1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới

113 663 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Tác giả Nguyễn Thị Hải Hà
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Duy Liên
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

Họ và tên sinh viên Lớp

Khoá Giáo viên hướng dẫn

: NguyÔn ThÞ H¶i Hµ : Anh 7

: 44 : PGS.TS Ph¹m Duy Liªn

Hà Nội, tháng 5 năm 2009

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 :NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 4

1.1 TOÀN CẦU HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN THƯƠNG MẠI 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Sơ lược quá trình hình thành của toàn cầu hóa 6

1.1.3 Tác động của toàn cầu hóa đến nền kinh tế thế giới 7

1.2 NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 9

1.2.1 Những khái niệm cơ bản 9

1.2.2 Đặc điểm 13

1.2.3 Các hình thức nhượng quyền thương mại 16

1.3 ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 19

1.3.1 Xây dựng bản sắc thương hiệu 20

1.3.2 Tiêu chuẩn hóa quy trình đồng bộ 21

1.3.3 Lựa chọn đối tác phù hợp 22

1.3.4 Nỗ lực tiếp thị 23

1.3.5 Chiến lược dài hạn 24

1.4 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG KHU VỰC 24

1.4.1 Hoa Kỳ 24

1.4.2 Singapore 30

1.4.3 Thái Lan 33

Trang 3

Chương 2 : ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN

TỚI 39

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 39

2.1.1 Hệ thống nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam 41

2.1.2 Hệ thống nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam 45

2.2 NHỮNG TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 49

2.3 ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 54

2.3.1 Điều kiện pháp luật 54

2.3.2 Điều kiện kinh tế 58

2.3.3 Điều kiện chính trị 62

2.3.4 Điều kiện văn hóa, xã hội 64

2.3.5 Hội thảo và triển lãm về franchise 66

2.4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 68

Chương 3 : CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 74

3.1 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA 74

3.1.1 Toàn cầu hóa và ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam 74

3.1.2 Cơ hội 78

3.1.3 Thách thức 80

Trang 4

3.2 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở

VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 82

3.3 CÁC GIẢI PHÁP 86

3.3.1 Các giải pháp vĩ mô 86

3.3.2 Các giải pháp vi mô 90

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APEC Asia-Pacific Economic

ASEM The Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á-Âu

FLA Franchising and Licensing

Association Hiệp hội Nhượng quyền Singapore

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

IES International Enterprise

Singapore

Hiệp hội các doanh nghiệp quốc tế

Singapore

IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ quốc tế

ITPC Investment & Trade Promotion

Centre of Ho Chi Minh City

Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh

KFC Kentucky Fried Chicken Gà rán Kentucky

LETAS Local Enterprise Technical

Assistance Scheme

Dự án Hỗ trợ kỹ thuật cho doanh

nghiệp địa phương (Singapore)

ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức

Trang 6

PNTR Permanent Normal Trade

Tài liệu công bố về nhượng quyền

thương mại cho khách hàng

UNCTAD United Nations Conference on

Trade and Development

Hội nghị Thương mại và Phát triển

của Liên hợp quốc

WB World Bank Ngân hàng Thế giới

WFC World Franchise Council Hội đồng Nhượng quyền thương

mại thế giới

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Ưu điểm của Franchise 16

Bảng 1.2: Yếu tố cơ bản tạo nên tính đồng bộ 22

Bảng 1.3: Franchise Business Economic Outlook, 2006-2009 26

Bảng 1.4: Mười hệ thống nhượng quyền hàng đầu của Mỹ 29

Bảng 1.5: Doanh thu nhượng quyền thương mại ở Thái Lan (triệu USD) 38

Bảng 2.1: Thống kê hệ thống nhượng quyền thương mại 40

Bảng 2.2: Những thương hiệu Việt Nam đã và đang chuẩn bị 44

Bảng 2.3: Những thương hiệu nước ngoài nhượng quyền tại Việt Nam 47

Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%) 59

Bảng 2.5: 10 thị trường bán lẻ phát triển nhanh nhất toàn cầu năm 2008 60

Bảng 2.6: Tổng mức và tốc độ tăng TMBLHHDV 61

Bảng 2.7: Mười ngành kinh doanh franchise phổ biến trên thế giới 62

Bảng 2.8: Tỷ lệ dân số Việt Nam khu vực thành thị và nông thôn 1995 - 2007 65

Bảng 3.1: Thay đổi cơ cấu GDP của Việt Nam năm 1990 - 2008 75

Biểu 1.1 : Tổng số cửa hàng nhượng quyền tại Mỹ qua các năm 25

Biểu 1.2: Tỷ lệ thành công với doanh ngiệp kinh doanh độc lập và doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền ở Mỹ 25

Biểu 1.3: Cơ cấu hệ thống nhượng quyền thương mại tại Singapore, 2007 31

Biểu 1.4: Doanh thu giữa hai khu vực : nhà nhượng quyền nội địa và nhà nhượng quyền nước ngoài tại Thái Lan từ 2004-2006 35

Biểu 1.5: Cơ cấu hệ thống nhượng quyền thương mại ở Thái Lan, 2006 37

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhượng quyền thương mại (Franchise) là hình thức kinh doanh có lịch sử phát triển lâu dài tại các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ và đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Á Thực tế đã chứng minh đây là phương thức kinh doanh an toàn và hiệu quả cho cả bên nhận quyền và nhượng quyền cũng như cho toàn

xã hội và người tiêu dùng Tuy nhiên, hình thức này mới chỉ gia nhập thị trường Việt Nam hơn 10 năm nay Số lượng các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng mô hình này còn hạn chế, hiệu quả kinh tế cũng chưa cao Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh

mẽ ở tất cả các khu vực, các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, mọi mặt trong lĩnh vực họat động kinh tế xã hội của Việt Nam nói chung, lĩnh vực nhượng quyền thương mại nói riêng đều có những biến chuyển rõ rệt Đặc biệt, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới WTO (11/1/2007)

đã tạo điều kiện thuận lợi cho phương thức này phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, bắt kịp

xu thế thời đại

Cho đến nay nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về nhượng quyền thương mại vẫn chưa thực sự sâu sắc và cặn kẽ Do vậy, để hoạt động nhượng quyền thương mại đi vào hoạt động một cách quy củ, bài bản và chuyên nghiệp, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng về mô hình này trước khi áp dụng, phải xuất phát từ thực tiễn tìm hiểu và nghiên cứu để từ đó tìm ra giải pháp thúc đẩy hoạt động này phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Người viết đã mạnh dạn chọn đề tài: " Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa: điều kiện và khả năng phát triển ở Việt Nam trong thời gian tới"

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu những nhân tố giúp hoạt động nhượng quyền thương mại thành công kết hợp với thực tiễn triển khai ở Việt Nam và khả năng phát triển trong thời gian tới, người viết mạnh dạn nêu ra một số giải pháp thúc đẩy hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung vào việc tìm hiểu một số kiến thức cơ bản về nhượng quyền thương mại cũng như kinh nghiệm xây dựng và phát triển mô hình này của một số nước trên thế giới và trong khu vực Từ đó, áp dụng vào tìm hiểu thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại Việt Nam cũng như rút ra bài học cho sự phát triển của nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Đặc biệt, người viết chú trọng tới việc nghiên cứu những điều kiện và khả năng phát triển của phương thức này tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận này là phương pháp duy vật biện chứng, thu thập tài liệu và tổng hợp - phân tích, phương pháp diễn giải - quy nạp, phương pháp mô tả khách quan, phương pháp lôgic, thống kê, so sánh

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, khóa luận gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về toàn cầu hóa và nhượng quyền thương mại Chương 2: Đánh giá điều kiện và khả năng xây dựng và phát triển nhượng quyền

thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 10

Chương 3: Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xây dựng và phát triển nhượng quyền

thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới

6 Dự kiến kết quả đạt được

Thông qua những kết quả nghiên cứu của khóa luận, người viết mong muốn có được cái nhìn tổng quát về tình hình tiến hành nhượng quyền thương mại ở Việt Nam, những điều kiện ở Việt Nam cho sự phát triển của phương thức này cũng như khả năng phát triển của mô hình này trong thời gian tới và mong rằng khóa luận sẽ đóng góp một vài giải pháp cho việc thúc đẩy hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển ở Việt Nam trong tương lai không xa

Để hoàn thành khóa luận này, người viết xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS TS Phạm Duy Liên đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tận tình để người viết có thể hoàn thành khóa luận này

