Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
HIỆN NAY ĐẾN VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ
NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Họ và tên sinh viên Lớp
Khoá Giáo viên hướng dẫn
: NguyÔn ThÞ Hoµng YÕn : NhËt 6
: 44 H : ThS TrÇn Minh NguyÖt
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Nếu năm 2007 được gọi là năm của những bất ổn, thì năm 2008 sẽ có tên
năm của những cuộc khủng hoảng Khủng hoảng từ nguồn lương thực đến
nhiên liệu, từ tài chính đến chính trị, từ môi trường đến an ninh, ảnh hưởng
trực tiếp đến sự sống còn của nhân loại Trong các cuộc khủng hoảng thì có
lẽ cụm từ được thế giới nhắc đến nhiều nhất là “khủng hoảng tài chính”
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ và nó nhanh chóng lan ra toàn
thế giới Không chỉ dừng lại ở một lĩnh vực là tài chính, mà nó còn ảnh
hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực khác Nhiều nhà phân tích tài chính, kinh tế
nổi tiếng thế giới đã ví nó là cuộc khủng hoảng lớn nhất từ trước đến nay,
hơn cả cuộc khủng hoảng những năm 30 của thế kỉ trước Điều này cũng
hoàn toàn đúng, vì thế giới đã thay đổi rất nhiều, nhiều ngành nghề mới, lĩnh
vực mới xuất hiện, nhiều quốc gia trên thế giới đã ra nhập vào thị trường
toàn cầu và khi khủng hoảng xảy ra thì nền kinh tế thế giới sẽ càng bị ảnh
hưởng theo cả chiều sâu và chiều rộng hơn Các nước phát triển bị ảnh
hưởng nghiêm trọng – đó là một điều tất yếu, vậy các nước đang phát triển
nói chung và Việt Nam nói riêng bị ảnh hưởng như thế nào? Có nghiêm
trọng hay không? Và những lĩnh vực nào là chịu ảnh hưởng nhất Chính vì
vậy, em xin chọn nghiên cứu đề tài “ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển” để có thể
phân tích rõ hơn những ảnh hưởng này, và từ đó có thể đưa ra các giải pháp
để ứng phó với khủng hoảng, giúp Việt Nam nói riêng, và một số nước đang
phát triển nói chung nhanh chóng thoát ra khỏi vòng xoáy của cuộc khủng
hoảng này Trong thời gian viết do trình độ hiểu biết còn hạn chế nên không
thể tránh được các sơ xuất, vì vậy mong các thầy cô đóng góp ý kiến và giúp
đỡ cho em Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HIỆN NAY VÀ
NHỮNG NGUYÊN NHÂN
Khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới, vì vậy để nghiên cứu về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
kinh tế đến Việt Nam và một số nước đang phát triển thì em xin nghiên cứu
về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến Việt Nam và các
một số nước đang phát triển để từ đó có cái nhìn toàn diện và bao quát hơn
về cuộc khủng hoảng này
I Tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay và những nguyên
nhân:
1 Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay:
“Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009” là cụm từ được giới báo
chí sử dụng để chỉ tình trạng bất ổn định tài chính như đói tín dụng và thu
hồi nợ, mất giá tiền tệ, sụt giá chứng khoán diễn ra đồng thời nhiều nơi trên
thế giới từ tháng 8 năm 2008 Cuộc khủng hoảng này là sự phát triển và lan
tỏa của cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và nó tiếp tục diễn ra
cho đến năm 2009, và không biết bao giờ nó mới thực sự kết thúc Cuộc
khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây
ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại ở hầu hết các
nước
Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu có thể được nêu rõ qua
các mốc thời gian sau:
Tháng 3-4/2007: Tập đoàn tài chính New Century(1) ngừng cho vay vốn sau
thời gian dài thực hiện chính sách cho vay bằng tài sản thế chấp với độ rủi ro
cao đối dành cho những khách hàng vay vốn nhiều và thường xuyên từ ngân
hàng
Trang 4Trong thời gian này, quỹ Tiền tệ quốc tế IMF đã phải lên tiếng cảnh báo về
mức độ rủi ro đối với thị trường tài chính toàn cầu khi nhận thấy những dấu
hiệu suy yếu từ thị trường cầm cố bất động sản Mỹ
Tháng 6-2007: Hồi chuông cảnh báo của phố Wall vang lên khi hai quỹ bảo
đảm tại ngân hàng đầu tư Bear Stearns(2)
của New York đang trên bờ vực phá sản vì lượng tiền đầu tư vào chứng khoán có thể chấp là quá lớn
Tháng 7-8/2007: Các ngân hàng tại Đức với những khoản đầu tư không sinh
lợi tại thị trường bất động sản Mỹ cũng bị cuốn vào cuộc khủng hoảng này,
bao gồm: Ngân hàng công nghiệp Đức IKB(3)
, Ngân hàng bang Saxony (Sachsen LB) và ngân hàng bang Bavaria (Bayern LB)
Với phát biểu "Thị trường phải tự vận động để cứu mình", Tổng thống Mỹ
George Bush vẫn kiên quyết từ chối những yêu cầu hỗ trợ từ Chính phủ
nước này nhằm xoa dịu tình hình thị trường cầm cố nhà đang khủng hoảng
nghiêm trọng Nhưng sau đó, khi không có được những dấu hiệu khả quan
hơn, tổng thống Mỹ đã hứa sẽ giúp đỡ các chủ bất động sản đang phải vật
lộn với cuộc khủng hoảng để xoa dịu tình hình
Tính tới thời điểm tháng 7/2007: Số lượng tài sản thế chấp bị tịch thu tại Mỹ
đã lên tới 180,000 bất động sản, tăng 93% so với thời điểm cách đó một
năm
Tháng 9/2007: Ngân hàng Northern Rock của Anh(4) bị bao vây bởi nỗi lo
lắng của các khách hàng đang gửi tiết kiệm tại đây Trước tình hình đó,
Chính phủ cũng như Ngân hàng Anh buộc phải đứng ra bảo lãnh cho các
khoản tiền gửi của khách hàng bằng cách quốc hữu hóa Northern Rock
Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) bắt đầu áp dụng một loạt mức giảm lãi suất
để xoa dịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng cầm cố tài sản và thị trường bất
động sản đang rớt giá mạnh
Trang 5Tháng 10/2007: Lợi nhuận của "Người khổng lồ Mỹ" Citigroup(5) cũng
giảm rõ rệt
Qũy tiền tệ quốc tế IMF đã phải đánh giá lại dự đoán mức tăng trưởng của
đồng euro trong năm 2008 từ 2,5% xuống còn 2,1%(6), nguyên nhân một
phần là do ảnh hưởng kéo theo từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ
và thị trường tín dụng nước này
Tháng 12/2007: Tổng thống Mỹ George Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ
cho thêm 1,2 triệu chủ sở hữu bất động sản trong việc thanh toán các khoản
nợ tại ngân hàng
Tháng 1/2008: Ngân hàng khổng lồ của Thụy Sỹ UBS(7) thông báo cắt giảm
18 tỉ USD vào thị trường bất động sản Mỹ
Còn tại Mỹ, ngân hàng Mỹ (Bank of American) tiến hành mua lại
Countrywide Financial, ngân hàng cho vay có thế chấp lớn nhất nước này
Trong 3 quý liên tiếp, Cục dự trữ liên bang (Fed) đã phải giảm mức lãi suất
điểm % lên tới 3,5% theo xu hướng bán hạ giá của thị trường thế giới
Tháng 2/2008: Fannie Mae(8), nguồn tiền lớn nhất rót vào các khoản vay bất
động sản Mỹ thông báo chỉ trong quý 4 của năm 2007, hãng đã thua lỗ
3,35(9) tỉ USD, khoản thua lỗ cao gấp 3 so với dự đoán, cho thị trường này
Tháng 3/2008: Trên bờ vực phá sản cùng sức ép từ Cục dự trữ liên bang
(Fed), Bear Stearns buộc phải chấp nhận bị mua lại bởi ngân hàng đầu tư Mỹ
JP Morgan Chase(10) Số tiền dành cho thương vụ này lên tới 30 tỉ USD sẽ
dùng để chi trả cho các khoản nợ mà ngân hàng này đã vay của Fed
Tại Đức, Ngân hàng Đức thông báo thua lỗ 141 triệu euro(11)
trong quý 1 năm 2008, trong 5 năm liên tiếp đây là lần đầu tiên ngân hàng này làm ăn
thua lỗ Fed nhắm tới sự hợp tác giữa các ngân hàng trung tâm thế giới nhằm
bình ổn nền kinh tế toàn cầu bằng cách thông báo rót 200 tỉ USD tiền mặt
vào các thị trường đang khủng hoảng
Trang 6Carlyle Capital(12) trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ
với khoản nợ lên tới 16,6 tỉ USD(13) Nước Mỹ cũng phải rót 200 tỉ USD
nhằm cứu vãn Fannie Mae và Freddie Mac(14)
thoát khỏi khó khăn
Tháng 4/2008: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc khủng
hoảng tài chính(15) Bộ trưởng các nước G7 tán thành đề xuất đưa ra các điều
chỉnh tài chính mới để chống lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng
Tháng 6/2008: Một điều đáng nói là trong khi thị trường bất động sản Mỹ
ngày càng khủng hoảng nghiêm trọng hơn thì số lượng người được nhận lại
các ngôi nhà đã thế chấp lại tăng gấp đôi Góp công sức cho hiện tượng lạ
lùng này, Bear Stearns đã liên hiệp thành công trong 400 vụ bị buộc tội lừa
đảo bằng các văn tự thế chấp
Tháng 7/2008: Ngân hàng cho vay thế chấp tại bang California (Mỹ) tuyên
bố phá sản Những khó khăn của Fannie Mae và Freddie Mac ngày càng
nhiều Kho bạc và Cục dự trữ liên bang Mỹ buộc phải đứng ra đảm bảo cho
các khoản nợ của Fannie và Freddie
