Sự phát triển của mô hình tập đoàn ở Việt Nam Thực trạng và hướng phát triển
Trang 1CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng, việc luân chuyển nguồn vốn đầu tư, nguồn nhân lực và mở rộng quan hệ thương mại song phương, đa phương giữa các quốc gia trên thế giới cũng trở nên phổ biến hơn Theo
đó các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các tập đoàn lớn sẽ tham gia vào thị trường Việt Nam, tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt buộc các doanh nghiệp nước ta phải đổi mới mở rộng quy mô, tích tụ, tập trung, hình thành các doanh nghiệp có tiềm lực cao, quy mô lớn Thêm nữa sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường nước ta trong những năm gần đây cộng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng làm thay đổi lớn trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực, đồng thời đặt ra yêu cầu mới đối với mỗi thực thể kinh tế Sự phát triển khoa học công nghệ mà điển hình là cuộc cách mạng công nghệ thông tin cũng là một yếu tố khác nữa tạo tiền đề phát triển cho những doanh nghiệp này Nhận thức được nhu cầu tất yếu khách quan trên, Việt Nam đã chủ trương xây dựng và hình thành các tập đoàn kinh tế Điều này là phù hợp với xu thế phát triển chung của các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, thời gian vừa qua, các tập đoàn được thành lập ở Việt Nam chỉ có một số ít doanh nghiệp mang hơi hướng các tập đoàn tư nhân còn chủ yếu là các tập đoàn quốc doanh, được sự bảo hộ của Nhà nước, gây ra rất nhiều bất cập và tranh cãi trong dư luận Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả hoạt động của các mô hình tập đoàn kinh tế trong điều kiện hiện nay sẽ cho thấy một cái nhìn tổng thể về tập đoàn kinh tế, đồng thời giúp chọn lựa được những hướng đi đúng đắn hơn trong tương lai Đây cũng chính là lý do em chọn vấn đề
“Sự phát triển của mô hình tập đoàn ở Việt Nam, thực trạng và hướng phát triển”làm đề tài cho khóa luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu của khóa luận
Mục đích của khóa luận là làm rõ một số nội dung, lý luận và thực tiễn về mô hình tập đoàn kinh tế nói chung, đồng thời đi sâu vào nghiên cứu thực trạng, xu
Trang 3hướng phát triển và ưu, nhược điểm của hai mô hình tập đoàn Nhà nước và tư nhân tại Việt Nam từ đó đưa ra định hướng và giải pháp phát triển cho mô hình tập đoàn của nước ta trong giai đoạn sắp tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là những nội dung chủ yếu liên quan đến
sự hình thành và phát triển mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam bao gồm con đường hình thành, mô hình, đặc điểm, cơ cấu tổ chức, xu thế phát triển…
Phạm vi nghiên cứu của Khóa luận được giới hạn trong 8 tập đoàn Nhà nước thí điểm hiện nay và một số tập đoàn tư nhân đang hình thành theo phương thức tập đoàn kinh tế như FPT hay Hòa Phát
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, Khóa luận đã sử dụng những phương pháp sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hóa những vấn đề
chung về tập đoàn kinh tế, những căn cứ lý thuyết, những báo cáo nghiên cứu tổng quát và thực tiễn hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế
Phương pháp phân tích số liệu định lượng: Trên cơ sở khảo sát, điều tra và
thu thập số liệu, khóa luận sử dụng phương pháp phân tích định lượng theo nhóm vấn đề nghiên cứu nhằm phục vụ nội dung nghiên cứu và các kết luận lý thuyết
Phương pháp thống kê, so sánh: Sử dụng các số liệu thống kê để phân tích so
sánh, rút ra kết luận làm cơ sở đề xuất quan điểm, giải pháp thúc đẩy sự hình thành
và phát triển các tập đoàn kinh tế
5 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung Khóa luận được kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và sự phát triển của mô hình tập đoàn kinh tế
- Chương 2: Thực trạng hoạt động của một số tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Trang 4- Chương 3: Giải pháp và hướng phát triển cho mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu, do hạn chế về mặt tài liệu, thời gian cũng như kiến thức của người viết, khóa luận khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô cùng với sự góp ý của các bạn độc giả
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn quý báu, tận tình từ thầy giáo - Th.S Ngô Quý Nhâm đã giúp em hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp này Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu
Trang 5Chương I: Cơ sở lý luận và sự phát triển của mô hình
tập đoàn kinh tế
1 Tổng quan về tập đoàn kinh tế
1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế là một mô hình phổ biến ở các nước phát triển nhưng tại Việt Nam đây mới chỉ là một mô hình mới hình thành và phát triển Đã có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mô hình này và do đó cũng nảy sinh khá nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tập đoàn kinh tế Theo một công trình nghiên cứu của công
ty Ernst & Young, không có khái niệm duy nhất cho tập đoàn kinh tế, mỗi quốc gia
có một định nghĩa khác nhau dẫn đến có nhiều cách gọi khác nhau cho tập đoàn kinh tế Chẳng hạn các nước Mỹ Latinh được gọi là Groups, ở ấn Độ là Business house, ở Hàn Quốc là Chaebol, Nhật Bản là Keiretsu, phương Tây là Conglomerate, Chaebol là thuật ngữ tiếng Hàn Quốc chỉ một liên minh gồm nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ Các công ty thường có cổ phiếu ở các công ty khác và thường do một gia đình điều hành Keiretsu là thuật ngữ tiếng Nhật Bản mô tả một
tổ hợp liên kết không chặt chẽ gồm các công ty được tổ chức quanh một ngân hàng
để phục vụ lợi ích cả hai bên Enterprise group là thuật ngữ được sử dụng trong các quy định pháp lý nhằm chỉ một tập hợp doanh nghiệp, được hình thành hợp pháp từ doanh nghiệp độc lập bao gồm các công ty mẹ và các công ty con trong đó công ty
mẹ chiếm cổ phần đa số ở các công ty con Conglomerate thường được dùng ở phương Tây để chỉ một tập hợp doanh nghiệp bề ngoài không liên quan đến nhau, mối liên kết bên trong tùy thuộc vào các quan hệ cụ thể Cơ cấu này giảm thiểu rủi
ro trong kinh doanh nhưng thiếu sự tập trung Business group là từ khái quát để chỉ tập hợp các công ty liên kết với nhau dưới các hình thức chính quy cũng như không chính quy, không nhất thiết phải hợp thành một thực thể duy nhất
Trang 6Theo cuốn Từ điển Business English của Longman, tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một tập đoàn gồm công ty
mẹ và một hay nhiều công ty hay chi nhánh góp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ
Theo tác giả cuốn Từ điển Anh – Pháp – Việt (1998), khái niệm “Group” (tức tập đoàn) được hiểu là “Một tập đoàn kinh tế và tài chính gồm một công ty mẹ và các công ty khác mà nó kiểm soát hay trong đó nó có tham gia Mỗi công ty bản thân nó cũng có thể kiểm soát các công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác” Theo cuốn tìm hiểu danh từ kinh tế thị trường (1998), tập đoàn kinh tế (economic group) được hiểu là: “Một nhóm nhiều công ty có mối tương quan ở hữu khế ước với nhau về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tài chính, hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, ở một nước hay nhiều nước”
Theo cuốn từ điển kinh tế của Nhật Bản, tập đoàn (keiretsu) là một tổ hợp các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập được mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm
Theo một số nước như Hà Lan, Anh, Đan Mạch, tập đoàn kinh tế là sự liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế có chung lợi ích, có mối quan hệ sở hữu và khế ước với nhau, cùng tiến hành hoạt động SXKD trong một hoặc nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế
Ở Hàn Quốc, tập đoàn (chaebol) được sử dụng để chỉ một liên kết gồm nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ Thông thường, các công ty nằm nắm giữ
cổ phần/vốn góp của nhau và do một gia đình điều hành
Ở Malaysia và Thái Lan, tập đoàn kinh tế được xác định là tổ hợp kinh doanh với các mối quan hệ đầu tư, liên doanh, liên kết và hợp đồng Nòng cốt của các tập đoàn là cơ cấu công ty mẹ - công ty con tạo thành một hệ thống các liên kết chặt chẽ trong tổ chức và hoạt động Các thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập và thường hoạt động trên cùng một mặt bằng pháp lý
Trang 7Theo Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM thì “Khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển”
Như vậy có thể thấy cho đến nay trên thế giới chưa có một khái niệm thống nhất
về tập đoàn kinh tế Mỗi quốc gia thường đưa ra quan niệm về tập đoàn kinh tế cho phù hợp với điều kiện cụ thể cũng như đường lối chính sách phát triển kinh tế của quốc gia mình Ngay cả trong mỗi quốc gia thì người ta cũng thường không pháp lý hóa khái niệm về tập đoàn kinh tế và khái niệm này cũng có thể được thay đổi theo chính sách phát triển trong mỗi thời kỳ