Trang 11

Chương 1 :NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

1.1 TOÀN CẦU HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm

Toàn cầu hóa là một quá trình lịch sử, là kết quả sáng tạo của con người và tiến

bộ công nghệ Thuật ngữ toàn cầu hóa (tiếng Anh là Globalization) xuất hiện lần đầu tiên trong từ điển của Anh năm 1961, và được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên 1980 trở lại đây Tuy nhiên, cho đến hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này, song nói chung, có hai cách hiểu toàn cầu hóa theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp

 Toàn cầu hóa theo nghĩa rộng:

Theo quan niệm rộng, toàn cầu hóa được xác định như một hiện tượng hay một quá trình trong quan hệ quốc tế, làm tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên nhiều mặt của đời sống xã hội( từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi

trường ) Ban thư ký của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng “ toàn cầu hóa là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị

và các hậu quả của sự phân phối” [19,tr.64 ] Còn theo tác giả Lê Hữu Nghĩa “toàn cầu hóa xét về bản chất là một quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những

sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới” [7,tr.56 ]

Như vậy, theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa có thể hiểu là một quá trình, theo đó sự ảnh hưởng cũng như sự tác động mọi mặt của đời sống từng quốc gia, từng nước trở nên không có giới hạn, không bị ràng buộc bởi khoảng cách lãnh thổ, địa lý, khu vực,

Trang 12

vùng hay từng nước Đối với toàn cầu hóa theo nghĩa rộng, những gì được gọi là giới hạn, rào cản hầu như dần dần đều mất tác dụng

 Toàn cầu hóa theo nghĩa hẹp

Toàn cầu hóa theo nghĩa hẹp là một khái niệm gắn liền với kinh tế Theo đó, toàn cầu hóa được dùng để chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu, làm tăng sự tương tác và tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Hội nghị thương

mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) đưa ra định nghĩa “ toàn cầu hóa liên

hệ tới các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia, cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu, nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng đó” [12,tr.23] Theo Bjon Hettne, “ toàn cầu hóa bao hàm sự làm sâu sắc quá trình quốc tế hóa, tăng cường chức năng của phát triển và làm yếu đi khía cạnh lãnh thổ của phát triển Về cơ bản, toàn cầu hóa bao hàm sự tăng lên của thị trường chức năng thế giới, không ngừng xâm nhập và lấn át các nền kinh tế quốc gia trong quá trình làm mất đi đặc tính quốc gia” [9,tr.34]

Như vậy, theo quan niệm hẹp, toàn cầu hóa giới hạn sự tác động của nó trong phạm vi các nhóm nước, nhóm khu vực hoặc giới hạn ở phạm vi kinh tế Do đó, có thể gọi toàn cầu hóa theo nghiã hẹp là toàn cầu hóa kinh tế

Dù có những quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa, nhưng có thể rút ra 3 điểm cơ bản của toàn cầu hóa :

- Toàn cầu hóa là một quá trình, một xu thế phát triển tất yếu gắn liền với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người Quá trình này diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu

- Toàn cầu hóa là quá trình làm biến đổi sâu sắc, toàn diện các mối quan hệ kinh

tế, chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, môi trường của thế giới theo hướng loại bỏ

Trang 13

những sự ngăn cách về vị trí địa lý, từ đó tiến tới loại bỏ sự khác biệt về thể chế, về chính trị của từng quốc gia để tạo ra một sân chơi chung với sự tác động, can thiệp mạnh mẽ của các nước phát triển, các tập đoàn xuyên quốc gia Các nước đang phát triển sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí sẽ mất cả chính quyền nếu không

có những chính sách phù hợp khi tham gia vào quá trình này

- Mục đích của toàn cầu hóa là nhằm phát triển kinh tế, do đó toàn cầu hóa kinh tế đóng vai trò chủ yếu trong quá trình toàn cầu hóa

1.1.2 Sơ lƣợc quá trình hình thành của toàn cầu hóa

Quan niệm cổ điển cho rằng toàn cầu hóa bắt đầu vào khoảng thế kỷ 15 sau khi

có những cuộc thám hiểm hàng hải quy mô lớn, đánh dấu bởi sự kiện Christopher Columbus đi tìm Ấn Độ nhưng lại phát hiện ra Châu Mỹ Theo Thomas Friedman, tác giả cuốn "Thế giới phẳng" toàn cầu hóa 1.0 ( hay là làn sóng toàn cầu hóa đầu tiên) kéo dài từ 1492 khi Columbus dương buồm, mở ra sự giao thương giữa Thế giới Cũ và Thế giới Mới cho đến khoảng 1800 Trong Toàn cầu hoá 1.0 tác nhân then chốt của sự thay đổi, động lực thúc đẩy quá trình hội nhập toàn cầu là sức mạnh của mỗi quốc gia Trong kỉ nguyên này, các nước và các Chính phủ (thường được tôn giáo hay chủ nghĩa

đế quốc hay sự kết hợp của cả hai xúi giục) đã dẫn đường phá bỏ các bức tường và nối chặt thế giới lại với nhau, thúc đẩy sự hội nhập toàn cầu

Kỉ nguyên lớn thứ hai, Toàn cầu hoá 2.0, kéo dài từ 1800 đến 2000, bị gián đoạn bởi Đại Khủng hoảng và Chiến tranh Thế giới I và II Trong Toàn cầu hoá 2.0, nhân tố then chốt của thay đổi, động lực thúc đẩy hội nhập toàn cầu là các công ty đa quốc gia Các công ty đa quốc gia này tiến hành toàn cầu hoá vì thị trường và lao động, đầu tiên

do sự bành trướng của các công ty cổ phần Hà Lan và Anh và Cách mạng Công nghiệp làm mũi nhọn Trong nửa đầu của thời đại này, hội nhập toàn cầu được cấp lực bởi sự sụt giảm chi phí chuyên chở, nhờ động cơ hơi nước và đường sắt, và trong nửa sau bởi

Trang 14

sự sụt giảm các chi phí liên lạc - nhờ sự phổ biến của điện tín, điện thoại, PC, vệ tinh, cáp quang, và phiên bản ban đầu của World Wide Web (WWW) Chính trong thời đại này mà chúng ta thực sự thấy sự ra đời và trưởng thành của một nền kinh tế toàn cầu, theo nghĩa rằng đã có sự dịch chuyển đủ của hàng hoá và thông tin từ lục địa này sang lục địa khác để ở đó có một thị trường toàn cầu, với sự chênh lệch giá về các sản phẩm

và lao động

Vào khoảng năm 2000 chúng ta đã bước vào một kỉ nguyên mới hoàn toàn: Toàn cầu hoá 3.0 Trong khi động lực trong Toàn cầu hoá 1.0 là các nước tiến hành toàn cầu hoá và động lực trong Toàn cầu hoá 2.0 là các công ty tiến hành toàn cầu hoá, động lực

trong Toàn cầu hoá 3.0 là năng lực mới tìm thấy cho các cá nhân để cộng tác và cạnh

tranh toàn cầu Song Toàn cầu hoá 3.0 không chỉ khác các kỉ nguyên trước ở chỗ nó làm thế giới co lại và phẳng thế nào và nó trao quyền cho các cá nhân ra sao Nó khác

ở chỗ Toàn cầu hoá 1.0 và Toàn cầu hoá 2.0 chủ yếu do các cá nhân và doanh nghiệp

Âu Mĩ dẫn dắt Tuy Trung Quốc thực sự là nền kinh tế lớn nhất thế giới trong thế kỉ mười tám, chính các nước, các công ty, những người thăm dò phương Tây tiến hành phần lớn việc toàn cầu hoá và định hình hệ thống Trong toàn cầu hoá 3.0, các công ty -

to và nhỏ - cũng được trao quyền [14, tr.9,10]

1.1.3 Tác động của toàn cầu hóa đến nền kinh tế thế giới

Trong quá trình toàn cầu hóa, khi thế giới bắt đầu chuyển từ một mô hình tạo giá trị chủ yếu theo chiều dọc từ trên xuống (chỉ huy và kiểm soát) sang một mô hình tạo giá trị theo chiều ngang (kết nối và cộng tác), tất cả mọi thứ đều phải thay đổi, đều phải sắp xếp lại Những ngành công nghiệp dân tộc đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt, bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới - những ngành công nghiệp mà việc thâu nạp chúng trở thành một vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn minh, những ngành công nghiệp không dùng những nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không

Trang 15

những được tiêu thụ ngay trong nước mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất nữa Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và các dân tộc vẫn tự cung tự cấp là sự phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc

Công cụ lao động được cải tiến mau chóng, nhờ đó nên các phương tiện giao thông cũng trở nên vô cùng thuận tiện Toàn cầu hoá thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và xã hội hoá các lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng kinh tế cao (nửa đầu thế kỷ XX, GDP thế giới tăng 2,7 lần, nửa cuối thế kỷ tăng 5,2 lần) Toàn cầu hoá góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, đặc biệt tăng mạnh tỷ trọng các sản phẩm chế tác (hiện chiếm 21,4%) và các dịch vụ (hiện đã chiếm đến 62,4%) trong cơ cấu kinh tế thế giới [4, tr.6]

Toàn cầu hoá truyền bá và chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành quả mới mẻ, những đột phá sáng tạo về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý,

về sản xuất và kinh doanh, đưa kiến thức và kinh nghiệm đến với các dân tộc, tại nhiều nước, đến từng gia đình, từng người dân, dọn đường cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá Do đó, tạo thêm khả năng phát triển rút ngắn và mang lại những nguồn lực rất quan trọng, rất cần thiết cho các nước đang phát triển, từ các nguồn vốn vật chất đến các nguồn tri thức và kinh nghiệm cả về chiến lược dài hạn và về tổ chức tiến hành, cả

ở tầm vĩ mô của quốc gia và ở tầm vi mô của từng doanh nghiệp và từng hộ

Toàn cầu hoá một mặt gây sức ép mãnh liệt và gay gắt về sức cạnh tranh và hiệu quả của mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, chỉ rõ vị trí hàng đầu của yếu tố chất lượng, yếu tố thời gian, yếu tố nâng cao giá trị gia tăng để có sức cạnh tranh và hiệu quả Mặt khác, toàn cầu hoá mở ra những địa bàn và cách thức hoạt động mới, những thị trường mới, những đối tác mới cho từng nước, nhất là các nước đang phát triển

Trang 16

Tuy nhiên, tiến trình toàn cầu hóa đặc biệt đặt các nước đang phát triển trước những thách thức to lớn của việc hội nhập và phát triển Do yêu cầu của toàn cầu hóa là đòi hỏi các nước phải phá vỡ các hàng rào bảo hộ quốc gia, dỡ bỏ các biện pháp thuế quan và phi thuế quan cũng như các rào cản khác nên ở nền kinh tế đang phát triển, sản xuất kinh doanh trong nước luôn chịu sức ép nặng nề của các dòng hàng hóa - dịch vụ, công nghệ nhập khẩu và những chấn động khu vực và toàn cầu , trong đó nguy cơ lớn nhất là những chấn động về tài chính - tiền tệ thường sẽ ngay lập tức có tác động mạnh

mẽ đến nền kinh tế của mọi quốc gia Toàn cầu hóa cũng làm cho hiện tượng "chảy máu chất xám" diễn ra nhiều và dễ dàng hơn, kéo theo biến tướng là nạn "săn đầu người" Hai hiện tượng này đã góp phần gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa từng khu vực riêng biệt trong một đất nước

1.2 NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

1.2.1 Những khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại

Vài năm trở lại đây, chúng ta thường nghe báo chí nhắc đến các thuật ngữ

franchise, franchising và được dịch ra tiếng Việt là nhượng quyền thương mại hay

nhượng quyền kinh doanh Thực chất franchise, franchising, nhượng quyền thương mại hay nhượng quyền kinh doanh đều được dùng để chỉ một phương thức kinh doanh đặc biệt - khởi nguồn và phát triển tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19 Nhượng quyền thương mại thực sự phát triển mạnh và bùng phát kể từ sau năm 1945 (khi Thế chiến II kết thúc), với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thống kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng, thương hiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theo phương thức này Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhượng quyền thương mại trở thành phương thức kinh doanh thịnh hành, thành công không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở những

Trang 17

nước phát triển khác như Anh, Pháp Sự lớn mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nước châu Âu trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn - nhà hàng đã góp phần “truyền bá” và phát triển hình thức này trên toàn thế giới Ngày nay, franchise đã có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới, riêng tại châu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinh doanh theo phương thức nhượng quyền [48]

Từ khi ra đời cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về phương thức kinh doanh đặc biệt tùy vào nền văn hóa, kinh tế hay chính trị Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế (the International Franchise Association)1

đã định nghĩa: "Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình"[22,tr.19]

Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade Commission -

FTC) định nghĩa một hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng theo đó Bên giao:

(i) hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận

(ii) li-xăng nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và

(iii) yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu [22,tr.19].

1

Hiệp hội lớn nhất Hoa Kỳ và thế giới được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành viên bao gồm các

Trang 18

Liên minh Châu Âu (EU) định nghĩa “quyền thương mại là một tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng" Nhượng quyền thương mại có nghĩa là việc chuyển nhượng

quyền kinh doanh được Khái niệm ở trên [22,tr.20]

Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy định:

"Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó." [22,tr.20]

Theo quy định về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam được quy định lần đầu

tiên tại Luật Thương mại 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

1 Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh” [18, tr.67]

Trang 19

1.2.1.2 Những khái niệm liên quan

Hệ thống nhượng quyền thương mại được hình thành nên bởi các thành phần cơ bản sau:

Nhà nhƣợng quyền (Franchisor) là một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu thương

hiệu, sản phẩm hay dịch vụ hoặc bí quyết, có mô hình kinh doanh tối ưu và tiến hành hình thức kinh doanh bằng cách nhượng quyền cho một hoặc nhiều đối tác qua việc thực hiện hợp động nhượng quyền thương mại

Nhà nhận quyền (Franchisee) là cá nhân hoặc tổ chức kinh doanh được bên

nhượng quyền thông qua hợp đồng nhượng quyền cho phép sử dụng thương hiệu, mô hình kinh doanh, hệ thống các quy trình để kinh doanh sản phẩm hoặc dịch vụ theo một chuẩn thống nhất được nhà nhượng quyền quy định trong cẩm nang nhượng quyền trong một khoảng thời gian, địa điểm và phạm vi nhất định

Phí nhƣợng quyền ( Initial fee or Franchise fee) là khoản phí không hoàn lại mà

nhà nhận quyền phải trả cho nhà nhượng quyền để gia nhập hệ thống nhượng quyền cho việc kinh doanh ở một địa điểm hoặc khu vực xác định trong một khoảng thời gian nhất định được hai bên thống nhất trong hợp đồng nhượng quyền Tùy vào chiến lược kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và uy tín trên thương trường của nhà nhượng quyền mà mức phí này có giá trị khác nhau Đôi khi mức phí này cũng thay đổi tùy theo vùng miền địa lý của từng hệ thống nhượng quyền thương mại

Phí hoạt động hay phí vận hành (Royalty fee) là khoản phí mà nhà nhận quyền

phải trả hàng tháng hoặc quý hoặc năm cho nhà nhượng quyền, được căn cứ trên doanh thu thu được tại địa điểm hoạt động của mình Mức phí này có thể là tỷ lệ phần trăm doanh thu của tất cả sản phẩm được bán tại cửa hàng hoặc là một mức phí cố định mà nhà nhận quyền phải trả cho nhà nhượng quyền khi tham gia vào hệ thống Cũng như trường hợp phí nhượng quyền, tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh, ngành nghề kinh

Trang 20

doanh, vùng miền kinh doanh hay uy tín của nhà nhượng quyền mà mức phí này có giá trị khác nhau Thông thường phí hoạt động này được nhà nhượng quyền tái đầu tư lại

hệ thống thông qua các chương trình xúc tiến bán hàng hoặc các chương trình đào tạo, khen thưởng cho hệ thống nhượng quyền của mình

Cẩm nang nhƣợng quyền (Franchise operation manuals) là tài liệu do nhà

nhượng quyền biên soạn, trong đó bao gồm toàn bộ các yếu tố chuyển giao của hệ thống, các định hướng, tôn chỉ hoạt động cũng như những chuẩn mực tạo tiền đề để các yếu tố quan hệ được hình thành và phát triển Nhà nhận quyền sẽ hoạt động tuân theo cẩm nang nhượng quyền này

1.2.2 Đặc điểm

Theo các định nghĩa được nêu ra ở trên, chúng ta có thể khái quát nhượng quyền thương mại có 4 đặc điểm chung sau:

Thứ nhất, nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại trong đó có

việc sử dụng chung thương hiệu Hàng hóa trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

chính là việc sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền Bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền một khoản phí chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu Chúng ta thường quen sử dụng thuật ngữ “mua franchise” và “bán franchise” nhưng thực chất người nhận quyền không bao giờ mua được thương hiệu hay công thức kinh doanh mà chỉ “thuê” từ chủ thương hiệu trong một thời gian nhất định2