Tổng thống Mỹ George Bush sau khi phê chuẩn quyết định bảo đảm này đã
trấn án người dân Mỹ: "Mọi người phải bình tĩnh và có niềm tin vào thị
trường"
Cơ quan lập pháp Hoa Kỳ đã thông qua chương trình rót hàng tỉ USD cuối
cùng để cứu vãn cuộc khủng hoảng tịch thu tài sản để thế nợ và khủng hoảng
văn tự thế chấp
Martina-Fadesa, hãng đầu tư tài sản lớn nhất của Tây Ban Nha tuyên bố phá
sản
Ngày 7/9/2008: Chính phủ Mỹ nắm quyền kiểm soát Fannie và Freddie sau
khi chi 200 tỉ USD để cứu 2 ngân hàng thoát khỏi tình trạng phá sản
Trang 7Ngày 15/9/2008: Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers(16) tuyên bố phá sản
với khoản nợ lên tới 600 tỉ USD(17) Merrill Lynch bị mua lại bởi ngân hàng
Mỹ (Bank of America)
Ngày 17/9/2008: Mỹ rót 85 tỉ USD giúp hãng bảo hiểm khổng lồ AIG(18)
thoát khỏi khó khăn
Ngày 19/9/2008: Nhà Trắng yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ thông qua kế hoạch
chi 700 tỉ USD giúp đỡ tất cả các công ty tài chính chìm nghỉm trong những
mã chứng khoán có thế chấp đang mất giá nhanh chóng(19)
Ngày 22/9/2008: Morgan Stanley(20) và Goldman Sachs(21), hai ngân hàng
đầu tư danh tiếng cuối cùng, chuyển đổi sang mô hình tập đoàn ngân hàng
Ngày 26/9/2008: Cục dự trữ liên bang tuyên bố ngân hàng Washington
Mutual phá sản, đây được coi là một trong những vụ sụp đổ ngân hàng lớn
nhất nước Mỹ
Ngày 29/9/2008: Đại diện nhà Trắng bác bỏ kế hoạch chi 700 tỉ USD để xoa
dịu thị trường
Ngày 29/9/2008: Kế hoạch hỗ trợ từ Chính phủ đối với các ngân hàng chủ
chốt tại Anh (ngân hàng Benelux) và tại Đức, cũng như tiếp quản một ngân
hàng tại Aixơlen
Chính phủ Anh quyết định can thiệp để giữ lại nhà cho vay thế chấp quan
trọng Bradford & Bingley(22) Chính phủ Hà Lan, Bỉ và Luxembourg quyết
định tiếp quản phần lớn ngân hàng Belgian -Dutsch và công ty bảo hiểm
Fortis
Bộ Tài chính Đức thông báo Chính phủ và các ngân hàng hàng đầu đã bơm
hàng tỉ euro vào nhà cho vay thế chấp Hypo Real Estate(23) để cứu vãn khó
Trang 8Ngày 30/9/2008: Ngân hàng Wachovia(25) chao đảo bên bờ vực phá sản bắt
đầu tiến hành đàm phán với Citigroup để trao quyền kiểm soát lại cho
Citigroup
Ngày 1/10/2008: Thượng nghị viện Mỹ thông qua kế hoạch rót tiền cho thị
trường tài chính đang khủng hoảng
Ngày 2/10/2008: Tổng thống Bush đã ký đạo luật giải cứu thị trường tài
chính lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ
Nước Mỹ chao đảo và thế giới sửng sốt trước sự suy sụp của hàng loạt tên
tuổi lớn trong hệ thống tài chính Mỹ và không ít người đã ví cuộc khủng
hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay với cuộc Đại khủng hoảng 1929 – 1933(26),
hoặc chí ít đang đặt nước Mỹ và thế giới trước các chấn động lớn vượt ra
ngoài các chấn động chu kỳ thông thường
Trên đây là những mốc quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,
và cho đến bây giờ cuộc khủng khoảng tài chính vẫn tác động mạnh mẽ đến
các mặt của thế giới
2 Ảnh hưởng chung của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay
đến thế giới:
Nhiều quốc gia đã phải bơm vào nền kinh tế hàng trăm cho đến hàng
nghìn tỉ USD để cứu vãn tình hình và ổn định kinh tế Đó là chưa kể đến
những thiệt hại tiếp theo từ kinh tế suy giảm, không tăng trưởng, rối loạn
đang chờ phía trước Cho đến nay, tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng
này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệp tài chính Mỹ và
hệ thống tài chính toàn cầu Sự sụp đổ của những ngân hàng lớn đã gây nên
những lo ngại và mất niềm tin của dân chúng Ngay cả các quỹ đầu tư tiền
tệ, vốn được coi là góc an toàn bậc nhất trong hệ thống tài chính Mỹ, là nền
tảng cho hoạt động đầu tư của nước này, cũng gặp khó khăn khi người dân ồ
ạt rút tiền do những quan ngại về sự đổ vỡ tiếp theo
Trang 92.1 Ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng:
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải giảm bớt các dự đoán đưa ra về
tốc độ tăng trưởng của nước mình đã đưa ra trước đây, một số quốc gia
không những giảm mà còn đưa ra con số âm Điều này cũng thật dễ hiểu vì
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến thế giới ngày càng
trở nên sâu sắc
- Ngày 8-3-2009, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra báo cáo nhận định về
cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu hiện nay khẳng định "GDP
toàn cầu trong năm 2009 sẽ giảm mạnh nhất trong vòng 60 năm qua" Theo
WB, sản lượng công nghiệp toàn cầu sáu tháng đầu năm 2009 sẽ ít hơn 15%
so với cùng kỳ năm 2008 Giá trị trao đổi thương mại toàn cầu ở mức thấp
nhất trong 80 năm qua Cuộc khủng hoảng lần này gây thiệt hại cho cả các
nước phát triển và đang phát triển Giá trị thương mại của khu vực Ðông
Á(27), nơi có nhiều nền kinh tế có xuất khẩu lớn, bị suy giảm mạnh nhất Thí
dụ, Chính phủ Nhật Bản thông báo, kim ngạch xuất khẩu của nước này trong
tháng 1-2009 giảm 46,3% so với cùng kỳ năm 2008 và là mức thâm hụt
thương mại đầu tiên trong 13 năm qua(28) Nền kinh tế Nhật Bản đang ở
trong một chu kỳ suy thoái kéo dài nhất kể từ cuộc đại suy thoái kinh tế thế
giới đầu những năm 30 của thế kỷ 20
- Uỷ ban châu Âu (EC) công bố những dự báo kinh tế bi quan, theo đó năm
2009, kinh tế của châu Âu sẽ suy thoái nặng nề song hành với tình trạng thất
nghiệp tăng mạnh Theo dự đoán của EC, năm 2009, tăng trưởng của các
nước Liên hiệp châu Âu (EU) trung bình sẽ là âm 1,8%, trong đó các nước
thuộc khu vực đồng Euro sẽ tồi tệ hơn là âm 1,9% và tỷ lệ thất nghiệp tại
khu vực này là 9,25% EC cho rằng tình trạng suy thoái trên mang tính toàn
cầu Dự đoán năm 2009, tổng sản phẩm quốc nội của các nước trên thế giới
sẽ tiếp tục giảm, chỉ còn 0,5%, so với 3,3% của năm 2008 (tỷ lệ này là 5%
Trang 10năm 2004 và 2007) Kinh tế đi xuống kéo theo các hoạt động kinh doanh của
nhiều tập đoàn trì trệ Nhiều công ty và hãng lớn trên thế giới đã phải công
bố cắt giảm việc làm để tiết kiệm chi tiêu
Viện nghiên cứu Kinh tế và Xã hội quốc gia Anh cho biết, sức tiêu dùng của
người dân Anh năm 2009 sẽ giảm 3,8%, gấp hai lần mức giảm được cho là
kỷ lục 1,6% hồi năm 1991, một mức thấp chưa từng thấy trong nhiều thập
niên qua tại nước này(29) Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Trung ương
Anh (BoE), nền kinh tế Anh đang trong giai đoạn "suy thoái sâu", trầm trọng
nhất trong 60 năm qua Với đánh giá ảm đạm nhất từ trước đến nay, BoE
cho rằng, kinh tế Anh sẽ suy yếu nghiêm trọng trong nửa đầu năm nay và
suy thoái có nguy cơ kéo dài hơn và trầm trọng hơn dự kiến Theo BoE, mức
giảm của kinh tế Anh năm 2009 sẽ là 3%
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Nga Alexei Kudrin đánh giá năm
2009 sẽ là năm khó khăn nhất đối với Nga và thừa nhận ban lãnh đạo Nga đã
không lường được cuộc khủng hoảng hiện nay lại trầm trọng đến vậy
Theo báo Diễn đàn thông tin quốc tế, nền kinh tế Ðức, nhà xuất khẩu đứng
đầu thế giới và là đầu tàu kinh tế của EU, đang nghiêng ngả trong cơn suy
thoái tồi tệ nhất từ năm 1990 Chủ tịch Hội đồng Mỹ và Ðức Uy-liêm
Ðrô-dơ-đi-ắc cho rằng, trong ba hoặc sáu tháng nữa, ảnh hưởng của "cơn bão" tài
chính sẽ nặng nề hơn Sự sa sút của nền kinh tế Ðức có thể làm cho EU gồm
27 nước thành viên bị "tan rã thành từng mảng" Theo ông, những khó khăn
từ cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế có thể làm cho Ðức và các nước EU
khác khó có thể cộng tác chặt chẽ với Mỹ trong việc triển khai chiến lược
mới của NATO ở Afghanistan và Trung Ðông
Báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ cho biết, nền kinh tế nước này tiếp tục lún
sâu vào suy thoái do GDP trong quý IV-2008 giảm 3,8%, mức giảm lớn nhất
kể từ quý I-1982 Trong cuộc họp báo đầu tiên trên cương vị được truyền
Trang 11hình trực tiếp trên toàn nước Mỹ, Tổng thống Obama đã nhấn mạnh thực
trạng nền kinh tế đang "ở mùa đông của sự khó khăn" Tại Mỹ, chính quyền
đảng Dân chủ của Tổng thống B.Obama đã triển khai gói kích cầu kinh tế
thứ hai trị giá 787 tỷ USD, song dường như cuộc suy thoái kinh tế vẫn diễn
ra nghiêm trọng hơn Hàng loạt các đại gia tài chính, công nghiệp chưa có
cách thoát ra khỏi cơn lốc Sản xuất phải thu hẹp Công nhân bị sa thải Tỷ lệ
thất nghiệp đến tháng 2-2009 đã chiếm 8,1% lực lượng lao động(30)
- Theo nhận định của Giáo sư Xti-glít, người từng đoạt giải Nobel kinh tế
