰC TIỄN VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC TỔ CHỨC LIÊN CHÍNH PHỦ TRONG THỜI GIAN VỪA QUA 10 2.1. Những tổ chức liên chính phủ tiêu biểu Việt Nam đã tham gia 10 2.2. Những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ 12 2.3. Đánh giá về những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chính liên chính phủ 14 Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP MANG TÍNH BỀN VỮNG NHẰM PHÁT HUY NHỮNG ĐIỂM MẠNH CỦA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ 15 C. KẾT LUẬN 16 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 1 A. MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế. Khi mà quá trình hội nhập ngày càng được xúc tiến nhanh, ngoại giao đa phương ngày càng giữ một vị trí quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của các quốc gia trên thế giới. Quá trình xã hội hóa ngày càng gia tăng và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia hiện nay càng trở lên phổ biến, vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hoá ngày một sâu sắc. Sự quốc tế hoá thông qua việc hợp tác ngày càng sâu sắc giữa các quốc gia ở tầm song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu. Các tổ chức liên chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng trong các hệ thống chính trị quốc tế và quản trị toàn cầu. Việt Nam ta cũng đã và đang tham gia tích cực, có trách nhiệm trong các tổ chức quốc tế, đóng góp công sức không hề nhỏ trong việc xây dựng mở rộng hợp tác cùng phát triển, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, chú trọng bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển, phát triển luật pháp quốc tế,... Những kết quả đã đạt được từ những đóng góp của Việt Nam trong những mối quan hệ này đã củng cố và nâng cao vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế, tạo ra thế chủ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước. Trên cơ sở đó, đánh giá những đóng góp mà đất nước ta đã đạt được trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong thời gian vừa qua. Đồng thời đề ra những nhiệm vụ mới với chủ trương và chính sách phù hợp mang tính bền vững nhằm định hướng, phát huy thế mạnh của Việt Nam trong phát triển cộng đồng quốc tế, khẳng định vai trò, vị thế đất nước và xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Với những lý do như đã phân tích ở trên, tác giả chọn đề tài “Đánh giá về những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong thời gian vừa qua” làm đề tài cho tiểu luận kết thúc học phần môn học Công pháp quốc tế của mình. 2 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của tiểu luận 2.1. Mục tiêu nghiên cứu Việc nghiên cứu tiểu luận nhằm đánh giá những điểm nổi bật, đóng góp quan trọng và thành công của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ. Từ đó nêu ra được những giá trị tích cực và nổi bật, đồng thời tìm ra những điểm còn hạn chế cần được khắc phục góp phần vào công cuộc đổi mới, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tiểu luận cần giải quyết những vấn đề sau: Phân tích khái quát, là rõ định nghĩa, đặc điểm, bản chất, vai trò của các tổ chức liên chính phủ. Đánh giá các yếu tố tác động đến tình hình thực tế qua việc khảo sát, nghiên cứu về những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong thời gian qua. Đề ra những phương án, giải pháp mang tính bền vững nhằm định hướng, phát huy thế mạnh của Việt Nam trong phát triển cộng đồng. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là những đóng góp, vai trò của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Nghiên cứu, phân tích, những đóng góp của Việt Nam trong thời gian vừa qua trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ. Về thời gian: 3 Đánh giá tình hình thực tiễn, từ đó xác định, tìm kiếm những giải pháp mang tính bền vững nhằm định hướng, phát huy thế mạnh của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Tiểu luận được thực hiện dựa trên hệ thống quan điểm Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; cơ sở lý luận và thực tiễn từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước ta, luật lệ quốc tế và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước làm cơ sở lý luận chung cho tiểu luận. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau. Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu: Thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu, giáo trình đã được học và tham khảo, các thông tin được đăng tải trên các trang báo điện tử, website có liên quan đến việc đánh giá những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Kế thừa kết quả nghiên cứu từ các tác giả đã nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến tiểu luận. Tổng hợp các quan điểm lý luận thực tiễn từ các văn bản pháp luật, tài liệu khoa học, tạp chí, sách báo... Bên cạnh đó còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh... 5. Kết cấu của tiểu luận Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và tổng quan về tổ chức liên chính phủ. 4 Chương 2: Thực tiễn và đánh giá về những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ trong thời gian qua Chương 3: Đề xuất một số giải pháp mang tính bền vững nhằm phát huy những điểm mạnh của Việt Nam trong quan hệ quốc tế. 5 B. NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC LIÊN CHÍNH PHỦ 1.1. Định nghĩa Trước hết, khái quát tổng quan về tổ chức quốc tế là gì? Xu hướng hiện đại hóa, toàn cầu hóa ngày càng gia tăng việc mở cửa giao lưu, hợp tác cùng phát triển là nhu cầu tất yếu và khách quan. Quan hệ đơn phương, một chiều bị thay thế bởi quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau trong quan hệ giữa các nước. Điều này dựa trên nhu cầu của các quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu các nước thành viên trong việc thiết lập những diễn đàn tập trung để đàm phán, giải quyết xung đột, cải thiện mối quan hệ quốc tế, thống nhất những mục tiêu chung như: giữ gìn hoà bình, phát triển giáo dục, kinh tế xã hội, trợ giúp nhân đạo,... Các tổ chức quốc tế đã thể hiện vai trò và vị thế hết sức quan trọng đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện quy phạm pháp luật quốc tế, phát triển kinh tế xã hội, tăng cường và gắn kết các quốc gia. Theo Công ước viên năm 1969 quy định: “Thuật ngữ “tổ chức quốc tế” dùng để chỉ một tổ chức liên chính phủ”1. Cho tới thời điểm hiện tại, trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng chưa đưa ra định nghĩa rõ ràng về tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, có thể hiểu tổ chức quốc tế là thực thể liên kết chủ yếu các quốc gia độc lập, có chủ quyền, được hình thành và hoạt động trên cơ sở điều ước quốc tế, có hệ thống các cơ quan duy trì hoạt động thường xuyên theo đúng mục đích, tôn chỉ của tổ chức đó và có quyền năng của luật quốc tế riêng biệt với các thành viên và các chủ thể khác. Tổ chức quốc tế bao gồm tổ chức liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ. Theo nghiên cứu của Ủy ban Pháp luật Quốc tế, tổ chức liên chính phủ (Intergovernmental Organizations – IGOs) được định nghĩa là “hiệp hội các quốc gia được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế, có văn kiện thành lập và các cơ 1Khoản 1i, Điều 2, Công ước viên năm 1969. 6 quan chung, có tư cách pháp nhân độc lập tách biệt với tư cách pháp nhân của các quốc gia thành viên”. 1.2. Phân loại các Tổ chức liên chính phủ Có thể phân loại các tổ chức liên chính phủ theo cách thức như sau: Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động: Tổ chức quốc tế chuyên môn: hợp tác trong một lĩnh vực nhất nhất (WTOTổ chức thương mại thế giới, WHO Tổ chức y tế thế giới, NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương,...) Tổ chức quốc tế chung: hợp tác và làm việc trong hầu hết các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội... (Có thể kể đến như ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, EU Liên minh châu Âu, AU Liên minh châu Phi, USAN Liên minh các quốc gia Nam Mỹ,...) Căn cứ theo phạm vi hoạt động: Tổ chức quốc tế khu vực: cùng một khu vực địa lí, kết hợp tư cách thành viên quốc tế và bao gồm các thực thể địa chính trị hoạt động vượt qua một quốc gia đơn lẻ như ASEAN, EU, AU. Tổ chức quốc tế liên khu vực: có thể khác khu vực địa lí nhưng chung mục đích kinh tế, chính trị như APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương, OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ,... Tổ chức quốc tế toàn cầu: có sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thế giới, như UN – Liên Hợp Quốc 1.3. Đặc điểm của Tổ chức liên chính phủ Về thành viên tham gia: Chủ yếu là sự liên kết của các quốc gia độc lập, có chủ quyền hoặc có thể bao gồm các chủ thể khác của luật quốc tế thừa nhận tư cách thành viên của loại hình lãnh thổ đặc biệt (Hồng Kông, Ma Cao,…). Về cơ sở hình thành: 7 Hình thành dựa trên điều ước quốc tế được ký kết giữa các bên tham gia. Điều ước quốc tế mang bản chết là điều lệ của tổ chức quốc tế, quy định những mục đích, nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức, quyền và nghĩa vụ của các thành viên tham gia. Ví dụ: Liên hợp quốc có Hiến chương Liên hợp quốc; Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có