Ở nước ta, cho đến nay tập đoàn kinh tế cũng chưa được pháp lý hóa, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu để khái quát cho rằng: “Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty hoạt động trong một hay những ngành khác nhau trong phạm vi một hay nhiều nước, trong đó có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển Tập đoàn kinh tế là một
cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận” Luật Doanh nghiệp 2005 ở nước ta coi tập đoàn kinh tế là một trong những hình thức của nhóm công ty – tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác
Từ những quan niệm trên đây, có thể hiểu một cách khái quát khái niệm về tập đoàn kinh tế như sau: “Tập đoàn kinh tế là một tập hợp các chủ thể kinh tế, có mối quan hệ sở hữu hoặc liên kết và gắn bó về lợi ích với nhau, hoạt động trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau”
1.2 Đặc điểm chung của tập đoàn kinh tế
Trang 8Mặc dù ở mỗi quốc gia khác nhau thì khái niệm, mô hình của tập đoàn kinh tế cũng khác nhau tuy nhiên các tập đoàn đều có những đặc điểm chung nhất định
1.2.1 Quy mô vốn, doanh thu thường lớn
Quy mô của tập đoàn kinh tế có nhiều khác biệt tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, thời điểm khác nhau, quốc gia khác nhau Tuy chưa thống nhất tiêu chí phân định quy mô vốn, doanh thu, lao động nhưng nói đến tập đoàn kinh tế là
ám chỉ một tổ hợp kinh doanh có quy mô vốn lớn, thậm chí lớn hơn cả tổng sản phẩm quốc dân của một quốc gia
Một điểm đáng lưu ý khi xác định quy mô vốn của một doanh nghiệp lớn, của một tập đoàn kinh tế là cơ cấu hợp thành giá trị Ngoài vốn cố định, vốn lưu động, vốn nhân lực…còn một bộ phận quan trọng là giá trị thương hiệu Ở một số tập đoàn, giá trị thương hiệu chiếm trên 50% tổng giá trị thị trường nhưng lại không nằm trong sổ sách của tập đoàn
Bảng 1.1: Giá trị thương hiệu và giá trị thị trường của một số tập đoàn
Giá trị thương hiệu
tập đoàn với quy mô kinh doanh toàn cầu, chi nhánh ở hàng trăm quốc gia nên doanh thu khổng lồ, chẳng hạn tập đoàn Exxon Mobil doanh thu năm 2008 lên tới 442.851 tỷ USD, tập đoàn Wal-Mart Stores có tổng doanh thu năm 2008 đạt
1
http://www.marketingmagazine.co.uk/news/wide/901385/
Trang 9405.607 tỷ USD, tập đoàn PepsiCo năm 2008 doanh thu đã đạt hơn 43 tỷ USD tương ứng trong đó lợi nhuận lên tới 6,9 tỷ USD 2 Trong top 500 công ty hàng đầu dựa trên doanh thu năm 2007 được tạp chí Fortune bình chọn, tập đoàn Lenovo Group có doanh thu gần thấp nhất, đứng thứ 499 cũng có doanh thu lên tới 16,788
tỷ USD Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh
đa ngành, có mặt ở nhiều quốc gia với rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác nhau Chính điều này đã đem lại doanh thu khổng lồ cho các tập đoàn kinh tế
Riêng tiêu chí lợi nhuận thì không thể coi tiêu chí lợi nhuận trong ngắn hạn là một đặc điểm cơ bản của tập đoàn Thật vậy, thực tế đã chứng minh rằng trong nền kinh tế bất cứ thời điểm nào việc thua lỗ luôn là chuyện bình thường và một tập đoàn có lợi nhuận âm trong vòng vài ba năm chưa nói lên điều gì, thậm chí còn có thể là chiến lược trong kinh doanh Chẳng hạn tập đoàn hùng mạnh General Motors năm 2007 bị thua lỗ 38,732 tỷ nhưng vẫn đứng thứ 9 trong danh mục 500 công ty hàng đầu thế giới năm 2007 (do Fortune bình chọn) Tương tự tập đoàn Ford và tập đoàn Pemex năm 2007 cũng thua lỗ với các con số tương ứng là 2,72 tỷ USD và 1,67 tỷ USD nhưng vẫn đứng khá cao với thứ tự tương ứng là 13 và 42 trong tổng
số 500 công ty hàng đầu thế giới Thậm chí như tập đoàn hai năm liên tiếp thua lỗ như tập đoàn Hitachi: năm 2006 thua lỗ 280 triệu USD, năm 2007 tiếp tục lỗ 509 triệu USD nhưng vẫn có tên trong danh sách 3 Mặc dù lợi nhuận không phải là tiêu chí đặc trưng của các tập đoàn nhưng ngoài những con số cá biệt, hầu hết các tập đoàn đều có lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng ngoạn mục, đồng thời nó làm tăng sức mạnh, vị thế của mỗi tập đoàn trong môi trường cạnh tranh toàn cầu
1.2.2 Lực lượng lao động có số lượng đông đảo, trình độ cao
Về số lượng, theo công bố của Fortune năm 2008 4 tập đoàn Wal-Mart Stores có 2.100.000 lao động, tập đoàn Citigroup có 324,850 lao động Năm 2008, tập đoàn McDonald’s có đến 400.000 lao động, hay tập đoàn P&G với nhiều sản phẩm nổi
Trang 10tiếng cả ở Việt Nam có trên 138.000 lao động Lực lượng lao động của các tập đoàn không bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà phân bổ ở khắp nơi trên thế giới Microsoft, Coca-Cola, PepsiCo…là ví dụ tiêu biểu về tính đa sắc tộc, đa quốc tịch,
đa ngôn ngữ, nhiều màu da của đội ngũ lao động và cán bộ quản lý trong cơ cấu tập đoàn Tính đến tháng 12 năm 2008, tập đoàn PepsiCo có khoảng 185.000 lao động
ở nhiều quốc gia
Về chất lượng, mặc dù đội ngũ lao động được phân bổ ở khắp nơi nhưng nhìn
chung trình độ khá đồng đều thông qua chương trình tuyển dụng chặt chẽ, đào tạo
và đào tạo lại rất bài bản của mỗi tập đoàn Tính chất quốc tế hóa lao động cũng là một điểm đáng chú ý trong hầu hết các tập đoàn hiện nay Đội ngũ cán bộ quản lý trong các tập đoàn là những nhân vất xuất sắc có tác động đến nhiều lĩnh vực kinh
tế xã hội Nếu như Bill Gates ông chủ của tập đoàn quyền lực Microsoft nổi tiếng với câu khẩu hiệu “thế giới trên bàn phím” đã làm thay đổi cách thức làm việc, thói quen trong các giao dịch thông thường qua các sản phẩm phần mềm của mình với khoảng 95% máy tính cá nhân trên toàn thế giới đang sử dụng thì với cái tên McDonal’s, Raymond Kroc không chỉ biến nó thành thương hiệu đắt giá nhất trong ngành công nghiệp ăn uống, mà hơn thế, ông đã xây dựng “văn hóa ẩm thực, phong cách ẩm thực”, làm thay đổi phong cách ăn uống của một bộ phận lớn dân cư với chiến lược toàn cầu hóa và đa dạng hóa sản phẩm của mình
1.2.3 Tập đoàn không có tư cách pháp nhân, nhưng cơ câu tổ chức phức
tạp
Tập đoàn là tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân nhưng bản thân chúng không có tư cách pháp nhân Luật công ty của các quốc gia cũng không sử dụng thuật ngữ “firm”, “enterprise group”, “business group” hay “group” mà chỉ đăng ký là “công ty-company” (từ company trong tiếng Anh tương đương với từ corporate trong tiếng Mỹ) Luật doanh nghiệp 2005 của Việt Nam quan niệm tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn Như vậy tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân mà nó là một tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó nhiều công ty có tư cách pháp nhân Do đó, ngoài những quan hệ về
Trang 11vốn, thị trường, công nghệ, các công ty thành viên trong tập đoàn bình đẳng trước pháp luật, được thành lập, đăng ký theo quy định của pháp luật, được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật có liên quan
Về cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của tập đoàn kinh tế khá đa dạng, không
khuôn mẫu thống nhất Cơ cấu tổ chức được xây dựng trên nền tảng văn hóa, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lược xây dựng và phát triển của mỗi tập đoàn Thông thường, các tập đoàn kinh tế thường được tổ chức theo 3 dạng cơ cấu Cơ cấu thứ nhất là cơ cấu tổ chức hình tháp với đỉnh tháp là trung tâm quyền lực, điều hành mọi hoạt động của tập đoàn, sự phát triển kéo dài theo nhánh (mở rộng đáy hình tháp) nhưng đảm bảo từ trên xuống Cơ cấu thứ hai
là cơ cấu tổ chức phân cấp, các quan hệ thường được phân định và giới hạn theo cấp quản lý như cấp 1 chỉ quản lý cấp 2, cấp 2 chỉ quản lý cấp 3, cấp 1 không can thiệp, quản lý cấp 3 Cơ cấu thứ ba là cơ cấu tổ chức mạng lưới, ban đầu là một trung tâm, phát triển theo sơ đồ mạng lưới, sau đó mỗi nhân tố trong mạng có thể phát triển thành một trung tâm độc lập với đầy đủ các mối quan hệ như trong mạng lưới ban đầu
Cơ cấu điển hình của một tập đoàn bao gồm công ty mẹ nằm ở trung tâm, đóng vai trò điều hành chung có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển trong mỗi tập đoàn Các thành viên trong tập đoàn gồm 3 loại: chặt chẽ, lỏng lẻo và liên kết Thành viên chặt chẽ là những doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với công ty
mẹ về vốn, lợi ích, sản xuất kinh doanh…, thành viên bán chặt chẽ là những doanh nghiệp có quan hệ lợi ích nhất định, tham gia một phần vào hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn, thành viên lỏng lẻo là những doanh nghiệp có quan hệ hợp đồng ổn định lâu dài với công ty mẹ
1.2.4 Phạm vi hoạt động rộng
Tập đoàn kinh tế có phạm vi hoạt động rất rộng, không chỉ giới hạn trong phạm
vi hoạt động của mỗi quốc gia mà có thể phân bố ở nhiều quốc gia trên thế giới, thậm chí trên phạm vi toàn cầu Phạm vi hoạt động cho phép tập đoàn khai thác lợi thế về lao động, nguồn nguyên liệu, thị trường, giảm chi phí vận tải…nhằm tối đa