2001, nguyên Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), thế giới có nguy cơ
lâm vào tình trạng đình đốn kéo dài tương tự như ở Nhật Bản hồi những năm
1990 của thế kỷ trước(31)
Mô hình kinh tế hiện nay dẫn đến tình trạng bất công quá lớn, không thể bảo đảm cho phát triển bền vững lâu dài Theo ông
Xti-glít, khủng hoảng tài chính thế giới ngày nay là hậu quả của sự không
lành mạnh của các định chế ngân hàng Mỹ Ðại diện tổ chức các quốc gia
châu Mỹ (OAS) cho rằng, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang cản trở
những thành quả của công cuộc xóa đói, giảm nghèo và ảnh hưởng việc thực
hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs)
- Dự đoán của ADB, kinh tế châu Á sẽ tăng trưởng chậm lại còn 5,8% năm
2009, so với mức ước tính 6,9% năm 2008 Ngân hàng Phát triển châu Á
(ADB) còn cho biết cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay đã làm mất 50.000
tỷ USD giá trị tài sản tài chính năm 2008 Trong đó, mức thiệt hại của các
nước đang phát triển ở châu Á ước khoảng 9.600 tỷ USD(32)
Thế giới hy vọng Trung Quốc, với tiềm năng lớn của một nền kinh tế phát
triển nhanh nhất toàn cầu trong nhiều năm liền, sẽ trở thành động lực thúc
đẩy khôi phục kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, theo Báo Asahi ra ngày
23/2/2009, Nhật Bản, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thực của Trung Quốc đã giảm
mạnh, chỉ còn 6,8% trong quý IV-2008, khiến nước này khó đạt mục tiêu
Trang 12tăng trưởng 8% trong năm nay Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra dự báo
kinh tế Trung Quốc sẽ chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 6,7% trong năm 2009
Theo tờ báo, trong những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của
Trung Quốc chủ yếu dựa vào xuất khẩu tăng mạnh và nguồn vốn đầu tư
khổng lồ để xây dựng nhà xưởng, mua sắm thiết bị phục vụ cho sản xuất
hàng xuất khẩu Tuy nhiên, trong năm nay, những thị trường xuất khẩu chủ
chốt của Trung Quốc như Mỹ, Nhật Bản và châu Âu, được dự báo sẽ suy
thoái đồng loạt
2.2 Ảnh hưởng đến thị trường lao động và việc làm:
Khủng hoảng tài chính kéo theo là sự suy yếu hay sụp đổ của nhiều công
ty Những người lao động(LĐ) - người mà sống dựa vào tiền lương được chi
trả bởi các công ty này - cũng hết sức lo lắng Họ lo rằng không biết đến
ngày nào mình bị sa thải đây? Do đó, thị trường lao động - việc làm bị ảnh
hưởng rất lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Hàng chục triệu
người lao động đã bị mất việc
Bộ Lao động Mỹ cho biết chỉ trong năm 2008 đã có thêm hơn 1,2 triệu
người Mỹ mất việc làm do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu Cuộc khủng hoảng đã và đang ảnh hưởng đến cuộc sống của đại đa số
người dân nước này, ngày càng nhiều người đi đến phá sản Theo một cuộc
điều tra xã hội do AP/GFK(33)
công bố đầu tháng 10, khoảng 80% người Mỹ được hỏi bày tỏ lo ngại cuộc khủng hoảng sẽ tác động trực tiếp đến cuộc
sống của họ
Châu Âu cũng bị tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính Ở Nga,
nhiều công ty đã và đang lên kế hoạch sa thải nhân viên Theo thống kê của
Chính phủ Italia tháng 12/2008, số người nghèo tại Italia chiếm tới 13%
trong tổng số 58 triệu dân, với mức thu nhập chỉ 500 - 600 euro/tháng (chưa
Trang 13bằng phân nửa mức lương trung bình) Tỷ lệ thất nghiệp hiện nay ở Italia là
6,8% Tại Bỉ, riêng trong tháng 9/2008, đã có 927 doanh nghiệp phá sản,
tăng 18% so với tháng 8/2008 Hãng sản xuất xe hơi nước Đức BMW cho
biết, lợi nhuận trong quý III đã giảm mạnh và không thể đạt được mục tiêu
kinh doanh năm 2008, vì ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Hãng sản
xuất ôtô Pháp Renault vừa tuyên bố cắt giảm 6.000 nhân công (4.900 vị trí
tại Pháp và 1.100 ở các quốc gia khác trên toàn châu Âu) như là động thái
đối phó với sự suy giảm của thị trường xe hơi toàn cầu(34)
Tại châu Á, hàng ngàn người LĐ nhập cư làm nghề giúp việc gia đình, bồi
bàn tại các thành phố giàu có như Singapore, Hồng Kông đang lo lắng
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến túi tiền của chủ họ bị hẹp lại và
họ sẽ bị đuổi việc Những người LĐ nhập cư mất việc cũng có nghĩa là quốc
gia của họ sẽ mất đi một phần kiều hối gửi về
Từ khi cuộc khủng hoảng tài chính tấn công Mỹ và một số nước phương
Tây, sức tiêu thụ của người dân tại các nước này giảm làm ngành xuất khẩu
( XK) ở Trung Quốc bị chậm lại Theo thống kê của Chính phủ Trung Quốc,
trong 6 tháng đầu năm 2008, ít nhất 67.000 nhà máy trên toàn quốc phải
đóng cửa, trong đó hơn 50% là các nhà máy sản xuất đồ chơi
Ở châu Phi, đảo quốc Cộng hòa Seychelles là quốc gia đầu tiên bị ảnh
hưởng Chính phủ đã buộc 2.000 công chức (tức 1/10 tổng số công chức cả
nước) phải nghỉ việc để giảm bớt chi tiêu của Chính phủ, nhằm cứu đất nước
khỏi phá sản Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến Seychelles
không thể trả được khoản nợ tới 800 triệu USD
Thế giới bước vào năm 2009 với tâm trạng bất an và tháng Ba kết thúc quý
I vẫn chưa thấy xuất hiện tia sáng nào Những thông tin chẳng lành về cuộc
khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu vẫn tràn ngập các phương tiện thông
Trang 14tin đại chúng, tiếp tục là chủ đề bàn thảo, tranh cãi trên chính trường nhiều
nước và tại tất cả các diễn đàn quốc tế
Hầu hết các nước, trước hết là các nước công nghiệp phát triển(CNPT) vốn
là đầu tầu của nền kinh tế thế giới đều rơi vào tình trạng tăng trưởng âm,
thương mại toàn cầu sụt giảm sâu nhất trong mấy chục năm, nạn thất nghiệp
lan nhanh như bệnh dịch, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy, chủ thuyết của phái “tân
tự do” bị đem ra mổ xẻ và thiên hạ đang tìm kiếm học thuyết kinh tế mới
II Những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
1 Nguyên nhân khách quan:
1.1 Do tính chu kì của nền kinh tế:
Khủng hoảng kinh tế được coi là căn bệnh kinh niên của chủ nghĩa tư bản
và diễn ra có tính chất chu kì, trải qua những giai đoạn có liên quan kế tiếp
nhau: khủng hoảng - tiêu điều - phục hồi - hưng thịnh
Giai đoạn của chu kì tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện bằng hàng hoá sản
xuất thừa so với nhu cầu có khả năng thanh toán, sản xuất giảm sút, vốn đầu
tư cơ bản bị rút bớt, thất nghiệp và lam phát tăng lên, những tỉ lệ chủ yếu của
tái sản xuất bị rối loạn Nguyên nhân chủ yếu là mâu thuẫn cơ bản của chủ
nghĩa tư bản; từ đó nảy sinh một loạt mâu thuẫn phái sinh: mâu thuẫn giữa
tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng, mâu thuẫn giữa
tính có tổ chức trong các xí nghiệp riêng biệt và tình trạng sản xuất vô chính
phủ trong toàn xã hội Những mâu thuẫn đó đưa nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa đến khủng hoảng kinh tế Khủng hoảng là giai đoạn cơ bản của chu kì
kinh tế tư bản chủ nghĩa Nền kinh tế toàn cầu đã rất hưng thịnh trước năm
2007, và một số tháng đầu năm 2007, do đó, khủng hoảng là điều rất dễ xảy
ra
Trang 151.2 Mất cân đối toàn cầu (global imbalances):
Một lượng tiền dư thừa từ những quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao, như Trung
Quốc và các nước xuất khẩu dầu lửa, đã chảy vào nước Mỹ Những dòng
tiền này khiến lãi suất tại Mỹ được duy trì ở mức thấp và tạo ra sự bùng nổ
trong lĩnh vực cho vay tín dụng, tiếp đó là sự tăng vọt của giá các loại tài sản
như nhà đất và chứng khoán Rốt cục, khi những bong bóng này vỡ, khủng
hoảng tài chính nổ ra theo
1.3 Tỉ lệ cấp vốn quá cao:
Với mỗi một mức độ phát triển kinh tế đặc biệt thì có một mức cấp vốn vào
thị trường chứng khoán tương ứng Nhưng hiện tai thì tỷ lệ cấp vốn vào thị
trường so với GDP vượt quá giá trị mà có thể đảm bảo một sự phát triển ổn
định trong tương lai Nó được tính bằng việc chia toàn bộ giá trị thị trường
chứng khoán của tất cả các công ty giao dịch công khai trong 1 nước theo
GDP của họ Tỷ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDP ở mức 40-60% trong
thế kỷ 20
Mức tăng trưởng chóng mặt của những năm 1990 đã đẩy tốc độ đó lên mức
kỷ lục 118% vào năm 1999, theo sau là một cuộc suy thoái vĩ mô toàn cầu
khi bắt đầu bước sang thế kỷ 21
Sau đó đến năm 2002, tỷ lệ này lại sụt giảm xuống 73%, rồi tăng lại lên
122% vào năm 2007- mức tăng trên 100% trước khi bắt đầu cuộc suy
thoái(35)
2 Nguyên nhân chủ quan:
2.1 Do những phát minh tài chính:
Phát minh tài chính vừa qua là gì?
