Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU - Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Thu Hà
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Phạm Duy Liên
Hà Nội, Tháng 06/2008
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG EU 4
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) 4
1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA EU 4
1.1 GIỚI THIỆU VỀ EU 4
1.2 QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP 5
2 CƠ CẤU TỔ CHỨC 7
2.1 HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG 7
2.2 ỦY BAN CHÂU ÂU 7
2.3 NGHỊ VIỆN CHÂU ÂU 7
2.4 TOÀ ÁN CHÂU ÂU 8
II THỊ TRƯỜNG EU 8
1 THƯƠNG MẠI EU TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA 8
2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG EU 11
2.1 TẬP QUÁN, THỊ HIẾU TIÊU DÙNG, KÊNH PHÂN PHỐI VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA EU 12
2.2 CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA EU 15
3 CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA EU 17
3.1 HÀNG RÀO THUẾ QUAN 17
3.2 HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN 19
CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƯỜNG EU 25
I QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-EU 25
1 THỎA THUẬN THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG 25
1.1 HIỆP ĐỊNH BUÔN BÁN HÀNG DỆT MAY 25
1.2 HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ HỢP TÁC VIỆT NAM-EU 26
2 THƯƠNG MẠI VIỆT NAM- EU 26
2.1 XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀO EU 27
Trang 32.2 NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ EU 34
II CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG EU 36
1 NHỮNG CƠ HỘI 36
1.1 TIỀM NĂNG THƯƠNG MẠI CỦA EU 36
1.2 QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, CHÍNH TRỊ VÀ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ EU NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN TỐT ĐẸP 38
1.3 EU LÀ MỘT THỊ TRƯỜNG THỐNG NHẤT VỚI 27 QUỐC GIA THÀNH VIÊN 42
1.4 EU CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC SANG CHÂU Á 44
1.5 LỢI THẾ CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO 45
2 NHỮNG THÁCH THỨC 47
2.1 CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 47
2.2 ÁP LỰC CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƯỜNG EU 52
2.3 HỆ THỐNG PHÂN PHỐI VÀ THƯƠNG HIỆU CỦA HÀNG HÓA 55
2.4 THÁCH THỨC TỪ VIỆC GIA NHẬP WTO 58
2.5 NHỮNG THÁCH THỨC XUẤT PHÁT TỪ CHÍNH BẢN THÂN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 59
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CỦA CÁC 62
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG 62
EU TRONG THỜI GIAN TỚI 62
I ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG NHỮNG NĂM TỚI 62
1 ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU ĐẾN NĂM 2010 62
2 MỤC TIÊU XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU ĐẾN NĂM 2010 63
II GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA SANG THỊ TRƯỜNG EU 64
1 KINH NGHIỆM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI KHI XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƯỜNG EU 64
Trang 41.1 KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA TRUNG QUỐC 64 1.2 KINH NGHIỆM THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG EU CỦA NHẬT BẢN 66
2 GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA SANG THỊ
TRƯỜNG EU 68
2.1 TÍCH CỰC NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG EU, NẮM BẮT NHU CẦU, THỊ HIẾU VÀ THÓI QUEN TIÊU DÙNG, TÌM HIỂU HỆ THỐNG LUẬT PHÁP VÀ CÁC RÀO CẢN MÀ EU ĐẶT RA ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU 68 2.2 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG VÀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC MARKETING XÚC TIẾN XUẤT KHẨU TRÊN THỊ TRƯỜNG EU 71 2.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, TĂNG TÍNH CẠNH TRANH CHO HÀNG HÓA THÔNG QUA VIỆC ÁP DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG KHÂU SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU 74 2.4 PHỐI HỢP VỚI CÁC HIỆP HỘI, NGÀNH HÀNG THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ PHÒNG TRÁNH BỊ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 75 2.5 XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHO HÀNG HÓA XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG EU 79 2.6 ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG KINH DOANH HÀNG XUẤT KHẨU 81 2.7 TÌM NGUỒN TÍN DỤNG HỖ TRỢ NHẬP KHẨU ĐỂ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU 81
III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 82
1 TIẾP TỤC COI EU LÀ THỊ TRƯỜNG TRỌNG ĐIỂM, XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG EU THÔNG QUA VIỆC ĐÀM PHÁN, KÍ KẾT CÁC HIỆP ĐỊNH THỎA THUẬN
SONG PHƯƠNG VÀ ĐA PHƯƠNG 82
Trang 52 HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ, MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TẠO ĐIỀU KIỆN CHO DOANH NGHIỆP ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 84
3 HỖ TRỢ CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC TIẾP CẬN
EU ĐANG CÓ NHU CẦU LỚN 90
6 CÓ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ
NÂNG CAO KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG EU 92 KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Danh mục cỏc bảng
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của EU với cỏc thị trường chủ yếu 9 Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu một số nhúm hàng chủ yếu của EU27 10 Bảng 3: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vào EU qua cỏc năm 27 Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU (2001-2007) 27 Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu giày dộp của Việt Nam sang EU 28 Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường EU 29 Bảng 7: Một số mặt hàng nhập khẩu chớnh từ EU 35 Bảng 8: Nhập khẩu của Việt Nam từ một số thị trường chớnh của EU 35 Bảng 9: Dự kiến xuất khẩu một số mặt hàng vào EU đến năm 2010 64
2 Danh mục cỏc biểu đồ
Biểu đồ 1: Mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu và thị tr-ờng chính của Việt Nam 30 Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang thị tr-ờng EU 31 Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang EU 32
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất nhập khẩu là hoạt động ngoại thương quan trọng của nền kinh tế mỗi quốc gia Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có vị trí và vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Xuất nhập khẩu giúp tăng thu ngoại tệ, tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, kích thích đổi mới công nghệ, cải tiến cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống của người dân
Những năm vừa qua, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã
có nhiều phát triển Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm đều tăng Một trong những nguyên nhân để có được những thành tựu như ngày hôm nay của xuất khẩu Việt Nam đó là việc định hướng thị trường mục tiêu đúng đắn, biết khai thác những thế mạnh xuất khẩu của mình Những thị trường mục tiêu mà xuất khẩu Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi đáng ghi nhận đó là thị trường Hoa Kỳ, thị trường Liên minh Châu Âu (EU), thị trường Nhật Bản