Trang 12hóa lợi nhuận đồng thời phân tán rủi ro Người tiêu dùng Việt Nam sẽ rất khó tiếp cận với sản phẩm của Coca-cola nếu như tập đoàn này không đầu tư vào Việt Nam
Mở rộng phạm vi là chiến lược của hầu hết các tập đoàn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay bởi qua đó, các tập đoàn tận dụng được lợi thế về lao động, thị trường, tránh được hàng rào thuế quan, tìm được những thị trường giàu tiềm năng, mở rộng thị trường cả đầu vào và đầu ra của sản phẩm với mục tiêu cao nhất
là tăng doanh số và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn Tập đoàn P&G có nhà máy sản xuất tại 80 quốc gia trên thế giới với gần 400 nhãn hiệu sản phẩm được tiêu dùng trên hơn 200 nước trên thế giới 5 Con số này với Tập đoàn McDonald’s năm 2008
là trên 32.000 cửa hàng được phân bổ trên 120 quốc gia Nhìn lại quá trình mở rộng quy mô của các tập đoàn cho thấy việc đầu tư, mở rộng quy mô hoạt động, xây dựng nhà máy, công ty ở nhiều quốc gia trên thế giới là một phương thức truyền thống và khá hiệu quả Nó đã khắc phục được xu hướng giảm sút lợi nhuận của các công ty trong nước (nếu đầu tư tại chỗ, có thể xảy ra cạnh tranh, làm giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư) đồng thời củng cố vị trí của tập đoàn trên thị trường quốc
tế, tăng thị phần với mục tiêu cuối cùng là tăng lợi nhuận
1.2.5 Tập đoàn kinh doanh đa ngành nhưng thường có một ngành chủ
lực
Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực là đặc điểm dễ nhận thấy trong các tập đoàn kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn những năm 70 Tuy nhiên thì vẫn có không ít tập đoàn chỉ hoạt động trong một lĩnh vực hẹp nhằm khai thác lợi thế về chuyên môn,
bí quyết công nghệ mà vẫn thành công như CocaCola, Pepsi Thông thường, mỗi tập đoàn lựa chọn những ngành chủ chốt và những ngành mũi nhọn; ngoài ra, những lĩnh vực mạo hiểm và ngành có liên quan cũng có thể được lựa chọn đầu tư Cùng với những ngành sản xuất, các tập đoàn thường có các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu, đào tạo… nhằm phục vụ sự phát triển của chính những tập đoàn này Mặc dù vậy cũng có những tập đoàn kinh doanh rất đa dạng và các ngành không liên quan nhiều đến nhau Tập đoàn Procter& Gamble với trên 1600
5
http://www.pg.com/en_US/products/all_products/index.shtml
Trang 13sản phẩm độc lập từ kinh doanh sản phẩm hóa phẩm (bột giặt Tide) đến đồ mỹ phẩm (sản phẩm Olay), từ đồ thực phẩm (đồ ăn nhanh Pringles) đến dụng cụ chăm sóc gia đình (dao cạo râu Gillette)…là một ví dụ Tuy nhiên, nhìn chung hầu hết các tập đoàn đều lựa chọn một số ngành chủ lực, đồng thời mở rộng ra những lĩnh vực
có liên quan mật thiết đến lĩnh vực cốt lõi Điều này sẽ khiến cho các tập đoàn có khả năng tập trung nguồn lực thế mạnh của mình để phát triển tốt hơn, tránh được tình trạng đầu tư dàn trải mà hiệu quả lại không cao
Trong giai đoạn đầu, các tập đoàn thường tập trung vào một số ngành chủ đạo, sau đó dần mở rộng các ngành kinh doanh khác Nếu như các tập đoàn kinh tế được hình thành từ các quốc gia châu Á thường khởi đầu bằng thương mại và ngoại thương thì ở Mỹ và châu Âu các tập đoàn thường khởi đầu trong lĩnh vực sản xuất
1.2.6 Quan hệ sở hữu hỗn hợp, phức tạp
Nếu nhìn nhận từ phía chủ thể sở hữu, sẽ không có tiêu chí cụ thể để nhận diện hay phân loại tập đoàn kinh tế, nói cách khác, chúng có thể tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau như sở hữu nhà nước, gia đình, cổ phần Bên cạnh những tập đoàn tư nhân hùng mạnh, một số quốc gia hiện nay vẫn tồn tại mô hình tập đoàn thuộc sở hữu Nhà nước hoặc Nhà nước chiếm sở hữu áp đảo như Tập đoàn BP (Anh), Petronas (Malaysia), Credit Lyonnais (Pháp), Singapore Airline (Singapore) Ở Việt Nam, song song với một số tập đoàn tư nhân phát triển do tích tụ vốn và đa dạng hóa ngành nghề dần dần như FPT, Vincom, Trung Nguyên… thì các tập đoàn
có quyền quyết định thành lập trên cơ sở các tổng công ty 91 trong thời gian qua đều thuộc sở hữu nhà nước Nhìn chung, hầu hết các tập đoàn kinh tế trên thế giới là
sở hữu hỗn hợp Sở hữu hỗn hợp cho phép các tập đoàn phát huy khả năng huy động vốn, linh hoạt trong đầu tư, phân tán rủi ro, tăng năng lực cạnh tranh Mặc dù trong cơ cấu tập đoàn có nhiều chủ sở hữu nhưng thường tồn tại một chủ sở hữu lớn, đóng vai trò công ty mẹ có quyền chi phối các công ty thành viên Chế độ cổ phần
ra đời khắc phục được những hạn chế về quy mô vốn thông qua việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán Ngày nay, sở hữu nhiều chủ diễn ra theo xu hướng tăng số người có cổ phần trong tập đoàn và giảm tỷ trọng sở hữu của từng thành
Trang 14viên trên tổng giá trị và do đó, tập đoàn không còn là chủ sở hữu của một cá nhân hay một quốc gia mà là sở hữu quốc tế, không có quốc tịch ở một quốc gia nhất định
1.2.7 Hình thức liên kết đa dạng song liên kết về vốn mang tính phổ biến
Hình thức liên kết trong tập đoàn có thể là liên kết chặt chẽ, lỏng lẻo tùy thuộc vào lĩnh vực liên kết và mức độ tham gia của các bên Trong các quan hệ liên kết, liên kết vốn giữa công ty mẹ và các công ty con là quan hệ cơ bản Trong quan hệ công ty mẹ - công ty con, quyền và mức độ chi phối của công ty mẹ với công ty con nhận đầu tư vốn được quy định trong điều lệ của công ty con nhưng hầu hết các công ty mẹ nắm giữ quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của công ty con Quyền lợi của công ty mẹ được đảm bảo bằng phần lợi nhuận thu được thông qua tỷ lệ vốn góp
Như vậy tập đoàn được hình thành trên cơ sở liên kết của công ty mẹ với các công ty con trong đó công ty mẹ đóng vai trò hạt nhân Trong trường hợp công ty
mẹ nắm giữ toàn bộ hoặc đa số cổ phần của công ty con thì đơn vị này đương nhiên
là thành viên của tập đoàn và việc tham gia hay không tham gia thành viên của tập đoàn thuộc quyền quyết định của công ty mẹ Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một phần vốn góp của công ty mẹ cũng được xem là thành viên của tập đoàn (liên kết lỏng lẻo) Ngoài ra một số doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ nhưng
có các quan hệ sản xuất, kinh doanh chặt chẽ ổn định thì được xem là thành viên liên kết không có vốn Tuy vậy, các liên kết về vốn trong tập đoàn mang tính phổ biến, chi phối các liên kết khác Điều kiện đảm bảo cho những liên kết đó là sự minh bạch của tài chính, sự phát triển đồng bộ các loại thị trường, đặc biệt là thị trường chứng khoán Động lực thúc đẩy các liên kết là chiến lược ở các cấp độ trong mỗi tập đoàn và lợi ích của các bên tham gia và tập đoàn chỉ thực sự vững mạnh khi lợi ích của thành viên thống nhất với lợi ích của cả tập đoàn
1.3 Đặc điểm của mô hình tập đoàn ở một số quốc gia
Trang 15Ngoài những đặc điểm chung, các tập đoàn kinh tế được hình thành ở những quốc gia khác nhau còn có những nét đặc trưng khác nhau:
Tập đoàn kinh tế ở Trung Quốc:
Tập đoàn kinh tế ở Trung Quốc có nguồn gốc từ các doanh nghiệp Nhà nước, SHNN chiếm tỷ trọng lớn và việc hình thành các tập đoàn kinh tế có sự hỗ trợ tích cực của chính phủ Các tập đoàn có công ty mẹ là doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, khoảng hơn 30% tập đoàn hoàn toàn do nhà nước sở hữu Tập đoàn kinh
tế do nhà nước sở hữu 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối của quốc gia này chi phối hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Tổ chức trong các tập đoàn của Trung Quốc theo thứ bậc khá rõ ràng, liên kết giữa các thành viên chủ yếu thông qua các quan hệ tài chính Bề ngoài tập đoàn của Trung Quốc giống với các tập đoàn khác,
sự khác biệt là cơ cấu tổ chức, hoạt động bằng việc quy định tập đoàn doanh nghiệp (tên gọi khác của công ty mẹ) có tư cách pháp nhân và quyền hạn riêng, do nhà nước thành lập đồng thời nó là phương tiện để nhà nước xây dựng mô hình hiện đại hơn, phù hợp hơn Nhìn chung, tập đoàn kinh tế Trung Quốc là mô hình trong thời
kỳ chuyển
tiếp với các quan hệ khá phức tạp và quy trình quản trị đang dần hoàn thiện
Tập đoàn kinh tế Nhật Bản (Keiretsu)
Keiretsu thường có một ngân hàng đóng vai trò chi phối, kiểm soát hoạt động của cả tập đoàn Các ngân hàng này có vị thế mạnh bởi nắm giữ lượng vốn lớn trong các doanh nghiệp và là chủ nợ lớn Các ngân hàng cũng có thể có cổ phần, có vốn góp có vị trí trong ban giám đốc và có thể có quyền bỏ phiếu Do đặc điểm về văn hóa, việc lựa chọn cán bộ quản lý trong tập đoàn thường được lấy từ nội bộ và được giao quyền khá lớn
Tập đoàn kinh tế Hàn Quốc (Chaebol):
Chaebol xuất phát từ các đặc điểm hình thành, tập đoàn Hàn Quốc có sự thống nhất cao giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh Đây là đặc trưng nổi bật của các tập đoàn Hàn Quốc so với các tập đoàn của các nước công nghiệp phát triển