Đó là việc tập trung tiền cho vay mua nhà, lấy tiền hoa hồng, rồi chia nhỏ
hợp đồng vay nợ này thành các chứng khoán (một loại giấy nợ), rồi bán cho
Trang 16người có tiền (các công ty đầu tư tài chính chấp nhận rủi ro cao, quỹ bảo
hiểm, quỹ hưu trí và dân chúng), qua đó họ lại nhận thêm hoa hồng Tiền
bán chứng khoán họ đem trả nợ ngắn hạn dùng lúc đầu để cho vay mua nhà
Mọi rủi ro về nợ sau khi bán chứng khoán thuộc về người mua chứng khoán,
chứ không phải công ty tài chính Cái mới là ở chỗ: các công ty tài chính
nhận được nhiều tiền nhưng mọi rủi ro thì đẩy cho người khác
Bất ổn tài chính từ những “phát minh” về tài chính trong thời gian qua, qua
đó thế đứng của ngân hàng đã dần dần bị các công ty kinh doanh tài chính
đánh đổ dần, trong lúc Cục dự trữ liên bang Mỹ(Fed) chỉ được giao nhiệm
vụ kiểm sát hệ thống ngân hàng Fed đã cứu công ty tài chính Bear Stearns
Dù không thuộc nhiệm vụ của Fed, Fed vẫn vào cuộc với hy vọng là chặn
đứng được tình hình hoảng loạn tài chính Tình hình khủng hoảng tiếp tục
mở rộng và Fed không thể đứng ra cứu tiếp, vì đây không phải là nhiệm vụ
của Fed, và về mặt chính trị cũng như khả năng vốn, Fed không thể tiếp tục
cứu Các công ty tư nhân này đã đòi quyền tự do kinh doanh tài chính làm
giầu, không chịu bất cứ sự kiểm soát nào của Fed, thì Fed không thể lấy thuế
của dân để cứu các công ty này Bơm tiền cứu sẽ đẩy mạnh thêm lạm phát
2.2 Do sự “mua bán chịu” giữa các ngân hàng:
Mặc dù ngân hàng có tài sản dưới dạng - bất động sản, kim loại quý hay
tiền mặt, nhưng tổng giá trị của nó so với số tiền cho vay vẫn ít hơn nhiều
Phần lớn tiền cho vay xuất phát từ nguồn của những người gởi tiết kiệm
Ðây là tiền kinh doanh lấy lãi của ngân hàng, ngoài ra ngân hàng cổ phần
còn vay tiền từ ngân hàng trung ương hay từ các ngân hàng cổ phần khác để
điều chỉnh nhu cầu chi thu tiền tệ
Như vậy hệ thống ngân hàng trên thực tế là một dạng "mua bán chịu" Ðiều
này có nghĩa, các hoạt động của ngân hàng đều dựa vào sự tin tưởng lẫn
Trang 17nhau: ngân hàng này cho ngân hàng khác mượn tiền, vì biết chắc là khi cần
họ sẽ nhận lại cả vốn lẫn lời
Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu giám đốc của một ngân hàng một lần đánh giá sai
lầm về đối tác của mình như trường hợp ngân hàng KfW(36)
của Ðức? KfW chuyển 300 triệu euro cho ngân hàng đầu tư Lehman Brothers ở New York,
đúng lúc khi Lehman Brothers bị phá sản và số tiền này coi như bị mất và
hậu quả là KfW gặp khó khăn trong việc chi trả với khách hàng
Qua sự kiện này nhiều ngân hàng lo ngại sẽ gặp phải trường hợp như KfW,
nên thận trọng Kết quả là việc trao đổi tiền giữa các ngân hàng trước đây rất
dễ dàng thì bây giờ trở nên khó khăn và dần đưa đến tình trạng không ngân
hàng nào tin ngân hàng nào.Các ngân hàng cổ phần vay tiền từ Ngân hàng
trung ương Mỹ Fed (Federal Reserve System) với một lãi suất thấp, vì vậy
họ cho khách hàng vay tiền dễ dàng dĩ nhiên với lãi suất cao hơn lãi suất mà
họ phải trả cho Fed
2.3 Do người vay không có khả năng trả nợ:
Khác với nhiều nước ở châu Âu, ngân hàng cổ phần Mỹ cho vay tiền mua
bất động sản, nhưng không kiểm tra khả năng chi trả của khách Ngay cả
những người đang thất nghiệp vẫn có thể vay tiền mua nhà dễ dàng theo một
lãi suất lưu động Lãi suất này thường thấp vào thời điểm mượn, nhưng do
tình hình kinh tế có thể tăng lên cao vào bất cứ lúc nào Sự kiện này đã làm
nhiều người bị phá sản, mất cả vốn lẫn lời
Trước đây, để tăng mức độ trú ngụ của người dân, Chính phủ Mỹ khuyến
khích ngân hàng cho vay vốn xây nhà Trong thời gian đầu mọi việc xảy ra
có vẻ hoàn hảo: dân có nhà ở, người kinh doanh nhà có lời, nhiều người có
công ăn việc làm, ngân hàng thu lãi và giá nhà đất tăng Lãi suất vẫn còn
thấp, đẩy nhu cầu mua nhà lên cao và qua đó giá nhà đất liên tục tăng lên
Trang 18Nếu có khách hàng nào không đủ sức trả tiền thì ngân hàng có thể lấy nhà
(lúc này giá còn cao) bán đấu giá để trừ nợ, vì vậy ngân hàng vẫn có lời và
tiếp tục cho vay
Một con vít xoắn giá cả bắt đầu xuất hiện Giá nhà đất tiếp tục tăng, ngày
càng cao, số người vay tiền ngày càng nhiều Trong thời gian này nhiều
ngân hàng cổ phần dùng giấy nợ làm thành một loại chứng khoán phái sinh
(derivative) và buôn bán với nhau
Lo rằng đồng đô la bị mất giá và kinh tế Mỹ có thể bị ảnh hưởng nên Ngân
hàng trung ương Mỹ quyết định cho tăng lãi suất Qua đó lãi suất cho vay
của ngân hàng cổ phần cũng tăng theo tương ứng Số khách không tiền trả
và bất động sản bị bán đấu giá, cũng tăng lên
Trong thời gian này nhu cầu nhà đất đã gần như bão hòa, giá không còn tăng
và bắt đầu đi xuống Do giá nhà đất giảm nên số tiền ngân hàng thu lại (qua
bán đấu giá) không đủ Họ bắt đầu lo lắng về số chứng khoán mua trước
đây, bây giờ mất giá và không bán được
Vì không biết rõ ai trong đối tác của mình còn khả năng trả nợ hay không
nên các ngân hàng không dễ dàng cho vay tiền với nhau như trước đây Một
tâm lý nghi ngờ bắt đầu xuất hiện Qua đó, mạch tiền tệ lưu chuyển giữa các
ngân hàng để nuôi và điều hòa hệ thống tiền tệ trên thị trường bị trì trệ
Trước tiên giữa các ngân hàng với nhau và sau đó dần đến doanh nhân và
ngân hàng không dám cho doanh nghiệp vay tiền Nhưng doanh nghiệp thì
vẫn cần vốn để làm ăn Không có vốn thì không sản xuất và qua đó hệ thống
kinh tế sẽ không phát triển, cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ mất giá trị và thị
trường chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng xấu
Ðó là nguyên nhân tại sao trong thời gian qua, thị trường chứng khoán bị
tuột xuống, lúc đầu ở Mỹ sau lan rộng ra khắp nơi trên thế giới Bây giờ từ
một cuộc khủng hoảng tài chính lôi theo cuộc khủng hoảng kinh tế
Trang 19Vậy một trong những nguyên nhân khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay
không chỉ do giới tư bản tài phiệt gây nên mà còn xuất phát từ lỗi của chính
những người đi vay mua nhà không đủ khả năng thanh toán
2.4 Sự lỏng lẻo trong kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước:
Những yêu cầu của pháp luật về sự minh bạch hóa và năng lực kiểm tra,
giám sát của các cơ quan nhà nước đã không bắt kịp với những biến đổi sâu
rộng của thị trường trong hơn hai mươi năm qua
Kể từ thập niên 1980, thị trường tài chính Mỹ và thế giới đã nhanh chóng
phát triển các công cụ chứng khoán phái sinh và mở rộng hoạt động chứng
khoán hóa các khoản nợ và đầu tư Chứng khoán phái sinh và chứng khoán
hóa, mặc dù giúp tăng nguồn tài chính và phân tán rủi ro, đã dẫn đến việc giá
cả của trái phiếu và cổ phiếu ngày càng xa rời giá trị đích thực của tài sản
bảo đảm
Không một cơ quan nhà nước, đơn vị kiểm toán hay phân tích tín dụng và tài
chính có đủ thông tin và khả năng nhìn xuyên qua lớp lớp các thao tác chứng
khoán để có thể đánh giá chính xác giá trị và độ rủi ro của các khoản đầu tư
và tài sản nằm trên sổ sách của các công ty tài chính và ngân hàng
Thêm vào đó nhiều thao tác này lại được che đậy qua hoạt động đầu cơ của
các quỹ đầu tư (hedge funds), một loại hình quỹ đầu tư nắm giữ tới gần 3000
tỉ đô la giá trị tài sản nhưng không hề phải cáo bạch tài sản với công chúng
và gần như không chịu sự giám sát của bất kì một cơ quan nhà nước nào
2.5 Sự thay thế Đạo luật bức tường lửa Glass-Steagall (37) bởi Đạo luật
Glamm-Leach-Bliley (38) :
Sự thay thế này đã cho phép các ngân hàng thương mại được tham gia vào
các lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm như nghiệp vụ chứng khoán hóa và bán
Trang 20các khoản vay bất động sản (BĐS) khiến nhiều ngân hàng đẩy mạnh cho vay
BĐS dưới chuẩn, nhằm thu về những khoản lợi lớn
Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn nắm giữ một lượng khá lớn các khoản chứng
khoán phái sinh này, một phần do không bán được, một phần do mua của
ngân hàng khác nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư Các ngân hàng cho vay
BĐS thua lỗ khi thị trường BĐS bị vỡ bong bóng và nhiều khoản cho vay
không thu hồi được, cộng với các khoản chứng khoán BĐS bị giảm giá
không phanh
2.6 Đòn bẩy tài chính quá cao:
Đòn bẩy tài chính là quá trình công ty sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng
trưởng tài sản, được tính bằng tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu
Ở các ngân hàng thương mại, tỷ lệ này thường bị khống chế ở mức 12%,
nhưng ở các ngân hàng đầu tư, tỷ lệ này cao hơn rất nhiều và thường trên
20% Từ năm 1975, các ngân hàng đầu tư không được phép có tỷ lệ đòn bẩy
tài chính cao hơn 15% Tuy nhiên, từ năm 2004, Ủy ban Chứng khoán Mỹ
(SEC) đã bãi bỏ quy định này đối với 5 "đại gia" phố Wall (Goldman Sachs,