Tuyên bố Băng Cốc 1962. Về quyền năng chủ thể Luật quốc tế: Do các quốc gia thành viên trao quyền để thực hiện các mục tiêu tôn chỉ của tổ chức. Quyền năng này mang tính chất tái sinh và hạn chế, quyền năng này do các thành viên của tổ chức quốc tế xác định cụ thể trong điều lệ trong điều ước ký kết để thành lập tổ chức đó. Về cơ cấu tổ chức, duy trì và hoạt động: Bao gồm cơ quan chính và cơ quan hỗ trợ. Các tổ chức quốc tế liên chính phủ ký kết Điều ước quốc tế với các thành viên tham gia về thỏa thuận thuê trụ sở. Khác với hội nghị quốc tế, diễn đàn quốc tế thì các cuộc họp được tổ chức theo nguyên tắc luân phiên. Ví dụ: Tổ chức thương mại thế giới WTO có ba cơ quan chính là: Hội nghị bộ trưởng, Đại hội đồng và Ban thư ký; Liên Hợp Quốc có 6 cơ quan chính là Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế, Hội đồng Thác quản, Tòa án Quốc tế và Ban Thư ký.... 1.4. Vai trò của Tổ chức liên chính phủ Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế đòi hỏi những yêu cầu cao về chuyên môn và phải được sự đồng thuận của các quốc gia thành viên. Các quốc gia thành viên có quyền tham gia đóng góp, soạn thảo, đề xuất những giải pháp khắc phục những vấn đề nhức nhối còn đang gây tranh cãi. Thứ hai, các thành viên của tổ chức quốc tế liên chính phủ là chủ thể trực tiếp tham gia ký kết các hiệp ước.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-
-TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ LIÊN CHÍNH PHỦ
TRONG THỜI GIAN VỪA QUA
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
1 Đặt vấn đề 2
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của tiểu luận 3
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Cơ sở lý luận 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu của tiểu luận 4
B NỘI DUNG 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC LIÊN CHÍNH PHỦ 6
1.1 Định nghĩa 6
1.2 Phân loại các Tổ chức liên chính phủ 7
1.3 Đặc điểm của Tổ chức liên chính phủ 7
1.4 Vai trò của Tổ chức liên chính phủ 8
Chương 2: THỰC TIỄN VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC TỔ CHỨC LIÊN CHÍNH PHỦ TRONG THỜI GIAN VỪA QUA 10
2.1 Những tổ chức liên chính phủ tiêu biểu Việt Nam đã tham gia 10
2.2 Những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ 12
2.3 Đánh giá về những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chính liên chính phủ 14
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP MANG TÍNH BỀN VỮNG NHẰM PHÁT HUY NHỮNG ĐIỂM MẠNH CỦA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ 15
C KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế Khi mà quá trình hội nhập ngày càng được xúc tiến nhanh, ngoại giao
đa phương ngày càng giữ một vị trí quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của các quốc gia trên thế giới Quá trình xã hội hóa ngày càng gia tăng và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia hiện nay càng trở lên phổ biến, vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hoá ngày một sâu sắc Sự quốc tế hoá thông qua việc hợp tác ngày càng sâu sắc giữa các quốc gia ở tầm song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu Các tổ chức liên chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng trong các hệ thống chính trị quốc tế và quản trị toàn cầu Việt Nam ta cũng đã và đang tham gia tích cực, có trách nhiệm trong các tổ chức quốc tế, đóng góp công sức không hề nhỏ trong việc xây dựng mở rộng hợp tác cùng phát triển, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, chú trọng bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển, phát triển luật pháp quốc tế, Những kết quả đã đạt được từ những đóng góp của Việt Nam trong những mối quan hệ này đã củng cố và nâng cao vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế, tạo ra thế chủ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước
Trên cơ sở đó, đánh giá những đóng góp mà đất nước ta đã đạt được trong các
tổ chức quốc tế liên chính phủ trong thời gian vừa qua Đồng thời đề ra những nhiệm vụ mới với chủ trương và chính sách phù hợp mang tính bền vững nhằm định hướng, phát huy thế mạnh của Việt Nam trong phát triển cộng đồng quốc tế, khẳng định vai trò, vị thế đất nước và xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu
mạnh Với những lý do như đã phân tích ở trên, tác giả chọn đề tài “Đánh giá về
những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong thời gian vừa qua” làm đề tài cho tiểu luận kết thúc học phần môn học Công pháp
quốc tế của mình
Trang 42 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của tiểu luận