Trang 16Do thống nhất giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh, các tập đoàn này thiếu sự kiểm soát bên trong và bên ngoài và hầu như không lựa chọn các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài Các quyết định quan trọng của tập đoàn do chủ tịch (thường là cổ đông lớn nhất) ban hành Cách thức điều hành và ra quyết định từ lãnh đạo cấp cao trở nên điển hình, đồng thời hạn chế các quyết định của lãnh đạo cấp trung và cấp thấp
Mô hình tập đoàn Mỹ:
Với việc phân định rõ ràng về quyền sở hữu và quyền quản lý, do đó ban giám đốc có quyền lực lớn trong việc ra các quyết định quan trọng Mô hình này còn được gọi là mô hình một ban – Ban giám đốc, phụ trách các vấn đề ra quyết định, quản lý quyết định, kiểm soát, theo dõi các quyết định, việc giám sát được thực hiện
từ bên ngoài
Mô hình châu Âu:
Khác với mô hình Mỹ, mô hình Châu Âu thường có hai ban: ban giám đốc và ban kiểm soát Mô hình này có đặc điểm nổi bật là cơ cấu tập trung (số lượng lớn cổ phần thuộc sở hữu của các gia đình) với việc đề cao vai trò của người lao động và ngân hàng (đại diện của người lao động) chiếm từ 1/3 đến một nửa trong ban giám sát, đại diện của ngân hàng chiếm 1/5, những người này thường nắm giữ ban giám sát)
1.4 Vai trò của các tập đoàn kinh tế
Vai trò của tập đoàn ngày nay thể hiện không chỉ ở quyền lực kinh tế mà còn ở quyền lực phi kinh tế Các tập đoàn kinh tế đang chi phối sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung cũng như kinh tế mỗi quốc gia nói riêng và vai trò của chúng ngày càng trở nên quan trọng
1.4.1 Góp phần phát triển sức mạnh kinh tế của quốc gia
Vai trò đầu tiên phải kể đến là tập đoàn đóng góp một phần không nhỏ trong việc tạo lập sức mạnh kinh tế của quốc gia Điều này không chỉ thể hiện ở tỷ trọng đóng góp trong GDP hay số thuế nộp vào ngân sách mà còn thể hiện thông qua
Trang 17những sản phẩm đặc trưng Rất khó thống kế hết những phiên bản điều hành Windows của tập đoàn phần mềm Microsoft nhưng khi nói đến hãng này người ta nghĩ ngay đến nước Mỹ Tương tự như vậy khi nói đến Nhật Bản là nói đến ngành công nghiệp điện lạnh, ô tô; nhắc đến Phần Lan là nói đến tập đoàn Nokia; Hàn Quốc là tập đoàn Daewoo, SamSung, Huyndai… Những sản phẩm đặc trưng, những tập đoàn lớn đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển thương hiệu quốc gia, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển như hiện nay Sự lớn mạnh của tập đoàn kinh tế đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia thông qua hàng loạt tác động của chúng như thúc đẩy tiến bộ công nghệ, tạo nhiều việc làm mới, đóng góp ngày càng tăng vào GDP và ngân sách
1.4.2 Chi phối thị trường tài chính
Các tập đoàn kinh tế, đặc biệt các tập đoàn lớn còn chi phối thị trường tài chính, thông qua các hoạt động đầu tư và hàng loạt các giao dịch với khối lượng lớn Thậm chí, nhiều thị trường tài chính biến đổi phụ thuộc vào động thái của một nhóm công
ty lớn Chẳng hạn như chỉ số Dow Jones trên thị trường chứng khoán New York lớn nhất thế giới là do hoạt động của 30 tập đoàn, công ty lớn chi phối
Trang 181.4.3 Huy động lượng vốn đáng kể
Mô hình tập đoàn kinh tế cho phép huy động vốn từ các công ty độc lập, một mặt tạo nên sức mạnh tổng hợp, mặt khác khắc phục những hạn chế về quy mô vốn của các công ty riêng lẻ Nguồn vốn của tập đoàn kinh tế thường được tập trung tại công ty tài chính sẽ tạo thuận lợi trong việc thực hiện chiến lược phát triển chung, giúp đầu tư vào những dự án hiệu quả nhất nhằm đem lại lợi nhuận tối đa Với phương thức quản lý vốn linh hoạt, hầu hết tập đoàn kinh tế dễ dàng huy động vốn
để thực hiện chiến lược đầu tư, đồng thời cũng nhanh chóng rút vốn ở các dự án đầu
tư không hiệu quả Bên cạnh đó, mô hình tập đoàn kinh tế còn tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa các công ty thành viên thông qua những hình thức liên kết đa dạng, đầu tư vốn hay hợp tác sản xuất, qua đó phát huy hiệu quả của từng hoạt động của mỗi công ty cũng như trong cả tập đoàn
1.4.4 Triển khai khoa học công nghệ
Tập đoàn kinh tế còn thể hiện vai trò quan trọng trong nghiên cứu triển khai, ứng dụng những thành tựu khoa học, chuyển hóa những kết quả nghiên cứu thành hàng hóa Chỉ những tập đoàn kinh tế có tiềm lực tài chính mạnh đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu và trang thiết bị hiện đại mới có thể đầu tư nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng
và nhanh chóng đưa những kết quả nghiên cứu đó vào sản xuất trên một quy mô rộng lớn Nhìn vào sự phát triển của sản phẩm điện thoại di động hoặc máy tính cá nhân sẽ thấy, nếu không phải là những tập đoàn hùng mạnh như Microsoft hay Nokia, Samsung…thì rất khó có thể liên tục đưa ra các sản phẩm mới với những ứng dụng và tiện ích luôn được cải tiến, phù hợp với nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng
1.4.5 Thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
Các tập đoàn kinh tế với sự bành trướng rộng rãi ở khắp các khu vực trên thế giới đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới Với việc mở rộng quy mô, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ra khỏi biên giới quốc gia, các tập đoàn đã tạo nên sự dịch chuyển các nguồn lực, gia tăng đầu tư nước ngoài đồng thời thúc đẩy thương mại quốc tế
Trang 19Chính điều này đã tạo tiền đề cho các cho quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới nhằm loại bỏ rào cản kinh tế và tận dụng được sức mạnh của các tập đoàn tại các quốc gia khác nhau Khi năng lực sản xuất lớn, thị trường nội địa không còn phù hợp với quy mô sản xuất thì những thị trường mới luôn là một trong những sự lựa chọn hàng đầu để các tập đoàn kinh tế khai thác Trao đổi thương mại và đầu tư nước ngoài là một trong những biện pháp khai thác hiệu quả nhất Qua trao đổi thương mại nội bộ giữa các thành viên trong tập đoàn ở những khu vực khác nhau trên thế giới, giá trị thương mại quốc tế được tạo ra là rất lớn Ngoài ra, mở rộng và phát triển chi nhánh ở nước ngoài của các tập đoàn kinh
tế thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng góp phần không nhỏ thúc đẩy xuất khẩu của các nước nhận FDI, nhất là đối với các nước đang phát triển Ở Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài FDI luôn cao hơn các doanh nghiệp nội địa đã cho thấy khá rõ vai trò này của các các tập đoàn kinh tế Cùng với quá trình này, các tập đoàn kinh tế đã thúc đẩy tiến trình tự do hóa đầu tư và từng bước gỡ bỏ những rào cản về đầu tư
1.4.6 Đào tạo nguồn nhân lực và tạo việc làm
Thông qua các dự án đầu tư, các tập đoàn kinh tế đã tạo ra hàng loạt việc làm cho người lao động không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trên phạm vi quốc tế Ngoài ra cùng với sự phát triển lớn mạnh của các tập đoàn, nhu cầu về một nguồn nhân lực chất lượng cao lại ngày càng trở nên cấp thiết hơn, nhờ vậy việc đào tạo nguồn nhân lực cũng trở thành một yêu cầu cấp bách Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, tác động của các tập đoàn kinh tế còn có ý nghĩa to lớn hơn đối với phát triển lực lượng lao động, nhất là đội ngũ lao động kỹ thuật và cán bộ quản lý
Về chất lượng đào tạo, thông thường các tập đoàn kinh tế đào tạo thông qua thực tiễn hoạt động và môi trường làm việc hiện đại nên thường có chất lượng tốt hơn Ngoài ra, các tập đoàn kinh tế còn tài trợ cho các chương trình đào tạo nghề, phát triển kỹ năng hay trình độ quản lý Những khoản tài chính khá lớn của các tập đoàn như Unilever, Procter & Gamble hay Coca-Cola cho các chương trình đào tạo ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy rõ điều này
Trang 201.4.7 Chuyển giao công nghệ
Nhằm đảm bảo vai trò và vị thế trên thị trường thế giới, các tập đoàn kinh tế thực hiện nhiều chiến lược, trong đó có chiến lược chuyển giao công nghệ, một mặt duy trì ảnh hưởng của chính các tập đoàn trên phạm vi toàn cầu, mặt khác chúng đã tác động mạnh đến các nước tiếp nhận công nghệ, đặc biệt các nước đang phát triển Chính những biện pháp chuyển giao và trình độ công nghệ được chuyển giao đã đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật tiên tiến, phương pháp quản lý hiện đại đối với các quốc gia tiếp nhận công nghệ, từng bước nâng cao mặt bằng công nghệ trên phạm vi toàn cầu
1.5 Tác động tiêu cực của các tập đoàn kinh tế
Trên thực tế ngoài một số vai trò tích cực, các tập đoàn kinh tế vẫn còn có tác động tiêu cực đến nền kinh tế chẳng hạn như tình trạng độc quyền hay lũng đoạn thị trường Với tiềm lực tài chính mạnh, một số tập đoàn lớn đã liên tục mở rộng quy