Merrill Lynch, Lehman Brothers, Bear Stearns và Morgan Stanley)
Tính đến đầu năm 2008, cả 5 ngân hàng này đều có tỷ lệ đòn bẩy tài chính
rất cao, xấp xỉ hoặc hơn 30% Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi 2 "đại
gia" bất động sản Freddie Mac và Fannie Mae với đòn bẩy tài chính hơn
60% là những nạn nhân đầu tiên của cuộc khủng hoảng
Đòn bẩy tài chính quá cao là nguyên nhân chính cho sự ra đi của Bear
Stearns, Freddie Mac và Fannie Mae, Lehman Brothers và Merrill Lynch
Sự sụp đổ của các định chế tài chính này là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng,
dẫn đến sự khủng hoảng niềm tin của thị trường, dẫn đến sự hạ thấp tín
nhiệm và sự ra đi của AIG, dẫn đến làn sóng rút tiền, gây ra khủng hoảng
Trang 21thanh khoản cho các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng liên
quan đến cho vay bất động sản( BĐS) như Wamu và Wachovia
Trang 22CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH HIỆN NAY ĐẾN VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN
I Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến Việt Nam:
1 Ảnh hưởng đến xuất khẩu:
Xuất khẩu của Việt Nam chiếm tới 65-68% GDP Nhu cầu của người tiêu
dùng tại các nước phát triển (Mỹ, Nhật Bản và châu Âu) - chiếm 50% hàng
xuất khẩu của Việt Nam - giảm nên các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu của Việt Nam bị co lại do gặp khó khăn về vốn và đầu ra Xuất khẩu
của Việt Nam cũng giảm từ 6,5 tỉ USD (tháng 7/2008) xuống còn 5,1 tỉ USD
(tháng 10/2008) và 4,8 tỉ USD (tháng 11/2008) Do xuất khẩu giảm dẫn đến
nhập khẩu các nguyên liệu cũng giảm bởi Việt Nam nhập khẩu tới 70-80%
nguyên liệu để làm hàng xuất khẩu
1.1 Ảnh hưởng đến các thị trường xuất khẩu chủ đạo:
1.1.1 Thị trường Mỹ:
Thực ra, không phải tới khi Lehman Brothers tuyên bố phá sản, Merrill
Lynch bị Bank of America thâu tóm và AIG phải nhờ đến cứu viện của
Chính phủ Mỹ mới có thể tồn tại - những giọt nước làm tràn ly cuộc khủng
hoảng tài chính Mỹ - thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang
Mỹ mới giảm, mà ngay từ những tháng đầu năm 2007, đã xuất hiện xu
hướng giảm tốc xuất khẩu sang thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, do cầu tiêu dùng tại Mỹ đang
trên đà suy giảm mạnh do tác động của khủng hoảng tài chính, trong 7 tháng
đầu năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 19,2%,
thấp hơn khá nhiều so với mức 28,6% của cả năm 2007 Không những vậy,
tỷ trọng của thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã
Trang 23giảm, từ 20,7% của năm ngoái xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm
2008 Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam được cho là chịu nhiều ảnh
hưởng nhất là hàng may mặc, giày da, cá basa, cà phê…
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế thì kinh tế Mỹ có thể phải tới
cuối năm 2010 mới phục hồi, người tiêu dùng Mỹ sẽ phải cắt giảm chi tiêu,
kéo theo cầu nhập khẩu hàng hóa giảm, vì vậy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
của Việt Nam sang Mỹ khó có thể đạt mức 30%/năm như trong thời gian
qua, mà chỉ đạt khoảng 20% trong giai đoạn 2009 – 2010
1.1.2 Thị trường EU, Nhật Bản:
Trên một khía cạnh khác, theo dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo
kinh tế - xã hội quốc gia, không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu
của Việt Nam sang thị trường Mỹ, mà cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ còn
tác động gián tiếp đến tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang EU và Nhật
Bản – hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam Phân tích của các
chuyên gia kinh tế cho thấy, do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng,
người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu
cầu nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ có xu
hướng giảm Tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16,5% trong khi năm 2008 là 18%
Các thị trường EU, Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực từ
cuộc khủng hoảng của Mỹ Cộng thêm những khó khăn của các doanh
nghiệp xuất khẩu Việt Nam, do tín dụng thắt chặt, giá nguyên liệu đầu vào
tăng cao, khiến giá thành sản xuất cao, hàng hóa khó cạnh tranh, do đó xuất
khẩu của Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ chịu những ảnh hưởng
tiêu cực
Trang 241.2 Ảnh hưởng đến các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo:
1.2.1 Gạo:
Nền kinh tế toàn cầu lâm vào suy giảm do ảnh hưởng khủng hoảng tín dụng
lan rộng ảnh hưởng đến nhiều mặt hàng trong đó có gạo Mặt khác, nhiều
loại hàng hoá là đầu vào cho sản xuất lúa gạo như phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật đều giảm giá do giá dầu giảm mạnh Giá gạo trên thị trường kỳ hạn
Chicago đã giảm liên tục trong thời gian gần đây Với nhu cầu một số nước
Tây Phi và Trung Đông, giá gạo thế giới chỉ giảm nhẹ trong thời gian tới do
nguồn cung khá lớn từ Thái Lan và Việt Nam
Khi hầu hết những ngành nghề xuất khẩu đều đang gặp khó khăn trước tác
động của suy thoái kinh tế toàn cầu và trong nước, thì xuất khẩu gạo trong
tháng đầu năm 2009 lại nổi lên như một điểm sáng
Theo báo cáo từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, chỉ trong tháng 1/2009, cả
nước đã xuất khẩu được 310.000 tấn, đây là tháng xuất khẩu cao nhất trong
lịch sử kể từ năm 1989 đến nay
Đến ngày 9/2/2009, các doanh nghiệp đã xuất thêm được 74 nghìn tấn, dự
kiến cả tháng 2 sẽ giao 550-600 nghìn tấn, đưa kim ngạch xuất khẩu trong
hai tháng đầu năm đạt khoảng 900 nghìn tấn, trong đó, cùng kỳ năm 2008
chỉ đạt chưa đầy 300.000 nghìn tấn(39) Việt Nam đang có nhiều cơ hội khi
Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới nhưng đang bị hạn
nặng
Ngoài ra, Ấn Độ cũng là nước xuất khẩu gạo khá lớn nhưng vẫn đang “đóng
cửa” chưa xuất, có thể do để đảm bảo nguồn an ninh lương thực trong nước
1.2.2 Chè:
Theo thống kê của Vụ Kế hoạch - Đầu tư (Bộ Công Thương), năm 2008, cả
nước xuất khẩu được 104.000 tấn chè theo đường chính ngạch, đạt kim
Trang 25ngạch 147 triệu USD, giảm 5,4% về khối lượng và tăng 12,4% về giá trị so
với năm 2007 Ngoài ra, còn xuất được 8.000 tấn qua đường tiểu ngạch, giá
trị kim ngạch đạt 13 triệu USD Đại diện của một số doanh nghiệp hoạt động
trong ngành sản xuất, kinh doanh chè cho rằng, khoảng 6 tháng đầu năm
2008, tình hình xuất khẩu tương đối ổn định nhưng sau đó thì khó khăn liên
Bất chấp nỗ lực của các doanh nghiệp, những tháng cuối năm 2008, lượng
hàng xuất khẩu tiếp tục giảm Tháng 10, theo kế hoạch xuất hàng là 11.000
tấn nhưng thực tế chỉ xuất được khoảng 9.500 tấn Tháng 11, dự kiến 10.000
tấn nhưng lượng xuất thực tế chỉ đạt 8.000 tấn Sản lượng xuất khẩu giảm,
lượng hàng tồn đọng nhiều kéo theo đó là giá thu mua chè nguyên liệu cũng
xuống mức thấp, khiến người trồng chè rơi vào cảnh bế tắc Hiện, ở nhiều
vùng chuyên canh, giá chè nguyên liệu đã giảm tới 50%, chỉ đạt bình quân
2.200 - 2.500 đồng/kg nhưng người dân vẫn không bán nổi dù thời điểm
cuối năm 2008 chất lượng chè nguyên liệu tương đối tốt(40)
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu buộc người tiêu dùng phải thắt chặt chi
tiêu là nguyên nhân chính khiến lượng chè xuất khẩu của nước ta giảm
mạnh Không những thế, nhiều khách hàng còn yêu cầu thay đổi cơ cấu sản
phẩm theo hướng tăng lượng hàng tốt, giảm lượng hàng có chất lượng trung
bình hoặc yêu cầu được trả chậm Tất cả những điều đó, cộng với những khó
khăn từ trong nước đã giáng một đòn khá mạnh lên các doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ Thậm chí, nhiều đơn vị
không cầm cự được đã phải ngừng sản xuất, tạm đóng cửa
Trang 261.2.3 Thuỷ sản:
Nhiều đơn hàng thuỷ sản của Việt Nam bị cắt Nguyên nhân là do Mỹ là thị
trường nhập khẩu thủy sản rất lớn, kim ngạch nhập khẩu thủy sản của nước
này lên đến 12 tỷ USD/năm Hàng năm thị trường Mỹ chiếm 15% tổng kim
ngạch nhập khẩu thủy sản của thế giới, do vậy ngành thủy sản Việt Nam đặt
mục tiêu đạt 850 triệu USD giá trị xuất khẩu sang Mỹ năm 2008, chiếm
khoảng 7% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Mỹ Là trung tâm của
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, năm 2008, Mỹ đã tụt xuống hàng thứ 3
về nhập khẩu thủy sản của Việt Nam Tỷ trọng của thị trường Mỹ giảm từ
20,4% xuống 16,5% trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam do nhu
cầu tiêu thụ và nhập khẩu của nước này giảm(41)
Khó khăn này đã khiến giá xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đang bị hạ và
sản lượng cũng sụt giảm đáng kể, không chỉ trong những tháng cuối năm