Vậy nhượng quyền thương mại chỉ liên quan đến việc chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu chứ không

có sự chuyển giao quyền sở hữu thương hiệu Điều này có nghĩa là chủ sở hữu vẫn có

quyền tiếp tục khai thác và phát triển thương hiệu của mình và trên thực tế vẫn là chủ

sở hữu đối với thương hiệu đó còn việc chuyển giao quyền sở hữu thương hiệu là việc mua đứt bán đoạn thương hiệu cho một đối tác khác, người chủ ban đầu của thương

2

Trang 21

hiệu sẽ mất toàn quyền đối với thương hiệu của mình Trên thực tế người ta thường chỉ tiến hành nhượng quyền sử dụng thương hiệu với những thương hiệu có tên tuổi nổi tiếng gắn với nó là một công thức kinh doanh đã thành công và được thừa nhận chứ ít khi những thương hiệu chưa có uy tín lại được nhượng quyền sử dụng Chính vì thế đã

có người cho rằng thương hiệu chính là “phần hồn” trong nội dung chuyển nhượng quyền thương mại

Thứ hai, trong quá trình tiến hành phương thức kinh doanh này bên nhượng

quyền có sự hỗ trợ và giám sát đáng kể về nhiều phương diện đối với bên nhận quyền

Có thể nói nhượng quyền thương mại là một mối quan hệ kinh doanh toàn diện không chỉ bao gồm sản phẩm hay dịch vụ, nhãn hiệu hàng hóa, khu vực địa lý kinh doanh mà còn bao gồm toàn bộ hệ thống và mô hình kinh doanh như quy trình hoạt động, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài liệu hướng dẫn, đào tạo nhân viên, giám sát tổ chức, quản lý chất lượng, hỗ trợ ban đầu và trong quá trình hoạt động Một trong những rủi ro của công việc kinh doanh nhượng quyền thương mại đó chính là làm phá vỡ hệ thống kinh doanh Nếu như chỉ một mắt xích trong hệ thống đó làm ăn không có hiệu quả gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của thương hiệu Do đó “tính đồng bộ của một thương hiệu là một trong những chìa khóa thành công khi xây dựng mô hình kinh doanh nhượng quyền” [23, tr.38] Để tránh và đối phó với hậu quả này, người nhượng quyền phải giám sát chặt chẽ tới cách thức hoạt động của nhà nhận quyền

Thứ ba, trong hệ thống nhượng quyền thương mại giữa bên nhượng quyền và bên

nhận quyền có sự độc lập về tài chính và địa vị pháp lý Đây là đặc điểm đặc thù của

hệ thống kinh doanh này nhằm phân biệt hình thức kinh doanh này với các hình thức gần giống khác như đại lý, chi nhánh thương mại, chuỗi cửa hàng Tuy rằng trong hệ thống franchising có sự hỗ trợ và giám sát một cách đáng kể của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền nhưng theo luật pháp của các nước thì bên nhận quyền lại là các cá nhân độc lập hoặc các pháp nhân độc lập về mặt tổ chức lẫn tài chính, không phụ thuộc

Trang 22

vào bên nhượng quyền Trên thế giới, người nhượng quyền thường đóng vai trò là cầu nối giúp người “mua franchise” mượn tiền ngân hàng hoặc chính mình đứng ra cho vay nhằm phát triển và nhân rộng mô hình kinh doanh nhanh hơn Trước khi khai trương, bên nhận quyền thường được bên nhượng quyền hỗ trợ về đào tạo, thiết kế, chọn địa điểm, nguồn hàng, quảng cáo Những điều này không có nghĩa là bên nhận quyền bị phụ thuộc vào bên nhượng quyền, áp đặt hoàn toàn theo ý của bên nhượng quyền Tất

cả quyền cũng như nghĩa vụ của hai bên đều phải được cụ thể hóa trong hợp đồng mà chủ thể của hợp đồng là những cá nhân, pháp nhân độc lập

Thứ tƣ, trong phương thức kinh doanh này bên nhận quyền phải trả phí cho bên

nhượng quyền Nhượng quyền thương mại xét cho cùng cũng giống như hoạt động

dịch vụ thuê-mượn Người nhượng quyền cho người nhận quyền thuê sử dụng thương hiệu, công thức kinh doanh của mình đổi lại họ được nhận một khoản phí từ người nhận quyền Phí này có thể là trọn gói nhưng cũng có thể trả làm nhiều lần gồm phí chuyển nhượng ban đầu và phí định kỳ Thông thường trên thực tế thì người nhận quyền phải trả cho người nhượng quyền một khoản gồm nhiều lần Lần thứ nhất là phí chuyển nhượng ban đầu Có thể hiểu đây là khoản phí mà bên nhận chuyển nhượng phải trả để tham gia hoạt động trong hệ thống chuyển nhượng Những yếu tố mà bên nhận chuyển nhượng được hưởng từ phía bên chuyển nhượng đổi lấy khoản phí này thường gồm “quyền sử dụng thương hiệu, các dịch vụ hỗ trợ như đào tạo, trang trí, tìm kiếm nguồn tài trợ, tài liệu hướng dẫn hoạt động ” Còn khoản phí định kỳ thường được bên nhận chuyển nhượng trả cho bên chuyển nhượng theo % doanh thu bán hàng của bên nhận quyền hoặc một khoản tiền cố định

Trang 23

Bảng 1.1: Ưu điểm của Franchise

 Ưu điểm khi bán franchise :

* Nhân rộng mô hình kinh doanh, tăng nhanh uy tín thương hiệu

* Tăng doanh thu

* Tiết kiệm chi phí

* Tận dụng nguồn nhân lực của bên nhận quyền

 Ưu điểm khi mua franchise

* Đầu tư an toàn, ít rủi ro

* Được sử dụng thương hiệu có uy tín

* Thuận lợi trong việc huy động vốn

* Tiết kiệm chi phí nghiên cứu và phát triển

(Nguồn : người viết tự tổng hợp)

1.2.3 Các hình thức nhượng quyền thương mại

Từ khi hoạt động nhượng quyền thương mại ra đời cho đến nay có rất nhiều cách phân loại: phân loại theo bản chất, phân loại theo cách thức nhượng quyền của chủ thương hiệu, phân loại theo lĩnh vực kinh doanh Tuy nhiên, trong phạm vi khóa luận này người viết chỉ xin đề cập đến hai cách phân loại: phân loại theo bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại và phân loại theo quy mô hay cách thức nhượng quyền của chủ thương hiệu

1.2.3.1 Phân loại theo bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại

Theo căn cứ này, nhượng quyền thương mại được phân thành hai loại: nhượng quyền phân phối và nhượng quyền công thức kinh doanh

Trang 24

Nhƣợng quyền phân phối (Product distribution franchise) : là hình thức nhượng

quyền thương mại theo hệ thống nhượng quyền nhằm mục đích phân phối một sản phẩm hay một tập hợp các sản phẩm Nhượng quyền phân phối sản phẩm tạo nên một

cơ cấu trực tiếp cho phép đưa sản phẩm từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ Ngoài việc được phép sử dụng tên nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, logo, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm hay dịch vụ của bên nhượng quyền trong một phạm vi địa lý và trong

một thời hạn nhất định thì bên nhận quyền hầu như không được nhận bất cứ sự hỗ trợ đáng kể nào từ phía chủ thương hiệu Bên nhận quyền sẽ quản lý cửa hàng của mình

một cách khá độc lập và ít bị ràng buộc bởi những quy định của chủ thương hiệu Hình thức nhượng quyền này thường được sử dụng trong việc phân phối nước ngọt (Coca-cola, Pepsi), các đại lý bán ôtô (Ford motor company), các trạm xăng dầu (Exxon mobil) Tại Việt Nam, mô hình nhượng quyền của cà phê Trung Nguyên, công ty Kinh

Đô được xem là thuộc loại này Tuy hình thức nhượng quyền phân phối được sử dụng khá phổ biến ở các dịch vụ bán lẻ, song mô hình này chưa thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại

Nhƣợng quyền công thức kinh doanh (Business format franchise) : là hình thức

nhượng quyền thương mại mà theo đó bên nhận quyền sẽ sản xuất sản phẩm, dịch vụ theo chỉ dẫn của bên nhượng quyền và bán những sản phẩm đó dưới nhãn hiệu của bên nhượng quyền Bên nhượng quyền sẽ chuyển giao cho bên nhận quyền bí quyết kinh doanh thường là các công thức sản xuất, quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và công

thức điều hành quản lý Theo phương thức này thì các chuẩn mực của mô hình kinh doanh phải tuân thủ một cách tuyệt đối Thực chất nhượng quyền công thức kinh doanh là bước phát triển cao hơn của nhượng quyền phân phối sản phẩm, nó thể hiện

