Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
I Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 4
1 Khái niệm giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại 4
1.1 Quan niệm về giao dịch thương mại 4
1.2 Khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 5
1.2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 5
1.2.2 Khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 7
1.2.3 Quan niệm về giao dịch thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại 8
2 Những đặc trưng cơ bản của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 9
3 Sự tác động của hội nhập kinh tế thế giới đối với giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay 10
3.1 Cơ hội đối với ngành ngân hàng khi hội nhập kinh tế thế giới 11
3.2 Thách thức 13
II Một số vấn đề pháp lý cơ bản của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 18
1 Tư cách chủ thể của ngân hàng thương mại trong giao dịch thương mại 19 1.1 Năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại 19
1.1.1 Quan niệm về năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại 19
1.1.2 Cơ chế hình thành, thay đổi và chấm dứt năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại 20
1.1.3 Xác định người đại diện hợp pháp của ngân hàng thương mại 21
Trang 31.2 Quyền sở hữu vốn kinh doanh 22
2 Cơ chế xác lập giao dịch và hệ quả pháp lý của việc xác lập giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 22
2.1 Cơ chế xác lập giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 22
2.2 Hệ quả pháp lý của việc xác lập giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 24
2.3 Hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 25
2.3.1 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 25
2.3.2 Giao dịch thương mại vô hiệu của ngân hàng thương mại và hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu 27
CHƯƠNG 2 GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY 28
I Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 28
II Các hoạt động giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam 32
1 Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong lĩnh vực huy động vốn 32
1.1 Giao dịch nhận tiền gửi 33
1.1.1 Khái niệm giao dịch nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại 34
1.1.2 Phân loại 34
1.1.3 Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong giao dịch nhận tiền gửi 35
1.2 Giao dịch phát hành giấy tờ có giá 36
1.2.1 Khái niệm 36
1.2.2 Phân loại 36
1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch phát hành giấy tờ có giá 36
1.3 Giao dịch vay vốn của ngân hàng thương mại từ ngân hàng Nhà nước Việt Nam 38
Trang 41.4 Giao dịch vay vốn của ngân hàng thương mại từ các tổ chức tín dụng
khác 38
2 Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong lĩnh vực cấp tín dụng 39
2.1 Giao dịch cho vay của ngân hàng thương mại 39
2.1.1 Khái niệm về cho vay 39
2.1.2 Phân loại cho vay 40
2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch cho vay của ngân hàng thương mại 40
2.2 Giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá 41
2.2.1 Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá 41
2.2.2 Các phương thức giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá 41
2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá 42
2.3 Giao dịch bảo lãnh ngân hàng 42
2.3.1 Khái niệm về bảo lãnh: 42
2.3.2 Phân loại bảo lãnh ngân hàng 43
2.3.3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong giao dịch bảo lãnh của ngân hàng thương mại 44
3 Giao dịch mở tài khoản tiền gửi thanh toán và cung ứng dịch vụ thanh toán 45
3.1 Khái niệm 45
3.2 Giao dịch mở tài khoản tiền gửi thanh toán và cung ứng dịch vụ thanh toán 46
III Đánh giá các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới 47
1 Thực trạng và nguyên nhân 47
1.1 Thực trạng 47
1.2 Nguyên nhân 49
Trang 5CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 57
III Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 64
1 Hoàn thiện các quy định về tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng 64
2 Ban hành đầy đủ và đồng bộ các quy chế pháp lý về những giao dịch thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại 68
3 Hoàn thiện quy chế cung ứng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng 71
4 Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường tiền tệ, góp phần thúc đẩy và phát triển thị trường vốn 75
4.1 Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường tiền tệ 75 4.2 Góp phần thúc đẩy và phát triển thị trường vốn 76
5 Hoàn thiện cơ bản thể chế pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển ngành ngân hàng và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng 77
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 0
Trang 6DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 1: Thị phần của Ngân hàng thương mại trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam từ 2004-2007 31
Hình 1: Cơ chế xác lập giao dịch pháp nhân ngân hàng thương mại 24
Hình 2: Tỷ trọng huy động vốn 33
Hình 3: Cơ cấu tổng phương tiện thanh toán 46
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nếu vốn được coi là điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong một nền kinh tế thì sự tồn tại của ngân hàng lại được coi là điều kiện cần thiết cho việc lưu thông các nguồn vốn trong xã hội Do vậy, việc tổ chức và đảm bảo sự an toàn
cả về phương diện kinh tế và pháp lý cho các giao dịch của ngân hàng được xem là vấn đề đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay, bởi các yếu tố mới phát sinh trong quá trình hội nhập cho nên hoạt động ngân hàng là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc nhất Các yếu tố này thể hiện
ở những đòi hỏi khách quan về việc thỏa mãn nhu cầu vốn ngày càng tăng cho các hoạt động kinh tế trong hội nhập kinh tế thế giới, thông qua việc xác lập vốn giữa các chủ thể kinh tế với nhau, trong đó có các giao dịch thương mại do ngân hàng xác lập và thực hiện đối với khách hàng
Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới như ngày nay thì việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, sâu sắc và toàn diện về các giao dịch tương mại của ngân hàng thương mại để thông qua đó xây dựng cơ sở lí luận cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh giao dịch thương mại của ngân hàng cũng như hoàn thiện kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng trong điều kiện hiện nay là điều hết sức cần thiết và cấp bách
Đó là lý do để em chọn vấn đề: “Giao dịch thương mại của ngân hàng
thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay” làm đề
tài khoá luận cho mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài: “Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay” nhằm góp phần làm rõ các vấn đề lý luận về giao dịch thương mại của ngân hàng nói chung và bản chất pháp
lý của các giao dịch thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại nói riêng, trên
Trang 8cơ sở đó nhằm đưa ra các ý kiến đánh giá thực trạng giao dịch thương mại của ngân hàng Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ:
- Phân tích, giải thích nhằm làm rõ các vấn đề lý luận chung về giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
- Phân tích các giao dịch thương mại chủ yếu của các ngân hàng thương mại
- Phân tích và đánh giá thực trạng giao dịch thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại
- Đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của khoá luận này, nội dung nghiên cứu giới hạn ở việc làm rõ các vấn đề lý luận và bản chất pháp lý của các giao dịch thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại trên ba lĩnh vực, đó là: lĩnh vực huy động vốn, cấp tín dụng, mở tài khoản tiền gửi thanh toán và cung ứng dịch vụ thanh toán
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứư tổng hợp như hệ thống hoá, phân tích, thống kê, sưu tập tài liệu và luận giải ngoài ra phương pháp so sánh cũng