Hiện nay, thị trường EU đang được coi là một trong những thị trường trọng điểm của xuất khẩu Việt Nam Là một thị trường phát triển, với 27 quốc gia thành viên, EU đã trở thành một liên minh kinh tế chính trị lớn nhất trên toàn thế giới, là nơi hội tụ đông đảo các quốc gia có nền kinh tế phát triển Không thể phủ nhận rằng EU là một đối tác thương mại quan trọng của rất nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
Là một khu vực kinh tế chung, thống nhất, có quy mô rộng lớn, nhu cầu
và sức mua ổn định, EU đã mở ra một thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam Tận dụng được những cơ hội lớn do thị trường
EU đem lại sẽ góp phần nâng cao hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường thế giới, đóng góp một phần không nhỏ cho nền kinh tế nước nhà
Trang 8Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi như vậy, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cũng gặp phải những khó khăn nhất định khi thâm nhập vào thị trường này Do vậy, việc tìm ra các giải pháp để phá vỡ những rào cản, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU đang là một bài toán cấp thiết đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam
Đề tài: “Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU_Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam” sẽ đi sâu vào việc phân tích những
đặc điểm của thị trường EU, nêu ra những thành tựu, khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các khía cạnh như thị trường Châu Âu (EU), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này, những cơ hội
và thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể gặp phải khi thâm nhập vào thị trường EU và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU qua các năm từ năm 2001 đến nay
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, phân loại, mô hình hóa Đồng thời tham khảo tư liệu thông tin và kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây, nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành để thu thập các dữ liệu cần thiết Khóa luận còn dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cũng như đường lối phát triển chính sách kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 94 Kết cấu của Khóa luận
để hoàn thành khóa luận
Do trình độ còn hạn chế và thời gian cũng có hạn, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận đƣợc sự góp ý chân thành từ phía thầy cô và các bạn Em xin chân thành cảm ơn
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG EU
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
1 Lịch sử hình thành và phát triển của EU
1.1 Giới thiệu về EU
Liên minh Châu Âu hay Liên hiệp Châu Âu (tiếng Anh: European Union) là một tổ chức liên chính phủ của các nước Châu Âu Từ 6 thành viên ban đầu, hiện nay có 27 quốc gia thành viên Liên minh được thành lập với tên gọi hiện nay theo Hiệp ước về Liên minh Châu Âu năm 1992, thường gọi
là Hiệp ước Maastricht Tuy nhiên, nhiều phương diện của Liên minh Châu
Âu đã có từ trước, kể từ thập niên 1950, thông qua một loạt các tổ chức tiền thân
Liên minh Châu Âu (EU) có trụ sở đặt tại thủ đô Brussels của Bỉ Trước ngày
1 tháng 11 năm 1993 tổ chức này được gọi là Cộng đồng Châu Âu (EC)
Lịch sử của Liên minh Châu Âu bắt đầu từ chiến tranh thế giới thứ II
Có thể nói rằng ý tưởng về hội nhập Châu Âu đã được nhận thức sẽ giúp ngăn chặn chiến tranh không xảy ra nữa Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schuman là người đã nêu ra ý tưởng và đề xuất lần đầu tiên trong một bài phát biểu nổi tiếng ngày 9 tháng 5 năm 1950 Cũng chính ngày này là ngày
mà hiện nay được coi là ngày sinh nhật của EU và được kỉ niệm hàng năm là Ngày Châu Âu Ban đầu, EU bao gồm 6 quốc gia thành viên là Bỉ, Đức, Italia, Luxembourg, Pháp, Hà Lan Năm 1973, tăng lên thành 9 quốc gia thành viên Năm 1981, tăng lên thành 10 Năm 1986, tăng lên thành 12 Năm
1995, tăng lên thành 15 Năm 2004 tăng lên thành 25 Năm 2007 tăng lên thành 27
Trang 11Sau đây là danh sách 27 quốc gia thành viên của EU xếp theo năm gia nhập:
1957: Bỉ, Đức, Italia, Luxembourg, Pháp, Hà Lan
1973: Đan Mạch, Ailen, Anh
1981: Hy Lạp
1986: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
1995: Áo, Phần Lan, Thụy Điển
Ngày 1/5/2004; Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta, Kypros (Cộng hòa Síp)
Ngày 1/1/2007: Romania, Bulgaria
Hiện nay, EU có diện tích là 4.422.773 km2 với dân số là 492,9 triệu người (2006) với tổng GDP là 11.6 nghìn tỉ Euro (~15.7 nghìn tỉ USD) trong năm 2007 Hầu hết các quốc gia Châu Âu đều đang là thành viên của Liên minh Châu Âu (Theo Eurostat)
Vẫn còn 20 quốc gia gồm Albania, Andorra, Azerbaijan, Belarus, Bosna và Hercegovina, Gruzia, Iceland, Liechtenstein, Macedonia, Malta, Moldova, Monaco, Montenegro, Na Uy, Nga, San Marino, Serbia, Thổ Nhĩ
Kỳ, Ukraina, và Vatican chưa gia nhập Liên minh Châu Âu [21]
1.2 Quá trình thành lập
Hơn nửa thế kỉ trước, chính sự tàn phá ở Châu Âu sau Thế chiến II đã đặt ra yêu cầu phải xây dựng những mối quan hệ quốc tế để ngăn chặn những thảm kịch như vậy tái diễn Hai chính khách Pháp Jean Monnet và Robert Schumann đã đưa ra triết lý: “Cái tốt nhất để bắt đầu tiến trình gắn kết Châu
Âu là thông qua phát triển các quan hệ kinh tế” Triết lý này là nền tảng cho:
Hiệp ước Paris được kí năm 1951: Cộng đồng Than Thép Châu Âu
(ECSC) được thành lập
Hiệp ước Roma (1957) đưa đến việc thành lập Cộng đồng Nguyên tử
lượng (Euratom) và thành lập Cộng đồng kinh tế Châu Âu ( EEC)
Trang 12Từ năm 1967, cơ quan điều hành của các cộng đồng trên được hợp nhất
và gọi là Hội đồng Châu Âu (EC)
Năm 1987, EU bắt đầu triển khai xây dựng “Thị trường nội địa thống nhất Châu Âu”
Hiệp ước Liên hiệp Châu Âu hay còn gọi là Hiệp ước Maastricht, ký
tháng 12 năm 1991 thảo luận tại Maastricht, Hà Lan đã chính thức khai sinh Liên minh Châu Âu thay thế cho EC với mục đích thành lập liên minh kinh tế
và tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với một đồng tiền chung và một ngân hàng trung ương độc lập thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật pháp Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa Châu Âu.Và như vậy kể từ ngày 01/01/2002 đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 12 quốc gia thành viên (còn gọi là khu vực đồng Euro) gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; các nước đứng ngoài là Anh, Đan Mạch và Thụy Điển
Hiệp ước Amsterdam (còn gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi, ký ngày
02/10/1997 tại Amsterdam) đã có một số sửa đổi và bổ sung trong một số lĩnh vực chính như:
- Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử
- Tư pháp và đối nội
- Chính sách xã hội và việc làm
- Chính sách đối ngoại và an ninh chung
Hiệp ước Schengen: Ngày 19/06/1990, Hiệp ước Schengen được thỏa
thuận xong Đến ngày 27/11/1990, 6 nước gồm Pháp, Đức, Luxembourg, Bỉ,
Hà Lan và Ý chính thức ký Hiệp ước Schengen Hai nước Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha ký ngày 25/06/1991 Ngày 26/03/1995, Hiệp ước này mới có hiệu lực tại 7 nước thành viên Hiệp ước quy định quyền tự do đi lại của công
Trang 13dân các nước thành viên Đối với công dân nước ngoài chỉ cần có Visa của 1 trong 9 nước trên là được phép đi lại trong toàn bộ khu vực Schengen Hiện nay, 14 trong 25 nước thành viên EU đã tham gia khu vực Schengen (ngoại
trừ Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland)