2008 mà cả năm 2009
Tuy nhiên, theo dự báo, sự suy thoái của nền kinh tế và sự tăng giá của các
mặt hàng thủy sản sẽ tiếp tục ảnh hưởng không nhỏ đến sức tiêu thụ thủy sản
của nước Mỹ trong năm 2009
Những khó khăn mà các nhà nhập khẩu thủy sản Mỹ đang gặp phải hiện nay
còn là do các ngân hàng Mỹ đang thắt chặt tín dụng, ngân hàng không cho
nhà nhập khẩu Mỹ vay tiền nên khả năng thanh toán của họ rất yếu, họ phải
chờ bán được hàng mới có tiền trả cho các nhà xuất khẩu trên thế giới, trong
đó có Việt Nam Chính vì vậy mà sức mua trên thị trường thế giới đang
giảm sút rất đáng kể
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã lan rộng sang các nước
EU, khách hàng của các Công ty xuất khẩu thuỷ sản từ châu Âu đã điện
thoại cho hay, do sự rút tiền hàng loạt của các nhà đầu tư Mỹ khiến cho đồng
Trang 27Bảng Anh bị mất giá, và nhà nhập khẩu đã bị lỗ rất nặng, họ đang cần sự trợ
giúp của các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Trước tình hình trên, sức mua hàng thủy hải, sản của thế giới đang sụt giảm
rất lớn Do vậy, có những đơn hàng nhà nhập khẩu châu Âu đã ký kết xong
rồi nhưng họ đã cắt không tiếp tục mua nữa, gây khó khăn cho những chế
biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Những doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản không những gặp khó khăn từ bên
trong mà còn gặp khó khăn cả bên ngoài
Từ sau khi Chính phủ Việt Nam có chủ trương thắt chặt tín dụng, những
doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản gặp rất nhiều khó khăn.Một là tiền vốn để
thu mua chế biến bị giảm xuống đột ngột Hai là lãi suất phải trả cho ngân
hàng quá cao, hiệu quả kinh doanh không còn cao như trước, từ đó làm cho
“sức khỏe” của những doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam nói chung và
của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nói riêng đã yếu hơn nhiều so với
những năm trước đây
Trong khi nội tại đang gặp khó khăn, thì ngành xuất khẩu Việt Nam lại bị
thêm tác động bên ngoài từ những nước nhập khẩu, không chỉ có thị trường
Mỹ, mà cả Nhật Bản, EU và các nước nhập khẩu khác đang nhập khẩu
thủy sản của Việt Nam cũng đang gặp khó khăn về vốn, do họ đang bị thắt
chặt tín dụng cùng những biến động không lường trước
Hàng thủy sản của Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu, trong khi những khó
khăn bên trong chưa giải quyết được, nay lại thêm khó khăn từ bên ngoài
Khi những khó khăn “trong và ngoài” gặp nhau nên những tháng cuối năm
2008, những doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ khá
bế tắc
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ, châu Âu đang giảm sút
mạnh Bên cạnh đó thị trường Australia đang bị Chính phủ nước này cho
Trang 28kiểm tra 2 con virus đốm trắng và đầu vàng trên tôm cho nên hàng thủy sản
Việt Nam không thể đi vào Úc, lợi dụng tình hình này Nhật Bản đang ép giá
tôm của Việt Nam Mặc dù xuất khẩu thủy sản nói riêng và ngành xuất khẩu
cả nước nói chung đang gặp nhiều khó khăn, nhưng theo Đại diện Hiệp hội
Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: theo số liệu
mới nhất của Tổng cục Hải quan, trong năm 2008, xuất khẩu thủy sản của cả
nước đạt trên 1,2 triệu tấn, trị giá đặt trên 4,5 tỷ USD, tăng 33,7% về khối
lượng và 19,8% về giá trị so với năm 2007
Liên minh Châu Âu (EU) tiếp tục giữ vị trí nhà nhập khẩu thủy sản lớn nhất
của Việt Nam với khối lượng nhập khẩu là 349 ngàn tấn với trị giá 1,14 tỷ
USD, tăng 26% về giá trị
Trong năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu thủy sản sang 26/27 quốc gia thuộc
khối này, đứng đầu là 5 thị trường: Đức, Italia, Tây Ban Nha, Hà Lan và Bỉ
Đứng thứ hai là thị trường Nhật Bản, với khối lượng nhập khẩu trên 134
ngàn tấn, giá trị đạt hơn 828 triệu USD, tăng 13,2% về khối lượng và 11%
về giá trị so với năm trước
Hàn Quốc vẫn đứng vững ở vị trí thứ 4 trong top các thị trường nhập khẩu
thủy sản của Việt Nam và đứng thứ 2 về nhập khẩu thủy sản khô từ nước ta
Nửa đầu năm, xuất khẩu tôm đông lạnh và mực bạch tuộc sang thị trường
này tăng mạnh so với năm ngoái Tuy nhiên, xuất khẩu những tháng cuối
năm lại giảm mạnh nên xuất khẩu cả năm chỉ tăng trưởng 10% so với năm
2007
Đại diện VASEP cho biết dự kiến Hàn Quốc vẫn tiếp tục là thị trường lớn
của thuỷ sản Việt Nam song mức tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này
sẽ chững lại vào năm 2009 do kinh tế khó khăn làm giảm nhu cầu tiêu thụ
Cũng trong năm 2008, Nga vẫn là thi trường lớn cho nhiều doanh nghiệp
xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam Thị trường đơn lẻ này tiếp tục đứng
Trang 29đầu về nhập khẩu cá tra, basa của Việt Nam với mức tăng trên 142% về khối
lượng và tăng 109% về giá trị so với năm 2007
Nhưng Ukraine mới thực sự là “hiện tượng” của năm 2008, với mức tăng
trưởng nhập khẩu cao nhất lên tới 202,6% về khối lượng và 221,1% về giá
trị
1.2.4 Giày dép:
Pháp là một thị trường lớn của xuất khẩu da giày của Việt nam, ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính, nhu cầu thị trường giảm và các doanh
nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc đàm phán với khách hàng, biến động tỷ
giá EUR/USD bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, chính sách hạn chế
nhập khẩu của Pháp Bản thân các nhà nhập khẩu Pháp cũng đang rơi vào
tình trạng khó khăn, nhất là trong việc tiếp cận vốn ngân hàng Hàng hóa
nhập khẩu về khó tiêu thụ do nhu cầu người dân giảm, chi phí lưu kho bãi sẽ
tăng lên Vì vậy, những doanh nghiệp của nước này sẽ chú trọng giảm thiểu
hàng tồn kho và tận dụng nguồn vốn bên ngoài bằng cách áp dụng các
phương thức thanh toán linh hoạt, như : trả chậm với thời gian dài hơn
Số liệu Hải Quan Pháp cho thấy lượng nhập khẩu mặt hàng giầy dép vào
Pháp tăng đều qua các năm trong giai đoạn 1999 – 2007 và đạt mức kim
ngạch nhập khẩu cao nhất (6,4 tỷ euros) vào năm 2007 Tuy nhiên, lượng
nhập khẩu chững lại trong năm 2008.Ngoài bất lợi do xu hướng chung, lại
gặp bất lợi do EU áp thuế chống bán phá giá và không cho hưởng GSP( quy
chế ưu đãi thuế quan phổ cập) từ năm 2009 Giá cả, vốn là lợi thế cạnh tranh
của giầy dép Việt Nam, sẽ ngày càng tăng, tạo sức ép lớn lên lượng hàng
bán ra thị trường Như vậy, giầy dép Việt Nam sẽ phải cạnh tranh cả về mặt
chất lượng lẫn giá cả với các nhà sản xuất giầy Châu Âu, Trung Quốc
Trang 301.2.5 Dệt may:
Dệt may có lẽ là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của suy thoái kinh tế
toàn cầu Theo báo cáo của Hiệp hội Dệt may, trong 3 tháng đầu năm2009,
các đơn hàng xuất khẩu giảm từ 20-30% so với cùng kỳ năm 2008, đồng
thời, giá bán sản phẩm cũng giảm với mức tương tự Quý 1/2009 kim ngạch
xuất khẩu của dệt may cũng giảm so với cùng kỳ năm trước với giá trị xuất
khẩu chỉ đạt 1,9 tỷ USD( năm 2008 là 2 tỷ USD)
1.2.6 Cao su :
Do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên nhu cầu cao su năm
2009 trên thế giới được dự báo giảm 40% so với năm 2008.Giá cao su thế
giới năm giảm đến 31%-39% tùy từng chủng loại Sản lượng cao su nhân
tạo (sản xuất từ phụ phẩm dầu thô) tăng do giá dầu thô giảm; trong khi
ngành công nghiệp ôtô vẫn đang xuống dốc, khiến nhu cầu cao su tự nhiêu
cho sản xuất lốp ôtô chững lại
Mục tiêu đặt ra cho ngành cao su năm 2009 xuất khẩu đạt khoảng 700 nghìn
tấn, tuy nhiên, mục tiêu này rất khó thực hiện
Vì ngay tháng đầu năm 2009, số hợp đồng dài hạn được ký kết chỉ bằng 2/3
so với cùng kỳ năm 2008, bằng 1/3 khả năng hiện có Giá cũng giảm mạnh,
giá cao su tính đến thời điểm tháng 4/2009 là 1.400 -1.500 USD/tấn (trong
khi thời điểm giá cao năm 2008 lên tới hơn 3.000 USD/tấn)
Trước tình hình này, Hiệp hội Cao su đã dự tính, nếu giá cao su thế giới
xuống dưới 1.000 USD/tấn, Hiệp hội sẽ xin kinh phí khoảng 1.000 - 2.000 tỷ
đồng để mua dự trữ, giúp doanh nghiệp, đồn điền cao su "bám trụ"
1.2.7 Đồ gỗ:
Đồ gỗ xuất khẩu nội thất như bàn ghế, gường tủ, trong nhà và ngoài trời
chiếm tới 85% lượng hàng xuất khẩu của ngành, trong năm 2008 đã sụt giảm
Trang 31khoảng 10% Riêng sản phẩm gỗ thủ công mỹ nghệ xuất sang các thị trường
như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan hầu như không có khách hàng
Kinh tế khó khăn, thay vì sử dụng các mặt hàng cao cấp, người dân bắt đầu
có xu hướng chuyển sang các sản phẩm phổ thông hơn
Bên cạnh đó, do thiếu vốn để nhập khẩu gỗ nguyên liệu hồi đầu năm 2008
đã khiến cho nhiều hợp đồng lớn không thể ký, do doanh nghiệp lo ngại
thiếu nguyên liệu Thêm nữa, đầu năm 2008, giá gỗ và chi phí vận chuyển
đều tăng cao đã khiến cho giá nguyên liệu tăng đến 35-40% so với năm
