Triển khai áp dụng luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
- -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Hương
Lớp : Anh 1
Khóa : 44A
Giáo viên hướng dẫn : TS Đào Thị Thu Giang
Hà Nội, tháng 05/2009
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 6
TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA VIỆT NAM 6
1 SƠ LƯỢC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6
1.1 LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA THUẾ TNCN 6
1.1.1 LỊCH SỬ THUẾ TNCN TRÊN THẾ GIỚI 6
1.1.2 THUẾ TNCN Ở VIỆT NAM 7
1.2 KHÁI NIỆM THU NHẬP VÀ THUẾ TNCN 10
1.3 VAI TRÒ CỦA THUẾ TNCN 15
1.3.1 THUẾ TNCN LÀ MỘT CÔNG CỤ PHÂN PHỐI ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI 15 1.3.3 THUẾ TNCN GÓP PHẦN ĐIỀU CHỈNH VĨ MÔ NỀN KINH TẾ 18
2 LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA VIỆT NAM 18
2.1 SỰ RA ĐỜI CỦA LUẬT THUẾ TNCN VIỆT NAM 18
2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ TNCN 19
2.2.1 VỀ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ 19
2.2.2 THU NHẬP CHỊU THUẾ 20
2.2.3 CĂN CỨ TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN CƯ TRÚ 22
2.2.4 BIỂU THUẾ 26
2.3 NHỮNG ĐIỂM TIẾN BỘ CỦA LUẬT THUẾ TNCN 27
2.1 BỔ SUNG VÀ QUY ĐỊNH RÕ HƠN VỀ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ 27
2.2 ĐỔI MỚI CÁCH PHÂN LOẠI THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐỂ XÁC ĐỊNH NGHĨA VỤ THUẾ 28
Trang 32.4 SỬ DỤNG THUẬT NGỮ “THU NHẬP ĐƯỢC MIỄN THUẾ” THAY CHO “THU NHẬP KHÔNG CHỊU THUẾ” VÀ BỔ SUNG MỘT SỐ KHOẢN THU NHẬP ĐƯỢC MIỄN THUẾ 30
2.5 ÁP DỤNG GIẢM TRỪ GIA CẢNH KHI XÁC ĐỊNH NGHĨA VỤ
THUẾ 30
2.6 ÁP DỤNG GIẢM TRỪ ĐỐI VỚI CÁC KHOẢN ĐÓNG GÓP TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO 32 2.7 QUY ĐỊNH GIẢM TRỪ CHI PHÍ CHO CÁ NHÂN KINH DOANH MỘT CÁCH HỢP LÝ 33
2.8 ĐIỀU CHỈNH THUẾ SUẤT THEO HƯỚNG GIẢM THUẾ SUẤT CAO NHẤT, THẤP NHẤT, VÀ TĂNG BẬC THUẾ SUẤT; THỐNG NHẤT BIỂU THUẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM VÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 33
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỂN 35
1.1 MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN 35
1.2 PHƯƠNG THỨC TUYÊN TRUYỀN 36
2 ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGÀNH THUẾ 38
2.1 SẮP XẾP, ĐÁNH GIÁ LẠI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGÀNH THUẾ 38
2.2 TẬP HUẤN, ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ 39
3 CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ VẬT CHẤT 40
3.1 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ THUẾ 40
3.2 BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN 43
3.3 THÀNH LẬP BẠN CHỈ ĐẠO NHẰM TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN 46
Trang 44 CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ THUẾ, KHAI THUẾ, NỘP
THUẾ 48
4.1 NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THUẾ, KHAI THUẾ, NỘP VÀ QUYẾT TOÁN THUẾ 48
4.3 TRIỂN KHAI ĐĂNG KÝ GIẢM TRỪ GIA CẢNH 56
4.3.1 NỘI DUNG GIẢM TRỪ GIA CẢNH 56
4.3.2 TRIỂN KHAI ĐĂNG KÝ VÀ CHỨNG MINH GIẢM TRỪ GIA CẢNH 58
4.3.3 NHỮNG VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC KHI TRIỂN KHAI ĐĂNG KÝ GIẢM TRỪ GIA CẢNH 59
5 ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ 61
6 THỜI HẠN NỘP THUẾ 66
6.1 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC GIÃN NỘP THUẾ TNCN 69
6.2 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIÃN NỘP THUẾ TNCN 70
6.3 NHỮNG VẤN ĐỀ VƯỚNG MẮC KHI THỰC HIỆN QUÁ TRÌNH GIÃN NỘP THUẾ TNCN 70
6.4 HOÀN TRẢ KHOẢN THUẾ TNCN ĐÃ TẠM THU 72
7 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN 74
7.1 NHỮNG THUẬN LỢI TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN 74
7.1.1 CÔNG TÁC CHUẦN BỊ KHÁ KỸ LƯỠNG TRƯỚC THỜI ĐIỂM LUẬT THUẾ TNCN CÓ HIỆU LỰC 74
7.1.2 NỘI DUNG TIẾN BỘ CỦA LUẬT THUẾ TNCN KHIẾN QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CÓ NHỮNG ĐIỂM THUẬN LỢI 74
7.2 NHỮNG KHÓ KHĂN KHI TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN 76
7.2.1 KHÓ KHĂN TRONG KHÂU QUẢN LÝ THU NHẬP 76
Trang 57.2.2 KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN ĐỐI VỚI ĐỐI TƯỢNG THUỘC KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC 777.2.3 KHÓ KHĂN DO CÔNG TÁC CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN CHƯA THẬT SỰ DẦY ĐỦ 787.2.4 KHÓ KHĂN KHI TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI KHỦNG HOẢNG 79
CHƯƠNG III BIỆN PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 81
1 THỰC TẾ TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN Ở MỸ 81
1.1 TRIỂN KHAI KÊ KHAI VÀ THU NỘP THUẾ TNCN TẠI MỸ 82
1.1.1 KÊ KHAI 831.1.2 HOÀN THUẾ 831.1.3 KIỂM TOÁN 85
1.2 NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN MĨ 91
2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN TẠI VIỆT NAM 94
2.1 TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU NHẬP 94 2.2 THỰC HIỆN NGHIÊM CÔNG TÁC THANH TRA, XỬ PHẠT VI PHẠT THUẾ 96 2.3 CẢI CÁCH CÁC THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 98
2.3.1 CẢI THIỆN LƯƠNG CỦA VIÊN CHỨC HÀNH CHÍNH CÔNG THÔNG QUA CHÍNH SÁCH THUẾ TNCN HỢP LÝ 982.3.2 THAY ĐỔI TƯ TƯỞNG, NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THUẾ CŨNG NHƯ NGƯỜI NỘP THUẾ 992.3.3 CHỐNG THAM NHŨNG TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH 99
Trang 62.4 CHUẨN BỊ THẬT TỐT CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ VẬT CHẤT
CHO TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN 100
2.4.1 VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, HỖ TRỢ 100
2.4.2 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 102
2.4.3 ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGÀNH THUẾ 103
2.5 PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ THUẾ CÓ LIÊN QUAN 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của đề tài
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, ngày càng có nhiều vấn đề mới về chính sách thuế cần phải được nghiên cứu một cách có hệ thống Và cùng với quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, thu nhập trong dân cư có xu thế tăng đồng thời phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư cũng sâu sắc thêm Việc sử dụng các công cụ thuế như thế nào và từng sắc thuế mà đặc biệt là thuế TNCN (một trong những sắc thuế trụ cột của hệ thống thuế hiện đại) đã phù hợp với cơ chế quản
lý kinh tế mới hay chưa đang là mối quan tâm của các nhà kinh tế cũng như đông đảo người dân Việc Luật Thuế TNCN ra đời và có hiệu lực vào ngày 1/1/2009 vừa qua thay thế Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là một bước tiến mới và kèm theo đó là rất nhiều các vấn đề liên quan phát sinh, trong đó đặc biệt là trong khâu triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN vào trong cuộc sống Thực hiện tốt Luật Thuế TNCN đang là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách của Nhà nước ta cũng như ảnh hưởng khá lớn đến đời sống của người dân là đối tượng nộp thuế Chính vì vậy em đã chọn