đầy đủ nhất các bản chất cũng như đặc điểm của mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại Hiện nay, trên thế giới hầu hết các mô hình nhượng quyền thương mại nổi tiếng và có giá trị như Mc Donald’s, KFC, Marriott Hotel đều sử dụng hình thức

Trang 25

nhượng quyền này Tại Việt Nam, doanh nghiệp điển hình sử dụng thành công phương thức này là Phở 24

1.2.3.2 Phân loại theo quy mô hay cách thức nhượng quyền của chủ thương hiệu cho bên nhận quyền

Nhƣợng quyền đơn lẻ ( Single-unit franchise): là hình thức mà chủ thương

hiệu “bán” franchise cho đối tác phù hợp mở một cửa hiệu duy nhất trong một khu vực địa lý nhất định Điểm lợi thế của hình thức này là chủ thương hiệu có thể làm việc

trực tiếp và sâu sát với những bên nhận quyền tuy nhiên khi số lượng người nhận quyền là quá lớn sẽ rất khó khăn cho người nhượng quyền trong việc kiểm soát toàn bộ

hệ thống Một số hệ thống nhượng quyền theo hình thức này là: Hilton Hotel, Phở 24, Trung Nguyên

Nhƣợng quyền độc quyền (Master franchise/ Sub franchising): là hình thức

mà chủ thương hiệu sẽ chọn một cá nhân hay doanh nghiệp địa phương tại quốc gia hoặc khu vực mà mình muốn xâm nhập làm bên “mua” franchise độc quyền kinh

doanh Để có được franchise độc quyền, bên “mua” franchise phải trả một khoản phí chuyển nhượng cao hơn các hình thức nhượng quyền khác Bên “mua” franchise này vừa là bên nhận quyền từ chủ thương hiệu vừa là bên nhượng quyền cho những người nhận quyền khác (bên nhận quyền thứ cấp) trong phạm vi khu vực địa lý đã thỏa thuận Như vậy chủ thương hiệu hầu như đã chuyển toàn bộ gánh nặng của mình trong

việc phát triển hệ thống franchise cũng như thương hiệu sản phẩm trong khu vực địa lý

đó cho bên nhận quyền độc quyền Phần phí nhượng quyền thu được từ những bên nhận quyền thứ cấp sẽ được chia cho chủ thương hiệu và bên nhận franchise độc quyền theo tỷ lệ thỏa thuận trước Bên nhận franchise độc quyền phải cam kết trong một khoảng thời gian nhất định sẽ có bao nhiêu cửa hàng được mở nếu không sẽ mất độc quyền Ví dụ: Công ty Aptech của Ấn Độ nhượng quyền độc quyền cho Tập đoàn FPT tại thị trường Việt Nam

Trang 26

Nhượng quyền khu vực (Area development franchise): theo hình thức này

bên nhận quyền được quyền mở nhiều cửa hiệu trong một phạm vi tương đối rộng Họ thường phải cam kết mở được bao nhiêu cửa hàng trong thời gian nhất định nếu không

sẽ mất quyền Người nhận nhượng quyền khu vực không được phép “bán” franchise cho những người mua tiếp theo Phí trả cho hình thức nhượng quyền này cũng tương

đối cao Trong một số trường hợp, sau một thời gian kinh doanh tốt, người “mua” nhượng quyền khu vực có thể xin chuyển thành hợp đồng nhượng quyền độc quyền nếu muốn “bán” franchise cho người thứ ba Ví dụ: Tập đoàn 7-Eleven thực hiện nhượng quyền tại Nhật Bản

Nhượng quyền liên doanh (Joint venture): Đây thực chất là hình thức hợp tác

giữa chủ thương hiệu và đối tác mua nhượng quyền Một bên góp vốn, sự am hiểu thị trường địa phương và một bên góp thương hiệu (có thể cùng với vốn) thành lập công ty liên doanh Công ty này trở thành công ty thay mặt chủ thương hiệu toàn quyền kinh doanh trong khu vực địa lý nhất định Đây là hình thức mà chủ thương hiệu không mấy

ưu tiên do sẽ phải chấp nhận rủi ro tài chính một khi liên doanh thất bại Ví dụ: Mc Donald’s nhượng quyền tại Anh qua công ty liên doanh Mc Donald’s Golden Arches Restaurant

1.3 ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

Nhượng quyền thương mại đang phát triển ngày càng mạnh mẽ nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng thành công khi sử dụng phương thức này Trước khi một công

ty bắt đầu một quá trình xây dựng chương trình nhượng quyền tốn kém, cần thận trọng

để kiểm tra tính khả thi của chiến lược nhượng quyền Qua tìm hiểu nghiên cứu mô hình nhượng quyền thương mại của một số thương hiệu nổi tiếng thế giới và đọc sách báo, người viết rút ra được 5 nhân tố cần thiết để tiến hành nhượng quyền thương mại

Trang 27

thành công: xây dựng bản sắc thương hiệu, tiêu chuẩn hóa quy trình đồng bộ, quản lý con người, nỗ lực tiếp thị và chiến lược dài hạn

1.3.1 Xây dựng bản sắc thương hiệu

Một doanh nghiệp chỉ có thể tiến hành nhượng quyền thương mại thành công khi

có bản sắc thương hiệu Bản sắc thương hiệu chính là giá trị cốt lõi và đặc trưng của thương hiệu, là dấu ấn tồn tại trong tâm trí khách hàng một cách sâu đậm nhất, thể hiện tính khác biệt vượt trội so với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh Xây dựng thương hiệu sẽ xoay quanh “phần hồn” là những giá trị cốt lõi đó để tạo dựng hình ảnh

và những cam kết đối với khách hàng một cách nhất quán Có thể nói, giá trị lớn nhất của hợp đồng nhượng quyền thương mại nằm ở việc chuyển tải bản sắc này đến người nhận quyền như một lợi thế cạnh tranh ưu việt giúp họ xây dựng công việc kinh doanh một cách nhanh chóng nhất

Nắm bắt được điều này, hầu hết các doanh nghiệp đều cố gắng không ngừng củng

cố, xây dựng và phát triển thương hiệu của mình, đặc biệt là các doanh nghiệp muốn tiến hành nhượng quyền thương mại Bởi lẽ bản sắc thương hiệu chính là yếu tố đầu tiên thu hút các nhà nhận quyền đến với họ Có thể nói sự nổi tiếng của thương hiệu nhượng quyền tỉ lệ thuận với sự thành công của bên nhận quyền Chính bởi thế, các hãng lớn trên thế giới như Mc Donald’s, 7-Eleven, KFC, Pizza Hut tuy đã nổi tiếng thế giới nhưng vẫn chú trọng đến công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu đến người tiêu dùng và các nhà nhận quyền Thương hiệu mạnh không đồng nghĩa với việc thương hiệu đó được nhiều người biết đến mà là khách hàng có ưu tiên lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ đó hay không

Tuy nhiên đồng hành với việc xây dựng bản sắc thương hiệu, khi tiến hành nhượng quyền thương mại các hãng cũng phải đặc biệt chú trọng đến việc giữ được tính toàn vẹn của hình ảnh thương hiệu ở tất cả các cửa hàng thuộc hệ thống nhượng

Trang 28

quyền thương mại Vì chỉ cần một sai khác nhỏ, một sự không đồng bộ, không theo đúng chuẩn của thương hiệu doanh nghiệp sẽ làm ảnh hường đến hình ảnh thương hiệu của cả hệ thống Hệ thống nhượng quyền càng lớn thì doanh nghiệp nhượng quyền càng dễ mất kiểm soát nếu bản sắc thương hiệu không được củng cố và bảo vệ Công việc củng cố và bảo vệ bản sắc thương hiệu khi ấy không chỉ là công việc của người nhượng quyền nữa mà nó đòi hỏi ý thức rất cao từ phía người nhận quyền Chính bản thân bên nhận quyền cũng phải ý thức được bản sắc thương hiệu là yếu tố “sống còn” - điều kiện tiên quyết cho sự thành công cũng như nhân tố cốt lõi cho sự thất bại - đối với sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống nhượng quyền thương mại

1.3.2 Tiêu chuẩn hóa quy trình đồng bộ

Nhượng quyền thương mại không chỉ đơn thuần là việc bên nhượng quyền cho bên nhận quyền sử dụng chung thương hiệu với mình mà nó còn có sự chuyển giao cả một phương thức kinh doanh từ cách sản xuất, trang trí nhà hàng cho đến cung cách phục vụ nhất loạt phải theo một bản mẫu đã đề ra của công ty Hình ảnh đồng bộ của một thương hiệu là một trong những chìa khóa thành công khi xây dựng mô hình kinh doanh nhượng quyền Khách hàng phải thấy chất lượng và tiêu chuẩn của tất cả các cửa hàng mang cùng một tên hiệu là giống nhau hay ít ra là tương đương nhau Chỉ một cửa hàng trong hệ thống franchise có chất lượng phục vụ kém sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín chung của cả một hệ thống