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu tiểu luận nhằm đánh giá những điểm nổi bật, đóng góp quan trọng và thành công của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ Từ đó nêu ra được những giá trị tích cực và nổi bật, đồng thời tìm ra những điểm còn hạn chế cần được khắc phục góp phần vào công cuộc đổi mới, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tiểu luận cần giải quyết những vấn đề sau:
- Phân tích khái quát, là rõ định nghĩa, đặc điểm, bản chất, vai trò của các tổ chức liên chính phủ
- Đánh giá các yếu tố tác động đến tình hình thực tế qua việc khảo sát, nghiên cứu về những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong thời gian qua
- Đề ra những phương án, giải pháp mang tính bền vững nhằm định hướng, phát huy thế mạnh của Việt Nam trong phát triển cộng đồng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là những đóng góp, vai trò của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
*Về nội dung:
Nghiên cứu, phân tích, những đóng góp của Việt Nam trong thời gian vừa qua trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ
*Về thời gian:
Trang 5Đánh giá tình hình thực tiễn, từ đó xác định, tìm kiếm những giải pháp mang tính bền vững nhằm định hướng, phát huy thế mạnh của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Tiểu luận được thực hiện dựa trên hệ thống quan điểm Chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; cơ sở lý luận và thực tiễn từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước ta, luật lệ quốc tế và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước làm cơ sở lý luận chung cho tiểu luận
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau
- Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu:
Thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu, giáo trình đã được học và tham khảo, các thông tin được đăng tải trên các trang báo điện tử, website có liên quan đến việc đánh giá những đóng góp của Việt Nam trong các tổ chức liên chính phủ
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Kế thừa kết quả nghiên cứu từ các tác giả đã nghiên cứu về những vấn đề
có liên quan đến tiểu luận Tổng hợp các quan điểm lý luận thực tiễn từ các văn bản pháp luật, tài liệu khoa học, tạp chí, sách báo
Bên cạnh đó còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh
5 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và tổng quan về tổ chức liên chính
phủ
Trang 6Chương 2: Thực tiễn và đánh giá về những đóng góp của Việt Nam trong
các tổ chức liên chính phủ trong thời gian qua
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp mang tính bền vững nhằm phát huy
những điểm mạnh của Việt Nam trong quan hệ quốc tế
Trang 7B NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG
QUAN VỀ TỔ CHỨC LIÊN CHÍNH PHỦ
1.1 Định nghĩa
Trước hết, khái quát tổng quan về tổ chức quốc tế là gì?
Xu hướng hiện đại hóa, toàn cầu hóa ngày càng gia tăng việc mở cửa giao lưu, hợp tác cùng phát triển là nhu cầu tất yếu và khách quan Quan hệ đơn phương, một chiều bị thay thế bởi quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau trong quan hệ giữa các nước Điều này dựa trên nhu cầu của các quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu các nước thành viên trong việc thiết lập những diễn đàn tập trung để đàm phán, giải quyết xung đột, cải thiện mối quan hệ quốc tế, thống nhất những mục tiêu chung như: giữ gìn hoà bình, phát triển giáo dục, kinh tế - xã hội, trợ giúp nhân đạo, Các tổ chức quốc tế đã thể hiện vai trò và vị thế hết sức quan trọng đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện quy phạm pháp luật quốc tế, phát triển kinh tế xã hội, tăng cường và gắn kết các quốc gia Theo Công ước viên năm
1969 quy định: “Thuật ngữ “tổ chức quốc tế” dùng để chỉ một tổ chức liên
chính phủ”1 Cho tới thời điểm hiện tại, trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng chưa đưa ra định nghĩa rõ ràng về tổ chức quốc tế
Tuy nhiên, có thể hiểu tổ chức quốc tế là thực thể liên kết chủ yếu các quốc gia độc lập, có chủ quyền, được hình thành và hoạt động trên cơ sở điều ước quốc tế, có hệ thống các cơ quan duy trì hoạt động thường xuyên theo đúng mục đích, tôn chỉ của tổ chức đó và có quyền năng của luật quốc tế riêng biệt với các thành viên và các chủ thể khác Tổ chức quốc tế bao gồm tổ chức liên chính phủ
và tổ chức phi chính phủ
Theo nghiên cứu của Ủy ban Pháp luật Quốc tế, tổ chức liên chính phủ -(Intergovernmental Organizations – IGOs) được định nghĩa là “hiệp hội các quốc gia được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế, có văn kiện thành lập và các cơ