Hiệp ước Nice (11/12/2000): tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để
đón nhận các thành viên mới đồng thời tăng cường vai trò của Nghị viện
Châu Âu, thành lập lực lượng phản ứng nhanh (RRF)
2 Cơ cấu tổ chức
EU có bốn cơ quan chính là: Hội đồng Bộ Trưởng, Ủy ban Châu Âu, Nghị Viện Châu Âu, Tòa án Châu Âu
2.1 Hội đồng Bộ trưởng
Chịu trách nhiệm quyết định các chính sách lớn của EU, bao gồm các
Bộ trưởng đại diện cho các thành viên Các nước luân phiên làm Chủ tịch với nhiệm kì 6 tháng Giúp việc cho Hội đồng có Ủy ban đại diện thường trực và
Hội đồng Bộ Trưởng là cơ quan lãnh đạo tối cao của EU
2.2 Ủy ban Châu Âu
Là cơ quan điều hành gồm 20 Ủy viên, nhiệm kỳ 5 năm do các Chính phủ nhất trí cử và chỉ bị bãi miễn với sự nhất trí của Nghị viện Châu Âu Dưới các Ủy viên là các Tổng vụ trưởng chuyên trách từng vấn đề từng khu vực
2.3 Nghị viện Châu Âu
Trang 14Gồm 732 Nghị sĩ, nhiệm kỳ 5 năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu Trong nghị viện, các Nghị sĩ ngồi theo nhóm chính trị khác nhau, không theo Quốc tịch
Chức năng của Nghị viện Châu Âu là thông qua ngân sách, cùng Hội Đồng Châu Âu ra quyết định trong một số lĩnh vực kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của EU, có quyền bãi miễn các chức vụ ủy viên Ủy ban Châu Âu
2.4 Toà án Châu Âu
Đặt trụ sở tại Lucxămbua, gồm 15 thẩm phán và 9 trạng sư do các chính phủ thỏa thuận bổ nhiệm, nhiệm kỳ 6 năm Toà án có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ những quy định của các tổ chức của Ủy ban Châu Âu văn phòng chính phủ các nước nếu bị coi là không phù hợp với luật của EU [21]
II THỊ TRƯỜNG EU
1 Thương mại EU trong những năm vừa qua
Là khu vực phát triển kinh tế cao, EU với 27 nước thành viên có tổng diện tích khoảng 4 triệu Km2, dân số gần 500 triệu người, GDP khoảng 14.000 tỷ USD, bình quân đầu người 29.000 USD/năm (số liệu năm 2007 theo Eurostat)
Các lĩnh vực sản xuất có tính cạnh tranh nhất, chiếm 34% tổng giá trị sản xuất công nghiệp phục vụ cho xuất khẩu của EU là: dược phẩm, máy móc
và thiết bị, chế tạo máy bay và công nghệ vũ trụ, sản phẩm khoáng chất phi kim loại, in ấn và xuất bản, thiết bị khoa học Các lĩnh vực sản xuất có mức đóng góp thấp nhất là hàng điện tử, thiết bị văn phòng, giày dép, dệt may , trong đó giày dép và dệt may đang ở tình trạng thiếu phát [30]
EU là một trong những khu vực đầu tư ra nước ngoài cũng như thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhiều nhất trên thế giới Trong năm 2006,
EU đã đầu tư ra nước ngoài 183 tỷ Euro, tăng 35% so với năm 2005 và được
Trang 15nhận 135 tỷ Euro FDI, tăng 42% so với năm 2005 Đầu tư nội bộ EU giảm 8% so với năm 2005
Các nước thuộc EU đầu tư ra nước ngoài lớn là Pháp (39 tỷ Euro chiếm 21%), Đức (31 tỷ Euro) Các nước được nhận FDI nhiều nhất là Anh (56 tỷ Euro, chiếm 42%), Luxembourg (20 tỷ Euro) [29]
Trao đổi thương mại của EU với các nước ngoài khối năm 2006 là 2525,8 tỷ Euro và trong 9 tháng năm 2007 là 1935,5 tỷ Euro, trong đó: EU xuất khẩu 907,7 tỷ Euro và nhập khẩu 1045,8 tỷ Euro Thâm hụt thương mại 138,1 tỷ Euro, trong đó với Trung Quốc là 114,5 tỷ Euro chiếm 82%
Theo Eurostat, nếu tính cả thương mại nội khối thì EU dẫn đầu thế giới
về tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa với kim ngạch là 1481,7 tỷ Đô La và chỉ chịu đứng thứ 2 sau Mĩ về tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu (1697,8 tỷ Đô La)
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của EU với các thị trường chủ yếu
Trang 162% so với năm 2006), nhập khẩu từ Nauy và Hàn Quốc cũng giảm 3% Tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là sang Nga (tăng 23%) và tăng trưởng nhập khẩu lớn nhất là từ Brazil (tăng 20%)
Do có trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, những mặt hàng mà các nước EU có thế mạnh và có tính cạnh tranh cao hầu hết thuộc các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo, hóa chất, giao thông vận tải, hàng không, dược phẩm, mỹ phẩm cao cấp, thực phẩm, đồ uống và dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng lớn Nhu cầu nhập khẩu của EU phần lớn là nguyên, nhiên vật liệu, hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép, may mặc, thủy sản, nông sản, lương thực
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu một số nhóm hàng chủ yếu của EU27
Trang 17Để tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại và tự do hóa thương mại hơn nữa, EU đang xúc tiến đàm phán ký kết một số thỏa thuận song phương
và khu vực, như : Hiệp định thương mại với 78 nước ACP (Châu Phi, Caribe
và Thái Bình Dương); thỏa thuận hợp tác kinh tế xuyên Đại Tây Dương và Hiệp định “ Bầu trời mở” với Mỹ; khởi động đàm phán các khu vực mậu dịch
tự do (FTA) với Hàn Quốc, Ấn Độ, ASEAN và Trung Mỹ; tăng cường hợp tác năng lượng với các nước Trung Á và Balkan; thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược” toàn diện với Brasil
Hiệp ước Lisbon (Hiệp ước đơn giản hay Hiệp ước cải cách) đã được các nhà lãnh đạo EU chính thức ký kết tại Lisbon (Bồ Đào Nha) tại Hội nghị thượng đỉnh EU vào ngày 13/12/2007 và sẽ có hiệu lực vào năm 2009 Đây sẽ
là tiền đề quan trọng để EU tiếp tục quá trình cải cách thể chế nhằm tăng cường sức mạnh và khả năng cạnh tranh của khối với mục tiêu đưa EU trở thành nền kinh tế tri thức và năng động bậc nhất thế giới vào năm 2010 [4]
2 Đặc điểm chung về thị trường EU
Từ năm 1986, EU đã là một thị trường thống nhất hải quan, có định mức thuế quan chung cho tất cả các nước thành viên Ngày 07/02/1992, Hiệp ước Maastricht được kí kết tại Hà Lan mở đầu cho sự thống nhất kinh tế-tiền
tệ, chính trị, an ninh quốc phòng giữa các nước thành viên EU Ngày 17/01/1993, Hiệp ước Maastricht bắt đầu có hiệu lực, cũng là ngày thị trường chung Châu Âu được chính thức hình thành thông qua việc hủy bỏ các đường biên giới nội bộ trong liên minh (biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải quan) Thị trường chung có thể hiểu đơn giản là một không gian rộng lớn bao trùm lãnh thổ của tất cả các nước thành viên mà ở đó hàng hoá, sức lao động, vốn và dịch vụ được lưu chuyển hoàn toàn tự do giống như khi chúng ở trong một thị trường quốc gia Gắn liền với sự ra đời của thị trường chung là một chính sách thương mại chung Nó điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hoá, dịch vụ nội khối [35]
Trang 182.1 Tập quán, thị hiếu tiêu dùng, kênh phân phối và các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của EU
2.1.1 Tập quán, thị hiếu tiêu dùng
EU là một thị trường rộng lớn, với gần 500 triệu người tiêu dùng Thị trường EU thống nhất cho phép tự do lưu chuyển sức lao động, hàng hoá, dịch vụ và vốn giữa các thành viên Mỗi thị trường thành viên có đặc điểm tiêu dùng riêng Do vậy, có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hoá Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán và thị hiếu tiêu dùng giữa các thị trường quốc gia trong khối EU, nhưng
25 nước thành viên có những điểm tương đồng về kinh tế và văn hoá Người tiêu dùng EU thích sử dụng và quen tiêu dùng một số hàng hoá sau:
- Hàng may mặc và giày dép: Người dân Áo, Đức và Hà Lan chỉ mua hàng may mặc và giày dép không chứa chất nhuộm có nguồn gốc hữu cơ (Azo-dyes) Khách hàng EU đặc biệt quan tâm tới chất lượng và thời trang của hai loại sản phẩm này Nhiều khi yếu tố thời trạng lại có quyết định cao hơn nhiều so với giá cả Thị hiếu của người tiêu dùng đối với mặt hàng này liên tục thay đổi, đặc biệt là về mẫu mốt