được áp dụng để hoàn thành khoá luận này
5 Cơ cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có ba chương với tiêu đề như sau:
Trang 9Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
Chương 2: Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam
Khó khăn mà em gặp phải trong quá trình thực hiện đề tài khá lớn, không chỉ
vì tài liệu, thông tin còn ít ỏi, mà còn vì kiến thức và năng lực tổng hợp phân tích của em còn rất khiêm tốn, thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp Bởi vậy, những thiếu sót là không thể tránh khỏi Sự chỉ dẫn, góp ý của thầy cô là những ý kiến vô cùng quý báu và bổ ích đối với em trong quá trình tiếp tục hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Nguyễn Lan Anh, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để người viết có thể hoàn thành khóa luận này Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn công lao đào tạo của các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương trong suốt thời gian qua
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
1 Khái niệm giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại
1.1 Quan niệm về giao dịch thương mại
Theo quy định chung của Hiệp định GATS, không có một khái niệm riêng cho dịch vụ ngân hàng mà trên thực tế, dịch vụ này (giống như dịch vụ về bảo hiểm
và chứng khoán) được coi như một loại hình dịch vụ tài chính Cũng theo Hiệp định này, dịch vụ tài chính là bất kì dịch vụ nào có tính chất tài chính, do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch
3) Thuê mua tài chính;
4) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng;
Trang 11c Các sản phẩm tài chính phái sinh, bao gồm nhưng không hạn chế các hợp đồng kì hạn hoặc hợp đồng quyền chọn;
d Các sản phẩm dựa trên tỉ giá hối đoái và lãi suất, bao gồm các sản phẩm như hoán vụ, hợp đồng tỉ giá kì hạn;
đ Chứng khoán có thể chuyển nhượng;
e Các công cụ có thể chuyển nhượng khác và các tài sản tài chính, kể cả kim khí quý
7) Tham gia vào việc phát hành mọi chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và chào bán như đại lí (dù công khai hoặc theo thoả thuận riêng) và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó;
8) Môi giới tiền tệ;
9) Quản lí tài sản, như tiền mặt hoặc quản lí danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lí đầu tư tập thể, quản lí hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác;
10) Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác;
11) Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lí dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác;
12) Các dịch vụ tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan đến các hoạt động nêu trong điểm (1) đến (11), kể cả tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn mua sắm và về
cơ cấu lại chiến lược doanh nghiệp
Như vậy, theo thông lệ quốc tế, dịch vụ ngân hàng là khái niệm rất rộng, bao gồm tất cả các hoạt động ngân hàng của một tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng trên thị trường vì mục tiêu lợi nhuận.1
1.2 Khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
a Sự ra đời của ngân hàng
1
Tạp chí Luật học số 12/2007
Trang 12Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát Đổi lại, người chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đa đại diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những người có tiền Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức
là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có
độ chênh lệch lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước.2
b Khái niệm ngân hàng thương mại
Theo định nghĩa của Luật ngân hàng Pháp ngày 13/6/1941 “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ, trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” Luật ngân hàng Đài Loan quy định thuật ngữ “ngân hàng thương mại” trong luật này được hiểu là một ngân hàng mà các chức năng chính là nhận tiền gửi tài khoản phát hành séc và cấp tín dụng ngắn hạn” Luật ngân hàng thương mại của cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định: “các ngân hàng thương mại được nêu ra trong luật này là các bộ phận hợp nhất được thành lập theo bộ luật này và Luật công ty của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, để nhận tiền gửi từ công chúng, cấp các khoản vay, cung cấp các dịch
vụ thanh toán và tiến hành các loại hình kinh doanh có liên quan khác” Pháp lệnh
2
www.saga.vn
Trang 13ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 của Việt Nam định nghĩa ngân hàng thương mại như sau: “ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
Như vậy có thể thấy hầu hết pháp luật các nước đều lấy chức năng và nội dung hoạt động ngân hàng làm cơ sở để định nghĩa về ngân hàng thương mại
1.2.2 Khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
Chúng ta khó có thể tìm thấy một định nghĩa nào về giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong pháp luật nước ngoài cũng như trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam Tuy nhiên trong các đạo luật về thương mại các nước đã từng có nhiều điều khoản cụ thể ghi nhận hoạt động kinh doanh của ngân hàng như là những hành vi thương mại (hay giao dịch thương mại) mang tính bản chất Điều 632 Bộ luật thương mại Pháp quy định các hoạt động ngân hàng và hối đoái chính là những hành vi thương mại bản chất Bộ luật thương mại Đức năm
1897 cũng quy định như vậy tại điểm 4 khoản 2 điều 1 Bộ luật thương mại Nhật Bản quy định về các giao dịch thương mại trong đó có giao dịch thương mại tại khoản 8 điều 502 Riêng đối với Bộ luật dân sự và thương mại tuy không có điều khoản nào quy định rõ các hoạt động của ngân hàng là hành vi thương mại nhưng trên thực tế bộ luật này đã thừa nhận những hoạt động giống như hoạt động của ngân hàng bao gồm việc nhận ký gửi tiền và cho vay tiền là những giao dịch thuộc phạm vi của Bộ luật dân sự và thương mại
Ngoài việc khẳng định các hoạt động ngân hàng hay hoạt động kinh doanh ngân hàng là giao dịch thương mại trong các bộ luật thương mại như một quy tắc pháp lý chung, các đạo luật về ngân hàng một số nước còn quy định cụ thể mang tính liệt kê các hành vi pháp lý được coi là hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Ví dụ như tại khoản 3 Luật ngân hàng thương mại của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có hiệu lực kể từ ngày 1/7/1995 quy định về các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại; khoản 1 điều 11 Luật ngân hàng Ba Lan
Trang 14(ban hành ngày 31/11/1989) quy định về các hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại trên lãnh thổ Ba Lan …
Ở Việt Nam pháp luật thương mại hiện hàng chưa có quy định nào trực tiếp khẳng đinh hoạt động ngân hàng là một loại hành vi thương mại (giao dịch thương mại) Tuy nhiên một cách gián tiếp các nhà làm luật Việt Nam đã thừa nhận hoạt động kinh doanh ngân hàng như là một loại hình kinh doanh đặc thù, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, thương mại nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng bằng cách đưa ra khái niệm hoạt động ngân hàng tại khoản 7 điều 20 cuả Luật các
tổ chức tín dụng “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cung cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
1.2.3 Quan niệm về giao dịch thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại (NHTM) ngày nay có số lượng các nghiệp vụ kinh doanh nói chung và giao dịch thương mại nói riêng của ngân hàng thương mại
có xu hướng ngày càng đa dạng và phức tạp Để phân loại các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại có thể dựa vào một số tiêu chí cơ bản sau đây:
Nếu dựa vào cấu trúc chủ thể tham gia giao dịch và cách thức thể hiện ý chí giữa các chủ thể đó thì có thể phân loại thành giao dịch thương mại đa phương (ví dụ: giao dịch cho vay hợp vốn, giao dịch đồng bảo lãnh…); giao dịch thương mại song phương (ví dụ: giao dịch nhận tiền gửi, giao dịch chiết khấu chứng từ có giá…) và giao dịch thương mại đơn phương (ví dụ hành vi phát hành séc của ngân hàng thương mại cho người thụ hưởng séc…)