Nhiều hệ thống franchise lớn trên thế giới vẫn gặp vấn đề trong việc giữ được tiêu chuẩn đồng bộ trong tất cả các cửa hàng trong cùng hệ thống Ví dụ như đối với Tập đoàn khách sạn Hilton và Sheraton, khách hàng vẫn thường xuyên than phiền về chất lượng có khác biệt giữa khách sạn thuộc sở hữu công ty mẹ và khách sạn mua franchise Điều này dẫn đến sự hoài nghi của khách hàng khi muốn quyết định chọn Khách sạn Sheraton Trong khi đối với Tập đoàn Marriott thì khách hàng khó có thể phân biệt đâu là khách sạn Marriott thuộc sở hữu công ty đâu là khách sạn Marrott mua

Trang 29

franchise nhờ vào hệ thống kiểm soát vô cùng chặt chẽ Sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống đòi hỏi nhà nhượng quyền phải chú trọng đến công tác kiểm tra, giám sát để phát hiện kịp thời những sai khác và có biện pháp khắc phục xử lý ngay Đồng thời, ý thức tuân thủ nghiêm chỉnh của bên nhận quyền về các quy trình đồng bộ cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công cho toàn hệ thống franchise

Bảng 1.2: Yếu tố cơ bản tạo nên tính đồng bộ Các yếu tố cơ bản làm nên tính đồng bộ của hệ thống franchise

* Mặt tiền phía trước cửa tiền

* Phần trang trí bên trong cửa hàng

* Sản phẩm và dịch vụ

* Phần quảng bá, khuyến mãi

* Đồng phục của nhân viên

sẽ gây tổn thất, ảnh hưởng đến uy tín của toàn bộ hệ thống franchising Trong quá trình hoạt động luôn đòi hỏi có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa bên nhận quyền và bên

Trang 30

nhượng quyền Do đó đòi hỏi hai bên phải có sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau Bên nhượng quyền phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời cho bên nhận quyền và bên nhận quyền phải có ý thức tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của bên nhượng quyền Trên thế giới, các hãng lớn đều rất chú trọng đến việc tìm hiểu và lựa chọn đối tác nhượng quyền phù hợp vì chỉ cần một đối tác không phù hợp sẽ gây ảnh hưởng tới cả

hệ thống franchising của hãng 7- Eleven là một ví dụ điển hình trong việc tuyển chọn các đối tác nhận quyền Muốn trở thành người nhận quyền của 7- Eleven thì phải có kinh nghiệm trong kinh doanh nói chung và kinh nghiệm trong lĩnh vực bán lẻ nói riêng, đồng thời những người này phải có kỹ năng dịch vụ khách hàng

vị trí nào phải là một chuyên gia tiếp thị cừ khôi để mọi nơi mọi lúc có thể tư vấn, có thể tiếp thị trực tiếp cho thương hiệu của Starbucks

Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa cũng rất quan trọng Những chuỗi cửa hàng như Mc Donald’s đã xây dựng được những kế hoạch tiếp thị cấp quốc gia bên cạnh kế hoạch từng khu vực cho hệ thống hoạt động của mình Người nhượng quyền phải hiểu rằng,

sự trải nghiệm của khách hàng ở mỗi địa phương, mỗi khu vực khác nhau là một lợi thế riêng của người nhận quyền ở địa phương đó, và người nhận quyền nên tận dụng lợi thế đó để củng cố thương hiệu của mình Nhưng khó khăn nhất của mối quan hệ nhượng quyền là làm sao kết hợp được bản sắc của thương hiệu với kế hoạch tiếp thị của từng địa phương Chính vì thế yêu cầu các doanh nghiệp tiến hành nhượng quyền

Trang 31

bên cạnh những chiến dịch quảng cáo chung cho toàn bộ hệ thống phải có những nỗ lực tiếp thị riêng cho từng khu vực nhượng quyền

1.3.5 Chiến lược dài hạn

Thông thường việc nhượng quyền sẽ giúp rút ngắn được thời gian chuẩn bị những

cơ sở ban đầu, nhưng không có nghĩa là không phải xây dựng một chiến lược dài hạn Một đại lý nhượng quyền cũng cần khoảng 2 đến 3 năm trước khi thấy được lợi nhuận,

và nếu không có kế hoạch đầy đủ thì đại lý này sẽ bị nuốt chửng trước khi có cơ hội thành công

Thực tế một số doanh nghiệp nhượng quyền mới chỉ chú trọng đến việc nhân rộng mô hình kinh doanh chứ chưa thực sự chú trọng đến việc phát triển thương hiệu

và một chiến lược phát triển lâu dài Một số doanh nghiệp nhận quyền chỉ thấy lợi ích trước mắt chứ chưa quan tâm nhiều đến việc cùng phát triển thương hiệu với người nhượng quyền Để phát triển bền vững luôn đòi hỏi doanh nghiệp có chiến lược phát triển dài hạn Đặc biệt trong hoạt động nhượng quyền, chiến lược đó đòi hỏi phải có sự phối hợp của cả hai bên vì những mục tiêu lâu dài

1.4 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG KHU VỰC

1.4.1 Hoa Kỳ

Mô hình nhượng quyền thương mại được coi là khởi nguồn tại Mỹ vào giữa thế

kỷ 19, khi lần đầu tiên trên thế giới, nhà sản xuất máy khâu Singer ký hợp đồng nhượng quyền kinh doanh cho một đối tác Là quốc gia đầu tiên có hệ thống nhượng quyền hoàn chỉnh nhất, hiện nay Hoa Kỳ cũng là quốc gia có nền nhượng quyền mạnh nhất, không chỉ nhiều về số lượng hệ thống nhượng quyền mà còn nhiều về số lượng cửa hàng nhượng quyền trong và ngoài nước Năm 1994, 35% tổng doanh số bán lẻ tại

Trang 32

Mỹ là từ các cửa hàng nhượng quyền Đến năm 2000, tỷ lệ này tăng lên 40% với doanh thu lên tới 1.530 tỷ USD, tạo việc làm cho hơn 8 triệu người Bình quân cứ 12 phút lại

có một cửa hàng nhượng quyền ra đời [43]

Biểu 1.1 : Tổng số cửa hàng nhƣợng quyền tại Mỹ qua các năm

(Nguồn: FRANdata findings- facts about franchising in US)

Ở Mỹ, kinh doanh nhượng quyền được xem là “kinh tế hót bạc” bởi đây là phương thức đơn giản hóa những mối lo ngại trong kinh doanh thông thường như phá sản, thuê mướn lao động, phát triển thương hiệu Theo thống kê của Phòng thương mại Mỹ năm 2006, tỉ lệ thành công của một doanh nghiệp, cửa hàng nhượng quyền luôn đạt trên 90% qua 10 năm kinh doanh trong khi tỉ lệ này ở các doanh nghiệp, đơn

vị kinh doanh độc lập chỉ khoảng 15% [22, tr.112]

Biểu 1.2: Tỷ lệ thành công với doanh ngiệp kinh doanh độc lập và doanh nghiệp

kinh doanh nhƣợng quyền ở Mỹ

Trang 33

(Nguồn: Phòng thương mại Mỹ)

Năm 2007, có 847.246 cửa hàng nhượng quyền ra đời với doanh thu 816 triệu USD, tạo ra 9,8 triệu việc làm Tính đến cuối năm 2007 có khoảng hơn 370.000 hệ thống nhượng quyền tại Mỹ Tốc độ tăng trưởng thực tế hàng năm vào khoảng 4,5% trong suốt giai đoạn 2002 -2007 Mỗi năm có thêm 15.000 đến 16.000 hệ thống nhượng quyền mới được thành lập Hiện nay tại Mỹ có hơn 3000 nhãn hiệu thực hiện nhượng quyền và khoảng 500 nhãn hiệu khác đang trong quá trình chuẩn bị nhượng quyền; 3500 nhãn hiệu này thuộc về 2800 công ty [27, tr.2]

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế bắt đầu từ tháng 12 năm 2007 nên sự phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại tại Mỹ có sự chững lại và giảm đi đôi chút

Bảng 1.3: Franchise Business Economic Outlook, 2006-2009

Trang 34

(Nguồn: National Economic Statistics - Franchise economic business overlook)