- Thủy hải sản: Người tiêu dùng EU không mua những sản phẩm thủy hải sản bị nhiễm độc do tác động của môi trường hoặc do chất phụ gia không được phép sử dụng Đối với các sản phẩm thủy, hải sản đã qua chế biến, người Châu Âu chỉ dùng những sản phẩm đóng gói có ghi tên sản phẩm, nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản, hạn sử dụng, mã số, mã vạch Người tiêu dùng EU tẩy chay các loại thủy, hải sản nhập khẩu có chứa khuẩn Salmonella, độc tố Lustamine, nhiễm V.Parahaemoliticus, nhiễm V.Cholerae
- Người tiêu dùng EU có thói quen sử dụng các sản phẩm nổi tiếng thế giới Họ cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng có uy tín lâu đời Người tiêu dùng EU rất sợ mua những sản phẩm có nhãn hiệu ít người biết đến vì họ cho rằng những sản phẩm của các nhà sản xuất không có danh
Trang 19tiếng sẽ không đảm bảo về chất lượng, vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng
- Thị trường EU về cơ bản cũng giống như một thị trường quốc qia, do vậy có 3 nhóm người tiêu dùng khác nhau: (1) Nhóm có khả năng thanh toán
ở mức cao, chiếm gần 20% dân số của EU, dùng hàng có chất lượng tốt nhất
và giá cả đắt nhất hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo: (2) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức trung bình, chiếm 68% dân số, sử dụng chủng loại hàng hóa có chất lượng kém hơn một chút so với nhóm 1 và giá cả cũng rẻ hơn; (3) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức thấp, chiếm hơn 10% dân số, tiêu dùng những loại hàng có chất lượng và giá cả đều thấp hơn so với hàng của nhóm 2 Hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường này gồm cả hàng cao cấp lẫn hàng bình dân phục vụ cho mọi đối tượng
- Xu hướng tiêu dùng trên thị trường EU đang có những thay đổi như: không thích sử dụng đồ nhựa mà thích dùng đồ gỗ, thích ăn thủy, hải sản hơn
ăn thịt, yêu cầu về mẫu mốt và kiểu dáng hàng hóa thay đổi nhanh, đặc biệt đối với những mặt hàng thời trang (giày dép, quần áo ) Ngày nay, người Châu Âu cần nhiều chủng loại hàng hóa với số lượng lớn và những hàng hóa
có vòng đời ngắn Tuy có sự thay đổi về sở thích và thói quen tiêu dùng như vậy, nhưng chất lượng hàng hóa vẫn là yếu tố quyết định đối với phần lớn các mặt hàng được tiêu thụ trên thị trường này [8]
2.1.2 Kênh phân phối
Hệ thống phân phối EU về cơ bản cũng giống như hệ thống phân phối của một quốc gia, gồm mạng lưới bán buôn và mạng lưới bán lẻ Hình thức tổ chức phổ biến nhất của các kênh phân phối trên thị trường EU là theo tập đoàn
Rất ít trường hợp các siêu thị lớn hoặc các công ty bán lẻ độc lập mua hàng trực tiếp từ các nhà xuất khẩu nước ngoài Mối quan hệ bạn hàng giữa các nhà bán buôn và bán lẻ trên thị trường EU không phải ngẫu nhiên mà
Trang 20phần lớn là do có quan hệ tín dụng và mua cổ phần của nhau Các nhà bán buôn và bán lẻ trong hệ thống phân phối của EU thường có quan hệ làm ăn lâu đời và rất ít khi mua hàng của nhà cung cấp không quen biết cho dù giá hàng có rẻ hơn nhiều vì với họ uy tín kinh doanh với khách hàng được đặt lên hàng đầu, mà muốn giữ được điều này thì hàng hóa phải đảm bảo chất lượng
và nguồn cung cấp ổn định Họ liên kết với nhau chặt chẽ thành một chuỗi mắt xích trong kinh doanh bằng các hợp đồng kinh tế Hệ thống phân phối của EU đã hình thành lên một tổ hợp rất chặt chẽ và có nguồn gốc lâu đời Tiếp cận được hệ thống phân phối này không phải là việc dễ đối với các nhà xuất khẩu của Việt Nam hiện nay [11]
2.1.3 Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của EU
Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất được bảo vệ, khác hẳn với thị trường của các nước đang phát triển
Để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có các hệ thống báo động giữa các nước thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới EU đã thông qua những quy định về quyền lợi của người tiêu dùng, về độ an toàn chung của các sản phẩm được bán ra, các hợp đồng quảng cáo, bán hàng tận nhà, nhãn hiệu Các tổ chức chuyên nghiên cứu đại diện cho giới tiêu dùng sẽ đưa
ra các quy chế định chuẩn Quốc gia hoặc Châu Âu Hiện nay ở EU có 3 tổ chức định chuẩn: Ủy Ban Châu Âu về định chuẩn, Ủy Ban Châu Âu về định chuẩn điện tử, Viện định chuẩn Viễn Thông Châu Âu Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được ở thị trường này với điều kiện phải đảm bảo tiêu chuẩn chung Châu Âu Các luật và định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm được sản xuất ra từ các nước có những điều kiện sản xuất chưa đạt mức an toàn ngang với tiêu chuẩn của EU
Quy chế bảo đảm an toàn của EU đối với một số loại sản phẩm tiêu dùng như sau:
Trang 21- Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, nhãn mác, danh mục thành phẩm, thành phần, trọng lượng ròng, thời gian sử dụng, cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều kiện đặc biệt để bảo quản, để chuẩn bị sử dụng hoặc thao tác bằng tay,
mã số và mã vạch để dễ nhận dạng lô hàng
- Các loại thuốc men đều phải được kiểm tra, đăng ký và được các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thuộc EU cho phép trước khi sản phẩm được bán ra trên thị trường EU Giữa các cơ quan có thẩm quyền này là Ủy ban Châu Âu về định chuẩn thiết lập một hệ thống thông tin trao đổi tức thời
có khả năng nhanh chóng thu hồi bất cứ loại thuốc nào có tác dụng phụ đang được bán trên thị trường
- Đối với loại vải lụa, EU lập ra một hệ thống thống nhất về mã hiệu cho biết các loại sợi cấu thành nên loại vải hay lụa được bán trên thị trường EU, bất cứ loại vải hay lụa nào được sản xuất ra trên cơ sở hai hay nhiều loại sợi
mà một trong các loại ấy chiếm tối thiểu 85%, hoặc ghi cấu thành chi tiết của sản phẩm Nếu sản phẩm gồm hai hay nhiều loại sợi mà không loại nào đạt tỷ
lệ 85% tổng trọng lượng thì trên mã hiệu ít nhất cũng phải ghi tỷ lệ của hai loại sợi quan trọng nhất, kèm theo tên các loại sợi khác đó được sử dụng
- Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, EU tích cực tham gia chống nạn hàng giả bằng cách không cho nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền
Ngoài việc ban hành và thực hiện quy chế trên, EU cũng đưa ra các chỉ thị kiểm soát những nhóm hàng cụ thể về chất lượng và an toàn đối với người tiêu dùng [10]
2.2 Chính sách thương mại của EU
2.2.1 Chính sách nội khối
Chính sách thương mại nội khối tập trung vào việc xây dựng và vận hành thị trường chung Châu Âu nhằm xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh
Trang 22thổ quốc gia, biên giới hải quan (xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan) để tự do lưu thông hàng hóa, sức lao động, dịch vụ và vốn, và điều hòa các chính sách kinh tế và xã hội của các nước thành viên Thị trường chung Châu Âu dựa trên nền tảng của việc tự do lưu chuyển 4 yếu tố cơ bản của sản xuất: hàng hóa, sức lao động, dịch vụ và vốn Cụ thể là mọi rào cản về thuế quan, hạn ngạch đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các quốc gia thành viên đều được xóa bỏ, người dân được tự do đi lại, di chuyển và cư trú, tự do cung cấp dịch vụ, tự do hưởng các dịch vụ và hơn nữa, vốn cũng được tự do lưu chuyển [11]