mô, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, sử dụng triệt để phương thức mua lại và sát nhập nên đã thâu tóm được khá nhiều doanh nghiệp trong đó có cả đối thủ cạnh tranh đồng thời cũng nắm giữ thêm được một lượng thị phần không nhỏ từ các doanh nghiệp này Chính điều đó đã dẫn đến tình trạng độc quyền kinh doanh, hạn chế cạnh tranh lành mạnh và gây cản trở cho sự phát triển kinh tế thế giới Ngoài ra, khi có được sự độc quyền trong tay các tập đoàn lớn sẽ có đủ điều kiện, yếu tố thao túng thị trường gây thiệt hại cho nền kinh tế
2 Phân loại mô hình tập đoàn kinh tế
2.1 Căn cứ trình độ liên kết
2.1.1 Liên kết cứng
Liên kết cứng là loại liên kết được hình thành trên cơ sở các công ty thành viên kết hợp chặt chẽ với nhau trong một tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sở hữu, về hình thức tổ chức cũng như về sản xuất và thương mại Loại mô hình tập đoàn này không chỉ hợp nhất các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm mà cả những doanh nghiệp có liên quan với nhau về quy trình công nghệ của
Trang 21sản phẩm, bổ sung cho nhau trong quá trình gia công chế biến liên tục, hoặc chế biến lại nhằm tập trung hóa tư bản, tăng quy mô lợi nhuận và khả năng cạnh tranh Loại mô hình này là loại đa sở hữu theo kiểu công ty cổ phần với sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu khác nhau
2.1.2 Liên kết mềm
Liên kết mềm là liên kết được hình thành trên cơ sở mối liên kết của các công ty của nhiều chủ sở hữu khác nhau, thuộc cùng ngành sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận độc quyền, phân chia thị trường tiêu thụ và tăng cường địa vị cạnh tranh của các công ty trong tập đoàn với các đối thủ khác ngoài tập đoàn, thông qua những hiệp ước và hợp đồng kinh tế Các công ty thành viên ký kết hợp đồng thỏa thuận với nhau về những nguyên tắc chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh như xác định quy mô sản xuất, quy định giá cả, thị trường tiêu thụ, hợp tác nghiên cứu và trao đổi bằng phát minh sáng chế…Về tổ chức, mô hình tập đoàn này thường có ban quản trị điều hành, phối hợp các hoạt động của tập đoàn theo một đường lối chung thống nhất, nhưng các công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về tổ chức sản xuất và thương mại
2.1.3 Liên kết tài chính
Mô hình tập đoàn được hình thành do các công ty thành viên ký các hiệp định về tài chính hình thành một công ty tài chính chung gọi là Holding company Công ty này trở thành công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Tuy nhiên, ngày nay các tập đoàn này cũng mở rộng sự thống nhất cả trong hoạt động sản xuất thương mại dịch vụ Đây là hình thức phát triển cao nhất của tập đoàn kinh tế bởi sự thống nhất về tài chính và kiểm soát tài chính là cơ sở hình thành mô hình tập đoàn này
2.2 Căn cứ theo biểu hiện của liên kết
2.2.1 Mô hình tập đoàn theo liên kết ngang
Các tập đoàn liên kết những công ty cùng ngành ví dụ như Cartel, Syndicate, Trust, Keiretsu…hay còn gọi là liên kết ngang, là sự kết hợp các công ty hoạt động trong cùng một ngành sản xuất kinh doanh, nhất là trong những ngành có mức độ
Trang 22cạnh tranh cao và những doanh nghiệp có ưu thế sẽ nắm vai trò chủ đạo Các doanh nghiệp thỏa hiệp với nhau để ấn định giá cả, chia sẻ thị trường hoặc định mức sản lượng để hạn chế cạnh tranh và tăng lợi nhuận, ở mức cao hơn các công ty sẽ mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp khác đang là đối thủ cạnh tranh Tập đoàn United State Steel năm 1901 đã hợp nhất các nhà sản xuất thép của Mỹ để thâu tóm khoảng 65% sản lượng thép của Mỹ và thống nhất hoàn toàn về giá thép, kiểm soát tuyệt đối trên thị trường ngành thép vào những năm 20 của thế kỷ trước 6
Hiện nay, mô hình này không còn phổ biến trong các nước tư bản phát triển do nhu cầu của thị trường hết sức đa dạng, phong phú và biến đổi nhanh chóng nên mô hình này khó đem lại hiệu quả cao, nguồn vốn thì tập trung vào một ngành nên thường có rủi ro lớn Mặt khác, mô hình này còn tạo ra sự độc quyền ngăn cản cạnh tranh nên đã bị sự ngăn cấm và hạn chế của các Chính phủ các nước
2.2.2 Mô hình tập đoàn theo liên kết dọc
Mô hình tập đoàn theo liên kết dọc hay còn gọi là liên kết giữa các doanh nghiệp không cùng ngành là liên kết giữa các công ty trong cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất mà ở đó mỗi công ty đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó Trong tập đoàn này sự liên kết đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau, nhưng có mối liên quan chặt chẽ đến nhau Quan hệ giữa các doanh nghiệp thành viên chủ yếu là theo quy trình công nghệ và cung ứng sản phẩm cho nhau Sự liên kết này thường dẫn đến phát triển ngành nghề theo chiều sâu, tạo điều kiện để các tập đoàn củng cố vị trí cạnh tranh, nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp hiện hữu hơn
Hiện nay, loại hình tập đoàn này vẫn còn phổ biến với tên gọi như Concern, Conglomerate, Chaebol…Các tập đoàn này chỉ phát triển và hoạt động có hiệu quả khi có đủ những điều kiện cần thiết về môi trường kinh tế, khoa học – công nghệ và trình độ quản lý, đặc biệt phải có thị trường chứng khoán phát triển, có hệ thống thông tin toàn cầu và khả năng xử lý tổng hợp những thông tin về thị trường, đầu
6
Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa/ Vũ Huy Từ ch.b - H.: Chính trị quốc gia,
2002
Trang 23tư…Do vậy mô hình này chỉ có thể phát triển ở các tập đoàn về lĩnh vực sản xuất và thương mại
2.2.3 Mô hình tập đoàn theo liên kết hỗn hợp
Đây là liên kết giữa các tập đoàn không cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh, không có mối liên hệ với nhau về quy trình sản xuất hay cung ứng sản phẩm nhằm bổ sung lợi thế cho nhau Trên thực tế hiện nay, ngày càng xuất hiện thêm nhiều sự kết hợp của các mô hình kinh tế với liên kết ngang và dọc, nó bao gồm nhiều thực thể kinh tế hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Từ đó, hình thành các kiểu liên kết đa ngành, đa lĩnh vực hết sức phong phú Ngày nay, một tập đoàn kinh tế mạnh thường có cơ cấu sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề, kể cả các ngành không liên quan đến nhau Có thể thấy
mô hình tập đoàn này đang ngày càng được ưu chuộng và trở thành xu hướng chính hiện nay bởi nó khắc phục được những hạn chế của hai mô hình trên và vừa tận dụng được nền tảng sẵn có của các doanh nghiệp cùng ngành lại vừa mở ra cơ hội thâm nhập vào các lĩnh vực mới Cơ cấu của nó thường gồm một ngân hàng hay một công ty tài chính lớn, một công ty thương mại và các công ty sản xuất công nghiệp
2.3 Căn cứ theo tính chất sở hữu:
Nhiều tập đoàn tư bản lớn ngày nay có nguồn gốc từ những công ty sở hữu gia đình Từ sở hữu của từng tư bản cá biệt chúng chuyển dần thành sở hữu của tập thể các nhà tư bản độc quyền Nói chung chúng vẫn mang sắc thái của sở hữu tư nhân nhưng lại gắn bó rất chặt chẽ với chính phủ các nước, thông thường đại diện cho sức mạnh kinh tế của nước đó Thứ nhất là bởi vì bản thân các nhà tư bản lớn là những đại diện cho Chính phủ tư bản Thứ hai, sự phát triển của chúng phụ thuộc chặt chẽ vào chính sách kinh tế của các Chính phủ này như những lực lượng vật chất quan trọng, đảm bảo khả năng canh tranh và sức mạnh kinh tế của nước đó Hiện nay, mô hình hỗn hợp dưới dạng công ty cổ phần là một mô hình được ưa chuộng vì nó đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thời nó cũng phản ánh được lợi ích của nhiều bên tham gia trong tập đoàn đó
Trang 242.4 Căn cứ theo cơ cấu tổ chức
2.4.1 Mô hình tập đoàn theo cấu trúc hợp nhất( Unitary Structure)
Mô hình theo cấu trúc hợp nhất thường được tổ chức theo liên kết công ty mẹ - công ty con Hình 1.1 mô tả mối liên kết trong cơ quan đầu não của tập đoàn, được
tổ chức tại công ty mẹ Đặc điểm nổi bật của mô hình hợp nhất là trung tâm điều hành quyết định các vấn đề quan trọng như chiến lược, thị trường, giá cả, sản phẩm, đối với các công ty con và với cả tập đoàn Trung tâm điều hành có ban giám đốc và các phòng ban chức năng phụ trách từng lĩnh vực chuyên biệt như tài chính, kỹ thuật, thị trường…
Hình 1.1: Tập đoàn theo cấu trúc hợp nhất
Mô hình cấu trúc hợp nhất có tính chất tập trung quyền lực cao độ, đảm bảo tính thống nhất trong các hoạt động của cả tập đoàn nhưng hạn chế tính độc lập của các công ty con Do tính chất tập trung quyền lực trong chỉ đạo và điều hành nên mô hình này phù hợp với các tập đoàn nhỏ, mới hình thành hoặc các công ty trong tập đoàn hoạt động trong phạm vi hẹp hoặc trong những lĩnh vực chuyên biệt Ngày nay, rất ít các tập đoàn kinh tế tổ chức theo mô hình này bởi những hạn chế về tính linh hoạt, khả năng thích ứng trong bối cảnh biến động của thị trường cũng hạn chế vai trò của các công ty con
Trang 252.4.2 Mô hình tập đoàn theo cấu trúc công ty mẹ nắm giữ vốn (Holding
Structure)