2007(42)
Tiếp đến, tháng 9/2008, Bộ Tài chính lại ra quyết định sẽ áp dụng mức thuế
từ 5-10% đối với các sản phẩm gỗ xuất khẩu Những điều này đã khiến cho
doanh nghiệp phải đứng trước rất nhiều áp lực Khó khăn này đã khiến các
doanh nghiệp không chỉ sản xuất cầm chừng mà còn đứng trên bờ vực phá
sản
2 Ảnh hưởng đến công nghiệp và xây dựng:
2.1 Ảnh hưởng đến công nghiệp:
Các ngành công nghiệp hầu hết đều rơi vào khủng hoảng thừa, do đó phải
thu hẹp sản xuất Nhiều ngành rơi vào tình trạng khốn đốn khi các sản phẩm
công nghiệp của nước ngoài tràn vào với giá rẻ hơn rất nhiều Một số các
công ty của các hãng sản xuất lớn thì phá sản hoặc giảm thiểu số lượng công
nhân để cắt giảm chi phí Các tên tuổi như Canon, Toyota, Daewoo đều có
chính sách cắt giảm công nhân, thu hẹp sản xuất Hai ngành sản xuất thép và
ôtô dường như chịu ảnh hưởng rất nặng nề:
- Công nghiệp thép: do khủng hoảng của nền kinh tế nên sức mua giảm hẳn
đi dẫn đến cung vượt cầu Do đó, nhiều nước được xem là cường quốc về
thép đều đẩy mạnh việc xuất khẩu thép sang các quốc gia khác, kể cả việc
Trang 32tận dụng chính sách hỗ trợ từ nhà nước Nhiều doanh nghiệp vùng Viễn
Đông đã chấp nhận thua lỗ (bán dưới giá thành) để thu hồi vốn, hoặc các
chính phủ của các nước này có chính sách ưu đãi xuất khẩu Các doanh
nghiệp sản xuất phôi thép của Việt Nam không thể cạnh tranh được với giá
phôi thép được chào bán( dưới giá thành sản xuất) từ các nước Nga,
Ukraina, Thổ Nhĩ kì… đang được nhập khẩu vào một cách ồ ạt với số lượng
lớn Theo số liệu của Tổng cục hải quan, chỉ riêng 2 tháng đầu năm 2009,
lượng phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam đã lên đên 170-180 nghìn tấn, với
mức giá dao động quanh mức 400$/tấn(CFI hoặc CF) Riêng khu vực Viễn
Đông và Địa Trung Hải, giá phôi thép chỉ dao động quanh mức 300$/tấn
Với mức giá này, khi về đến Việt Nam cộng cả chi phí vận chuyển cũng chỉ
vào khoảng 350$/tấn
Trong khi đó, theo các doanh nghịêp sản xuất phôi thép trong nước, hiện các
doanh nghiệp đang phải nhập khẩu sắt thép phế liệu để đầu tư sản xuất phôi
Song giá thép phế nhập khẩu đã vào khoảng 250-255$/tấn, cộng với các chi
phí sản xuất ra 1 tấn phôi thép bình quân là 150$/tấn, chưa kể chi phí vận
chuển thì đã không dưới 400$/tấn Với mức chênh lệch từ 50-100$/ tấn, trên
thực tế sẽ không doanh nghiệp nào tính chuyện đầu tư trong nước
Theo Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại( VITIC): Tính đến
cuối tháng 2.2009 đã có khoảng 200 nghìn tấn thép thành phẩm và gần 400
nghìn tấn phôi thép tồn kho Phôi thép liên tục được nhập về với khối lượng
lớn và giá nhập khẩu vẫn duy trì ở mức thấp Kể từ đầu tháng 10.2008,
Trung Quốc đã bãi bỏ thuế xuất khẩu đối với mặt hàng thép xây dựng từ
15% xuống 0% cho các doanh nghiệp sản xuất thép Trung Quốc, cùng với
việc nới rộng việc quản lí bằng giấy phép đối với xuất khẩu thép sẽ giúp cho
xuất khẩu thép thuận lợi hơn rất nhiều Trong khi đó, sản lượng thép dư thừa
Trang 33của Trung Quốc lên tới 160 triệu tấn, một phần trong số này đang tìm cách
nhập khẩu vào Việt Nam
- Công nghiệp ôtô: Nếu như vào quãng thời gian giữa năm 2008, thị trường
ôtô nhập khẩu đã rơi vào cuộc khủng hoảng thừa thì nay, các nhà sản xuất
ôtô trong nước cũng lâm vào tình cảnh tương tự
Thống kê của Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) cho thấy,
trong 4 tháng cuối năm 2008, sản lượng bán hàng của các doanh nghiệp
thành viên đã sụt giảm một nửa so với các tháng đầu năm Trong khi sản
lượng sản xuất vẫn “đều đều” theo kế hoạch được duyệt từ đầu năm hay
thậm chí từ cuối năm 2007, thì lượng bán ra sụt giảm mạnh đã khiến lượng
xe tồn kho liên tục tăng
Ví dụ, từ tháng 1 đến tháng 8/2008, các thành viên VAMA sản xuất được
89.810 xe (trung bình 11.226 chiếc/tháng) trong khi lượng bán ra thấp đã
khiến lượng xe tồn kho tăng thêm gần 5.000 chiếc so với năm 2007 Từ
tháng 9 - 11/2008, mặc dù đã cắt giảm sản xuất xuống gần một nửa với
6.223 chiếc/tháng song do lượng bán sụt giảm nghiêm trọng, lượng xe tồn
kho vẫn tiếp tục tăng thêm hơn 2.000 chiếc nữa
Nếu theo một thành viên VAMA, lượng xe có trong kho của từng thời điểm
luôn cao hơn lượng xe bán ra của thời điểm đó, thì rõ ràng tổng lượng xe tồn
kho đến thời điểm cuối năm 2008 là tương đối lớn
Các nhà sản xuất ôtô cũng tỏ ra lo ngại khi cho rằng tình hình thị trường
năm 2009 thậm chí còn khó khăn hơn so với 2008, do nhiều loại thuế và phí
đồng loạt được áp dụng
- Công nghiệp dược Việt Nam cũng đang phải đối đầu với “cơn bão” khủng
hoảng kinh tế toàn cầu đồng thời với “cơn lũ” các tác động tiêu cực của quá
trình mở cửa thị trường dược phẩm theo các cam kết quốc tế và quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu hơn sau khi gia nhập tổ chức thương mại
Trang 34thế giới( WTO) Khủng hoảng kinh tế kéo theo các hệ quả: thị trường thu
hẹp, giá ngoại tệ tăng, giá nguyên liệu và yếu tố đầu vào tăng, giá thuốc sản
xuất trong nước tăng và nhu cầu giảm sẽ tác động xấu đến tính cạnh tranh
của thuốc nội và hiệu quả hoạt động của các công ty dược nội địa Mặt khác,
việc mở cửa thị trường theo cam kết WTO sẽ thúc đẩy sự hiện diện thương
mại của các công ty nước ngoài có tiềm lực mạnh mẽ hơn với thương hiệu
nổi tiếng và thương quyền ngày càng được mở rộng, cùng với sự tháo dỡ các
rào cản thương mại là một tình thế khó khăn đối với công nghiệp dược nội
địa Hiện nay, còn quá sớm để dự báo sự phá sản của một số công ty dược
phẩm trong nước, tuy nhiên trong cuộc vật lộn để duy trì sản xuất kinh
doanh, bảo đảm đời sống người lao động, các công ty dược không là ngoại
lệ
2.2 Ảnh hưởng đến xây dựng:
2.2.1 Vốn đầu tư vào xây dựng
Vốn đầu tư vào xây dựng được hình thành từ 4 nguồn chủ yếu:
- Vốn nhà nước (bao gồm cả vốn nhà nước đượcđầu tư của doanh nghiệp
nhà nước)
- Vốn doanh nghiệp
- Vốn của dân
- Vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp: trong điều kiện thị trường tiêu thụ giảm
sẽ gặp nhiều khó khăn Nên việc triển khai các dự án công trình và xây dựng
mới sẽ bị ảnh hưởng Vì vậy nguồn vốn đầu tư xây cho công trình xây dựng
chắc chắn sẽ bị giảm sút
Nguồn vốn đầu tư xây dựng nhà ở của doanh nghiệp, tư nhân: trong điều
kiện thị trường tiêu thụ khó khăn Vì vậy khó có thể tăng thậm chí có thể dự
Trang 35đoán giảm sút hơn năm trước đây Riêng nhà ở do dân tự xây dựng có thể
không giảm do yêu cầu bức xúc về nhà ở và giá vật liệu đang giảm
Vốn đầu tư nước ngoài: vốn đầu tư mới chắc chắn sẽ giảm sút, việc giải
ngân và triển khai đầu tư vốn đã được cấp phép sẽ gặp nhiều khó khăn: điều
đó chắc chắn vốn đầu tư xây dựng công trình từ nguồn vốn nước ngoài sẽ
giảm mạnh (Theo chuyên gia của The Economist Intelligence Unit trong
cuộc hội thảo quốc tế về Kinh tế Đối ngoại 2009 “Định vị Việt Nam trong
tương lai” ngày 17 – 18/3/2009 tại Hà Nội vốn đầu tư nước ngoài có thể
giảm tới 70%)
Như vậy trong 4 loại nguồn vốn thì chỉ có nguồn vốn Nhà nước có hy vọng
không giảm hoặc có thể tăng
2.2.2 Ngành sản xuất vật liệu xây dựng:
Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến
vật liệu xây dựng, đặc biệt đối với các loại vật liệu xây dựng đã đầu tư, đang
đầu tư sản xuất có sản lượng cao, cung vượt cầu, như xi măng, gạch lát,
thép… trong điều kiện thị trường trong mức khó khăn, xuất khẩu bị ảnh
hưởng do sự giảm sút đầu tư của thị trường trong nước ngoài nước
3 Ảnh hưởng đến thị trường bất động sản:
Mảng thị trường nhà ở sẽ tiếp tục chứng kiến sự trầm lắng, giao dịch buồn
tẻ do cầu về mảng bất động sản này thấp trong bối cảnh kinh tế được dự báo
ảm đạm và tâm lý kỳ vọng giá nhà sẽ còn giảm hơn trong năm 2009 vẫn
đang bao trùm Người mua nhiều khả năng sẽ tiếp tục chờ đợi Một số người
bán vẫn giữ hàng vì họ không muốn giảm giá
Tiếp nối quá trình phát triển mạnh mẽ trong năm 2007, thị trường bất động
sản bước vào năm 2008 với một khởi đầu tốt đẹp.Chỉ trong một thời gian
ngắn chưa đến 3 tháng (tháng 12/2007 đến 2/2008), giá nhà đất đã tăng bình
Trang 36quân 300%, thậm chí có nơi tăng đến 500% Một số dự án xây dựng chung
cư tung hàng ra bán ngay thời điểm thị trường đang sốt chủ đầu tư đều thu
được lợi nhuân lớn Có những trường hợp - cùng 1 dự án, cùng một loại căn
hộ, nhưng giữa 2 đợt bán hàng giá đã tăng hơn 1.200 USD/m2, thế nhưng
vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường Tuy nhiên sau đó trong suốt thời
gian còn lại của năm 2008, thị trường gặp rất nhiều khó khăn như tỷ lệ lạm
phát tăng nhanh, thắt chặt tín dụng và các tác động tiêu cực từ cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới Giá xây dựng tăng, tốc độ hoàn vốn của các dự án