Nếu dựa vào hệ quả pháp lý của giao dịch có thể phân loại thành giao dịch cam kết (ví dụ, việc ký kết hợp đồng tín dụng…) và giao dịch định đoạt (ví dụ, việc giải ngân của ngân hàng cho khách hàng vay vốn) Giao dịch cam kết chỉ có hệ quả làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, còn giao dịch định đoạt lại có hệ quả pháp lý là làm chuyển dịch quyền sở hữu một tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác để nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch cam kết Hai loại giao dịch này có thể xem là những hành vi pháp lý độc lập nhưng chúng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, chi phối lẫn nhau trong
Trang 15đó giao dịch cam kết là tiền đề để xác lập giao dịch định đoạt và ngược lại, giao dịch định đoạt là công cụ, phương tiện để thực hiện giao dịch cam kết
Nếu dựa vào tính chất nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại, có thể phân loại thành các nhóm như giao dịch trong lĩnh vực huy động vốn; giao dịch trong lĩnh vực cấp tín dụng; giao dịch dịch vụ ngân hàng; giao dịch ngoại hối; giao dịch đầu tư tài chính ra bên ngoài; giao dịch chứng khoán; giao dịch mua bán nợ; giao dịch bảo hiểm Trong số các loại hình giao dịch này, có những giao dịch được mọi ngân hàng thương mại thực hiện như một nghề nghiệp chính mang tính chức năng nên có thể gọi là giao dịch thương mại chủ yếu, ví dụ như giao dịch trong lĩnh vực huy động vốn, giao dịch trong lĩnh vực cấp tín dụng và giao dịch dịch vụ ngân hàng Có những giao dịch không được mọi ngân hàng thực hiện như một nghề nghiệp chính mang tính chức năng của nó nên có thể gọi là giao dịch thương mại không chủ yếu của ngân hàng thương mại, ví dụ như giao dịch đầu tư tài chính ra bên ngoài, giao dịch mua bán nợ, giao dịch chứng khoán, giao dịch bảo hiểm…3
Do tính đa dạng, phức tạp của các loại hình giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại nên khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại có nội hàm rất rộng Vì thế, trong khuôn khổ của bài khóa luận này, em chỉ tập trung nghiên cứu những giao dịch thương mại chủ yếu do ngân hàng thương mại xác lập
và thực hiện đối với khách hàng của họ
2 Những đặc trưng cơ bản của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
Có thể nhận thấy các đặc trưng cở bản của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại như sau:
Đặc trưng thứ nhất: chủ thể xác lập và thực hiện giao dịch thương mại trong
hoạt động kinh doanh ngân hàng chủ yếu là các ngân hàng thương mại Theo điều
14 Luật các tổ chức tín dụng quy định về quyền hoạt động ngân hàng: “Mọi tổ chức
có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động thì được thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động ngân hàng tại Việt Nam” Tuy nhiên, thực tế cho thấy các
3
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com
Trang 16giao dịch thương mại quan trọng và chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng đều do các ngân hàng thương mại thực hiện Ví dụ như giao dịch về huy động vốn, giao dịch về cấp tín dụng hay giao dịch dịch vụ ngân hàng
Đặc trưng thứ hai: đối tượng giao dịch trong giao dịch thương mại tương đối
đặc biệt, đó là tiền, các chứng từ có giá, ngoại hối hay các công việc chuyên môn có
sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng Tính đặc biệt của những đối tượng này thể hiện ở chỗ, chúng không phải là những hàng hóa thông thường được sản xuất, chế tạo và đem bán tự do trên thị trường, cũng không phải là những công việc thông thường mà ai cũng làm được
Đặc trưng thứ ba: giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại là loại
hình chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía Nhà nước, trong đó các biện pháp kiểm soát đặc thù được áp dụng như là những công việc chủ yếu nhằm đảm bảo lợi ích chung cũng như lợi ích riêng của các bên tham gia vào giao dịch
Đặc trưng thứ tư: giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại là loại
hình giao dịch có tính coi trọng hình thức, thể hiện ở hai phương diện Hầu hết các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại phải được xác lập bằng văn bản nhằm tạo ra chứng cứ cần thiết cho việc thực hiện giao dịch cũng như giải quyết các tranh chấp phát sinh từ giao dịch Việc xác lập và thực hiện các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại phải tuân theo những trình tự, thể thức hết sức chặt chẽ nhằm đảm bảo sự an toàn pháp lý cho các bên tham gia vào giao dịch.4
4
Nguyễn Văn Tuyến, “Giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường”, NXB Tư Pháp
Trang 17Xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay đang là một trong số các nhân
tố ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng ở nước ta Sự tác động khách quan của yếu tố này có tác dụng định hướng cho việc điều chỉnh của Nhà nước đối với các giao dịch thương mại ngân hàng trong giai đoạn hiện nay bằng công cụ chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp
3.1 Cơ hội đối với ngành ngân hàng khi hội nhập kinh tế thế giới
Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhất là trên thị trường tài chính khu vực
Hội nhập quốc tế sẽ tạo cơ hội cho NHNN nâng cao năng lực và hiệu quả
điều hành và thực thi chính sách tiền tệ, đổi mới cơ chế kiểm soát tiền tệ, lãi suất, tỉ giá theo nguyên tắc thị trường Hội nhập cũng là cơ hội để NHNN tăng cường phối hợp với các NHTW và các tổ chức tài chính quốc tế về chính sách tiền tệ, trao đổi thông tin và ngăn ngừa rủi ro, qua đó hạn chế biến động của thị trường tài chính quốc tế và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam Hệ thống NHTM và thị trường tiền tệ hoạt động an toàn và hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách tiền tệ Hội nhập quốc tế sẽ thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý tài chính, loại bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp vốn, tài chính đối với các NHTM trong nước, hạn chế tình trạng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của NHNN
và Chính phủ
Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc các ngân hàng trong nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm còn tồn tại, đồng thời phải tăng cường năng lực cạnh tranh trên cơ sở nâng cao trình độ quản trị điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng Trong quá trình hội nhập và mở cửa thị trường tài chính trong nước, khuôn khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc tế, dẫn đến sự hình thành môi trường kinh doanh bình đẳng
và từng bước phân chia lại thị phần giữa các nhóm ngân hàng theo hướng cân bằng hơn, thị phần của NHTMNN có thể giảm và nhường chỗ cho các nhóm ngân hàng
Trang 18khác, nhất là tại các thành phố và khu đô thị lớn Tuỳ theo thế mạnh của mỗi ngân hàng, sẽ xuất hiện những ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên môn hóa như ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng đầu tư, đồng thời hình thành một
số ngân hàng qui mô lớn, có tiềm lực tài chính và kinh doanh hiệu quả Kinh doanh theo nguyên tắc thị trường cũng buộc các tổ chức tài chính phải có cơ chế quản lý
và sử dụng lao động thích hợp, đặc biệt là chính sách đãi ngộ và đào tạo nguồn nhân lực nhằm thu hút lao động có trình độ, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh trên thị trường tài chính
Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và nới lỏng hạn chế đối với các tổ chức tài chính nước ngoài là điều kiện để thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng, các NHTM trong nước có điều kiện để tiếp cận sự hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, đào tạo thông qua các hình thức liên doanh, liên kết với các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế Vì thế, các ngân hàng cần tăng cường hợp tác để chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và dịch vụ ngân hàng tiên tiến, khai thác thị trường Trong quá trình hội nhập, việc mở rộng quan hệ đại lý quốc tế của các ngân hàng trong nước sẽ tạo điều kiện phát triển các hoạt động thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư và chuyển giao công nghệ