đề tài “Triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN tại Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 8Đối tượng nghiên cứu: phạm trù thu nhập, TNCN, các nội dung xoay
quanh thuế TNCN, việc triển khai áp dụng luật thuế TNCN tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực tiễn về triển khai áp dụng
luật thuế thu nhập trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay Từ kinh nghiệm về thuế TNCN của một số nước
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp
lý luận thực tiễn và tính hiện thực, phương pháp so sánh đối chiếu với chính sách thuế của một số nước để làm sáng tỏ vấn đề
Kết cấu bài khóa luận
Chương I: Tổng quan về thuế TNCN và Luật Thuế TNCN tại Việt
Nam
Chương II: Thực trạng triển khai Luật Thuế TNCN tại Việt Nam
Chương III: Biện pháp nhằm triển khai hiệu quả Luật Thuế TNCN tại
Việt Nam
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo Tiến sĩ Đào Thị Thu Giang đã hết sức nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành bản khóa luận này
Trong quá trình nghiên cứu do còn hạn chế về thời gian và kiến thức bài khóa luận còn có những thiếu sót nhất định, mong thầy cô và các bạn thông cảm và góp ý
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
VÀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA
VIỆT NAM
1 SƠ LƯỢC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Lịch sử ra đời của thuế TNCN
1.1.1 Lịch sử thuế TNCN trên thế giới
Thuế TNCN (TNCN) đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước phát triển Thuế TNCN ra đời lần đầu tiên ở nước Cộng hòa Hà Lan (Dutch Batavian Republic) vào năm 1797 Sau đó là ở Anh vào tháng 12 năm 1798 thuế TNCN đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến chống lại Napoleon và được chính thức ban hành vào năm
1842 Sau đó thuế TNCN đã nhanh chóng được lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Đức (1808), Nhật (1887), Mỹ (1913 - đánh thuế thu nhập với những thu nhập hơn 800 $), Pháp (1914), Liên Xô (1922) Tại Châu
á như Trung Quốc áp dụng năm 1936, Thái Lan năm 1939, Philipin năm
1945, Hàn Quốc năm 1948 Indonesia năm 1949 Cho đến nay đã có 180 quốc gia áp dụng thuế TNCN.1
Tuy nhiên có thể nói hình thức sơ khai nhất của thuế TNCN lại xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc Vào những năm 10 sau Công Nguyên, hoàng đế Minh Mạng của Trung Quốc đã ban hành một sắc thuế mới - thuế thu nhập, những chuyên gia và lao động có tay nghề cao phải nộp cho triều đình 10% lợi nhuận mà họ thu được
1
Nguồn: website http://en.wikipedia.org/wiki/Income_tax
Trang 10Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã áp dụng thuế TNCN Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
1.1.2 Thuế TNCN ở Việt Nam
Thời kỳ phong kiến:
Ở Việt Nam trước đây, trên 90% dân số là nông dân Hai sắc thuế chủ yếu với người nông dân là thuế ruộng (thuế điền) và thuế thân (thuế đinh) Thuế ruộng đã có từ thời nhà Ngô nhưng đến các thời nhà Lý, Trần, Hồ mới được quy định rõ ràng, chặt chẽ Thuế thân thực chất là thuế thu nhập đến thời nhà Trần mới ra đời
Thời nhà Trần: thuế thân mang tính chất là thuế TNCN bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, được ban hành từ năm 1378 Thuế áp dụng với mọi công dân là nam giới từ 18 tuổi trở lên và còn được gọi là thuế đinh (thuế đánh theo đầu người) Bước đầu thuế thân thu 3 quan tiền/suất đinh, tương đương 54kg thóc Thuế ruộng tư thu từ 42 đến 459kg thóc/ha theo lũy tiến.2
Sau đó là thời nhà Hồ, nhà Lê (năm 1470) và nhà Lê Trịnh (năm 1670) đều áp dụng thuế thân - dạng sơ khai nhất của thuế TNCN ở nước ta, tuy nhiên với những mức thuế suất khác nhau Và đến năm 1772 thuế thân được điều chỉnh lại là 40kg thóc/suất (khoảng 3,9% sản lượng nông nghiệp/mẫu bắc bộ) Riêng phần thuế ruộng động viên khoảng 7 - 8% sản lượng nông nghiệp.3
Thời nhà Nguyễn và Pháp đô hộ:
Về cơ bản thời nhà Nguyễn vẫn giữ nguyên các sắc thuế như đã có dưới các triều đại phong kiến trước, trong đó có thuế thân và còn đưa ra thêm
Trang 11các loại thuế khác Nhìn chung thuế dưới triều Nguyễn là nặng nề phức tạp mang tính vơ vét, bóc lột Ngoài ra còn do hệ thống quan lại tham nhũng từ trên xuống dưới, thu trực tiếp hoặc qua đấu thầu lạm bổ, sách nhiễu nhân dân, dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy chống thuế
Và dưới thời Pháp thuộc chế độ thuế thân là một chế độ thuế gian lận
và tùy tiện, là thuế lũy tiến ngược với tài sản Tình trạng này gây ra những lời phê bình, ca thán vô cùng thống thiết dưới thời Pháp thuộc
Tóm lại, chính sách thuế thân dưới các triều đại phong kiến và nhất là
dưới thời Pháp thuộc là một mối kinh hoàng của người nông dân Việt Nam, là một thứ thuế bất công đánh đồng loạt vào người giàu lẫn người nghèo, là thứ thuế mà mọi người mong muốn xóa bỏ Tuy có nhiều nhược điểm nhưng một điểm đáng lưu ý là một dạng của thuế - sơ khai thuế TNCN đã có mặt ở Việt Nam khá lâu dưới cái tên “thuế đinh” và trong điều kiện xã hội có nền kinh tế chưa phát triển cũng có thể đặt ra thuế TNCN
Thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước
Ở miền Bắc: Sau thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945, Hồ Chủ Tịch
đã ký sắc lệnh 11- SL, trong đó chế độ thuế thân đánh vào đầu người đã được bãi bỏ, giải phóng nhân dân khỏi tấm thẻ sưu đã bao năm ràng buộc người dân Việt Nam
Ở miền Nam: Dưới thời chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 có thuế
lợi tức mang tính chất là một loại thuế đánh vào thu nhập của cả thể nhân và pháp nhân Trong đó thuế lợi tức đối với thể nhân chính là dạng tương tự của thuế TNCN thể hiện ở: (1) Thu nhập chịu thuế: là thu nhập từ lao động như lao động từ tiền lương, tiền công, thu nhập về bản quyền phát minh, nhãn hiệu hàng hóa, phụ cấp tiền thưởng (2) Lợi tức chịu thuế (hay thu nhập chịu thuế) cũng được xác định là thu nhập sau khi đã trừ đi một số khoản chi phí hợp lý nhất định Đó là tổng thu nhập nhận được trừ bớt đi các chi phí tạo ra thu nhập, sau đó thu nhập chịu thuế còn được trừ tiếp một số khoản tùy theo
Trang 12gia cảnh của hộ nộp thuế như chi phí nuôi dưỡng con, cha mẹ và một số khoản có tính chất xã hội khác để xác định thu nhập chịu thuế (3) Phương pháp đánh thuế theo hộ gia đình: đó là thu nhập thuần tính chung của cả gia đình, cũng quy định mức thuế suất, thủ tục hành thu (4) Thuế suất, biểu thuế suất: Thuế suất được áp dụng là thuế suất theo tỷ lệ %, biểu thuế lũy tiến theo từng phần gồm 7 bậc từ 10-70% đối với các thể nhân có trụ sở tại Việt Nam Đối với các thể nhân không có trụ sở tại Việt Nam áp dụng một thuế suất duy nhất là 40%