1 Khoản 1i, Điều 2, Công ước viên năm 1969.
Trang 8quan chung, có tư cách pháp nhân độc lập tách biệt với tư cách pháp nhân của các quốc gia thành viên”
1.2 Phân loại các Tổ chức liên chính phủ
Có thể phân loại các tổ chức liên chính phủ theo cách thức như sau:
*Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động:
- Tổ chức quốc tế chuyên môn: hợp tác trong một lĩnh vực nhất nhất (WTO-Tổ chức thương mại thế giới, WHO -Tổ chức y tế thế giới, NATO -Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, )
- Tổ chức quốc tế chung: hợp tác và làm việc trong hầu hết các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội (Có thể kể đến như ASEAN -Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, EU -Liên minh châu Âu, AU - Liên minh châu Phi, USAN -Liên minh các quốc gia Nam Mỹ, )
*Căn cứ theo phạm vi hoạt động:
- Tổ chức quốc tế khu vực: cùng một khu vực địa lí, kết hợp tư cách thành viên quốc tế và bao gồm các thực thể địa chính trị hoạt động vượt qua một quốc gia đơn lẻ như ASEAN, EU, AU
- Tổ chức quốc tế liên khu vực: có thể khác khu vực địa lí nhưng chung mục đích kinh tế, chính trị như APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương, OPEC -Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ,
- Tổ chức quốc tế toàn cầu: có sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thế giới, như UN – Liên Hợp Quốc
1.3 Đặc điểm của Tổ chức liên chính phủ
*Về thành viên tham gia:
Chủ yếu là sự liên kết của các quốc gia độc lập, có chủ quyền hoặc có thể bao gồm các chủ thể khác của luật quốc tế thừa nhận tư cách thành viên của loại hình lãnh thổ đặc biệt (Hồng Kông, Ma Cao,…)
*Về cơ sở hình thành:
Trang 9Hình thành dựa trên điều ước quốc tế được ký kết giữa các bên tham gia Điều ước quốc tế mang bản chết là điều lệ của tổ chức quốc tế, quy định những mục đích, nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức, quyền và nghĩa vụ của các thành viên tham gia Ví dụ: Liên hợp quốc có Hiến chương Liên hợp quốc; Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có Tuyên bố Băng Cốc 1962
*Về quyền năng chủ thể Luật quốc tế:
Do các quốc gia thành viên trao quyền để thực hiện các mục tiêu tôn chỉ của tổ chức Quyền năng này mang tính chất tái sinh và hạn chế, quyền năng này
do các thành viên của tổ chức quốc tế xác định cụ thể trong điều lệ trong điều ước ký kết để thành lập tổ chức đó
*Về cơ cấu tổ chức, duy trì và hoạt động:
Bao gồm cơ quan chính và cơ quan hỗ trợ Các tổ chức quốc tế liên chính phủ ký kết Điều ước quốc tế với các thành viên tham gia về thỏa thuận thuê trụ
sở Khác với hội nghị quốc tế, diễn đàn quốc tế thì các cuộc họp được tổ chức theo nguyên tắc luân phiên Ví dụ: Tổ chức thương mại thế giới WTO có ba cơ quan chính là: Hội nghị bộ trưởng, Đại hội đồng và Ban thư ký; Liên Hợp Quốc
có 6 cơ quan chính là Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế, Hội đồng Thác quản, Tòa án Quốc tế và Ban Thư ký
1.4 Vai trò của Tổ chức liên chính phủ
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế.