Số lượng các cửa hàng nhượng quyền mới được thành lập trong năm 2008 so với

2007 chỉ tăng 2,1% Theo PricewaterhouseCoopers dự đoán do ảnh hưởng của suy thoái con số này sẽ giảm 1,2% trong năm 2009, xuống còn chỉ có 854,511 cửa hàng Số lượng việc làm được tạo ra cũng giảm đáng kể (từ 9,805 năm 2007 xuống còn 9,785 năm 2008 và ước đoán chỉ còn 9,578 năm 2009) cùng với đó là doanh thu giảm đi Do các doanh nghiệp nhượng quyền không có cách nào để chống lại sự suy giảm kinh tế đang diễn ra ở Mỹ và trên toàn cầu Theo một nghiên cứu gần đây của FRANdata, lượng vốn vay của các doanh nghiệp franchise ở Mỹ sẽ giảm 27% trong năm 2009 (so với năm 2008), do đó sẽ giảm khả năng phát triển mở rộng của các doanh nghiệp đang tiến hành nhượng quyền cũng như các doanh nghiệp có ý định nhượng quyền.4

3

Số liệu do PricewaterhouseCoopers (PwC) dự đoán

4

FRANdata, 2009 Franchise Capital Requirement Estimate (November 2008) FRANdata, thành lập năm 1989,

là một tổ chức cung cấp thông tin , số liệu về nhượng quyền thương mại

Trang 35

Ở Mỹ, hệ thống nhượng quyền chiếm tỉ trọng cao nhất trong những năm qua là nhà hàng thức ăn nhanh, sau đó là dịch vụ bảo trì, bán lẻ Trong 10 hệ thống nhượng quyền hàng đầu của Mỹ có đến 7 hệ thống hoạt động trong lĩnh vực thức ăn nhanh

Trang 36

Bảng 1.4: Mười hệ thống nhượng quyền hàng đầu của Mỹ

Thương hiệu

Ngành kinh doanh

Số cửa hàng nhượng quyền (2007)

Quốc gia có mặt

Chi phí đầu tư (10,000 USD)

Doanh thu 2006 ( triệu USD)

Mc Donald’s Thức ăn nhanh 23.099 121 50,6 - 160 21.600 Sonic Drive In

InterContinental

RE/MAX Intl Inc Bất động sản 6.973 65 3,55 - 9,7

(Nguồn: Franchise- chọn hay không, tr.111)

Mặc dù ngành hàng thức ăn nhanh và bán lẻ vẫn có sự tăng trưởng đều về số lượng cửa hàng nhượng quyền nhưng dường như chúng đang đánh mất dần thị phần của mình do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành dịch vụ trong suốt những năm qua

Trang 37

Thay đổi này cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu ngành từ sản xuất sang dịch vụ Đây là khuynh hướng chung của sự phát triển hệ thống nhượng quyền

Những nhà nhượng quyền Mỹ thường đánh giá tiềm năng và năng lực làm việc cũng như nhiều điều kiện khác của các ứng viên nhận quyền một cách rất nghiêm túc Bên cạnh việc đánh giá này, việc phân tích, đánh giá thị trường cũng được thực hiện một cách tỉ mỉ và khoa học Đôi khi công việc này thường được tiến hành nhiều năm trước khi hệ thống xuất hiện Một ví dụ điển hình đó là KFC Vào Việt Nam rất sớm,

từ năm 1998 nhưng đến tận năm 2007 mới thực hiện nhượng quyền

Với nền kinh tế có GDP lớn nhất thế giới này, hệ thống nhượng quyền Mỹ không ngừng phát triển và dần chinh phục thế giới bằng sức mạnh và sự chuyên nghiệp của mình

1.4.2 Singapore

Hoạt động nhượng quyền thương mại bắt đầu du nhập và phát triển ở Singapore vào thập niên 70 của thế kỷ XX Đến những năm 1980, nhiều công ty nội địa Singapore đã thỏa thuận và giành quyền kinh doanh nhượng quyền đối với các nhãn hiệu quốc tế như KFC, McDonald’s, Pizza Hut và 7-Eleven Từ đó đến nay, hình thức nhượng quyền thương mại đã trở thành một trong những hình thức chủ yếu cho các doanh nghiệp Singapore muốn thiết lập kinh doanh, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường Theo thống kê của Hiệp hội Nhượng quyền Singapore (Franchising and Licensing Association - FLA), tổng doanh thu trong hoạt động nhượng quyền ở Singapore trong năm 2005 là 3,6 tỷ USD, chiếm 18% tổng doanh thu bán lẻ trong nước, trong đó 70% doanh số là của các hệ thống nhượng quyền nước ngoài (đặc biệt là Mỹ) [28, tr.3] Tuy nhiên, các hệ thống nhượng quyền nội địa cũng đang phát triển nhanh chóng và ngày càng lớn mạnh Có thể kể đến các thương hiệu nội địa thành công và nổi tiếng nhờ nhượng quyền thương mại như Charles & Keith, Bread Talk, Cavana Điển hình như

Trang 38

thương hiệu Bread Talk, một hệ thống các cửa hàng bán bánh rất nổi tiếng ở Singapore Chỉ mới thành lập khoảng 6 năm nhưng Bread Talk đã nhượng quyền rất thành công ở nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Philippines, Đài Loan và cả một số nước ở khu vực Trung Đông như Kuwait, Ả Rập Saudi

Theo số liệu của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới (WFC) thì đến năm

2007, tại Singapore có 420 hệ thống nhượng quyền với hơn 3000 cửa hàng [28, tr.5]

Sở dĩ số lượng hệ thống nhượng quyền tại Singapore không cao như nhiều nước khác trong khu vực như Indonesia, Malaysia, Thái Lan vì đảo quốc này có diện tích rất nhỏ bé, hòn đảo chính có diện tích 682 km2

và dân số chỉ gần 5 triệu người (2007) [28,tr.3] Một nguyên nhân khác nữa là do mỗi công ty chỉ sở hữu một hệ thống nhượng quyền dù rằng số công ty áp dụng hình thức nhượng quyền ở Singapore ngày càng nhiều

Biểu 1.3: Cơ cấu hệ thống nhượng quyền thương mại tại Singapore, 2007

Ngành khác 10%

Giáo dục và

đào tạo

19%

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe 3%

Dịch vụ hỗ trợ 6%

Bán lẻ 26%

Thực phẩm và

ăn uống 36%

(Nguồn: Singapore Franchise Industry Survey 2007)

Trong số các doanh nghiệp nhượng quyền thì có đến 80% doanh nghiệp là thành viên của FLA Hiện FLA có 150 thành viên bao gồm các nhà nhượng quyền trong và

Trang 39

ngoài nước [22, tr.139] FLA chủ động tìm kiếm và phát triển nền tảng tinh thần doanh nghiệp và tính quốc tế trong ngành công nghiệp nhượng quyền Singapore Bên cạnh

đó, FLA khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhượng quyền thương mại để kinh doanh, tổ chức các chương trình giáo dục hướng nghiệp, các sân chơi cho doanh nghiệp nhằm trao đổi ý tưởng và tìm kiếm cơ hội hợp tác, hỗ trợ các thành viên tiếp cận các chương trình tiếp thị quốc tế thông qua mối quan hệ với các cơ quan Chính phủ

và các hiệp hội, tổ chức về nhượng quyền thương mại

Chính phủ Singapore cũng rất quan tâm đến ngành công nghiệp nhượng quyền Chính phủ nước này đã áp dụng rất nhiều biện pháp và chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động nhượng quyền diễn ra mạnh mẽ như thành lập các hiệp hội tư vấn chuyên nghiệp như FLA, Hiệp hội các doanh nghiệp quốc tế Singapore (International Enterprise Singapore - IES) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nội địa xây dựng năng lực kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại và thu hút công ty nhượng quyền quốc tế đến kinh doanh tại Singapore dưới hình thức nhượng quyền Đồng thời Chính phủ Singapore cũng tạo môi trường kinh doanh có cơ chế pháp lý thông thoáng để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhượng quyền thương mại hiện có và doanh nghiệp nhượng quyền thương mại tiềm năng Song song đó, họ cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhượng quyền tiềm năng tìm kiếm và mở rộng các mối quan hệ hợp tác kinh doanh

Chẳng hạn như, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp địa phương Singapore SPRING (LETAS) được khởi động từ năm 2001 nhằm khuyến khích doanh nghiệp khởi sự và nâng cấp hoạt động kinh doanh của mình bằng nhượng quyền thương mại với tổng kinh phí khoảng 250,000 đô la Singapore, hay việc tổ chức các sự kiện liên quan đến nhượng quyền thương mại như là hội thảo, triển lãm thường xuyên Điển hình là hội thảo “ Nhượng quyền toàn cầu - Global Franchising” đã thu hút nhiều nhà kinh doanh thương mại từ các quốc gia trên thế giới đến Singapore đầu tư dưới hình