Việc gia nhập WTO tạo cơ hội tốt cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng trong nước tiếp cận với thị trường tài chính quốc tế, nâng cao trình độ quản
lý ngân hàng, cung cấp dịch vụ cũng như mở rộng các loại hình dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu thị trường
Các ngân hàng trong nước có cơ hội tăng vốn phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ do ngân hàng nước ngoài được phép đầu tư mua cổ phần của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Các ngân hàng trong nước có một lợi thế, đó là sự am hiểu về văn hoá và truyền thống của người Việt Nam, sự đồng cảm về văn hoá kinh doanh - điều mà các ngân hàng nước ngoài khó có thể nắm bắt một cách sâu sắc.5
5
Sổ tay Việt Nam hội nhập WTO – NXB Hà Nội
Trang 193.2 Thách thức
Thị trường ngân hàng của Việt Nam tuy đã phát triển và đang đứng trước một cơ hội phát triển mới nhưng ngành mới chỉ thực sự phát triển trong vài năm gần đây, lúc này họ phải đối mặt với một áp lực cạnh tranh gay gắt
Vốn của toàn bộ hệ thống ngân hàng trong nước là rất nhỏ so với các ngân hàng nước ngoài, đây là một thách thức lớn về cạnh tranh khi thị trường tài chính ngân hàng được mở cửa
Các ngân hàng trong nước cũng không chú trọng đến việc đa dạng hoá dịch
vụ của mình, thậm chí nguyên nhân không phải từ lượng vốn hạn chế Các ngân hàng thương mại trong nước vẫn chỉ tập trung vào các dịch vụ huy động vốn và cho vay truyền thống Ngoài ra, các ngân hàng trong nước cũng chưa đảm bảo được chất lượng dịch vụ tốt cho khách hàng, thủ tục đôi khi còn rườm rà gây khó khăn cho khách hàng
a Những thách thức từ môi trường kinh tế
Bất cứ một doanh nghiệp nào hoạt động cũng chịu tác động của các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế vĩ mô như chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kì, môi trường pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp Trong điều kiện hội nhập, môi trường kinh tế vĩ mô ở đây không còn bó hẹp trong môi trường kinh tế của một nước, một quốc gia riêng rẽ nữa mà trong nhiều trường hợp, nó bao hàm cả môi trường kinh tế quốc tế, là sự tăng trưởng hay suy thoái kinh tế chung của cả thế giới Chính vì thế, trong điều kiện hội nhập, các NHTM VN trước hết phải đương đầu với những thách thức do môi trường kinh tế trong nước và quốc tế gây ra
- Nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp và cơ cấu kinh tế không hợp lý: Chúng ta không thể phủ nhận được rằng nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế, tuy được đánh giá là đang phát triển, nhưng chúng ta có xuất phát điểm thấp và có cấu kinh tế không hợp lý, không hiệu quả Chính vì thế mà trong bảng xếp hạng cạnh tranh của một số nền kinh tế do Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum) tiến hành, vị trí cạnh tranh của Việt Nam đứng ở tốp cuối, và đáng buồn hơn nữa là những năm sau lại thấp hơn năm trước Điều đó cho thấy chúng ta cần
Trang 20phải cố gắng nỗ lực hết sức mình để cải thiện vị trí cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng
Hệ thống NHTM VN cũng không nằm ngoài bối cảnh này Không thể có một NHTM khoẻ mạnh trong một nền kinh tế còn nhiều vấn đề Hiệu quả của hoạt động ngân hàng phản ánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, của nền kinh tế Chính vì vậy mà thách thức lớn của nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư cũng chính là những thách thức của ngành ngân hàng, của hệ thống NHTM - "kênh truyền dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế"
- Môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt động ngân hàng nói riêng của Việt Nam chưa hoàn thiện
Trong xu thế hội nhập kinh tế, vấn đề môi trường pháp lý cho các hoạt động kinh tế có vai trò quan trọng, tác động mạnh mẽ tới sự phát triển và sự tự chủ kinh
tế của đất nước Để giảm thiểu những bất lợi cũng như tận dụng thời cơ của quá trình hội nhập vào phát triển kinh tế đất nước, có nhiều vấn đề được đặt ra, trong đó việc hoàn thiện môi trường pháp lý được coi là yếu tố quan trọng không thể trì hoãn
Đối với hoạt động ngân hàng, vấn đề này càng trở nên cấp bách Trong khi
đó môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng của chúng ta còn chưa hoàn thiện, còn nhiều vấn đề phải chỉnh sửa, bổ sung, mà việc này lại liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, vào sự thay đổi nhận thức pháp luật và ý thức pháp luật của người dân,
do vậy việc thực hiện không phải dễ dàng Nó đòi hỏi phải có thời gian và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ sở hạ tầng kinh tế, trình độ của người làm luật
Đây thực sự là một thách thức lớn đối với ngành ngân hàng nói chung và hệ thống NHTM VN nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Biến động của môi trường kinh tế thế giới
Như đã nói ở trên, hội nhập là một xu thế tất yếu của mọi quốc gia Vì vậy, cách tốt nhất để hạn chế những bất lợi của hội nhập cũng như tận dụng được cơ hội
do hội nhập đem lại là chủ động đón nhận và có những đối sách hợp lý trong hội nhập, nâng cao tính tự chủ cũng như thế mạnh của kinh tế đất nước Tuy nhiên,
Trang 21trong điều kiện toàn cầu hoá, rủi ro của một doanh nghiệp, một ngành hay một quốc gia không còn là vấn đề đơn thuần của doanh nghiệp đó, ngành đó hay quốc gia đó nữa mà nó có tính lan truyền rất lớn Đây chính là mặt trái của hội nhập Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước khiến cho sự biến động kinh tế của một quốc gia, một khu vực sẽ nhanh chóng lan ra toàn cầu Sự phát triển của công nghệ thông tin, của Internet, một mặt trợ giúp đắc lực cho sự phát triển kinh tế và thương mại, mặt khác lại đẩy nhanh sự lan truyền của rủi ro kinh tế Chính vì thế mà trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, các nền kinh tế đều phải chấp nhận rủi ro và sẵn sàng đối mặt với rủi ro
Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, lại mới đi vào kinh tế thị trường được gần 15 năm, có thứ hạng cạnh tranh rất thấp Trong nền kinh tế đó, ngân hàng và doanh nghiệp lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, đúng như nhiều NHTM VN đã nói: Sự thành đạt của khách hàng là sự thành đạt của ngân hàng Điều này cũng đồng nghĩa với rủi ro của khách hàng cũng là rủi ro của ngân hàng Chính vì vậy mà trong điều kiện hội nhập, rủi ro của NHTM tăng lên gấp bội do tính bất ổn định, khó dự đoán của thị trường thế giới và tính lây lan rủi
ro của thời đại công nghệ thông tin
b Những thách thức do nguyên nhân từ nội tại hệ thống NHTM VN
- Tổ chức bộ máy còn nhiều bất cập
Hầu hết các NHTM VN hiện nay có mô hình tổ chức theo kiểu truyền thống Tiêu thức phân định các phòng, ban của hầu hết các NHTM hiện nay là theo loại hình nghiệp vụ (trong khi ở các ngân hàng tiên tiến, các hoạt động hướng tới khách hàng của họ lại được phân theo tiêu thức đối tượng khách hàng - sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của khách hàng và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng) Trong điều kiện các NHTM hoạt động với quy mô nhỏ, tính chất đơn giản thì
mô hình trên tỏ ra phù hợp với mức độ tập trung quyền lực cao Song khi ngân hàng phát triển với quy mô ngày càng lớn, với số lượng chi nhánh ngày càng mở rộng, khối lượng và tính chất công việc ngày càng nhiều và phức tạp thì mô hình trên dần dần sẽ bộc lộ những điểm bất hợp lý
Trang 22- Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của NHTM hiện đại
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong việc đổi mới nhưng các công cụ và cách thức quản lý điều hành của NHTM VN còn chưa theo kịp với yêu cầu của NHTM hiện đại Kế hoạch hoạt động kinh doanh hiện tập trung vào tăng trưởng về