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế đòi hỏi những yêu cầu cao về chuyên môn và phải được sự đồng thuận của các quốc gia thành viên Các quốc gia thành viên có quyền tham gia đóng góp, soạn thảo, đề xuất những giải pháp khắc phục những vấn đề nhức nhối còn đang gây tranh cãi
Thứ hai, các thành viên của tổ chức quốc tế liên chính phủ là chủ thể trực
tiếp tham gia ký kết các hiệp ước
Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế 2016: “Ký kết là hành vi pháp
lý do người có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, bao
Trang 10gồm đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế hoặc trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế”2 Việc ký kết điều ước quốc tế là một quá trình phức tạp, diễn ra khi các bên chủ thể tham gia được thể hiện ý chí của mình một cách rõ ràng và dứt khoát Việc ký kết bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như đàm phán, soạn thảo, thông qua, ký, phê chuẩn hoặc phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế Các thành viên của tổ chức liên chính phủ là các quốc gia nên năng lực ký kết các điều ước quốc tế có thể bị hạn chế bởi quyền năng
mà các quốc gia thành viên trao cho thông qua hiến chương hay các văn kiện thành lập của tổ chức đó Có thể lấy ví dụ như trong một số trường hợp nhất định cộng đồng Châu Âu có thể thay mặt cho các quốc gia thành viên ký kết một
số điều ước quốc tế nhất định
Thứ ba, giám sát thực hiện điều ước quốc tế mà tổ chức bảo trợ ký kết.
Để thực hiện các điều ước quốc tế một cách nghiêm túc đặc biệt trong lĩnh vực môi trường và các quyền của con người Cần phải đặt ra những vấn đề rõ ràng và thực hiện được những mục tiêu đã đề ra một cách nghiêm túc Điều này cần thực thi các biện pháp lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền cụ thể của các bên tham gia Đồng thời tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nội dung công ước; soạn thảo và đệ trình báo cáo quốc gia định kỳ về việc thực hiện công ước; hợp tác quốc tế trong việc thực hiện công ước
Thứ tư, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Khi tham gia vào các tổ chức quốc tế liên chính phủ mang tính chất gắn kết, giao lưu với các quốc gia thành viên Góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước, dễ dàng tiếp thu những tinh hoa văn hóa, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập vào đời sống kinh tế - chính trị quốc tế
Trang 11Chương 2: THỰC TIỄN VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC TỔ CHỨC LIÊN CHÍNH PHỦ TRONG
THỜI GIAN VỪA QUA
2.1 Những tổ chức liên chính phủ tiêu biểu Việt Nam đã tham gia 2.1.1 UN - Liên Hợp Quốc
Thành lập vào năm 1945, Liên Hợp Quốc là tổ chức liên chính phủ lớn nhất trên thế giới Hiện có 193 quốc gia thành viên Hiến chương Liên Hợp Quốc, hiệp ước thành lập Liên hợp quốc, liệt kê các mục đích chính là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển quan hệ giữa các quốc gia, làm việc để giải quyết các vấn
đề quốc tế, thúc đẩy quyền con người và là trung tâm hòa giải tranh chấp của các quốc gia Liên Hợp Quốc hoạt động chủ yếu dựa trên sáu nguyên tắc là: Bình đẳng
về chủ quyền quốc gia; Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia; Cấm đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Không can thiệp vào công việc nội bộ các nước; Tôn trọng các nghĩa vụ và luật pháp quốc tế; Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình Liên Hợp Quốc đã phát triển trong những năm qua để bắt kịp với một thế giới đang thay đổi nhanh chóng Nhưng có một điều vẫn không thay đổi: nó vẫn là nơi duy nhất trên Trái đất, nơi tất
cả các quốc gia trên thế giới có thể tụ họp lại với nhau, thảo luận các vấn đề chung
và tìm ra các giải pháp chung có lợi cho toàn nhân loại.3
Tại phiên họp lần thứ 32 Đại hội đồng Liên Hợp quốc ngày 20/9/1977, Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên thứ 149 của tổ chức đa phương lớn nhất thế giới Sự kiện này đã mở ra một thời kỳ mới cho ngoại giao đa phương Việt Nam với những đóng góp quan trọng vào thành công của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế
3 Trang chủ Liên Hợp Quốc tại Việt Nam.