Mô hình tập đoàn theo cấu trúc công ty mẹ nắm giữ vốn thường được tổ chức theo liên kết công ty mẹ - công ty con, trung tâm điều hành của tập đoàn được tổ chức tại công ty mẹ Tuy nhiên trong mô hình này, trung tâm điều hành không can thiệp sâu cào hoạt động của các tổng công ty mà chỉ thực hiện các chức năng định hướng, điều phối những vấn đề quan trọng của cả tập đoàn Công ty mẹ và các công
ty con trong mô hình này đều có tư cách pháp nhân, hoạt động tương đối độc lập về tài chính và kinh doanh Đặc điểm cốt lõi của mô hình tập đoàn theo cấu trúc công
ty mẹ nắm vốn là không có sự can thiệp trực tiếp từ công ty mẹ, công ty mẹ chi phối hoặc không chi phối dựa trên tỷ lệ vốn góp Tùy trường hợp cụ thể (phụ thuộc vào vốn góp của công ty mẹ) mà công ty mẹ có hoặc không có đại diện của mình trong hội đồng quản trị nhưng nhìn chung, quan hệ được thiết lập trên cơ sở đầu tư vốn Công ty con hoạt động độc lập nhưng nếu không hiệu quả hoặc không phù hợp với lợi ích chung của tập đoàn thì quan hệ có thể chấm dứt bằng việc công ty mẹ rút vốn ở công ty con Mô hình này phù hợp với những tập đoàn có năng lực tài chính dồi dào, có công ty tài chính hoặc ngân hàng nằm trong công ty mẹ, tuy nhiên trong những năm gần đây việc các quốc gia thực hiện luật chống độc quyền cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức tài chính đã ảnh hưởng không nhỏ đến mô hình tài chính này Hiện nay nhiều tập đoàn theo cấu trúc công ty mẹ nắm vốn đã chuyển sang mô hình phù hợp hơn với mô hình tập đoàn đa trung tâm
Hình 1.2 : Mô hình tập đoàn theo cấu trúc công ty mẹ nắm vốn
CTC
Trang 262.4.3 Mô hình tập đoàn theo cấu trúc đa trung tâm (Multi – divisional)
Đặc điểm nổi bật của mô hình đa trung tâm (còn gọi là cấu trúc hỗn hợp) là sự kết hợp giữa tính chất tập trung quyền lực trong chỉ đạo, điều hành những vấn đè quan trọng và tính chất phân quyền trong các hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể
Hình 1.3: Mô hình tập đoàn theo cấu trúc đa trung tâm
Trung tâm điều hành của tập đoàn được tổ chức tại công ty mẹ với cơ cấu bao gồm hội đồng quản trị và các phòng ban chức năng phụ trách những vấn đề quan trọng như chiến lược, điều phối các hoạt động chung của cả tập đoàn Các công ty con được phân quyền khá lớn, hoạt động tương đối độc lập về tài chính, kinh doanh
và chịu sự giám sát của các phòng ban chức năng Như vậy mô hình tập đoàn theo cấu trúc đa trung tâm một mặt tạo tính thống nhất, tập trung trong việc thực hiện chiến lược phát triển tổng thể, định hướng phát triển chung của cả tập đoàn, mặt
Trang 27khác vẫn đảm bảo được tính độc lập trong các hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các công ty con
Với đặc điểm vừa đảm bảo tính tập trung, vừa đảm bảo phân quyền một cách khoa học, phù hợp, mô hình tập đoàn đa trung tâm có thể phát huy thế mạnh về vốn, thị trường, tiềm lực công nghệ…đồng thời khai thác được tính độc lập, linh hoạt, chủ động của các công ty con Cấp lãnh đạo cao nhất của tập đoàn chỉ tập trung vào những quyết định chiến lược, dài hạn, các hoạt động kinh doanh cụ thể được phân quyền cho các công ty con chủ động thực hiện Với những lợi thế đó, mô hình này hiện được nhiều các tập đoàn trên thế giới áp dụng và trở nên rất phổ biến hiện nay
2.5 Căn cứ theo quan hệ đầu tư
Ngoài những mô hình chủ yếu của các tập đoàn kinh tế dưới góc độ mô hình tổ chức và cơ chế quản lý, nhìn nhận dưới góc độ sở hữu, cơ chế đầu tư, quản lý vốn, quan hệ công ty mẹ - công ty con trong tập đoàn có thể phân loại theo 3 hình thức với đặc điểm cụ thể:
2.5.1 Quan hệ đầu tư xuôi
Quan hệ đầu tư xuôi là quan hệ đầu tư mà trong đó công ty mẹ đầu tư vào công
ty con, quan hệ đầu tư này có thể kéo dài theo chuỗi tương ứng với mô hình tổ chức của mỗi tập đoàn Quan hệ đầu tư xuôi gồm hai loại loại Thứ nhất, công ty mẹ đầu
tư vào công ty con trực tiếp (công ty con cấp 1), công ty này tiếp tục đầu tư vào vào công ty con cấp 2…; Thứ hai, công ty mẹ vừa đầu tư vào công ty con cấp 1, vừa đầu tư vào công ty con cấp 2 (không thuộc cấp dưới trực tiếp) Đặc điểm nổi bật của quan hệ đầu tư xuôi là sự chi phối trực tiếp của công ty cấp trên (công ty đầu tư) với công ty cấp dưới (công ty nhận đầu tư), với thứ bậc được phân định khá rõ ràng, mối liên hệ khá chặt chẽ và công ty mẹ có thể kiểm soát chặt toàn bộ hoạt động của tập đoàn Đây là dạng đơn giản trong cấu trúc tài chính của tập đoàn, trên thực tế, mối quan hệ này thường đa dạng và phức tạp hơn
2.5.2 Quan hệ đầu tư ngang
Trang 28Ngoài quan hệ đầu tư xuôi vốn là đặc trưng của môi liên kết tài chính trong mỗi tập đoàn, quan hệ đầu tư ngang của các công ty con cùng cấp tạo mối quan hệ chặt chẽ hơn, đồng thời hạn chế việc các công ty bên ngoài kiểm soát các công ty thành viên Đặc điểm của quan hệ đầu tư ngang là một công ty con có thể trở thành công
ty mẹ của một công ty đồng cấp, hoặc cũng có thể trở thành công ty con của cả công
ty mẹ và công ty đồng cấp, tạo mối liên kết và kiểm soát nhiều chiều trong nội bộ tập đoàn
2.5.3 Quan hệ đầu tư chéo, ngược
Bên cạnh quan hệ đầu tư xuôi, đầu tư ngang, quan hệ đầu tư ngược, đầu tư chéo phản ánh trình độ phát triển của các tổ chức tài chính và mối quan hệ đan xen của các hình thức sở hữu Biểu hiện của quan hệ đầu tư ngược là công ty cấp dưới có thể đầu tư trở lại đối với công ty cấp trên trực tiếp (công ty mẹ) hoặc công ty cùng cấp với công ty mẹ trực tiếp, chẳng hạn một công ty con cấp 3 có thể đầu tư trở lại đối với công ty mẹ trực tiếp (cấp 2) hoặc đầu tư đối với công ty cấp 2 khác cùng cấp với công ty mẹ Đầu tư chéo biểu hiện bằng việc một công ty không chỉ đầu tư đối cới công ty con trực tiếp mà có thể đầu tư đối với công ty con của một công ty cùng cấp khác, chẳng hạn công ty cấp 2 đầu tư đối với công ty cấp 3 trực tiếp và có thể đầu tư đối với công ty cấp 3 không trực tiếp (công ty này thuộc cấp dưới trực tiếp của một công ty cấp 2 đồng cấp)
Hình 1.4 Mối quan hệ đầu tư trong tập đoàn kinh tế
Trang 29Chú thích:
Quan hệ đầu tư xuôi Quan hệ đầu tư ngược
Quan hệ đầu tư ngang Quan hệ đầu tư chéo
Quan hệ đầu tư vượt cấp
Về mặt lý thuyết, các quan hệ đầu tư có thể phân định dưới 3 hình thức nêu trên nhưng trên thực tế, ít có tập đoàn kinh tế nào áp dụng cứng nhắc một trong các hình thức đó, quan hệ đầu tư được thiết lập trên cơ sở lợi ích giữa các thành viên và lợi ích chung của cả tập đoàn Với sự phát triển mạnh của thị trường tài chính, các tập đoàn hiện nay thường áp dụng cả 3 hình thức quan hệ nêu trên, tạo nên một mối quan hệ đầu tư đan xen với cấu trúc sở hữu hỗn hợp Công ty mẹ đầu tư, chi phối các công ty con trực tiếp (cấp 1), đồng thời cũng kiểm soát một số các công ty con tiếp theo (cấp 2); các công ty con cùng cấp đầu tư và kiểm soát lẫn nhau; Công ty con đầu tư xuôi đối với các công ty cấp dưới trực tiếp hoặc chéo đối với công ty cấp dưới không trực tiếp; công ty con đầu tư ngược trở lại đối với công ty cấp trên trực tiếp hoặc không trực tiếp
Kết quả của các quan hệ đầu tư đan xen là các công ty có mối quan hệ chặt chẽ trên cơ sở đầu tư vốn Mỗi công ty trong tập đoàn có thể chịu sự chi phối của một hoặc một số công ty khác đồng thời cũng có thể chi phối một số công ty nào đó Một công ty cụ thể có thể vừa là công ty mẹ, vừa là công ty con, vừa đi đầu tư, vừa nhận đầu tư, kể cả đối với công ty mẹ của mội tập đoàn Sự phát triển cao độ của thị trường tài chính và mối quan hệ đan xen có thể tạo ra những công ty mẹ của tập đoàn là công ty con, chịu sự chi phối của một số công ty khác Mô hình này được gọi là tập đoàn trong tập đoàn
3 Con đường và xu hướng hình thành các tập đoàn kinh tế
3.1 Điều kiện hình thành các tập đoàn kinh tế
Là tổ hợp kinh doanh quy mô lớn, tập đoàn kinh tế là kết quả của tích tụ, tập trung sản xuất và các liên kết giữa các pháp nhân Vì vậy, tập đoàn kinh tế được hình thành và phát triển trong những điều kiện nhất định
Trang 303.1.1 Điều kiện từ môi trường
3.1.1.1 Trình độ xã hội hóa sản xuất:
Lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ nhất định đòi hỏi các quan hệ sản xuất phải được xã hội hóa Xã hội hóa sản xuất một mặt phản ánh sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất, đồng thòi tạo điều kiện để mỗi doanh nghiệp đa dạng hóa sở hữu, mở rộng phạm vi và lĩnh vực kinh doanh, tăng cường hợp tác dưới nhiều hình thức Sản xuất được xã hội mạnh mẽ thúc đẩy cạnh tranh ngày càng gay gắt Cạnh tranh có tác động trở lại, làm cho xã hội hóa sản xuất đạt trình độ cao hơn Với điều kiện đó, mỗi doanh nghiệp cần tạo lập các liên kết kinh tế, nâng cao năng lực…từng bước đáp ứng được yêu cầu về vốn, về tập trung sản xuất, về thị trường…,đồng thời đòi hỏi lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp, từ đó thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế
3.1.1.2 Liên kết kinh tế:
Liên kết kinh tế là quá trình vận động khách quan phụ thuộc vào trình độ, phạm