số lượng chứ không phải chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
Hệ thống thông tin, theo dõi nợ, quản lý rủi ro không kịp thời chính xác, đặc biệt sẽ dẫn tới sự thiếu minh bạch trong hoạt động tài chính ngân hàng Nếu tính những khoản nợ khoanh và nợ khó đòi thì thực tế hoạt động của nhiều NHTM VN đang ở trong tình trạng thua lỗ (lợi nhuận kinh tế âm) Các NHTM VN chủ yếu vẫn coi tài sản thế chấp là cơ sở đảm bảo tiền cho vay, kể cả đối với tín dụng ngắn hạn Các ngân hàng còn xem nhẹ bảo đảm theo dự án, trong khi việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là vấn đề khó khăn do vướng mắc về mặt pháp lý, vì vậy khó thu hồi được vốn vay Khả năng chi trả của các NHTM VN rất thấp (tỷ lệ giữa tài sản
Có có thể thanh toán và tài sản Nợ phải thanh toán ngay của nhiều NHTM VN thường nhỏ hơn 1, thấp xa so với tỷ lệ này ở các nước trong khu vực và thế giới)
Vấn đề quản trị chiến lược của các NHTM VN cũng còn rất hạn chế Thực tế cho thấy một chiến lược quản lý kinh doanh tiền tệ của các NHTM Việt Nam thường không vượt ra ngoài phạm vi quốc gia Nợ quá hạn của các NHTM vẫn ở mức cao
- Vốn điều lệ và vốn tự có thấp
Vốn điều lệ và vốn tự có có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và đặc biệt đối với NHTM - loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp khác và dân cư
Vốn điều lệ là tiềm lực tài chính, là điều kiện đảm bảo an toàn trong hoạt động tài chính của NHTM, là uy tín của NHTM để tạo lòng tin với công chúng Vậy
mà hiện nay vốn điều lệ của NHTM VN còn nhỏ bé, kể cả các NHTM Quốc doanh, khoảng từ 2.000 - 3.000 tỷ đồng, tương đương với khoảng 130 - 150 triệu USD
Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức an toàn của ngân hàng là tỷ trọng vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro Điều 81 - Luật các tổ chức tín dụng 12/1997
Trang 23đã quy định tổ chức tín dụng phải duy trì tỷ lệ đảm bảo an toàn này Theo thông lệ quốc tế, tỷ trọng này tối thiểu là 8% Vậy mà các NHTM VN mới chỉ đạt mức cao nhất là gần 5%
Mức vốn tự có nhỏ bé còn làm hạn chế khả năng mở rộng cho vay bảo lãnh
do quy định của Điều 79 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng” Điều này hạn chế NHTM cho vay bảo lãnh các dự án lớn
- Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường:
Phù hợp với tình hình thực tế hiện nay khi yêu cầu về chất lượng và trình đổ cán bộ là một yếu tố quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh, các NHTM, đặc biệt là các NHTM cổ phần, Ngân hàng Ngoại thương đã tổ chức thi tuyển cán
bộ, nhân viên mới theo tiêu chuẩn, trình độ được đưa ra về chuyên môn, tin học và ngoại ngữ
Do đó, chúng ta phải thừa nhận rằng trình độ cán bộ làm việc trong các NHTM đang ngày một nâng cao Tuy nhiên một số NHTM khác vẫn còn tồn tại việc tăng thêm đội ngũ cán bộ, nhân viên mới theo truyền thống kiểu cũ, trình độ hạn chế về mọi mặt, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống NHTM VN Như thế, đội ngũ cán bộ còn nhiều vấn đề cần được khắc phục kịp thời Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành ngân hàng để có thể đứng vững trên con đường hội nhập
- Máy móc, công nghệ ngân hàng còn nghèo nàn, lạc hậu
Mặc dù trong thời gian qua, các ngân hàng đã đẩy mạnh tin học hoá vào hệ thống ngân hàng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu Công nghệ đầu tư không đồng
bộ mà đơn lẻ, manh múm nên hiệu quả sử dụng không được cao, do đó không có khả năng cung cấp thông tin kịp thời và chính xác để phục vụ công tác quản lý điều hành Tính không ổn định của công nghệ đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển cuả hệ thống ngân hàng, ngoài ra còn làm cho rủi ro công nghệ rất cao
Các NHTM đã tập trung nhập khẩu trang thiết bị máy móc Song ở nhiều NHTM, máy móc trang bị vẫn còn lạc hậu so với mặt bằng chung của thế giới
Trang 24Nhiều máy móc được trang bị từ các năm trước đây cũng đã trở nên lạc hậu, trong khi đó các ngân hàng nước ngoài đang trang bị những hệ thống hiện đại nhất Loại máy ATM cho phép nhận cả tiền mặt tự động, giao dịch như một chi nhánh không người đã được áp dụng từ lâu ở các nước trên thế giới thì gần đây mới có mặt ở một
số ngân hàng ở Việt Nam, mà hầu hết là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt tại Việt Nam
Công nghệ và máy móc trang bị của các NHTM trong nước đã, đang và sẽ ngày càng lạc hậu so với các nước trên thế giới Điều này gây ra một thách thức vô cùng lớn buộc các NHTM VN phải dũng cảm học hỏi, đầu tư để theo kịp các ngân hàng khác trong khu vực và trên thế giới
- Tính liên kết, hợp tác giữa các ngân hàng trong nước để tạo nên sức mạnh cạnh tranh còn nhiều bất cập
Việc liên kết, hợp tác sẽ cho phép phát huy được hiệu quả của hệ thống máy móc thiết bị, nâng cao sức cạnh tranh, tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, hợp tác của các NHTM trong nước mới chỉ dừng lại ở phạm vi cho vay hợp đồng tài trợ mà chưa đẩy mạnh sang các phạm vi khác Như thế sẽ làm giảm thế mạnh của hệ thống ngân hàng trong nước, giảm sức cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài
- Nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh
Trong quá trình hội nhập, chúng ta không tránh khỏi việc bắt gặp những đối thủ cạnh tranh mạnh trên thị trường Họ là các ngân hàng nước ngoài hơn hẳn chúng
ta về vốn, công nghệ, năng lực tổ chức quản lý cũng như kinh nghiệm…
Điều này buộc NHTM VN phải đối mặt và đề ra các biện pháp chính sách hợp lý nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Như vậy khó khăn đối với NHTM VN trong quá trình hội nhập là rất nhiều buộc các ngân hàng của chúng ta phải có những biện pháp, chính sách hợp lý để khắc phục và đưa NHTM VN phát triển hơn nữa trong tương lai, bắt kịp với các NHTM trong khu vực và trên thế giới.6
II Một số vấn đề pháp lý cơ bản của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
6
http://www.vntrades.com/tintuc/name-News-file-article-sid-3235.htm
Trang 251 Tư cách chủ thể của ngân hàng thương mại trong giao dịch thương mại
1.1 Năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại
1.1.1 Quan niệm về năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại
Năng lực pháp luật của một chủ thể được hiểu là khả năng hành động trong đời sống pháp luật Khả năng này của chủ thể pháp luật bao gồm: năng lực hưởng quyền và năng lực thực hiện các quyền đó (năng lực hành vi) Đối với các chủ thể
tự nhiên của pháp luật như thể nhân thì trong pháp luật dân sự có sự phân biệt giữa năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của thể nhân Khái niệm
“năng lực pháp luật của pháp nhân” để chỉ khả năng hưởng quyền của pháp nhân cũng như khả năng thực hiện các quyền đó thông qua người đại diện hợp pháp của pháp nhân
Năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng của các yếu tố
cơ bản sau:
Một là, năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại luôn phụ thuộc vào
mục đích và phạm vi chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại Bởi vì năng lực pháp luật của pháp nhân ngân hàng thương mại là khả năng chủ thể này có các quyền và nghĩa vụ pháp lý phù hợp với mục đích và phạm vi hoạt động của mình Thật vậy, ngân hàng thương mại hoạt động với mục đích đa dạng và phạm vi chức năng hoạt động rộng lớn thì ngân hàng thương mại phải có nhiều quyền năng hơn (phạm vi năng lực pháp luật rộng hơn) để đủ sức thực hiện các mục đích và chức năng đó của mình Ngược lại, nếu một ngân hàng thương mại có mục đích và phạm
vi hoạt động nhỏ hẹp thì phạm vi các quyền năng pháp lý mà nó được hưởng cũng
bị hạn chế tương ứng
Hai là, năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại phụ thuộc vào ý chí
của Nhà nước Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng công cụ pháp luật hoặc không thừa nhận năng lực pháp luật của một chủ thể pháp luật Đồng thời, Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền mở rộng hoặc thu hẹp nội dung năng lực pháp luật của chủ thể pháp luật trong những hoàn cảnh lịch