Trang 40

thức nhượng quyền Ngoài ra, còn có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức nhượng quyền như “Kế hoạch hỗ trợ phát triển nhượng quyền thương mại - Franchise Development Assistant Scheme - FRANDAS” được bắt đầu từ năm

1990 Với kế hoạch này các công ty nội địa có kết quả hoạt động tốt và có cơ sở để phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại sẽ nhận được sự hỗ trợ để phát triển hệ thống của mình và quảng cáo về hệ thống nhượng quyền thương mại ra thị trường quốc

tế FRANDAS cũng hỗ trợ cả các nhà nhượng quyền thương mại nước ngoài nếu họ muốn tìm đối tác nội địa

Trong tương lai, Hiệp hội các doanh nghiệp quốc tế Singapore (IES) sẽ cùng liên kết chặt chẽ với Hiệp hội nhượng quyền Singapore (FLA) nhằm thúc đẩy và định vị phát triển Singapore thành một “cứ địa nhượng quyền thương mại” của toàn khu vực Đông Nam Á

1.4.3 Thái Lan

Hiện nay, ngành công nghiệp nhượng quyền thương mại rất phổ biến và thành công ở thị trường Thái Lan Nhiều nhà đầu tư đã và đang tìm kiếm cơ hội ở lĩnh vực này bởi sự hấp dẫn của thị trường và những thủ tục thông thoáng, an toàn từ phía Chính phủ Theo thống kê của Phòng Thương mại Mỹ, năm 2006 Thái Lan có 435 hệ thống nhượng quyền với hơn 30,000 cửa hàng hoạt động, trong đó có 350 hệ thống nhượng quyền của các doanh nghiệp Thái Lan, 85 hệ thống nhượng quyền của các doanh nghiệp nước ngoài Doanh thu từ các doanh nghiệp nhượng quyền nội địa đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 45% tổng doanh thu ngành công nghiệp nhượng quyền [22,tr.144] Đây là những con số rất ấn tượng bởi trong bối cảnh các thương hiệu nhượng quyền nước ngoài “xâm nhập” một cách ồ ạt vào thị trường nội địa các nước châu Á thì Thái Lan đã có một sự phát triển tích cực hệ thống nhượng quyền trong nước của mình Nếu như vào năm 2000, thị phần giữa các nhà nhượng quyền Thái Lan

và các nhà nhượng quyền nước ngoài là 30:70 thì đến năm 2006 tỉ lệ đó đã là 45:55

Ngày đăng: 17/04/2014, 13:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thành Tự Anh (2006), Tản mạn toàn cầu hóa - tài liệu chương trình giảng dạy linh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản mạn toàn cầu hóa
Tác giả: Vũ Thành Tự Anh
Năm: 2006
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2005), Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2005)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
Năm: 2005
5. Bộ Ngoại giao (2008), Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2007
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 2008
6. Bộ Tài chính (2008), Quyết định số 106/2008/QĐ-BTC quy định mức lệ phí mà thương nhận dự kiến nhượng quyền phải nộp khi đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2008)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
8. Bộ Thương mại, Viện nghiên cứu thương mại (1998), Những điều cần biết về tổ chức thương mại thế giới và tiến trình gia nhập của Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về tổ chức thương mại thế giới và tiến trình gia nhập của Việt Nam
Tác giả: Bộ Thương mại, Viện nghiên cứu thương mại
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1998
9. Bộ Thương mại, Vụ Châu Âu (2004), Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Liên minh Châu Âu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại, Vụ Châu Âu (2004)
Tác giả: Bộ Thương mại, Vụ Châu Âu
Năm: 2004
10. Bộ Thương mại (2006), Nghị định số 35/2006/NĐ - CP quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2006)
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2006
11. Bộ Thương mại (2006), Thông tư 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (2006)
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2006
12. ĐH Quốc gia Hà Nội (2003), Toàn cầu hóa và tác động của nó đến hội nhập của Việt Nam, Hội thảo quốc tế Việt Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa và tác động của nó đến hội nhập của Việt Nam
Tác giả: ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
13. ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, Viện quốc tế KONRAD - ADENAUER – STIFTUNG (2003), Toàn cầu hóa và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam
Tác giả: ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, Viện quốc tế KONRAD - ADENAUER – STIFTUNG
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2003
14. Thomas L. Friedman (2005), Thế giới phẳng, NXB Khoa Học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới phẳng
Tác giả: Thomas L. Friedman
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã hội
Năm: 2005
15. Hữu Hoành (2009), “Làn sóng franchise đã bắt đầu”, Tạp chí Doanh nhân và pháp luật số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng franchise đã bắt đầu
Tác giả: Hữu Hoành
Năm: 2009
19. Ngân hàng Thế giới (2002), Báo cáo nghiên cứu chính sách: Toàn cầu hóa - tăng trưởng và đói nghèo, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu chính sách: Toàn cầu hóa - tăng trưởng và đói nghèo
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
20. PGS.TS Nguyễn Đông Phong (2009), “Giải pháp phát triển nhượng quyền thương mại ở Việt Nam”, Tạp chí phát triển kinh tế số 222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Đông Phong
Năm: 2009
21. Nguyễn Xuân Thắng (2007), Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế với tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế với tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
22. Nguyễn Khánh Trung (2008), Franchise : chọn hay không, NXB ĐH Quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franchise : chọn hay không
Tác giả: Nguyễn Khánh Trung
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia TPHCM
Năm: 2008
23. TS Lý Quý Trung (2006), Franchise- bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franchise- bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh
Tác giả: TS Lý Quý Trung
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
24. TS Lý Quý Trung (2006), Mua Franchise- cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua Franchise- cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: TS Lý Quý Trung
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
25. Viên Tôn Ngũ Viên (2003), Toàn cầu hóa và nghịch lý của thế giới tư bản chủ nghĩa, NXB Thống kêTIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: oàn cầu hóa và nghịch lý của thế giới tư bản chủ nghĩa
Tác giả: Viên Tôn Ngũ Viên
Nhà XB: NXB Thống kê TIẾNG ANH
Năm: 2003
33. Bạn biết gì về franchising? (Phần 1) http://vietnamfranchise.net/home/modules.php?name=News&op=viewst&sid=23 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 :  Ƣu điểm của Franchise - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 1.1 Ƣu điểm của Franchise (Trang 23)
Bảng 1.2: Yếu tố cơ bản tạo nên tính đồng bộ - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 1.2 Yếu tố cơ bản tạo nên tính đồng bộ (Trang 29)
Bảng 1.3: Franchise Business Economic Outlook, 2006-2009 - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 1.3 Franchise Business Economic Outlook, 2006-2009 (Trang 33)
Bảng 1.4: Mười hệ thống nhượng quyền hàng đầu của Mỹ - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 1.4 Mười hệ thống nhượng quyền hàng đầu của Mỹ (Trang 36)
Bảng 1.5: Doanh thu nhượng quyền thương mại ở Thái Lan (triệu USD) - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 1.5 Doanh thu nhượng quyền thương mại ở Thái Lan (triệu USD) (Trang 44)
Bảng 2.1: Thống kê hệ thống nhượng quyền thương mại - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 2.1 Thống kê hệ thống nhượng quyền thương mại (Trang 46)
Bảng 2.2: Những thương hiệu Việt Nam đã và đang chuẩn bị - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 2.2 Những thương hiệu Việt Nam đã và đang chuẩn bị (Trang 50)
Bảng 2.3: Những thương hiệu nước ngoài  nhượng quyền tại Việt Nam - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 2.3 Những thương hiệu nước ngoài nhượng quyền tại Việt Nam (Trang 53)
Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%) - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 2.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%) (Trang 65)
Bảng 2.5: 10 thị trường bán lẻ phát triển nhanh nhất toàn cầu năm 2008 - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 2.5 10 thị trường bán lẻ phát triển nhanh nhất toàn cầu năm 2008 (Trang 66)
Bảng 2.6: Tổng mức và tốc độ tăng TMBLHHDV - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 2.6 Tổng mức và tốc độ tăng TMBLHHDV (Trang 67)
Bảng 2.7: Mười ngành kinh doanh franchise phổ biến trên thế giới - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 2.7 Mười ngành kinh doanh franchise phổ biến trên thế giới (Trang 68)
Bảng 3.1: Thay đổi cơ cấu GDP của Việt Nam năm 1990 - 2008 - Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa điều kiện và khả năng áp dụng ở Việt Nam trong thời gian tới
Bảng 3.1 Thay đổi cơ cấu GDP của Việt Nam năm 1990 - 2008 (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w