Chính sách nội khối của EU bảo đảm tạo ra các cơ hội tương tự cho mọi người trong thị trường chung và ngăn ngừa cạnh tranh được tạo ra do sự méo mó về thương mại Một thị trường đơn lẻ không thể vận hành một cách suôn sẻ nếu như không thống nhất các điều kiện cạnh tranh áp dụng Vì mục đích này, các nước EU đều nhất trí tạo ra một hệ thống bảo hộ sự cạnh tranh
tự do trên thị trường
2.2.2 Chính sách ngoại thương
Tất các các thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chung đối với các nước ngoài khối Ủy ban Châu Âu (EC) là người đại diện duy nhất cho Liên minh trong việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực này
Chính sách ngoại thương của EU gồm: Chính sách thương mại tự trị và chính sách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau: Không phân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng Các biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về số lượng , hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu
EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa: Đẩy mạnh tự do hóa thương mại (giảm dần thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu và
Trang 23tiến tới xóa bỏ hạn ngạch, GSP) Hiện nay, 27 nước thành viên EU cũng áp dụng biểu thuế quan chung đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Các chính sách phát triển ngoại thương của EU từ năm 1951 đến nay là những nhóm chính sách chủ yếu sau: Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhập khẩu, chính sách tự do hóa thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện Việc ban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh tế, tiến trình nhất thể hóa Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sản phẩm của liên minh trên thị trường thế giới Ngoài các chính sách, EU có quy chế nhập khẩu chung
Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện các biện pháp: Chống bán phá giá (Anti-dumping), chống trợ cấp xuất khẩu
và chống hàng giả EU đã ban hành chính sách chống bán phá giá để đấu tranh với những trở ngại trong buôn bán với thế giới thứ ba Trong khi đó, các biện pháp chống hàng giả của EU cho phép ngăn chặn không cho nhập khẩu những hàng hóa bị đánh cắp bản quyền
Không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại, EU còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnh thương mại với các nước đang phát triển và chậm phát triển Đó là hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)- một công cụ quan trọng của EU để hỗ trợ các nước nói trên [11]
3 Các rào cản thương mại của EU
3.1 Hàng rào thuế quan
3.1.1 Thuế nhập khẩu
Các nước thuộc Liên minh Châu Âu áp dụng Hệ thống thuế quan chung của EU Thuế nhập khẩu được tính bằng cách lấy giá trị hàng hóa nhập khẩu tính theo giá CIF nhân với thuế suất của loại hàng hóa đó Thuế suất phụ thuộc vào loại hàng và xuất xứ của hàng nhập khẩu, được xây dựng trên
Trang 24nguyên tắc: Những mặt hàng trong nước sản xuất được hoặc sản xuất không
đủ, hoặc cần thiết để phát triển những ngành sản xuất trong nước thì sẽ được miễn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp Ngược lại, những mặt hàng trong nước
đã sản xuất đủ hay để khuyến khích trong nước tự sản xuất thì sẽ phải chịu thuế suất cao Theo nguyên tắc này, hầu hết nguyên liệu nhập khẩu vào EU được miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu thuế suất thấp, còn các mặt hàng nông sản thực phẩm phải chịu mức thuế cao hoặc thuế đặc biệt Cụ thể, các mặt hàng thịt, các sản phẩm sứa, ngũ cốc, rau hoa quả chế biến và không chế biến chịu mức thuế cao nhất từ 0-470,8% Đối với các mặt hàng khác có mức thuế suất từ 0-36,6% [11]
3.1.2 Thuế quan bảo hộ
- Các sản phẩm thực phẩm
Thuế đối với các sản phẩm thực phẩm đã được ban hành và thực thi ở
EU trong nỗ lực nhằm bảo hộ sản xuất thực phẩm nội khối Đối tượng điều chỉnh của chính sách này bao gồm cả sản phẩm nông nghiệp ôn đới Các loại thuế được hợp nhất thành một hệ thống giá khởi điểm Nếu giá nhập khẩu nằm dưới giá khởi điểm tối thiểu, một mức thuế bổ sung được đánh thêm vào thuế hải quan, mức thuế và giá khởi điểm phụ thuộc vào lý do này Ví dụ: các sản phẩm bị ảnh hưởng là cam, quýt và nho Các rau quả nhập khẩu không bị ảnh hưởng bởi hệ thống giá khởi điểm Bên cạnh đó, để phù hợp với việc tự
do hóa thuế nhập khẩu, giá khởi điểm tối thiểu cũng sẽ được tự do hóa [12]
- Thuế chống bán phá giá:
Thuế chống bán phá giá là thuế đánh vào các sản phẩm nhập khẩu được bán ở EU ở mức giá thấp hơn so với mức giá được bán ở nước sản xuất Khi các sản phẩm nhập khẩu gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đối với một ngành công nghiệp nội địa của EU, ngành công nghiệp này có thể gửi đơn kiện đến Brucxen Nếu qua điều tra nhận thấy có hiện tượng bán phá giá, thì
Trang 25thuế chống bán phá giá được áp dụng đối với các sản phẩm trên cơ sở Điều khoản 113 của Hiệp ước về Liên minh Châu Âu Thuế này có thể đánh vào hàng hóa ngay khi thông báo Trước khi xuất khẩu, tất cả các nhà xuất khẩu nên thể hiện quan điểm của mình là chấp nhận mức thuế như vậy hay đòi hỏi phía EU phải tiếp tục điều tra Thuế chống bán phá giá đặc biệt thích hợp trong khu vực công nghệ cao [12]
- Thuế tiêu thụ:
Thuế tiêu thụ là thuế áp dụng đối với một số sản phẩm phụ thuộc vào dung lượng và áp dụng phổ biến đối với các sản phẩm nội địa và hàng nhập khẩu Ví dụ, các sản phẩm đang phải đương đầu với loại thuế này là đồ uống
có cồn và không có cồn, thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá, dầu khoáng sản được sử dụng làm nhiên liệu Thuế tiêu thụ đánh vào dầu và các sản phẩm dầu bao gồm cả một loại “Thuế xanh” để gây quỹ thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Điều đó nhấn mạnh rằng thuế tiêu thụ không được hài hòa ở EU
Do vậy, mức thuế tiêu thụ đối với một số sản phẩm nhất định có thể rất khác biệt giữa các nước thành viên EU [12]
- Thuế giá trị gia tăng (VAT):
Tất cả các sản phẩm bán ở EU đều là đối tượng chịu thuế VAT Nhìn chung mức thuế thấp áp dụng đối với các sản phẩm thiết yếu và mức thuế cao
áp dụng đối với các sản phẩm xa xỉ Mặc dù, mục tiêu ban đầu là hài hòa thuế quan, các miền thuế đã được thu hẹp nhưng sự khác biệt đáng kể vẫn còn tồn tại giữa các nước thành viên EU [12]
3.2 Hàng rào phi thuế quan
Trang 26được coi là một giấy thông hành của nhà sản xuất lưu thông nhiều sản phẩm công nghiệp như máy móc thiết bị, các thiết bị điện có hiệu điện thế thấp, đồ chơi, các thiết bị an toàn cá nhân, các thiết bị y tế trên thị trường EU Tuy nhiên nhãn CE không áp dụng cho tất cả các hàng hóa công nghiệp, nó không
áp dụng cho các sản phẩm trang trí nội thất, quần áo và các sản phẩm da Nhãn CE chỉ ra rằng sản phẩm tuân thủ các yêu cầu về luật định và có thể được áp dụng về an toàn, sức khỏe, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng, nhưng nhãn CE không bảo đảm về chất lượng sản phẩm [24]
- Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm HACCP (the Hazard Analysis Critical Control Point System):
Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm muốn xuất khẩu vào EU bắt buộc phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh hết sức chặt chẽ Các doanh nghiệp này phải áp dụng hệ thống HACCP- Hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếu, như là một yêu cầu bắt buộc khi muốn thâm nhập vào thị trường EU Tiêu chuẩn HACCP được áp dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm và chế biến với các nguyên tắc cơ bản: xác định tất cả các nguy cơ có thể xẩy ra cho sản phẩm trong chu kỳ sống của sản phẩm; xác định các Điểm kiểm soát tới hạn (Critical Control Point), các giai đoạn có thể kiểm soát được trong chu kỳ sống của sản phẩm; xác định những biên độ tiêu chuẩn cao nhất