sử cụ thể nhất định vì lợi ích chung và trật tự công cộng
Trang 261.1.2 Cơ chế hình thành, thay đổi và chấm dứt năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại
Ngoài các quy định chung của pháp luật về năng lực pháp luật của pháp nhân, pháp luật ngân hàng của nước ta và pháp luật ngân hàng của nhiều nước còn
có những quy định riêng trong cơ chế hình thành, thay đổi, chấm dứt năng lực pháp luật của pháp nhân ngân hàng thương mại Đó là:
Thứ nhất, trong cơ chế hình thành năng lực pháp luật của pháp nhân ngân
hàng thương mại, áp dụng những thủ tục pháp lý riêng biệt trong quá trình thành lập các ngân hàng thương mại và những tổ chức khác có hoạt động ngân hàng Trong số các thủ tục này quan trọng nhất là thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Việc quy định thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng để các ngân hàng thương mại có đủ tiêu chuẩn hành nghề một cách an toàn và hiệu quả Còn việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhằm mục đích công nhận tư cách pháp nhân cho ngân hàng thương mại Hai thủ tục này có tác dụng bổ sung và hỗ trợ nhau nhằm giúp Nhà nước kiểm soát tốt hơn đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng và thông qua đó góp phần đảm bảo sự an toàn pháp lý trong giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
Thứ hai, trong cơ chế thay đổi năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại,
Nhà nước cần thường xuyên điều chỉnh nội dung năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại để đảm bảo sự an toàn trong kinh doanh ngân hàng Những thay đổi về nội dung năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại trong quá trình kinh doanh thường bắt nguồn
từ phía Nhà nước cũng có khi bắt nguồn từ ý chí của ngân hàng thương mại
Thứ ba, trong cơ chế chấm dứt năng lực pháp luật của ngân hàng thương
mại, sự chấm dứt năng lực chủ thể hay là chấm dứt hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại thường có những ảnh hưởng trực tiếp đối với đời sống kinh tế xã hội Pháp luật thường có một số quy định đặc biệt để áp dụng riêng cho việc chấm dứt năng lực chủ thể của ngân hàng thương mại nhằm tránh các hậu quả bất lợi có thể xảy ra cho nền kinh tế do sự kiện này gây ra
Trang 271.1.3 Xác định người đại diện hợp pháp của ngân hàng thương mại
Do pháp nhân ngân hàng thương mại không phải là chủ thể tự nhiên nhân của pháp luật nên trên nguyên tắc, chủ thể này chỉ có thể thực hiện được các quyền
và nghĩa vụ của mình thông qua những thể nhân có tư cách là đại diện của pháp nhân Theo nguyên tắc tự định đoạt, việc lựa chọn các thể nhân là đại diện hợp pháp cho ngân hàng thương mại trước hết là thuộc quyền của các thành viên pháp nhân
và sự lựa chọn này được ghi trong bản điều lệ của pháp nhân ngân hàng thương mại Nhà nước có vai trò chủ yếu là thừa nhận hay không thừa nhận giá trị pháp lý của sự lựa chọn đó bằng thủ tục phê chuẩn điều lệ và quy định các nguyên tắc xác định người đại diện hợp pháp cho ngân hàng thương mại
Việc xác định ai là người đại diện hợp pháp cho ngân hàng thương mại cần dựa vào:
Một là, xác định xem người đại diện đó được chỉ định bằng phương thức
nào và bằng cách nào: bằng pháp luật, bằng điều lệ của pháp nhân hay một văn bản
ủy quyền hợp lệ khác các văn bản sau có thể chấp nhận như là bằng chứng hợp lệ
về việc ủy quyền đại diện: Điều lệ của ngân hàng thương mại đã được phê chuẩn; Quyết định bổ nhiệm phó tổng giám đốc, giám đốc chi nhánh, trưởng văn phòng đại diện; Giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền cử đại diện cho pháp nhân ngân hàng thương mại trong giao dịch với người thứ ba; Văn bản phân công nhiệm vụ cho cá nhân cán bộ, nhân viên của ngân hàng thương mại; Các văn bản khác thể hiện ý chí đích thực của pháp nhân ngân hàng thương mại trong việc lựa chọn người đại diện của mình
Hai là, xác định xem người đại diện đó nhân danh pháp nhân ngân hàng
thương mại hay nhân danh chính họ khi tiến hành các giao dịch với người thứ ba Nếu có bằng chứng chứng minh rằng người đại diện đã không nhân danh pháp nhân ngân hàng thương mại mà nhân danh chính mình khi thực hiện các công việc giao dịch thì trong trường hợp đó họ không phải là người đại diện cho ngân hàng thương mại Khi đó pháp nhân ngân hàng thương mại hoàn toàn không bị ràng buộc với giao dịch pháp lý do người này xác lập và thực hiện
Trang 28Ba là, xác định xem người đại diện đó hành xử có phù hợp với phạm vi và
thẩm quyền đại diện hay không Theo nguyên tắc thì người đại diện phải hành động phù hợp với phạm vi công việc của người được ủy quyền đại diện Trong thực tiễn giao dịch của ngân hàng thương mại, có nhiều trường hợp người đại diện hợp pháp cho ngân hàng thương mại đã xác lập và thực hiện một giao dịch thương mại vượt quá thẩm quyền đại diện hoặc không có thẩm quyền đại diện.7
Tóm lại, việc nhận thức đúng đắn về vai trò quyền sở hữu vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại, vấn đề năng lực chủ thể của ngân hàng thương mại cũng như các tiêu chí xác định người đại diện hợp pháp của ngân hàng thương mại có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, là tiền đề cho việc nghiên cứu cơ chế và thực hiện các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
1.2 Quyền sở hữu vốn kinh doanh
Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại xét từ góc độ kinh tế chính
là những quan hệ tài sản phát sinh giữa ngân hàng thương mại với khách hàng Do
đó muốn xác lập và thực hiện giao dịch thương mại này một trong những điều kiện mang tính chất tiền đề là ngân hàng thương mại phải có tài sản riêng
Các ngân hàng thương mại để thực sự trở thành chủ thể đích thực của giao dịch thương mại trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì cần có ít nhất hai điều kiện cốt lõi, đó là vốn kinh doanh (điều kiện về mặt kinh tế) và quyền sở hữu đối với vốn kinh doanh đó (điều kiện về mặt pháp lý) Chỉ khi có đủ hai điều kiện đó thì vấn đề năng lực chủ thể của pháp nhân ngân hàng thương mại mới có thể trở thành hiện thực và trên cơ sở đó mới đảm bảo khả năng xác lập, thực hiện các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
2 Cơ chế xác lập giao dịch và hệ quả pháp lý của việc xác lập giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
2.1 Cơ chế xác lập giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
7
Nguyễn Văn Tuyến, “Giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường”, NXB Tư Pháp
Trang 29Xác lập giao dịch là việc ngân hàng thương mại tự nguyện cam kết với một hay nhiều chủ thể khác về việc tạo ra quyền, nghĩa vụ pháp lý cho chính mình thực hiện Quá trình này thể hiện cơ chế hình thành ý chí của pháp nhân ngân hàng thương mại đều bắt nguồn từ ý chí của tập thể các thành viên hợp thành pháp nhân ngân hàng thương mại, đặc biệt là gắn liền với hoạt động ý chí của thể nhân là người đại diện hợp pháp của pháp nhân ngân hàng thương mại
Thật vậy, về bản chất, ý chí của pháp nhân ngân hàng thương mại thực chất
là ý chí tập thể của các thành viên hợp thành pháp nhân ngân hàng thương mại Vì
là ý chí tập thể nên nhất thiết phải có sự thống nhất hay đồng thuận giữa các thành viên và sự đồng thuận này phải được bày tỏ ra bên ngoài mặt khách quan thông qua các quyết định của pháp nhân ngân hàng thương mại Trong số các loại hình văn bản thể hiện ý chí tập thể của các thành viên ngân hàng thương mại thì bản điều lệ của pháp nhân ngân hàng thương mại được coi là quan trọng nhất và có hiệu lực pháp lý cao nhất Ngoài ra, ý chí tập thể của các thành viên pháp nhân ngân hàng thương mại còn được thể hiện ở những văn bản khác do Đại hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hay do chính ngân hàng thương mại ban hành thông qua người đại diện hợp pháp
Trang 30Hình 1: Cơ chế xác lập giao dịch pháp nhân ngân hàng thương mại
2.2 Hệ quả pháp lý của việc xác lập giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