Sau khi thống nhất đất nước, nhà nước ta đã bãi bỏ chế độ thuế TNCN của chính quyền Sài Gòn cũ Tuy nhiên phải đánh giá rằng luật thuế TNCN của chính quyền Sài Gòn cũ là luật thuế TNCN khá chặt chẽ, phù hợp với chế
độ thuế TNCN của các nước có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường nhưng mới chỉ đáp ứng được một phần của một luật thuế TNCN hoàn chỉnh
Sau năm 1975
Vào ngày 01/4/1991 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao đã được ban hành và áp dụng như luật thuế TNCN hoàn chỉnh, đầu
tiên ở Việt Nam Pháp lệnh tồn tại khá lâu (có hiệu lực trong thời gian 18 năm
từ năm 1991 đến hết năm 2008), đã có sửa đổi bổ sung 7 lần cho hoàn chỉnh hơn vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999, 2001 và 2004 Tuy còn một
số điểm bất hợp lý nhưng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có những đóng góp vô cùng quan trọng trong quá trình bước đầu tiến hành áp dụng thuế TNCN tại Việt Nam
Sau 18 năm tồn tại, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập
cao đã bị thay thế bởi Luật thuế TNCN được Quốc hội khoá 12 thông qua
ngày 21/11/2007 và đã có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2009 vừa qua Đây được đánh giá là Luật về thuế TNCN hoàn chỉnh nhất ở Việt Nam từ trước đến nay, và đưa luật thuế TNCN của Việt Nam gần với xu hướng thuế TNCN trên thế giới hơn Tuy luật thuế TNCN được đánh giá là có nhiều điểm
Trang 13tiến bộ nhưng thực tế quá trình triển khai áp dụng Luật thuế này vẫn gặp khá nhiều vấn đề khó khăn cần được khắc phục
1.2 Khái niệm thu nhập và thuế TNCN
Định nghĩa Thuế TNCN
Về nguyên tắc bất cứ một cá nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động hay đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho nhà nước dưới dạng thuế thu nhập
Có thể chia thuế thu nhập thành 2 loại chính đó là: Thuế đánh vào thu nhập của cá nhân, được gọi là thuế TNCN và thuế đánh vào thu nhập của pháp nhân thì được gọi là thuế doanh nghiệp, thuế sự nghiệp, thuế lợi nhuận… Ở Việt Nam hiện nay tồn tại 2 loại thuế thu nhập đó là: thuế TNCN và thuế TNDN
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân
Thuế TNCN là thuế trực thu vì người nộp thuế và người phải chi tiền đóng thuế là một (hay không có sự chuyển dịch đối tượng nộp thuế) Ở nhiều nước, bất cứ cá nhân nào cũng phải đóng thuế TNCN Đứng từ góc độ lý thuyết chuẩn tắc của kinh tế học công cộng thì hễ chủ thể kinh tế nào tiêu dung hàng hóa công cộng thì đều phải nộp thuế bất kể thu nhập của anh ta dù nhiều hay ít (đánh thuế theo lợi ích) Song thực tế việc thu thuế từ những người có thu nhập thấp hơn một ngưỡng nhất định có thể không đem lại nhiều lợi ích so với chi phí
kỹ thuật cho việc thu thuế Do đó theo nguyên tắc về “tính đơn giản” của thuế, nhiều nước áp dụng thuế suất 0% đối với nhóm người này, hay nói cách khác chỉ thu thuế từ những người có thu nhập cao hơn một ngưỡng nhất định
Cơ sở xây dựng chính sách thuế TNCN
4
Như chú thích 2
Trang 14Ở mỗi nước, Luật thuế TNCN được xây dựng khác nhau tùy theo tính đặc thù của từng nước Bởi vậy, giữa các nước khác nhau sẽ có sự biệt trong việc xác định thu nhập chịu thuế, thuế suất, các trường hợp miễn giảm thuế… Tuy nhiên khi xây dựng chính sách thuế TNCN các quốc gia đều quan tâm giải quyết các vấn đề sau đây:
Xác định thu nhập chịu thuế:
Xác định đúng đắn thu nhập chịu thuế là cơ sở tính thuế thu nhập chính xác Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được giảm trừ Tổng thu nhập của một đối tượng tính thuế sẽ không bao gồm những khoản miễn thuế Để xác định tổng thu nhập cần phải xác định từng khoản cấu thành tổng thu nhập theo từng loại thu nhập
cụ thể, tức là xem xét tổng thu nhập được hình thành từ những nguồn nào Tuy nhiên không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều đưa vào đối tượng tính thuế Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhập không đưa vào đối tượng đánh thuế
Muốn xác định thu nhập chịu thuế chính xác cần phải xem xét các vấn
đề như
Nguồn gốc của thu nhập: Thu nhập của cá nhân có thể phân thành các nguồn cơ bản như: Thu nhập từ lao động (giữ vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu nhập chịu thuế ở các nước phát triển: tiền lương, các khoản trợ cấp do người chủ lao động cung cấp phục vụ lợi ích của người làm công, các khoản bồi hoàn…); phúc lợi của người làm công (thông thường như nhà ở, sử dụng phương tiện đi lại do người chủ lao động cung cấp…); thu nhập từ hoạt động kinh doanh; thu nhập
từ vốn, tài sản hay gọi là thu nhập từ đầu tư; các khoản thu nhập bất thường khác
Đánh thuế trên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập: (1) Hệ thống thuế dựa vào tình trạng “cư trú” được sử dụng rộng rãi trên thế giới
Trang 15Theo hệ thống này, các cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế tại nước đó và đánh trên mọi khoản thu nhập từ khắp nơi trên thế giới; còn những cá nhân không cư trú chỉ bị đánh thuế trên phần thu nhập phát sinh tại nước đó Khái niệm cư trú được quy định khác nhau ở các nước khác nhau Thuế TNCN của Việt Nam cũng áp dụng cơ sở đánh thuế là tình trạng “cư trú” (2) Ngoài ra cơ sở thứ hai được dựa vào để xác định nghĩa vụ nộp thuế là “nguồn phát sinh thu nhập” Nếu áp dụng theo cơ
sở này thì các cá nhân chỉ phải nộp thuế TNCN đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước sở tại mà không phải nộp thuế thu nhập đối với những khoản thu nhập phát sinh ở nước ngoài Cách đánh thuế này thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư còn bản thân công dân của nước đó ít đi làm hoặc đầu tư ở nước ngoài
Xác định thời gian tính thuế thu nhập: Xác định đúng đắn thời điểm để tính thuế thu nhập là vấn đề vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng và thực thi luật thuế Bởi vì một đối tượng nộp thuế có thu nhập liên tục thì thời điểm tính thuế được xác định là thời điểm nào Xác định đúng thời gian tính thuế còn xuất phát từ yêu cầu đảm bảo giá trị đồng tiền nộp thuế trước tình trạng lạm phát, tránh sự lợi dụng chiếm dụng tiền thuế và thực hiện chi tiêu theo kế hoạch của nhà nước Biện pháp chung nhất là tạm nộp theo hàng tháng, quyết toán hàng năm
Xác định các khoản thu nhập miễn trừ
Một trong những đặc điểm quan trọng của thuế TNCN là có tính tới hoàn cảnh của từng cá nhân, đó là các khoản giảm trừ Các khoản giảm trừ thường được thực hiện dưới 2 dạng: miễn trừ cá nhân và miễn trừ tiêu chuẩn
Miễn trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực
tế phát sinh đối với các khoản được phép giảm trừ Thông thường có hai loại giảm trừ cá nhân đó là: giảm trừ có tính chất kinh tế (các khoản giảm trừ mang