có thể cho phép mỗi điểm kiểm soát tới hạn; thiết kế và thực hiện một hệ thống kiểm soát kiểm nghiệm hoặc quan sát cho Điểm kiểm soát tới hạn, bao gồm 1 lịch trình theo thời gian; thiết kế và thực hiện các kế hoạch hành động chính xác cho mỗi Điểm kiểm soát tới hạn; đưa ra một tiến trình xác nhận, bao gồm các kiểm nghiệm và tiến trình khác nhằm kiểm tra tính hiệu quả và
hiệu quả của hệ thống HACCP [27]
- Tiêu chuẩn môi trường:
Các nhà xuất khẩu buộc phải xem xét ảnh hưởng môi trường của sản phẩm của mình, của quá trình sản xuất và đóng gói Người tiêu dùng yêu cầu
Trang 27các sản phẩm mang tính môi trường Do vậy các nhà xuất khẩu Việt Nam phải hiểu rằng việc tuân thủ các quy định về sản phẩm là rất cần thiết Việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng EU là một trong những yếu tố quyết định thành công tại thị trường EU
Các vấn đề nhạy cảm là mức độ thặng dư thuốc trừ sâu, phụ gia thực phẩm, sự hiện diện của kim loại nặng, của các chất gây ô nhiễm, sử dụng hóa chất, gỗ rừng nhiệt đới, ô nhiễm nguồn nước, không khí và việc sử dụng cạn kiệt các tài nguyên không thể tái tạo
Các tiêu chuẩn quản lý môi trường là các tiêu chuẩn mang tính tự nguyện Hiện nay tiêu chuẩn môi trường cho các quốc gia đang phát triển được áp dụng nhiều nhất là ISO 14001 Mục đích của tiêu chuẩn ISO14001
về bản chất cho phép mọi người biết rằng công ty được quản lý dưới hệ thống quản lý môi trường Tiêu chuẩn ISO14001 có thể trở thành một yêu cầu không chính thức tăng khả năng cạnh tranh trong nhiều khu vực [12]
- Tiêu chuẩn quản lý chất lượng:
Tổ chức Quốc tế Tiêu chuẩn hóa (International Organization for Standardisation-ISO) phát triển và chấp nhận seri ISO 9000 nhằm cung cấp một cơ cấu cho quản lý và bảo đảm chất lượng Các nhà sản xuất xem chứng nhận ISO 9001, ISO 9002 như là một tài sản quan trọng và là điểm bắt đầu để cạnh tranh trong thị trường EU, tạo một niềm tin mạnh mẽ cho đối tác Giấy chứng nhận ISO chỉ có giá trị trong 3 năm, do vậy để tiếp tục duy trì ISO, các đợt kiểm toán nội bộ (1-2 lần/năm) và kiểm toán từ bên ngoài (2 lần trong năm) cần được thực hiện Điều này có nghĩa là công ty cần phải có 1 người quản lý chịu trách nhiệm cho các chính sách về quản lý chất lượng Các tiêu chuẩn ISO 9000:9001 và 9002 là quan trọng nhất:
ISO 9000: Hướng dẫn cho việc lựa chọn và sử dụng hệ thống chất lượng; không đề cập đến sự tuân thủ những đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm
Trang 28 ISO 9001: Mô hình bảo đảm chất lƣợng trong thiết kế, phát triển, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ
ISO 9002: Mô hình bảo đảm chất lƣợng trong sản xuất, lắp đặt và dịch
và lớn trong khu vực tƣ nhân và công cộng; có thể áp dụng đều nhau trong các lãnh vực sản xuất, dịch vụ và phần mềm [8]
- Tiêu chuẩn lao động:
Ủy ban Châu Âu có quy định nghiêm ngặt về tiêu chuẩn này và sẽ đình chỉ hoạt động của các nhà sản xuất nội địa nếu phát hiện ra những doanh nghiệp này sử dụng lao động cƣỡng bức (ví dụ nhƣ: lao động trẻ em, lao động
tù nhân ) và cấm nhập khẩu những hàng hóa mà quá trình sản xuất sử dụng bất kỳ hình thức lao động cƣỡng bức nào nhƣ đƣợc xác định trong hiệp ƣớc Geneva ngày 25/09/1926 và 7/9/1956 và các Hiệp ƣớc Lao động Quốc tế số
29 và 105 [12]
3.2.2 Giấp phép nhập khẩu
Đối với một số loại hàng hóa, EU áp dụng biện pháp cấp giấy phép nhập khẩu đối với các mặt hàng nhƣ: Sản phẩm văn hóa (bao gồm khảo cổ học, sản phẩm điêu khắc ), các mặt hàng nông sản (rƣợu, sữa, lúa mỳ, thịt, gạo), kim loại Giấy phép nhập khẩu có thể đƣợc yêu cầu đối với hàng nhạy
Trang 29cảm và hàng chiến lược, trong đó có hàng dệt (theo quy tắc của Hiệp định MFA), các sản phẩm thép, than đá và ngũ cốc, vũ khí Giấy phép nhập khẩu thông thường được cấp mà không có quá nhiều khó khăn và nhà nhập khẩu có trách nhiệm viết đơn xin cấp giấy phép Nếu số lượng sản phảm giảm theo Hiệp định MFA và là đối tượng của hạn ngạch nhập khẩu, thì nhà xuất khẩu phải cung cấp cho nhà nhập khẩu giấy phép xuất khẩu hoặc giấy chứng nhận xuất khẩu để nhà nhập khẩu xin được giấy phép xuất khẩu [8]
3.2.3 Hạn ngạch
Hạn ngạch là sự hạn chế về số lượng hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu
và được sử dụng để điều chỉnh nguồn cung Hạn ngạch phổ biến nhất ở EU là hạn ngạch số lượng, loại hạn ngạch này giảm xuống theo Hiệp định MFA (Hiệp định hàng dệt may) Theo như mô tả ở trên thì Hiệp định MFA (Hiệp định hàng dệt may) đang tiến hành hủy bỏ dần hạn ngạch [11]
3.2.4 Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật
Các quy định về kiểm dịch thực vật có thể áp dụng đối với việc sản xuất các sản phẩm tươi như hoa quả Điều đó có nghĩa là giấy chứng nhận kiểm dịch phải được cung cấp bởi nước có sản phẩm xuất khẩu trong điều kiện đảm bảo sức khỏe Sản phẩm phải được giám định bởi cơ quan giám định thực phẩm có thẩm quyền của nước sản xuất để bảo đảm rằng không bị côn trùng và bệnh tật [11]
3.2.5 Lệnh cấm
EU còn áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu đối với một số mặt hàng EU
áp dụng biện pháp cấm hoàn toàn hoặc chỉ cho phép nhập khẩu khi đáp ứng những điều kiện nhất định đối với những mặt hàng nguy hiểm như: các sản phẩm hóa chất độc hại, các chất phế thải Một số mặt hàng bị cấm nhập khẩu vào EU do ảnh hưởng đến an ninh và sức khỏe của cộng đồng như một số tân dược, thuốc trừ sâu, thực phẩm, sản phẩm điện, giống cây trồng, vật nuôi
Trang 30ngoại lai, các nông sản, thủy sản có dư lượng kháng sinh, lượng chất độc vượt quá mức cho phép…[8]
Qua những thông tin ở trên, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về Liên minh Châu Âu (EU) và thị trường EU Những đặc điểm về thị trường: thị hiếu, tập quán, thói quen tiêu dùng, chính sách thương mại chung cũng như là những rào cản thương mại mà EU đặt ra sẽ là những thông tin cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thâm nhập vào thị trường khó tính này Từ những thông tin trên, chúng ta có thể rút ra được những thuận lợi và khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể gặp phải khi thâm nhập vào thị trường EU và từ đó từng bước xây dựng những bước đi cụ thể để tiến tới đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường, đối tác thương mại quan trọng bậc nhất thế giới này
Trang 31CHƯƠNG II
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO
THỊ TRƯỜNG EU
I QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-EU
Việt Nam có quan hệ thương mại với các nước thành viên EU từ rất sớm, nhưng mãi đến ngày 22/10/1990, Việt Nam và Cộng đồng kinh tế Châu
Âu (EEC) mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Tiếp theo đó năm
1992, Việt Nam và EU ký Hiệp định Hợp tác ngành Dệt may và đến năm
1995, Việt Nam và EC đã chính thức ký Hiệp định khung hợp tác Việt
Nam-EU Hiệp định đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển quan hệ hợp tác giữa hai bên
1 Thỏa thuận thương mại song phương
1.1 Hiệp định buôn bán hàng dệt may
Hiệp định về hàng dệt may được ký tắt vào ngày 15/12/1992 và có hiệu lực trong vòng 5 năm, bắt đầu từ tháng 11/1993 cho phép hàng dệt và may mặc của Việt Nam tiếp cận thị trường EU Các lần sửa đổi sau đó là vào năm