chậm trong khi thị trường tín dụng ngày càng thắt chặt gây khó khăn về mặt
tài chính cho các nhà đầu tư Tháng 4/2008 - một tháng sau khi có chính
sách thắt chặt tiền tệ - trên thị trường bất động sản bắt đầu xuất hiện làn sóng
tháo chạy Làn sóng tháo chạy đã kéo giá nhà đất liên tục sụt giảm, với tốc
độ sụt giảm ngày càng gia tăng
Sau 6 tháng liên tục giảm giá, đến cuối năm 2008 nhà đất trên thị trường đã
mất bình quân 50% giá trị so với thời đỉnh điểm cơn sốt
Kể từ quý ba năm 2008, mặc dù tỷ lệ lạm phát giảm dần và giá xây dựng
chững lại, nhưng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới buộc
nhiều nhà đầu tư rút khỏi Việt Nam hoặc tạm dừng dự án của mình Mặc dù
có những hi vọng thị trường phát triển nhanh chóng nhưng trên thực tế tiến
độ thi công của các dự án diễn ra chậm hơn so với dự kiến
Theo một khía cạnh nào đó thì tốc độ phát triển chậm hơn so với dự tính của
thị trường bất động sản lại là một yếu tố tích cực cho thị trường BĐS vì điều
đó tránh cho thị trường rơi vào tình trạng cung vượt quá cầu
Thị trường văn phòng năm 2008 không có những biến động quá lớn chủ yếu
do nguồn cung vẫn còn hạn chế Nửa đầu năm 2008 thị trường tương đối
năng động; nguồn cung mới được đón nhận nhanh chóng làm cho giá thuê
không ngừng tăng Thị trường trong nửa năm cuối hoạt động chậm hơn do
Trang 37có ít yêu cầu tìm thuê và ít giao dịch thuê/cho thuê văn phòng hơn Cả khách
thuê và nhà đầu tư đều cẩn trọng hơn với những xu hướng biến động của thị
trường Các chủ tòa nhà nhận thấy rõ hơn sự cạnh tranh của nguồn cung
trong tương lai và bắt đầu xem xét lại để đưa ra mức giá chào thuê hợp lý
hơn Trong khi đó có những khách thuê sẵn sàng chuyển văn phòng ra khỏi
các tòa nhà có chất lượng cao, giá thuê cao đến các tòa nhà phù hợp hơn vì
biết sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong năm 2009
4 Ảnh hưởng đến thị trường tài chính:
Mặc dù nền kinh tế Việt Nam chưa liên thông sâu với thị trường khu vực và
thế giới, tuy nhiên, tác động và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu đến thị trường tài chính Việt Nam là điều khó tránh khỏi
4.1.Thị trường chứng khoán:
Luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam suy giảm và đã có hiện tượng các
nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường Mặc dù tình hình kinh tế vĩ
mô của Việt Nam trong những tháng gần đây có những chuyển biến tích
cực, nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục sụt giảm VN-index
giảm liên tục (VN-Index giảm một mạch từ hơn 900 điểm xuống trên dưới
300 điểm trong năm 2008) Không riêng chỉ số chứng khoán sụt giảm, việc
huy động vốn qua thị trường chứng khoán(TTCK) cũng giảm tới 75 – 80%
so với năm 2008 Việc nhà đầu tư nước ngoài có biểu hiện rút khỏi thị
trường chứng khoán Việt Nam đã gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư
trong nước(43)
Theo cách nói của các nhà báo thì “các sàn chứng khoán vắng lặng hơn chợ chiều”
Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian tới
sẽ rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an toàn Việc
bán tháo chứng khoán khỏi thị trường Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất
Trang 38không cao, do tính thanh khoản và quy mô của thị trường Điều này sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới Việc huy động vốn thông qua
thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng
vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên cao
Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch chênh lệch lãi suất
nhằm hưởng chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền trong khi tỷ giá ổn định
Các giao dịch này thường mang tính đầu cơ ngắn hạn cao Với lãi suất toàn
cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá neo(44)
VNĐ vào USD của Việt Nam trong khi lãi suất VNĐ vẫn ở mức cao, có thể dòng vốn này sẽ chảy vào trong một
số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh lệch Trong những
trường hợp thoái vốn, dòng vốn này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VNĐ
Việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng sẽ
khó khăn và chi phí tăng cao Chính phủ Việt Nam hiện có kế hoạch phát
hành 1 tỉ USD và Vinashin( tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam) có kế
hoạch huy động 400 triệu USD trên thị trường quốc tế vào năm 2009 Tuy
nhiên, trong bối cảnh của khủng hoảng tài chính, việc thực hiện kế hoạch
nêu trên sẽ gặp phải những trở ngại đáng kể trong thời gian tới
Gần 70% trong số 26 công ty chứng khoán(CTCK) đã công bố báo cáo tài
chính năm 2008 có lợi nhuận âm, một số công ty có mức thua lỗ rất lớn Số
CTCK còn lại có lợi nhuận, nhưng không đáng kể, ngoại trừ SSI( công ty
chứng khoán Sài Gòn)
Bất ngờ nhất có lẽ là khoản lỗ lên tới 554 tỷ đồng của CTCK Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) Với khoản lỗ này, BSC chỉ còn vỏn
vẹn 274 tỷ đồng vốn chủ sở hữu, trong khi vốn điều lệ của công ty này là
700 tỷ đồng (vào thời điểm cuối năm 2008, tổng các khoản trích lập dự
phòng giảm giá của BSC là gần 633,5 tỷ đồng)
Trang 39Tuy nhiên, tỷ lệ lỗ/vốn điều lệ của BSC chỉ là 79,16%, không phải là mức
thua lỗ lớn nhất Xét theo tiêu chí này, kỷ lục tạm thời thuộc về CTCK Bảo
Việt (BVSC) Với khoản lỗ 452 tỷ đồng trên vốn điều lệ 451 tỷ đồng, tương
đương 100,2% vốn điều lệ, BVSC đã khiến khá nhiều nhà đầu tư bất ngờ
Dù vậy, do vốn chủ sở hữu lớn có được từ thặng dư phát hành và tích lũy
các năm trước, BVSC vẫn duy trì mức vốn chủ sở hữu lớn, lên tới 1.067,57
tỷ đồng(45) Một số CTCK khác cũng có tỷ lệ lỗ/vốn điều lệ lớn như: Kim
Long, Âu Việt, Hải Phòng…
Phân tích sơ bộ báo cáo tài chính( BCTC) năm 2008 tóm tắt cho thấy, các
CTCK thua lỗ chủ yếu do hoạt động tự doanh BVSC phải trích lập các
khoản đầu tư lên tới hơn 445 tỷ đồng, VNDirect trích 105,8 tỷ đồng, CTCK
Hải Phòng trích 87,7 tỷ đồng…
Chỉ có hai CTCK có khoản trích lập tương đối lớn, nhưng vẫn duy trì được
kết quả kinh doanh có lãi là CTCK TP HCM (trích lập 200 tỷ đồng; lợi
nhuận sau thuế 23,54 tỷ đồng) và CTCK Sài Gòn (trích lập 25,7 tỷ đồng; lợi
nhuận sau thuế 250,5 tỷ đồng)
Riêng CTCK Kim Long, dù đã cắt lỗ các khoản đầu tư từ quý IV/2008 nên
không phải trích lập dự phòng, nhưng Kim Long cũng có khoản lỗ lên tới
347,44 tỷ đồng, tương đương 70% vốn điều lệ
Sự thua lỗ của CTCK là hình ảnh chung, phù hợp với diễn biến TTCK suy
giảm và kém thanh khoản trong năm 2008 Những CTCK có nghiệp vụ
chính là môi giới và tư vấn cũng thua lỗ
Trường hợp CTCK Tầm Nhìn, vốn điều lệ là 25 tỷ đồng, đủ cho nghiệp vụ
môi giới, nhưng sau 2 năm hoạt động, doanh thu (năm 2007 và 2008) chỉ đạt
hơn 3 tỷ đồng, khoản lỗ tổng cộng lên đến hơn 13 tỷ đồng, dẫn đến vốn chủ
sở hữu của công ty này chỉ còn non nửa (11,2 tỷ đồng)
Trang 40Một số CTCK dù đã đi vào hoạt động từ trước năm 2007, nhưng doanh thu
vẫn rất khiêm tốn, thể hiện hoạt động môi giới chưa hiệu quả, như trường
hợp của CTCK Nam Việt, doanh thu các năm 2007 và 2008 chỉ đạt lần lượt
30 triệu đồng và 277 triệu đồng!
Trong số 26 CTCK nêu trên, một số công ty sau khi lỗ đã có vốn chủ sở hữu
tại thời điểm ngày 31/12/2008 thấp hơn 100 tỷ đồng, mức vốn cần thiết để
triển khai nghiệp vụ tự doanh như: EuroCapital, Nam An, Phú Hưng, Gia
Quyền…
Thậm chí, tại CTCK Quốc Gia, vốn chủ sở hữu chỉ còn 20,4 tỷ đồng, thấp
hơn mức vốn yêu cầu tối thiểu là 25 tỷ đồng cho nghiệp vụ môi giới Với
trường hợp của CTCK Tầm Nhìn, dù đã tăng vốn điều lệ lên 25 tỷ đồng để
vừa đủ cho nghiệp vụ duy nhất là môi giới, nhưng vốn chủ sở hữu chỉ còn 11
tỷ đồng
Vấn đề đặt ra là, nếu các CTCK này không thể tăng vốn chủ sở hữu lên mức
tối thiểu là bằng với vốn điều lệ cần thiết để triển khai các nghiệp vụ thì
hướng xử lý sẽ như thế nào?
Một vấn đề khác cần quan tâm là, dù chưa có cơ sở để tính toán chi tiết (do
chưa tiếp cận được BCTC và thuyết minh BCTC đầy đủ), nhưng theo tính
toán sơ bộ , việc thua lỗ nặng nề của một số CTCK đã dẫn đến tình trạng tỷ
lệ vốn khả dụng trên tổng nợ điều chỉnh thấp hơn mức 5% (theo quy định
của Luật Chứng khoán là không được thấp hơn 6%)
Câu hỏi mà thị trường đặt ra là năm 2008, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
(UBCK) đã có động thái gì để kiểm soát tỷ lệ vốn khả dụng tại CTCK theo
đúng tinh thần của Luật Chứng khoán và Quy chế tổ chức và hoạt động
CTCK ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC? Mức độ minh
bạch thông tin và hậu quả (nếu có) của việc này đến đâu, nếu các CTCK
không thể khắc phục được tình trạng trên?