Trang 16tính chất chi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập như chi phí đi lại,
ăn ở… kể cả các khoản đóng bảo hiểm) và giảm trừ có tính chất xã hội (các khoản giảm trừ mang tính chất chi trợ cấp có tính xã hội như giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, chi nuôi dưỡng, bảo trợ người già, tàn tật…) Phương pháp miễn trừ cá nhân đảm bảo sự công bằng và thường được áp dụng ở những nước
có trình độ phát triển kinh tế và dân trí cao, hệ thống lưu trữ và kiểm soát thông tin tốt
Đối với các nước chậm phát triển thường không đủ điều kiện để áp dụng phương pháp này mà chủ yếu áp dụng phương pháp giảm trừ tiêu chuẩn Phương pháp này thực hiện thông qua việc xác định mức khởi điểm chịu thuế
- đó là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ những chi phí cần thiết cả về mặt kinh tế và xã hội theo quan niệm và tập quán của từng nước Phương pháp giảm trừ tiêu chuẩn tuy không công bằng vì mức chi phí cần thiết bị cào bằng giữa các đối tượng nộp thuế nhưng lại đảm bảo cho thuế TNCN dễ tính toán, đơn giản hơn, do đó tiết kiệm chi phí hành thu và chi phí chấp hành, tuân thủ luật thuế Việt Nam đang áp dụng phương pháp giảm trừ tiêu chuẩn này
Thuế suất thuế TNCN
Đối với thuế TNCN thông thường áp dụng biểu thuế suất lũy tiến (bao gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và lũy tiến từng phần) Trong đó biểu thuế lũy tiến từng phần được coi là đảm bảo công bằng hơn và không gây ra mâu thuẫn “mức tăng của thuế lớn hơn mức tăng của căn cứ tính thuế” tại điểm tiếp giáp giữa hai bậc thuế
Khi xây dựng biểu thuế của thuế thu nhập cá nhân, các quốc gia thường
sử dụng một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, đánh thuế cùng một mức vào thu nhập tổng hợp, với số lượng thuế suất vừa phải để có thể quản lý tốt hơn
Trang 17 Thứ hai, mức thuế không nên quá cao làm ảnh hưởng đến nỗ lực lao động, tiết kiệm và đầu tư
Thứ ba, tùy theo đặc điểm tình hình kinh tế xã hội mà có thể sử dụng thuế suất ưu tiên linh hoạt cho từng loại thu nhập Theo tập tục truyền thống thì hầu hết các nước sử dụng thuế suất ưu đãi đối với thu nhập từ lao động hơn là thu nhập từ vốn
Phương pháp quản lý thu nộp
Thuế thu nhập có thể được thu theo phương pháp khấu trừ tại nguồn hoặc phương pháp thu trực tiếp
Phương pháp khấu trừ tại nguồn được áp dụng cho các khoản thu nhập phát sinh có tính chất ổn định như thu nhập từ lương, thu nhập từ bất động sản… Theo phương pháp này người hoặc cơ quan chi trả thu nhập tiến hành khấu trừ trước số thuế phải nộp của cá nhân để nộp cho cơ quan thuế, sau đó mới tiến hành chi trả phần còn lại cho người được hưởng Phương pháp này thường được áp dụng phổ biến với những nước có khả năng kiểm soát và tổng hợp thu nhập thấp (thường là các nước chậm phát triển) Tuy chi phí thu thuế thấp, quy trình quản lý thu đơn giản nhưng mức độ công bằng lại kém hơn vì thông thường chỉ thu được thuế của những khoản thu nhập rõ ràng, chính thống Những khoản thu nhập khác dễ bị bỏ qua do không kiểm soát được
Phương pháp thu trực tiếp được thực hiện trên cơ sở người nộp thuế tự
kê khai thu nhập và gửi cho cơ quan thuế Cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp dựa trên số liệu kê khai về thu nhập, về các khoản được phép khấu trừ, giảm trừ… kết hợp với sự thẩm tra kiểm soát của cơ quan thuế Phương pháp này tuy phức tạp nhưng đảm bảo tính chính xác vì khả năng tổng hợp nhiều nguồn thu nhập Tuy nhiên thực tế phương pháp này chỉ đạt hiệu quả cao trong điều kiện người nộp thuế hiểu rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình Nếu trình độ hiểu biết của người nộp thuế còn kém, tính tự giác chưa cao thì
Trang 18không thể vận dụng được phương pháp trực tiếp này được (Canada, Mĩ áp dụng phương pháp thu trực tiếp này)
Trên thực tế, các nước có nền kinh tế phát triển mặc dù đã xây dựng cho mình chế độ thuế TNCN khá hoàn chỉnh cũng thường chỉ sử dụng phương pháp khấu trừ tại nguồn mà thôi ở Việt Nam cũng áp dụng phương pháp khấu trừ tại nguồn
1.3 Vai trò của thuế TNCN
Các nước châu Âu coi thuế TNCN là “Nữ hoàng” của các loại thuế, ở châu Á như Nhật Bản lại gọi thuế TNCN là “Vua” của các loại thuế Sắc thuế này có vị trí quan trọng bậc nhất ở hầu hết các quốc gia trên thế giới do nó có vai trò vô cùng lớn
1.3.1 Thuế TNCN là một công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi liền với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo trong xã hội Trong hệ thống thuế thường áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế trực thu Thuế TNCN là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập nhận được của từng cá nhân, điều tiết thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của họ Vì thế, thuế TNCN đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc Nếu chỉ áp dụng các loại thuế gián thu thì mới thực hiện được công bằng theo chiều ngang (tức là tất cả mọi người đều phải nộp thuế như nhau không phân biệt khả năng của họ) Thông qua đánh thuế TNCN, Nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, nhờ đó san bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội
Để thấy rõ vai trò đó của thuế TNCN, có thể sử dụng đường cong Lorenz dưới đây:
Trang 19Hình 1.1 - Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng
trong phân phối thu nhập 5
Trên đồ thị, đường cong Lorenz càng gần đường 450 thì càng phản ánh sự phân phối công bằng Điều đó được trợ giúp bởi thuế lũy tiến thông qua thực hiện thuế TNCN để đảm bảo rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong
5
Như chú thích 2
Thu nhập được phân phối công bằng Thu nhập trước thuế
Thu nhập sau thuế GDP (%)
Dân cư (%)
Trang 20bằng một sắc thuế là thuế TNCN, chỉ đóng góp được 4,1% tổng thu Ngân sách nhà nước trong khi tỷ lệ đó ở một số nước Asean (Thái Lan, Philippines, Malaysia…) khoảng 12-16%, các nước đang phát triển khoảng 13-14%, các nước phát triển (Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Đức…) khoảng 30-40% tổng thu nhập ngân sách quốc gia
Bảng 1.2 - Doanh thu thuế TNCN so với GDP của một số nước
trên thế giới
Quốc gia
Tỉ lệ (%) thuế/GDP
2003
Tỉ lệ (%) thuế/GDP
2004
Tỉ lệ (%) thuế/GDP
2005
Tỉ lệ (%) thuế/GDP
2006
Tỉ lệ (%) thuế/GDP
Nguồn: OECD website
Ở nước ta thuế TNCN tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu ngân sách Nhà nước, song trong điều kiện phát triển kinh tế và toàn cầu hóa ngày nay, thu nhập của cá nhân có xu hướng tăng nhanh, nên tỷ trọng thuế TNCN trong tổng thu ngân sách nhà nước sẽ có khả năng tăng lên
Trang 211.3.3 Thuế TNCN góp phần điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu ngân sách Nhà nước, thực hiện công bằng xã hội, mà còn giữ vai trò điều tiết nền kinh tế quốc dân Thuế TNCN được sử dụng như một công cụ linh hoạt để điều tiết vĩ