1995, năm 1997, năm 2000 và năm 2003 đã mở rộng hạn ngạch hàng dệt may cho Việt Nam Hiệp định Dệt may và Tiếp cận thị trường năm 2003 là lần sửa đổi gần đây nhất đối với hiệp định năm 1992 và bao gồm những điều khoản rộng rãi hơn về tiếp cận thị trường phi hàng dệt, bao gồm cả dịch vụ
Tháng 12 năm 2004, EU đồng ý ngừng áp hạn ngạch lên hàng dệt may Việt Nam qua hiệp định “thu hoạch sớm” có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2005 Đây là bước tiến quan trọng đưa Việt Nam ngang tầm với các thành viên WTO như Trung Quốc Hiệp định này tiếp theo việc kết thúc đàm phán tiếp cận thị trường song phương trong khuôn khổ gia nhập WTO của Việt Nam
Trang 32Đổi lại, Việt Nam đồng ý chính thức hóa cam kết không phân biệt đối xử với các công ty của EU và một số biện pháp mở cửa thị trường trong các lĩnh vực
mà doanh nghiệp EU quan tâm
Hiệp định hàng dệt may Việt Nam-EU đã mở ra một thị trường rộng lớn cho ngành dệt may Việt Nam, đưa mặt hàng dệt may đứng lên thứ hai trong mười mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn của Việt Nam
1.2 Hiệp định khung về hợp tác Việt Nam-EU
Sau nhiều năm chuẩn bị và đàm phán, ngày 31/5/1995, Việt Nam và
EU đã ký tắt và ngày 17/7/1995 ký chính thức “Hiệp định hợp tác giữa Cộng đồng Châu Âu và Cộng hòa XHCN Việt Nam” tại Brucxen (Bỉ) tạo bước ngoặt trong tiến trình phát triển quan hệ hợp tác giữa hai bên Đây là một hiệp định khung dài hạn gồm 21 điều khoản, 3 phụ lục quy định những nguyên tắc trong quan hệ hai bên nhằm tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư, thương mại hai chiều Hiệp định có giá trị trong vòng 5 năm và nghiễm nhiên được gia hạn thêm hàng năm nếu một trong các bên ký kết không tuyên bố hủy bỏ nó trước khi hết hạn 6 tháng
Nội dung của Hiệp định bao gồm rất nhiều lĩnh vực, trong đó điều khoản về thương mại có ghi: Việt Nam- EU sẽ dành cho nhau quy chế tối huệ quốc về thương mại phù hợp với các điều khoản về hiệp định chung về thương mại và thuế quan Các bên cam kết phát triển, đa dạng hóa trao đổi thương mại đến mức cao nhất có thể được Các bên cam kết thực hiện chính sách nhằm tạo thuận lợi cho việc bán sản phẩm vào thị trường của nhau Hai bên sẽ dành cho nhau điều kiện thuận lợi về xuất nhập khẩu hàng hóa và tiến tới loại bỏ hàng rào thương mại giữa hai bên đặc biệt là hàng rào phi thuế quan [4]
2 Thương mại Việt Nam- EU
Trải qua 15 năm, quan hệ Việt Nam- EU không ngừng phát triển Năm
1990, kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nước chỉ đạt có hơn 300 triệu
Trang 33USD thỡ nay đó lờn tới 12,27 tỷ USD (năm 2007) tăng 2 tỷ USD so với năm
2006 và tăng 4 tỷ so với năm 2005 [6]
Bảng 3: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vào EU qua cỏc năm
Đơn vị: triệu USD
(Nguồn: Viện nghiên cứu Châu Âu)
2.1 Xuất khẩu của Việt Nam vào EU
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu
Hiện nay, EU là một trong những đối tác th-ơng mại quan trọng của Việt Nam, là một thị tr-ờng xuất khẩu lớn của n-ớc ta Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị tr-ờng EU ngày càng lớn Điều đó đ-ợc thể hiện trong bảng d-ới đây
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU (2001-2007)
Nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang EU cũn được thể hiện ở chỗ tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong tổng
Trang 34kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ngày càng tăng và khá ổn định Năm
2000, EU đã trở thành địa chỉ xuất khẩu hàng đầu cho Việt Nam và liên tục duy trì vị trí này cho đến nay Bắt đầu từ năm 2002, xuất khẩu vào Mỹ tăng đột biến nhờ Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, thị trường EU có giảm về tỷ trọng, nhưng vẫn duy trì là một trong những thị trường xuất khẩu hàng đầu
của Việt Nam [6]
2.1.2 Cơ cấu xuất khẩu
Việt Nam xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU tập trung ở một số mặt hàng chủ yếu như giày dép, dệt may, thủy sản, nông sản, đồ gỗ, hàng thủ công
mỹ nghệ
Giày dép: EU hiện là thị trường nhập khẩu giày dép lớn nhất của Việt
Nam Sau nhiều năm đứng thứ 2 (sau Hoa Kỳ) thì đến năm 2007, EU đã vượt lên thứ nhất Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào thị trường EU năm 2007 đạt 2,1 tỷ USD, tăng 8% so với năm 2006 chiếm 7,2% tổng kim ngạch nhập khẩu giày dép của EU (29 tỷ USD)
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang EU
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Kim ngạch
(Triệu USD) 1181,5 1363,7 1605,5 1785,4 1810,9 1951,0 2100,0 Tăng trưởng (%) 11,3 15,4 17,7 11,0 16,0 7,8 8,0
(Nguồn: Hải quan Việt Nam)
Việt Nam là nhà cung cấp giày dép lớn thứ hai, chỉ sau Trung Quốc, vào thị trường EU Các loại sản phẩm chủ yếu là giày thể thao, chiếm trên 40% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trường này, giày vải chiếm gần 20%, giày nữ chiếm xấp xỉ 15%, dép khoảng 17% và giày da chiếm hơn 1,5% [6]
Trang 35Số lượng giày dép nhập khẩu từ Việt Nam của từng nước trong EU khác nhau qua các năm nhưng nhìn chung thị trường nhập khẩu giày dép lớn nhất của Việt Nam trong khối EU là Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan, Pháp, Italia [4]
Tuy vậy, xuất khẩu mặt hàng này vào EU vẫn còn nhiều hạn chế như nguyên liệu đầu vào chủ yếu vẫn phải nhập khẩu bên ngoài, khâu tiêu thụ còn phụ thuộc nhiều vào đối tác trong liên doanh, nghiên cứu thị hiếu thị trường, thiết kế mẫu và phát triển sản phẩm mới còn yếu
Hàng dệt may: là mặt hàng có giá trị kim ngạch lớn thứ hai của Việt
Nam sang EU Thị trường EU thực sự mở rộng đối với ngành dệt may của Việt Nam khi khung pháp lý về thị trường đã được mở hoàn toàn và hơn thế,
EU còn dành cho Việt Nam cơ chế ưu đãi thuế quan phổ cập GSP
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường EU
Năm 2003 2004 2005 2006 2007 ước tính 2008
Kim ngạch
(Triệu USD) 612 684 800 1243 1500 1650 Tăng trưởng (%) - 11,76 66,25 12,78 12,00 13,80
(Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam)
Năm 2007, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào EU đạt 1,5 tỷ USD, chiếm 9% kim ngạch xuất khẩu vào khu vực này và tăng 12% so với năm
2006 Năm 2008 ước tính ngành dệt may sẽ đạt khoảng 1,65 tỷ USD tăng 13,8% so với năm 2007 [20]
Mặc dù ngành dệt may nhìn tổng thể có sự phát triển khá ấn tượng, song sự phát triển của ngành dệt còn hạn chế Nguyên nhân một phần là do các doanh nghiệp dệt may chủ yếu làm gia công cho nước khác mà không tự sản xuất hàng xuất khẩu trực tiếp được do vấn đề nguyên liệu đầu vào không sẵn có Mặt khác, hàng dệt may còn chịu sự cạnh tranh gay gắt từ phía các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ… Những khó khăn này đã hạn chế rất nhiều đến sự phát triển của ngành dệt may của Việt Nam
Trang 36Hàng thủy sản: EU là khách hàng lớn thứ ba của hàng thủy sản Việt
Nam Các mặt hàng xuất khẩu thủy sản chủ yếu bao gồm tôm, mực đông lạnh, cá tra, cá ba sa…Năm 2007, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU đạt 920 triệu USD, tăng 27% so với năm 2006, đứng thứ 2 sau Hoa Kỳ (1,1 tỷ USD) và vượt cả Nhật Bản (700 triệu USD) [4]
Biểu đồ 1: Mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu và thị trường chính của Việt Nam
Trong ba tháng đầu năm 2008, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới EU đạt 66,7 nghìn tấn, với kim ngạch đạt 210,3 triệu USD, tăng 23,3% về lượng