Khi xác lập giao dịch thương mại với khách hàng, chủ thể giao dịch là ngân hàng thương mại luôn có chủ đích tạo ra các hệ quả pháp lý nhất định, trong đó quyền và nghĩa vụ pháp lý của ngân hàng thương mại và của khách hàng phát sinh
từ giao dịch đã có hiệu lực pháp luật là hệ quả pháp lý chủ yếu và quan trọng nhất Những đặc trưng cơ bản của quyền, nghĩa vụ của ngân hàng thương mại và khách hàng:
Trang 31Một là, các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch thương mại giữa ngân
hàng thương mại với khách hàng được tạo lập do ý chí chủ quan của các bên tham gia vào giao dịch Do đó, các bên các bên phải thực hiện đúng những gì đã cam kết
và phải chịu trách nhiệm pháp lý về việc không thực hiện đúng cam kết Để được Nhà nước thừa nhận và đảo bảo thực hiện thì nội dung các quyền và nghĩa vụ trong giao dịch phải phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội
Hai là, các quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ giao dịch thương mại giữa
ngân hàng thương mại với khách hàng luôn phản ánh lợi ích riêng của ngân hàng thương mại và lợi ích riêng của khách hàng Khi có dấu hiệu chứng tỏ có sự thiệt hại đáng kể về lợi ích kinh tế của một bên giao dịch, sự không bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các bên tham gia vào giao dịch hoặc sự vi phạm lợi ích chung thì Nhà nước sẽ can thiệp để thiết lập lại sự công bằng và bình đẳng cần thiết cho trật tự các giao dịch
Cần xác định rõ những quyền và nghĩa vụ nào pháp luật phải quy định sẵn từ trước và những quyền và nghĩa vụ nào các bên có thể tự do thỏa thuận vì lợi ích riêng của họ Nhà nước chỉ nên quy định sẵn những quyền, nghĩa vụ nào có liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ lợi ích chung và trật tự công cộng, vì nếu để các bên giao dịch (ngân hàng và khách hàng) được tự do thỏa thuận về những quyền và lợi ích đó thì sẽ gây hại đến lợi ích chung và trật tự công cộng; Nhà nước nên cho các bên giao dịch được quyền tự do thỏa thuận những quyền, nghĩa vụ nào chỉ liên quan trực tiếp đến lợi ích riêng của họ vì nếu Nhà nước cố ý can thiệp bằng cách quy định trước trong luật có thể gây cản trở đến quyền tự do kinh doanh, tự
do hợp đồng cũng như gây thiệt hại cho lợi ích riêng của các bên tham gia giao dịch Như vậy, Nhà nước không những sẽ bảo vệ được lợi ích công cộng một cách hiệu quả mà còn đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tham gia vào giao dịch
2.3 Hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
2.3.1 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
Hiệu lực pháp lý của giao dịch nói chung và giao dịch thương mại nói riêng thực chất là sự thừa nhận của Nhà nước về những hệ quả pháp lý phát sinh bởi hành
Trang 32vi giao dịch của ngân hàng thương mại đối với khách hàng Ở nước ta các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm
2005 và đương nhiên chúng được áp dụng chung cho mọi giao dịch, trong đó có giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
Điều kiện “người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” Với tư cách là một chủ thể nhân tạo trong đời sống pháp luật, pháp nhân ngân hàng thương mại cũng có năng lực hưởng quyền và năng lực thực hiện quyền (năng lực hành vi) giống như các chủ thể khác Năng lực hành vi dân sự của ngân hàng thương mại có thể được hiểu là khả năng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ngân hàng thương mại thông qua người đại diện hợp pháp của nó
Điều kiện “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” là điều kiện được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi công cộng Mục đích của giao dịch thương mại giữa ngân hàng với khách hàng sẽ bị coi là trái pháp luật và đạo đức xã hội khi giao dịch đó được các bên xác lập là nhằm vi phạm các quy tắc pháp lý đã được Nhà nước thiết lập để bảo vệ quyền lợi chung, hoặc nhằm xâm hại các giá trị đạo đức, luân lý đã được Nhà nước và xã hội thừa nhận
Điều kiện “người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện” liên quan chặt chẽ với điều kiện về năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia giao dịch Chỉ khi xác định rõ chủ thể giao dịch có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì việc xác định tính tự nguyện và tự do ý chí của chủ thể đó mới chính xác được Ý chí của pháp nhân ngân hàng thương mại thực chất là ý chí tập thể của các thành viên pháp nhân
và nó thường được thể hiện thông qua hành vi của những người đại diện hợp pháp cho pháp nhân ngân hàng thương mại
Điều kiện “hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có luật định” Không có sự khác nhau về giá trị pháp lý của giao dịch khi chúng được xác lập hợp pháp dưới những hình thức khác nhau
Do nguy cơ rủi ro cao, sự ảnh hưởng mang tính dây chuyền đối với quyền lợi khác nhau trong xã hội nên đòi hỏi các giao dịch này phải được xác lập dưới hình thức văn bản Trong lĩnh vực hoạt động của ngân hàng, khái niệm “văn bản” giao dịch
Trang 33được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các văn bản, tài liệu giao dịch viết trên giấy và văn bản,tài liệu giao dịch thể hiện trên các phương tiện điện tử như fax, email, điện tín…8
122 thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu Giao dịch vô hiệu được chia làm hai dạng, đó
là vô hiệu tuyệt đối (đương nhiên vô hiệu) hoặc vô hiệu tương đối (có thể vô hiệu)
Nhà nước có những quy định khác nhau về cơ chế giải quyết hậu quả đối với các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại nhằm bảo vệ sự ổn định, tính
an toàn của các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay Sự khác nhau này xuất phát từ nguyên tắc chung
là tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tham gia vào giao dịch và Nhà nước chỉ xem xét để tuyên bố giao dịch vô hiệu khi các bên có yêu cầu hoặc là giao dịch đó
vi phạm các quy tắc pháp lý nhằm đảm bảo lợi ích chung và trật tự công
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập
2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường
Giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại cũng có hậu quả pháp lý tương tự trong trong trường hợp giao dịch thương mại vô hiệu
8
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com
Trang 34CHƯƠNG 2 GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI
HIỆN NAY
I Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã được hình thành từ năm 1951 với sự ra đời vủa ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hiện nay hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là hệ thống ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp, được hình thành và phát triển mạnh
Trước khi gia nhập WTO, nước ta có 5 NHTM nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng phát triển và 35 NHTM cổ phần Sau khi gia nhập WTO, có thêm 3 NHTM cổ phần, nâng tổng số lên 38 NHTM cổ phần, trong đó 13 NHTM cổ phần nông thôn chuyển thành NHTM cổ phần đô thị Năm 2008, cổ phấn hoá VCB
và Ngân hàng Công Thương (NHCT), nâng số NHTM cổ phần lên 40 và NHTM nhà nước chỉ còn 3
Trước khi gia nhâp WTO, một số NHTM mở văn phòng đại diện ở nước ngoài như: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn mở văn phòng đại diện tại Campuchia; VCB mở 4 văn phòng đại diện ở nước ngoài, trong đó có: Hồng Kông, Pháp… Mỹ chưa cho các NHTM Việt Nam mở văn phòng đại diện hoặc mở chi nhánh, vì Việt Nam chưa có Luật chống rửa tiền Sau khi gia nhập WTO, ba NHTM
cổ phần bán cổ phần cho 3 NHTM nước ngoài từ 15% đến 20% vốn điều lệ, gồm: ABBank, Techcombank và NHTM cổ phần Phương Nam Cho đến nay, mới có 4/40 NHTM cổ phần niêm yết cổ phiếu tại hai sàn giao dịch chứng khoán Bởi lẽ, NHTM cổ phần muốn niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán, phải được Thống đốc NHNN Việt Nam đồng ý bằng văn bản.9
1 Ngân hàng thương mại quốc doanh (State owned commercial Banks)
9
http://tintuc.vibonline.com.vn/Home/xdpl/2009/02/3912.aspx