mô, kích thích tiêu dùng hoặc đầu tư để phát triển kinh tế Một trong những lý thuyết căn bản của Keynes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp, con người có xu hướng tăng tiêu dùng của mình theo tốc độ tăng của thu nhập, nhưng không phải tăng theo cùng mức tăng của thu nhập Cùng với tốc độ tăng của thu nhập thì tốc độ tiết kiệm tăng nhanh hơn bởi vậy cần thiết phải có chính sách thuế đánh vào thu nhập đưa vào tiết kiệm để kích thích tiêu dùng và tăng đầu
tư phát triển kinh doanh Cũng theo Keynes thì khuynh hướng tiêu dùng ở những người có thu nhập thấp sẽ cao hơn ở những người có thu nhập cao Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn
Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn thuế, ưu đãi… thuế TNCN có thể tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dung và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước Vì vậy, ở mỗi thời kỳ phát triển khinh tế khác nhau, tùy theo yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế TNCN ở mỗi nước được xây dựng phù hợp
2 LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA VIỆT NAM
2.1 Sự ra đời của Luật thuế TNCN Việt Nam
Sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và sau gần một năm công bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày 20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà XHCH Việt nam khoá
Trang 22XII đã thông qua Luật thuế TNCN (TNCN) với hơn 79% số phiếu tán thành Luật này đã có hiệu lực thi hành vào 1/1/2009.
Ý nghĩa của sự chuyển đổi từ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thành Luật thuế TNCN
Mọi người đều nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật Thuế TNCN trong giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước hiện nay thay thế các thuế hiện hành đánh vào thu nhập là thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế thu nhập doanh nghiệp (phần cá nhân nộp thuế), thuế chuyển quyền sử dụng đất Ban hành luật thuế TNCN còn có tác sửa lại những điều chưa hợp lý, chưa nhất quán với tính cách là thuế đánh vào TNCN tồn tại trong 3 luật thuế trên Đồng thời đưa sắc thuế mới lên tầm bao quát và nhất quán trong việc đánh thuế vào các loại TNCN trong điều kiện nước ta hiện nay, tạo ra mặt bằng mới, thực hiện công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi đối tượng có TNCN ở mức độ và loại thu nhập chịu thuế
Trước đây cả nước có khoảng 300.000 người nằm trong diện chịu thuế thu nhập theo Pháp lệnh thuế thu nhập cao, với tổng số thu trên 6.000 tỷ đồng một năm; khi Luật thuế TNCN có hiệu lực sẽ có khoảng 2,3 triệu người nằm trong diện nộp thuế với khoản thu ước đạt 13.000 tỷ đồng Như vậy mục tiêu tăng thu cho ngân sách nhà nước đã đạt được
Hơn nữa khi giảm mức khởi điểm chịu thuế xuống còn 4 triệu đồng/tháng tức là mở rộng diện đánh thuế trong tầng lớp dân cư, nâng cao vai trò phân phối công bằng của thuế TNCN và cũng tiến đến gần bản chất của
thuế TNCN hơn
2.2 Nội dung cơ bản của Luật thuế TNCN
2.2.1 Về đối tượng nộp thuế
Trang 23Đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định theo Luật Thuế TNCN phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam
Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn
Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng một trong những điều kiện trên
2.2.2 Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế TNCN gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu được miễn thuế:
Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công
Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp
Trang 24hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội
Tiền thù lao dưới các hình thức
Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức
Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền
Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
Tiền lãi cho vay;
Lợi tức cổ phần;
Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ
Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:
Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế;
Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán;
Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;
Trang 25 Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước;
Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản
Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
Thu nhập từ bản quyền, bao gồm:
Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ;
Thu nhập từ chuyển giao công nghệ
Thu nhập từ nhượng quyền thương mại
Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng
Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng
2.2.3 Căn cứ tính thuế đối với cá nhân cư trú
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế
Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Thời điểm xác định doanh thu là thời
Trang 26điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ
Chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế bao gồm:
Tiền lương, tiền công, các khoản thù lao và các chi phí khác trả cho người lao động;
Chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, năng lượng, hàng hoá sử dụng vào sản xuất, kinh doanh, chi phí dịch vụ mua ngoài;
Chi phí khấu hao, duy tu, bảo dưỡng tài sản cố định sử dụng vào sản xuất, kinh doanh;
Chi trả lãi tiền vay;
Chi phí quản lý;
Các khoản thuế, phí và lệ phí phải nộp theo quy định của pháp luật được tính vào chi phí;
Các khoản chi phí khác liên quan đến việc tạo ra thu nhập
Việc xác định doanh thu, chi phí dựa trên cơ sở định mức, tiêu chuẩn, chế độ và chứng từ, sổ kế toán theo quy định của pháp luật
Trường hợp nhiều người cùng tham gia kinh doanh trong một đăng ký kinh doanh thì thu nhập chịu thuế của mỗi người được xác định theo một trong các nguyên tắc sau đây:
Tính theo tỷ lệ vốn góp của từng cá nhân ghi trong đăng ký kinh doanh;
Tính theo thoả thuận giữa các cá nhân ghi trong đăng ký kinh doanh;
Tính bằng số bình quân thu nhập đầu người trong trường hợp đăng ký kinh doanh không xác định tỷ lệ vốn góp hoặc không có thoả thuận về phân chia thu nhập giữa các cá nhân
Đối với cá nhân kinh doanh chưa tuân thủ đúng chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ mà không xác định được doanh thu, chi phí và thu nhập chịu thuế thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu, tỷ lệ thu nhập chịu
Trang 27thuế để xác định thu nhập chịu thuế phù hợp với từng ngành, nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật về quản lý thuế
Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công
Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số thu nhập từ tiền công, tiền lương như đã quy định mà đối tượng nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế nhận được thu nhập
Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn
Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn là tổng số các khoản thu nhập từ đầu
tư vốn như đã quy định mà đối tượng nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế nhận được thu nhập
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn
Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng chứng khoán thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá bán chứng khoán
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn là thời điểm giao dịch chuyển nhượng vốn hoàn thành theo quy định của pháp luật
Ngoài ra Luật Thuế TNCN cũng quy định cách xác định thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản; từ trúng thưởng; thu nhập
chịu thuế từ bản quyền; từ nhượng quyền thương mại; từ thừa kế, quà tặng
Trang 28Giảm trừ gia cảnh
Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú Giảm trừ gia cảnh gồm hai phần sau đây:
Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm);
Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế
Người phụ thuộc là người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
Con chưa thành niên; con bị tàn tật, không có khả năng lao động;
Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng
Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo
Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú, bao gồm:
Khoản đóng góp vào tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa;
Khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học
Trang 29Tổ chức, cơ sở và các quỹ quy định trên phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học, không nhằm mục đích lợi nhuận
2.2.4 Biểu thuế
Bảng 1.3 - Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng với thu nhập tính thuế từ thu nhập
từ kinh doanh, tiền lương, tiền công
Thuế suất (%)
bản quyền, nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng
Loại thu nhập tính thuế Thuế suất (%)
Trang 30áp dụng thuế suất tính trên gía bán
2.3 Những điểm tiến bộ của Luật thuế TNCN
2.1 Bổ sung và quy định rõ hơn về đối tượng nộp thuế
Điểm mới cơ bản nhất liên quan đến quy định về đối tượng nộp thuế là việc đưa cá nhân kinh doanh vào diện nộp thuế TNCN Theo quy định trước đây, cá nhân kinh doanh thuộc diện chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Sự thay đổi này, trước hết đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập bởi đã là cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kì nguồn nào cũng đều được đối xử như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN Thêm vào đó, việc điều tiết thu nhập của cá nhân kinh doanh theo Luật thuế TNCN thực hiện theo phương pháp lũy tiến sẽ đảm bảo điều tiết hợp lý thu nhập dân cư Điều này rất có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam vì theo quy định trước đây
họ phải nộp thuế TNDN với thuế suất chung bằng với các doanh nghiệp là 28% nay là 25% (thông thường là những đơn vị kinh doanh có quy mô lớn) Việc áp dụng thuế suất như với các doanh nghiệp là quá cao đối với cá nhân kinh doanh Hơn nữa, quy định này cũng đảm bảo tính thông lệ quốc tế, vì hầu hết các nước đều đưa cá nhân kinh doanh vào diện nộp thuế TNCN
Về đối tượng nộp thuế, còn một điểm mới nữa là việc định nghĩa rõ hơn đối tượng cư trú (đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập, kể cả thu nhập phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài) Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ là cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam thì Luật thuế TNCN đã bổ sung thêm một điều kiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam,
đó là “cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở dăng ký
Trang 31thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn”
Bổ sung như vậy làm cho việc xác dịnh đối tượng nộp thuế được thuận lợi hơn, bao quát hết đối tượng nộp thuế và mở rộng đối tượng nộp thuế một cách hợp lý
2.2 Đổi mới cách phân loại thu nhập chịu thuế để xác định nghĩa vụ thuế
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây, thu nhập được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Tuy nhiên, Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên Do vậy, trong thực
tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn Đồng thời, việc tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với thông lệ quốc tế Luật thuế TNCN đã khắc phục được hạn chế này với việc phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập Theo đó, thu nhập chịu thuế bao gồm: 1) Thu nhập từ kinh doanh
2) Thu nhập từ tiền lương, tiền công
3) Thu nhập từ đầu tư vốn
4) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản
5) Thu nhập khác: bao gồm thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại
Đây là cơ sở tính để tính thuế phù hợp với từng loại thu nhập Từ cách phân loại này, việc áp dụng thuế suất được quy định theo hai hướng: đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất lũy tiến từng phần; đối với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế lũy tiến toàn phần
2.3 Mở rộng diện điều tiết một cách hợp lý trên cơ sở bổ sung một số khoản chịu thuế
Trang 32Một số khoản thu nhập trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là thu nhập không chịu thuế) được quy định trong Luật TNCN gồm: thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán (cổ phiếu thưởng), phần vốn trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng (tuy nhiên, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản của cá nhân chỉ có nhà ở, đất ở duy nhất dược miễn thuế), thu nhập từ casino, thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng thưởng xổ số và khuyến mại) Tất nhiên, những khoản thu nhập này chỉ bị đánh thuế khi thu nhập phát sinh lớn (từ trên 10 triệu đồng một hợp đồng hoặc một lần phát sinh) Liên quan đến thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng, kế thừa, quà tặng có một quy định đán chú ý là: Luật thuế TNCN quy định miễn trừ thuế đó với thu nhập
từ chuyển nhượng, kế thừa, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi; mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ
mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau
Một số khoản thu nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như thu nhập
từ đầu tư vốn (gồm lãi cho vay, lợi tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác); thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán Tuy nhiên, phần thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín dụng và các tổ chức tín dụng khác) và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn thuế TNCN Việc miễn thuế này nhằm mục đích thu hút khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻ trong dân cư vào các kênh tín dụng, để từ đó sử dụng vốn của nền kinh tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh, khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồng vốn của xã hội