và 20,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2007, chiếm khoảng 26% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Một trong những vấn đề lớn của ngành thủy sản là vấn đề an toàn sản phẩm, đặc biệt là về thuốc kháng sinh và các hóa chất khác tìm thấy trong sản phẩm xuất khẩu Vấn đề này đã hạn chế hoặc thậm chí là ngăn cản hàng thủy sản Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU Bên cạnh đó, quy định mới về xuất xứ của EU, có hiệu lực năm 2005, đòi hỏi ngành phải có những chuyển biến lớn và đầu tư nhiều hơn vào hệ thống thu mua, trung gian và chế biến Ngoài ra, những vụ kiện chống bán phá giá cũng là rủi ro mà ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam cần đặc biệt quan tâm
Trang 37Mặt hàng nông sản: Hàng nông sản của Việt Nam hiện được xuất
khẩu sang EU ngày càng tăng về kim ngạch, trong đó cao nhất là cà phê, chè…
Đối với cà phê, EU là thị trường nhập khẩu lớn nhất của cà phê Việt Nam Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang EU đạt 879 triệu USD, chiếm tỷ trọng 40-50% kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam
So với thị phần nhập khẩu mặt hàng này của EU thì kim ngạch nhập khẩu cà phê của Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng từ 4-5% kim ngạch nhập khẩu cà phê của EU hàng năm
Về chè, xuất khẩu chè tiếp tục tăng trưởng một cách khá ổn định về khối lượng Trong mấy năm qua, Việt Nam xuất khẩu chè sang khu vực EU không nhiều, mỗi năm chỉ được vài ba triệu USD Trong khi đó, EU phải nhập khẩu gần như 100% chè uống, khối lượng lên tới 450.000-470000 tấn/năm
Tuy được hưởng mức thuế thấp nhưng mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU vẫn chưa phản ánh đúng được tiềm năng Nguyên nhân một phần là do hàng nông sản của ta xuất sang EU thường ở dạng thô, chưa có tên tuổi, việc sản xuất chế biến và tiêu thụ hàng nông sản chưa đa dạng, chưa chuyên sâu, nắm bắt thị hiếu tiêu dùng còn yếu Mẫu mã, bao bì hàng nông sản của Việt Nam vẫn còn sơ sài đơn điệu
Đồ gỗ: Đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam vào EU hiện nay đang hưởng
thuế GSP với mức thuế suất chủ yếu là 0% (một số mã hàng chịu thuế 2,1%)
đã giúp Việt Nam có một lợi thế nhất định khi chen chân vào thị trường EU
so với Trung Quốc, Indonesia, Braxin, Malaysia do các nước này không được hưởng GSP Kim ngạch xuất khẩu hàng gỗ của Việt Nam vào EU trong thời gian qua có mức tăng trưởng trung bình 38%/năm, tập trung vào đồ gỗ nội thất và đồ dùng ngoài trời Năm 2007, đồ gỗ EU đạt khoảng 2,37 tỷ USD
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang thị trường EU
Trang 38Đơn vị : Triệu USD
(Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam)
Theo con số thống kê của Vụ xuất nhập khẩu_ Bộ Thương mại năm
2007, đồ gỗ của Việt Nam đã thâm nhập được vào hầu hết các nước EU trong
đó các nước nhập khẩu chính là Anh chiếm 24,8%, Pháp (29,1%), Đức (6,8%), Ý (12,6%), Hà Lan (9,0%), Bỉ (7,2)
Tuy nhiên so với tổng lượng nhập khẩu và tiêu dùng của EU thì mức xuất khẩu của Việt Nam còn khiêm tốn Một trong những nguyên nhân là đồ
gỗ Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với hàng Trung Quốc, Indonesia, Philipin và Đông Âu…Mặt khác, đồ gỗ Việt Nam còn mắc phải một số nhược điểm như cơ sở sản xuất nhỏ, còn manh mún, thiếu đầu tư từ mẫu mã đến chất lượng, công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường còn kém, thiếu hiệu quả, nguồn cung nguyên liệu và phân phối còn chưa đồng bộ, ít nhiều còn manh nha… [4]
Hàng thủ công mỹ nghệ: Đây là mặt hàng xuất khẩu tiềm năng lớn của
Việt Nam sang EU Các sản phẩm gỗ mỹ nghệ, gốm sứ, mây tre đan được xem là những thế mạnh chủ yếu
Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang EU
Đơn vị: Triệu USD
Trang 39(Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam)
Theo đánh giá của đa số Doanh nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu vào thị trường EU thì Anh, Đức, ý, Tây Ban Nha là những nước có nhu cầu rất lớn
về mặt hàng mây tre lá và sơn mài; Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Thụy Điển có nhu cầu lớn về hàng gốm sứ; Pháp, Bỉ có nhu cầu về trang sức [19]
Tuy kim ngạch tăng cao nhưng tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU lại rất thấp (chỉ khoảng 3%) Nguyên nhân là do chúng ta phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc, Thái Lan và nhiều nước Đông Nam Á khác, trong khi đó doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu vào EU bị mất hẳn lợi thế cạnh tranh về giá cả Điều này xuất phát là do hàng hóa bị đóng gói cồng kềnh và phải chịu một mức phí vận tải khác lớn, góp phần làm tăng giá thành sản phẩm Ngoài ra, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam nhìn chung tại thị trường EU còn non kém về chất lượng, thiếu đa dạng về mẫu mã, khó chịu được thời tiết khắc nghiệt, dẫn đến biến dạng và hư hỏng sản phẩm [6]
Các sản phẩm nhựa, điện tử- vi tính, cao su: Đây là những mặt hàng
xuất khẩu mới đầy triển vọng Trong đó, mặt hàng điện tử-vi tính có khả năng trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, có hàm lượng giá trị gia tăng cao của Việt Nam Năm 2007, sản phẩm nhựa và cao su tăng 59% và 50%, kim ngạch đạt trên 164,3 triệu tấn và 233,2 triệu USD; các sản phẩm điện tử-vi tính tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt mức 40% với kim ngạch 385,2 triệu USD
2.1.3 Thị trường xuất khẩu
Trang 40Trong các nước thành viên EU, Đức và Anh là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình 20-30%/năm Năm 2006, Đức nhập khẩu từ Việt Nam 1,3 tỷ USD, Anh nhập 1,1 tỷ USD Tiếp theo là Pháp và Hà Lan nhập khẩu từ 700-800 triệu USD, tăng trưởng trung bình từ 19 đến 27%/năm Các nước Thụy Điển, Áo, Ailen và Bồ Đào Nha là những thị trường nhỏ hơn, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam thấp hơn Tây Ban Nha và Hy Lạp là những thị trường mới nhưng có nhiều hứa hẹn với mức tăng trưởng hàng năm tương đối cao [4]
Như vậy quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang
EU đã được mở rộng và tăng trưởng ở mức khá, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
đã có chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, nhóm hàng có hàm lượng chất xám cao, giảm dần xuất khẩu hàng thô Ở nhiều mặt hàng, Việt Nam đã có vị trí nhất định trên thị trường EU Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn một số những tồn tại như hàng hóa Việt Nam xuất sang EU tăng trưởng nhanh nhưng chưa ổn định,
dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động của môi trường bên ngoài như cạnh tranh, biến động giá cả trên thị trường thế giới, sự xuất hiện của các rào cản; khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam chưa cao, mẫu mã, chất lượng còn kém; hoạt động xúc tiến thương mại cũng còn nhiều hạn chế [4]
2.2 Nhập khẩu của Việt Nam từ EU
2.2.1 Kim ngạch nhập khẩu
Theo số liệu từ Viện nghiên cứu Châu Âu, hàng nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường EU năm 2007 đạt trên 4,1 tỷ USD, tăng gần 1 tỷ USD so với năm 2006 (3,12 tỷ USD) và vượt xa năm 2005 (2,65 tỷ USD) Kim ngạch nhập khẩu từ EU năm 2007 vào Việt Nam chỉ chiếm 6,8% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước 60,8 tỷ và thấp hơn tỷ lệ này của năm 2006 (7%) bằng 33
% của khối ASEAN 12 tỷ USD
2.2.2 Cơ cấu nhập khẩu