vi phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất vào sự phát triển các quan hệ kinh
tế của mỗi doanh nghiệp, và lợi ích của các bên tham gia Có thể nói, tập đoàn kinh
tế thực chất là tổ hợp các liên kết kinh tế với tính chất, trình độ, cấp độ của các liên kết phản ánh trình độ các quan hệ sản xuất Mỗi cấp độ liên kết thường có mô hình kinh doanh tương ứng, liên kết đến một cấp độ nhất định (các chủ thể ngày càng gắn bó trên cơ sở tự nguyện, xuất phát từ lợi ích) đòi hỏi mô hình kinh doanh tương ứng Như vậy, các liên kết kinh tế là tiền đề để hình thành các tập đoàn kinh tế, các tập đoàn kinh tế ra đời thúc đẩy các liên kết cả ở trình độ, cấp độ và các hình thức biểu hiện
3.1.1.3 Trình độ phát triển của kinh tế thị trường:
Nền kinh tế thị trường phải đạt đến một trình độ nhất định, các quy luật cơ bản của thị trường cũng như cung cầu, cạnh tranh, giá cả…phải được tôn trọng Các nguồn lực được phân bổ tối ưu dựa trên nguyên tắc thị trường, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt của thị trường trong nước, có sự liên kết chặt chẽ giữa thị trường
Trang 31trong nước và thị trường quốc tế, từng bước hoàn thiện và đồng bộ hóa các loại thị trường, trước hết là những thị trường chủ yếu như thị trường vốn, lao động, khoa học, công nghệ, bất động sản…Thị trường phát triển đến một trình độ nhất định vừa
là các điều kiện hình thành các tập đoàn kinh tế, vừa là yếu tố tác động để chúng từng bước hoàn thiện và phát triển
3.1.2 Điều kiện từ bản thân các doanh nghiệp
Với con đường phát triển truyền thống, các doanh nghiệp cần đạt trình độ nhất định về vốn, thị phần, năng lực sản xuất, trình độ quản lý Khi đã đạt đến trình độ cần thiết, điều kiện cần thiết để hình thành các tập đoàn kinh tế là việc thiết lập các liên kết giữa công ty mẹ với các doanh nghiệp thành viên Quá trình thiết lập liên kết này được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau nhưng phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định như tự nguyện, hợp tác cùng có lợi…Đối với các quốc gia lựa chọn con đường hình thành các tập đoàn kinh tế với sự can thiệp mạnh của chính phủ, các điều kiện bên trong của mỗi tập đoàn cần được tính toán kỹ lưỡng, bao gồm quy mô vốn của công ty mẹ và của cả tập đoàn, trình độ tích tụ, tập trung sản xuất của đối tượng lựa chọn, tính chặt chẽ trong các liên kết; số lượng công ty con,
tư cách pháp nhân của công ty con…Ngoài ra, các điều kiện về nhân lực, bộ máy quản lý, trình độ quản lý kinh doanh mũi nhọn, trình độ khoa học, công nghệ cũng
là những nội dung quan trọng cần xem xét khi hình thành tập đoàn kinh tế
3.1.3 Điều kiện từ Chính phủ
Chính phủ phải đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường chính trị - xã hội nhằm tạo lập nền tảng cần thiết cho các tập đoàn kinh tế ra đời và hoạt động Bên cạnh đó, chính phủ cần ban hành các quy định và chính sách liên quan đến hình thành và phát triển các tập đoàn trong từng giai đoạn khác nhau Ngoài ra, lựa chọn cơ chế quản lý phù hợp, vừa đảm bảo thực hiện được chức năng quản lý của chủ thể, vừa thúc đẩy các tập đoàn phát triển cũng là điều kiện cần thiết cho mô hình này ra đời và hoạt động Đối với các quốc gia lựa chọn con đường hình thành tập đoàn kinh tế trên cơ sở tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp Nhà nước, lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn sẽ xây dựng cần được lựa chọn kỹ lưỡng, phù hợp với
Trang 32chiến lược phát triển quốc gia, phát huy được lợi thế của ngành, phù hợp với nguyên tắc và thông lệ quốc tế
Với những điều kiện nhất định, khi xuất hiện một doanh nghiệp hạt nhân với vai trò công ty mẹ và các doanh nghiệp xung quanh nó, có mối quan hệ dưới nhiều hình thức thì tập đoàn kinh tế ra đời Khi công ty mẹ duy trì được các mối quan hệ với các doanh nghiệp bao quanh nó bằng các hình thức góp vốn, liên kết, hợp đồng…nghĩa là tập đoàn đang tồn tại Khi công ty mẹ chấm dứt các quan hệ nêu trên, trong tổ hợp không xuất hiện công ty mẹ khác thì đồng nghĩa với việc phá sản hay giải thể tập đoàn
3.2 Con đường hình thành các tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, đáp ứng sự phát triển của kinh tế thế giới Song bên cạnh đó, các tập đoàn còn hình thành nhờ sự hỗ trợ từ phía Chính phủ nhằm rút ngắn thời gian hình thành và phát triển Có thể khái quát hai con đường chủ yếu hình thành các tập đoàn kinh tế:
Thứ nhất, tập đoàn kinh tế được hình thành bằng con đường truyền thống
Thông qua tích tụ, tập trung vốn, các doanh nghiệp từng bước mở rộng sản xuất, tái đầu tư, mở rộng quy mô, lĩnh vực hoạt động, tăng vốn, mở rộng phạm vi… từng bước chiếm lĩnh thị trường Nhu cầu liên kết trên nguyên tắc tự nguyện, đảm bảo lợi ích của mỗi doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh hoặc yêu cầu đầu tư lớn mà bản thân mỗi thành viên đơn lẻ không đủ năng lực thực hiện cũng là nhân tố thúc đẩy tập đoàn kinh tế ra đời Nhìn chung, tập đoàn kinh tế được hình thành theo con đường truyền thống bằng một trong các cách thức sau Đầu tiên là các doanh nghiệp đang hoạt động kết hợp lại với nhau bằng cách bán cổ phần cho một công ty mới lập (thường gọi là công ty nắm vốn) Công ty này say khi đã thanh toán cho các doanh nghiệp đã bán cổ phần cho mình, trở thành công ty nắm giữ phần vốn của từng doanh nghiệp, tham gia điều hành đối với mỗi doanh nghiệp ở mức độ khác nhau Công ty nắm vốn trở thành công ty mẹ, các công ty nhận vốn trở thành các công ty con, việc góp vốn trả tiền được thực hiện trên văn bản, do các chủ nhân của các công ty con quyết định với nhau Thứ hai là một doanh nghiệp có quy mô lớn,
Trang 33tiềm lực mạnh về vốn, công nghệ…thực hiện đầu tư vốn để các công ty con chiếm lĩnh thị trường, cử người vào các công ty con để tham gia điều hành theo số vốn của mình Cách thức này được gọi là chia tách hoặc chia nhỏ công ty Thứ ba là các cổ đông đầu tư thành lập công ty mẹ ban đầu Công ty mẹ này tiếp tục đầu tư vào các công ty con
Trong các cách thức hình thành tập đoàn kinh tế nêu trên, các biện pháp như hợp nhất, sáp nhập, thôn tính, mua lại…nhằm tăng quy mô, mở rộng ngành nghề, tăng năng lực cạnh tranh, tìm kiếm thị trường mới…được cả công ty mẹ và các công ty con thực hiện đem lại lợi ích cho các bên tham gia
Thứ hai, tập đoàn kinh tế được hình thành trên cơ sở đầu tư của Chính phủ:
Chính phủ đầu tư vốn và thành lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoạt động trong một số lĩnh vực trọng yếu hoặc độc quyền nhà nước, sau một quá trình hoạt động Chính phủ cơ cấu lại khu vực này và mô hình tập đoàn kinh tế là một trong những lựa chọn cách thức này cần có giai đoạn chuyển tiếp cần thiết, từ việc
đa dạng hóa sở hữu, tạo lập mối liên kết, đầu tư, tổ chức lại theo mô hình mới đến
cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy các tập đoàn kinh tế hình thành và phát triển Việc Chính phủ quyết định thành lập một số tập đoàn trong thời gian qua không phải là biện pháp mang tính cá biệt của Việt Nam Chính phủ các quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Braxin, Venezuela và đặc biệt là Trung Quốc đã từng đầu tư xây dựng các mô hình kinh doanh quy mô lớn thuộc sở hữu nhà nước với những tên gọi khác nhau và kết quả rất khả quan Nếu không có sự hỗ trợ của Chính phủ, một số tập đoàn hàng đầu của Trung Quốc như China National Petrolium khó
có thể được xếp hạng trong danh sách 500 công ty hàng đầu thế giới do Fortune bình chọn 7
Hai phương thức này đều có ưu điểm, nhược điểm riêng, song thực tế đã chứng minh những tập đoàn kinh tế được hình thành bằng con đường truyền thống tỏ ra ưu việt hơn bởi sự ra đời của chúng phù hợp với các quy luật của thị trường, tận dụng được nhiều kinh nghiệm trong cạnh tranh, kỹ năng quản lý Tuy nhiên sự thành
7 http://money.cnn.com/magazines/fortune/global500/2008/full_list/
Trang 34công của các tập đoàn kinh tế không phụ thuộc vào việc chúng hình thành bằng cách nào bởi lịch sử cho thấy có rất nhiều tập đoàn hình thành bằng con đường truyền thống đã phá sản và cũng không ít các tập đoàn hình thành bằng đầu tư của Chính phủ đạt được những thành công Như vậy mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ, điều kiện kinh tế cần phải định hướng và sử dụng linh hoạt mỗi phương thức để từ đó mới có sự thành công
3.3 Xu thế phát triển của hình thức tập đoàn kinh tế hiện nay
Hiện nay trên thế giới có hai xu thế phát triển chính của các hình thức tập đoàn kinh tế
Thứ nhất là hình thành do mở rộng quy mô và chia nhỏ công ty: Hình thức
hình thành tập đoàn một cách tự nhiên là dựa trên sự mở rộng quy mô của công ty tiến tới tách ra thành một số công ty hoạt động trên một lĩnh vực nhất định Giữa các công ty mới được thành lập và công ty ban đầu (công ty mẹ) tồn tại các mối liên