Trang 35Ngân hàng quốc doanh là ngân hàng thương mại do Nhà nước thành lập, thuộc sở hữu Nhà nước Hoạt động của ngân hàng thương mại quốc doanh là vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, do các ngân hàng thương mại quốc doanh đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng nên còn được Nhà nước giao cho nhiệm vụ góp phần thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà nước Ngân hàng thương mại quốc doanh bao gồm:
- Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Bank for Agriculture and Rural Development of VN – BARDV) gọi tắt là Agribank
- Ngân hàng Công thương Việt Nam (ViettinBank)
- Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (Bank for Investment and development of Vietnam – BIDV)
- Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (Mekong Detal Housing Development Bank – MHB)
2 Ngân hàng thương mại cổ phần (Joint stock commercial Banks)
Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần
Ở nước ta, Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng, Công ty tài chính năm
1990 quy định: Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chức không được sở hữu cổ phần của ngân hàng quá tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước quy định
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng 8 năm 2008, cả nước
có 47 ngân hàng, trong đó có 38 ngân hàng thương mại cổ phần Các ngân hàng thương mại cổ phần có thể phân thành hai loại: ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Có 2 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị là Sacombank và ACB đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Vietcombank vốn là ngân hàng thương mại Nhà nước được cổ phần hóa và chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần
3 Ngân hàng thương mại liên doanh (Joint venture commercial Banks)
Trang 36Ngân hàng thương mại liên doanh là ngân hàng được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) Ngân hàng liên doanh là một pháp nhân của nước sở tại, có trụ sở, có tư cách pháp nhân, có đầy đủ điều kiện theo quy định của Luật pháp nước sở tại
Ở Việt Nam hiện nay có 5 ngân hàng liên doanh sau đây:
- Indo Vina Bank: là Ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng Công thương Việt Nam (ICBV) với Suma Bank của Đài Loan
- Vid Public Bank: là Ngân hàng liên doanh giữa Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) với Public Bank của Mã Lai để hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng trung và dài hạn
- Chohung Vina Bank: là Ngân hàng liên doanh giữa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) với Chohung Bank của Hàn Quốc
- Vina Siam Bank: là Ngân hàng liên doanh giữa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam với Siam Commercial Bank của Thái Lan
- Vina Russia Bank: Ngân hàng liên doanh giữa BIDV của Việt Nam với Ngân hàng Ngoại thương của Nga
4 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Foreign Bank Branches)
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng nước ngoài, hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh và pháp luật Việt Nam, được ngân hàng mở chi nhánh bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam đã có hàng chục chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động
5 Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài (Foreign Banks)
Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Nhà nước chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn để thành lập tổ chức tín dụng phi ngân hàng Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004 cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn vào kinh doanh ngân hàng không phân biệt hình thức tổ chức tín dụng là ngân hàng hay phi ngân hàng
Trang 37Hiện nay Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài:
- Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC Việt Nam
- Ngân hàng Standard Chartered Bank Việt Nam
- Ngân hàng ANZ Việt Nam
- Ngân hàng TNHH một thành viên Shinhan Việt Nam
- Ngân hàng TNHH một thành viên Hong Leong Việt Nam
Bảng 1: Thị phần của Ngân hàng thương mại trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam từ 2004-2007
Đơn vị: % Năm
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và liên doanh 10 8 8 9
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và liên doanh 10 10 9 9
Nguồn: Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Các ngân hàng quốc doanh vẫn chiếm tỷ trọng lớn về tín dụng (từ 55 – 77%) cũng như tiền gửi (từ 59 – 75%), mặc dù xu thế này đang có chiều hướng giảm dần
Trang 38II Các hoạt động giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam
1 Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong lĩnh vực huy động vốn
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả Vốn huy động còn được gọi là tài sản nợ ngân hàng Bộ phận nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn và chủ yếu nhất trong cơ cấu nguồn vốn của bất kỳ một NHTM nào
Đặc điểm của vốn huy động:
- Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM Các NHTM hoạt động được chủ yếu là nhờ vào nguồn vốn này
- Đây là nguồn vốn không ổn định vì khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc nào, do đó các NHTM phải duy trì một khoản dự trữ thanh khoản để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng để đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng, tránh sự giảm đột ngột về nguồn vốn
- Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh mạnh Các ngân hàng để thu hút khách hàng đến với mình không ngừng đưa ra khung lãi suất hấp dẫn nên nguồn vốn này có chi phí sử dụng cao
- Vì những đặc điểm trên nên các NHTM không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư, chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh
Trang 39Khối NHCP, phi NH
và Quỹ tín dụng Khối chi nhánh NH nước ngoài và liên doanh
23%
8.11%
68.89%
NHNN và NH Chính sách xã hội Khối NHCP, phi NH và Quỹ tín dụng
Khối chi nhánh NH nước ngoài và liên doanh
Tỷ trọng huy động vốn của từng nhóm so với tổng số
Trang 40những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán
1.1.1 Khái niệm giao dịch nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại
Dưới góc độ kinh tế, hoạt động nhận tiền gửi được nhìn nhận như là một nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại, với nội dung chủ yếu là nhận các khoản tiền gửi của khách hàng thông qua việc các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Dưới góc độ pháp lý, giao dịch nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại được hiểu là cam kết song phương giữa ngân hàng thương mại với khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi
1.1.2 Phân loại
Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn huy động bằng tiền gửi của các NHTM bao gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác
a Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời Để đảm bảo an toàn tài sản và đồng thời vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng Tổ chức kinh tế có thể gửi vốn vào ngân hàng dưới hình thức: tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn với các
kỳ hạn khác nhau
- Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi tiền vào
và rút tiền ra bất cứ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thoả mãn các nhu cầu đó Mặc dù việc gửi tiền và rút tiền có thể thực hiện vào bất cứ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước, nhưng trên thực tế luôn có sự chênh lệch về thời gian và
số lượng giữa việc gửi tiền và rút tiền, cho nên tại mỗi ngân hàng luôn tồn tại một
số dư tiền gửi không kỳ hạn và ngân hàng có thể sử dụng để cho vay Lãi suất của loại tiển gửi này rất thấp, thậm chí có những khoản tiền gửi ngân hàng không phải trả lãi Cho nên nguồn vốn này giúp cho ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh trong vay và đầu tư
- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian rút tiền Khách hàng chỉ được rút tiền ra sau một thời gian nhất định theo kỳ hạn đã được