hệ kinh tế - tài chính chặt chẽ Nhiều tập đoàn của Nhật Bản được hình thành theo phương thức này Có thể so sánh quá trình lớn lên và tách ra các công ty con giống như một quá trình phân bào sinh học, tuy nhiên, các tế bào con mới hình thành bị chi phối và kiểm soát bởi “tế bào” ban đầu - tức là công ty mẹ
Thứ hai là xu hướng liên kết, mua lại và sát nhập Đây là con dường hình
thành các tập đoàn kinh doanh đầu tiên trong lịch sử Một số công ty có những liên
hệ nhất định về thị trường, sản phẩm, nguyên liệu hoặc công nghệ tự nguyện liên minh lại theo kiểu Cartel hay Trust Trong quá trình phát triển, nhiều tổ chức Catel, Trust đã tan vỡ, nhưng cũng có nhiều tổ chức loại này được cơ cấu lại và phát triển Ngày nay, các tập đoàn kinh tế ở trên thế giới vẫn tăng cường sáp nhập thành các tập đoàn lớn Tập đoàn P&G mua lại hãng dầu gội đầu Clairo vào năm 2001, Wella vào năm 2003 và 2005 với thương vụ mua lại Gillette, đã trở thành tập đoàn lớn nhất thế giới trong ngành công nghiệp hàng tiêu dùng, nâng doanh thu từ 55 tỷ đô/năm lên 70 tỷ đô/năm 8
Năm 2008, tập đoàn hàng không lớn thứ ba Mỹ, Delta
8
P&G annual report 2008
Trang 35Airlines đã mua lại Northwest Airlines để trở thành tập đoàn khổng lồ hàng đầu thế giới về dịch vụ vận tải hàng không 9 Ở Châu Âu, ngân hàng Italy UniCredit và Capitalia đã sáp nhập với nhau vào năm 2007 để cho ra đời một tập đoàn ngân hàng lớn thứ nhì Châu Âu tính theo thị giá Tuy không phải tất cả các tập đoàn đều liên kết, mua lại và sát nhập đều lớn mạnh thành công vượt trội nhưng xu hướng phát triển của mô hình tập đoàn ngày càng ghi nhận thêm nhiều thương vụ sáp nhập và liên kết
Chương II: Thực trạng hoạt động của một số tập đoàn
kinh tế ở Việt Nam
1 Giới thiệu tổng quan về lịch sử ra đời và sự phát triển của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Mô hình tập đoàn ở Việt Nam đã được hình thành, vận dụng triển khai từ nhiều thập kỷ qua theo điều kiện thực tế của Việt Nam Khởi đầu là mô hình liên hiệp các
xí nghiệp và tổng công ty với 2 chức năng vừa quản lý Nhà nước vừa kinh doanh Theo đó, vào ngày 22 tháng 3 năm 1989 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 27/HĐBT (hiện nay đã không còn hiệu lực mà thay băng Nghị định 199/CP) về điều lệ của các xí nghiệp liên hiệp quốc doanh Thời kỳ sau đó, do hiệu quả và hoạt động thấp và sự phân tán trong sản xuất kinh doanh, ngày 7 tháng
3 năm 1994 Nhà nước thực hiện sắp xếp lại các liên hiệp xí nghiệp và các tổng công
9
http://vneconomy.vn/60520P0C99/vu-sap-nhap-lich-su-trong-nganh-hang-khong-my.htm
Trang 36ty theo chủ trương mới với 2 quyết định: Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước dẫn đến sự ra đời của các tổng công ty 90, 91; và quyết định số 91/TTg về thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế trên cơ sở các tổng công ty Nhà nước có quy mô lớn tiềm lực mạnh (có
ít nhất 7 doanh nghiệp thành viên, tổng số vốn ít nhất là 1.000 tỷ đồng) Theo đó Chính phủ đã thành lập 74 Tổng công ty 90 và 18 Tổng công ty 91, hoạt động trong hầu hết các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân Sau hơn 10 năm hoạt động, các tổng công ty đã dần nổi lên sự khác nhau về khả năng phát triển và trình độ tổ chức Trong nhóm các tổng công ty 90, 91 có một số tổng công ty đã thể hiện sự phát triển vững chắc, có triển vọng trở thành tập đoàn kinh tế
Nhận thấy tiềm năng đó, Thủ tướng đã quyết định phê duyệt thành lập 8 tập đoàn kinh tế quốc doanh đầu tiên dựa trên những tổng công ty đó bao gồm: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT- Quyết định thành lập tập đoàn số 58/2005/QĐ-TTg ), Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin- Quyết định thành lập tập đoàn số 345/2005/QĐ-TTg), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN- Quyết định thành lập tập đoàn số 147/2006/QĐ-TTg), Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy (Vinashin- Quyết định thành lập tập đoàn số 103/2006/QĐ-TTg), Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex- Quyết định thành lập tập đoàn số 314/2005/QĐ-TTg), Tập đoàn Công nghiệp Cao su (VRG- Quyết định thành lập tập đoàn số 248/2006/QĐ-TTg ), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam- Quyết định thành lập tập đoàn số 198/2006/QĐ-TTg) và Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm (Bảo Việt- Quyết định thành lập tập đoàn số 310/2005/QĐ-TTg)
Bảng 2.1: Quy mô các tập đoàn kinh tế Nhà nước tại thời điểm thành lập
Số
Thời điểm thành lập
Số đơn vị thành viên
Tổng tài sản (tỷ đồng)
Lao động (người)
Doanh thu (tỷ đồng)
1 VNPT 3/2005 40 (171/16/7) 30.000 100.000 33.000
2 Vinacomin 8/2006 51 (44/4/3) 8.525 90.000 15.390
3 Bảo Việt 11/2005 32 (11/19/2) 13.725 5.191 5.846
Trang 37(Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu các tập đoàn )
Chú thích:
o Trong ngoặc () là số công ty con/ công ty liên kết/ đơn vị sự nghiệp
o 1Trong 17 công ty con của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông có 4 tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con với 54 công ty con
o 2Trong 41 công ty con của Tập đoàn công nghiệp Tàu thủy có 8 tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con
o 3Trong 23 công ty con của Tập đoàn Dầu khí có 4 tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con
o 4Trong 31 công ty con của Tập đoàn Cao su có 3 tổng công ty và 1 công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con
Bên cạnh đó, trong khoảng 10 năm trở lại đây, các doanh nghiệp tư nhân cũng rầm rộ phát triển, tích tụ vốn và không ngừng tăng trưởng, mở rộng quy mô và hình thành nên các tập đoàn kinh tế tư nhâm như Tập đoàn FPT, Hòa Phát, Vincom, Kinh Đô, Phú Thái… Điều này tạo nên sự đa dạng trong các loại hình doanh nghiệp cho Việt Nam, đồng thời cho thấy Việt Nam đang đi từng bước đi đúng đắn trên con đường phát triển kinh tế
2 Thực trạng hoạt động và phát triển của tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
2.1 Thực trạng sản xuất kinh doanh của một số tập đoàn Nhà nước và tư
nhân
Trang 38Nhà nước này chưa thực sự đủ lớn để công nhận là tập đoàn kinh tế
2.1.1.2 Về quy mô vốn:
Về tổng nguồn vốn (Tổng nguồn vốn = Tổng tái sản = Vốn Nhà nước + Vốn tự
bổ sung +Vốn khác + Nợ phải trả), các tập đoàn Nhà nước giai đoạn 2005-2007 có tốc độ tăng trưởng khá cao, quy mô tăng tương đối nhanh
Bảng 2.2: Tăng trưởng quy mô vốn của các tập đoàn Nhà nước giai đoạn
2005-2007 (Đơn vị: tỷ đồng)
Trang 39165.843 21.655
57.876 63.354 27.300
184.910 80.938
16.985
106.341 16.010
57.504 12.547
6.755
114.569 36.049
(Nguồn: Tổng hợp nghiên cứu từ các tập đoàn)
Nhìn vào bảng trên ta thấy, tổng nguồn vốn của các tập đoàn đều tăng khá nhiều, thấp nhất là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) với mức tăng 0,65% từ 57.504
tỷ đồng năm 2005 lên 57.876 tỷ đồng năm 2007, cao nhất là Tập đoàn Dệt - May với mức tăng 404,93% từ 12.547 tỷ đồng năm 2005 lên 63.354 tỷ đồng vào năm
2007 Ngoài ra còn không ít tập đoàn có mức tăng trưởng vốn cao như Tập đoàn Bảo Việt tăng hơn 300%, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Vinashin tăng 124% Tính trung bình qua hai năm 2005 đến 2007, khối 8 Tập đoàn quốc doanh đã tăng được 258.849 tỷ đồng tương ứng với mức 71,90% Năm 2008, tuy khủng hoảng tài chính thế giới ảnh hưởng đến nền kinh tế và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, tập đoàn nói riêng song theo báo cáo không chính thức của các tập đoàn quốc doanh thì tổng nguồn vốn vẫn không ngừng tăng trưởng
2.1.1.3 Về quy mô doanh thu:
Cùng với quy mô vốn và tốc độ tăng trưởng vốn khá cao, doanh thu của các tập đoàn quốc doanh cũng rất lớn và tốc độ tăng trưởng cũng tương ứng
Bảng 2.3: Doanh thu của các tập đoàn Nhà nước giai đoạn 2005-2008 (tỷ đồng)
Trang 40Tập đoàn 2005 2006 2007 2008
(Nguồn: Báo cáo tài chính các tập đoàn và nghiên cứu)
Qua bảng trên ta thấy, doanh thu của khối tập đoàn Nhà nước là rất lớn so với các khu vực doanh nghiệp khác, chỉ riêng 8 tập đoàn kinh tế Nhà nước đã có tổng doanh thu lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, điển hình có Tập đoàn Dầu khí doanh thu qua các năm luôn chiếm gần một nửa tỷ trọng tổng quy mô doanh nghiệp của toàn khối tập đoàn Nhà nước Mặt khác, tốc độ tăng trưởng của các tập đoàn này cũng khá cao Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Vinashin có mức tăng cao nhất: 47,16% vào năm 2006, năm 2007 lên tới tận 98,63%, năm 2008 cũng giữ ở mức 42,71% Có duy nhất năm 2008, tập đoàn Cao su có mức tăng trưởng âm (-17,8%), còn lại qua 4 năm từ năm 2005 đến năm 2008, các tập đoàn đều có một tốc độ tăng trưởng doanh thu tương đối cao, trung bình là 23% Tổng doanh thu 8 tập đoàn năm
2005 là 292.480 tỷ đồng lên tới gần 500 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2008 chưa tính tập đoàn Dệt may, mức tăng là hơn 70,78%