Mở rộng diện điều tiết như trên sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất thấp và một số trường hợp đặc biệt) đều phải có nghĩa vụ
Trang 33nộp thuế cho Nhà nước Do vậy không còn chỉ là thuế thu nhập với người có thu nhập cao nữa mà là thuế TNCN, tức là thuế thu nhập với phần đông dân
cư của một đất nước Đồng thời, bằng quy định mới này, Luật thuế TNCN sẽ góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước một cách hợp lí trên cơ sở không
bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế
2.4 Sử dụng thuật ngữ “thu nhập được miễn thuế” thay cho “thu nhập không chịu thuế” và bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế
Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN đã thay đổi, gọi đúng bản chất là thu nhập được miễn thuế và bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế khác Cụ thể là bổ sung các khoản thu nhập sau vào diện miễn thuế: thu nhập từ tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn lương làm việc ban ngày, làm việc trong giờ (tức là vẫn phải đóng thuế TNCN phần lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ không chênh lệch); lương hưu; tiền thưởng cho cá nhân về việc phát hiện, khai báo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật; học bổng nhận từ ngân sách Nhà nước và từ các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của Chính phủ; thu nhập từ viện trợ, từ thiện với điều kiện các quỹ từ thiện này phải được Nhà nước cho phép thành lập hoặc công nhận hoạt động vì mục đích nhân đạo không nhằm mục đích thu lợi nhuận; thu nhập từ lãi trái phiếu chính phủ
Việc bổ sung một số khoản thu nhập miễn thuế nêu trên thể hiện sự ưu đãi của nhà nước đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập trong những trường hợp gặp khó khăn Điều này cũng thể hiện chính sách khuyến khích của nhà nước đối với một số hoạt động có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội như tố giác tội phạm, tăng cường lao động sản xuất…
2.5 Áp dụng giảm trừ gia cảnh khi xác định nghĩa vụ thuế
Trang 34Đây chính là vấn đề được ủng hộ của đông đảo nhân dân nhất song cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất khi dự thảo Luật thuế TNCN được đưa ra lấy ý kiến nhân dân Sự ủng hộ xuất phát từ cơ sở là, thay vì áp dụng mức khởi điểm chịu thuế chung cho mọi đối tượng nộp thuế (có tính riêng đối với người Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam) thì chuyển sang áp dụng giảm trừ gia cảnh, tức là có tính đến hoàn cảnh cá nhân của đối tượng nộp thuế Điều này làm cho việc xác định nghĩa vụ thuế của mỗi đối tượng nộp thuế được công bằng hơn Tuy nhiên, điểm gây nhiều tranh cãi là ở chỗ, mức giảm trừ nên là bao nhiêu cho bản thân đối tượng nộp thuế và cho người phụ thuộc Sau khi thảo luận khá sôi nổi và thẳng thắn, Quốc Hội đã biểu quyết thông qua mức giảm trừ cho bản thân đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng, cho mỗi người phụ thuộc mà đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng là 1,6 triệu đồng/tháng
Có ý kiến cho rằng, mức giảm trừ gia cảnh như thế là thấp Tuy nhiên, mức giảm trừ gia cảnh như trên là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam trong những năm tới và phù hợp với quan điểm cải cách hệ thống thuế của Việt Nam Theo đó, với mức thu nhập bình quân đầu người dự kiến cho năm 2009 là khoảng 1,5 triệu đồng/tháng thì mức giảm trừ cho bản thân đối tượng nộp thuế ở mức 4 triệu đồng/tháng có ý nghĩa rằng, chỉ những người
có thu nhập từ trung bình khá trở lên mới phải nộp thuế (và chỉ phải nộp đối với phần thu nhập vượt trên mức giảm trừ này) Những năm sau đó, khi thu nhập tăng lên, mức giảm trừ này sẽ tiến gần tới mức thu nhập trung bình trong
xã hội và khi đó những người có thu nhập ở mức trung bình trở lên sẽ phải nộp thuế TNCN Điều này có nghĩa là Luật sẽ tự động mở rộng diện tích đánh thuế
để thực hiện nguyên tắc mọi công dân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập quá thấp) đều có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, từ đó đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư Tất nhiên, đến một thời điểm nào
Trang 35đó, khi thu nhập và mức sống của dân cư đã tăng rất cao, Quốc Hội sẽ xem xét điều chỉnh mức giảm trừ này cho phù hợp với định hướng vừa phân tích ở trên
Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế Những người phụ thuộc được giảm trừ khá rộng bao gồm: con chưa thành niên, con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, con tàn tật không có khả năng lao động, các cá nhân khác không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng thấp hơn mức quy định của Chính phủ hoặc không có nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng (gồm cha, mẹ, vợ, chồng, cô,
dì, chú, bác, cháu…) Luật không khống chế mức giảm trừ tối đa cho người phụ thuộc (trong dự thảo Luật lấy ý kiến nhân dân, dự kiến khống chế mức giảm trừ tối đa cho người phụ thuộc là 10 triệu đồng/tháng)
Ví dụ: Nếu hai vợ chồng đi làm, thu nhập hàng tháng của chồng 10 triệu
đồng, vợ 4,5 triệu đồng, hai con trong diện giảm trừ gia cảnh thì nên khai giảm trừ về phía người chồng sẽ có lợi hơn vì sẽ làm giảm thu nhập tính thuế Cụ thể: người chồng khai 2 con là người phụ thuộc, thu nhập tính thuế của anh ta là 10 -
4 - 1,6 x 2 =2,8 triệu, thu nhập tính thuế của người vợ là: 0,5 triệu đồng; số thuế phải nộp của gia đình đó là: (2,8 + 0,5)x 5% = 165.000 Như vậy có thể thấy rõ
so trước đây số thuế phải nộp của gia đình này đã giảm đI (trước đây là 500.000)
Việc mở rộng diện giảm trừ như trên cho những người phụ thuộc đảm bảo thực hiện công bằng trong điều tiết thu nhập và phù hợp với đạo lý xã hội của người Việt Nam, chắc chắn nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo quần chúng
2.6 Áp dụng giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo
Khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế nhưng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh; không áp dụng đối với các khoản thu nhập khác Đây là điểm mới
Trang 36không chỉ so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành mà còn mới ngay cả đối với bản dự án Luật lấy ý kiến nhân dân Nội dung mới này của Luật được Quốc Hội tiếp thu ý kiến nhân dân Như vậy, Luật
đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo Đồng thời, đấy cũng chính là một khoản “chi tiêu qua thuế” của nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản thu lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà nước bây giờ được chuyển sang cho đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện Ví dụ một người có thu nhập từ kinh doanh trước thuế của một năm 360 triệu (thu nhập bình quân tháng 30 triệu) thực hiện góp quỹ ủng hộ đồng bào lụt 10 triệu đồng Khi đó 10 triệu này sẽ được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế và số thuế nhà nước giảm thu khi cho cá nhân này giảm trừ vào thu nhập tính thuế là 2 triệu đồng Có thể hiểu, coi như Nhà nước đã sử dụng ngân góp vào quỹ ủng hộ đồng bào bão lụt 2 triệu đồng, còn cá nhân này thực ra chỉ ủng hộ 8 triệu đồng
2.7 Quy định giảm trừ chi phí cho cá nhân kinh doanh một cách hợp lý
Cùng với việc chuyển cá nhân kinh doanh từ diện nộp thuế TNDN, Luật thuế TNCN đã quy định các khoản chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân kinh doanh Về cơ bản, các khoản chi phí hợp
lý được trừ này kế thừa các quy định hiện hành của Luật thuế TNDN Trường hợp cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán để làm cơ sở xác định chi phí hợp lý được trừ thì thu nhập chịu thuế được xác định bằng doanh thu
ấn định nhân với tỷ lệ thu nhập chịu thuế quy định cho từng ngành
2.8 Điều chỉnh thuế suất theo hướng giảm thuế suất cao nhất, thấp nhất,
và tăng bậc thuế suất; thống nhất biểu thuế đối với người Việt Nam và người nước ngoài
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập thường xuyên chịu thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần với bốn mức thuế suất, thấp nhất là 10% và cao nhất là 40% Đối với thuế thu nhập từ kinh doanh
Trang 37và từ tiền lương, tiền công, Luật thuế TNCN vẫn áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần nhưng mức thuế suất thấp nhất giảm xuống còn 5% và mức thuế suất cao nhất giảm xuống còn 35% với số lượng bậc thuế nâng lên thành bảy và áp dụng chung cho cả người Việt Nam và người nước ngoài (cụ thể như bảng 1.3)
Với biểu thuế mới này, tuy việc tính toán có phức tạp hơn (do tăng số lượng bậc thuế) nhưng lại đảm bảo công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế suất giữa các bậc thuế giảm đi Việc hạ thuế suất cao nhất
và thấp nhất xuống thể hiện tinh thần mở rộng diện đánh thuế nhưng mức độ điều tiết cũng giảm đi, huy động sự đóng góp của nhiều người nhưng với mức
độ vừa phải, thực hiện “góp gió thành bão” Mặt khác, việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người lao động tích cực lao động và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích người dân làm giàu chính đáng
Ngoài ra, Luật còn quy định thuế suất cụ thể cho từng loại thu nhập áp dụng đối với cá nhân không cư trú với các mức thuế suất từ 1% đến 10% tính trên toàn bộ thu nhập phát sinh ở Việt Nam (không được trừ chi phí)
Tóm lại: Luật thuế TNCN hiện hành có nhiều điểm mới, phù hợp với tiến
trình đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước, với quá trình hội nhập kinh tế của đất nước và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay Với việc ban hành Luật thuế quan trọng này, hệ thống thuế của chúng ta đang hướng đến phù hợp hơn với hệ thống thuế các nước, hướng tới một hệ thống công bằng và hiện đại hơn
Trang 38CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ THU
NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM
1 CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỂN
Luật thuế TNCN được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 21/11/2007
và đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Đây là luật thuế mới áp dụng các quy định theo thông lệ quốc tế với diện điều chỉnh rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng… nên có tính nhạy cảm cao, chính vì vậy mà công tác tuyên truyển nội dung luật được xem là mũi nhọn chủ yếu khi triển khai áp dụng Luật thuế TNCN vào cuộc sống
1.1 Mục đích của công tác tuyên truyền
Mục đích cao nhất của cơ quan thuế là thông qua công tác tuyên truyền làm cho cộng đồng dân cư nắm được sự cần thiết phải ban hành Luật Thuế TNCN; những nội dung cơ bản của luật; những nội dung mới so với chính sách thuế đang được áp dụng; những tiến bộ so với cách quản lý thuế hiện hành… từ đó giúp người dân nâng cao ý thức giác ngộ để thực hiện tốt nghĩa
vụ với ngân sách nhà nước ở một khía cạnh khác, công tác tuyên truyền cũng
là kênh thông tin phản hồi để Cục Thuế thu nhận ý kiến từ phía những người chấp hành chính sách thuế để kịp thời có những sửa đổi bổ sung phù hợp với thực tiễn cuộc sống
Trên cơ sở tổ chức điều tra nhu cầu của người nộp thuế, đồng thời thông qua việc theo dõi, phát hiện những hạn chế bất cập trong quá trình chấp hành pháp luật thuế, ngành thuế còn có thể nghiên cứu đổi mới, đa dạng hóa toàn bộ nội dung và phương pháp tuyên truyền, phân loại các đối tượng để chọn lựa cách thức tiếp cận hiệu quả, nhằm nâng cao sự đồng thuận, sự hiểu
Trang 39biết của người nộp thuế, sự đồng tình, chia sẻ trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức và toàn thể người dân xã hội
1.2 Phương thức tuyên truyền
Các cục Thuế tổ chức tuyển truyền: Đặc biệt coi trọng công tác tuyên
truyền Luật thuế TNCN, thời gian qua các Cục thuế đã triển khai rất nhiều phương pháp linh hoạt Ví dụ: Cục Thuế thành phố Hà Nội trong năm 2008
đã thực thi nhiều biện pháp với quyết tâm lớn là đảm bảo ít nhất 90% người dân trên địa bàn hiều biết và thực hiện hiệu quả Luật Thuế TNCN Khó khăn hơn các luật thuế khác, Luật Thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng, vì vậy ngay từ đầu năm 2008, Cục Thuế thành phố Hà Nội đã chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai công tác phổ biến, tuyên truyền, tập huấn nội dung luật trên toàn địa bàn Kết thúc 9 tháng, Cục Thuế đã tổ chức 38 hội nghị với 11.500 lượt người tham dự; đã cấp phát miễn phí gần 100.000 tờ rơi, 22.000 tập tài liệu tuyên truyền Luật Thuế TNCN; đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đăng tải 40 tin, bài phóng sự, ảnh… đặc biệt Cục Thuế đã phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo Thành ủy, Mặt trận Tổ quốc, Báo Hà Nội mới để đăng tải nhiều bài viết
về các vấn đề liên quan Đây được xem là một kênh hữu hiệu để truyển tải rộng rãi nội dung Luật tới quảng đại quần chúng
Trang 40Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Có các
chương trình tìm hiểu về Luật thuế TNCN trên các kênh của đài Truyển hình Việt Nam Đây quả thực là các chương trình vô cùng bổ ích và phần lớn mọi người có thể tham gia theo dõi ở các chương trình này, các tình huống thuế TNCN mà mọi người thắc mắc được giải đáp rõ ràng giúp cho người dân nắm vững được Luật thuế TNCN cũng như giải tỏa những vướng mắc của họ trong quá trình tìm hiểu và áp dụng Luật thuế TNCN
Tuyên truyền về ngày thuế có hiệu lực trên đường phố Tp.HCM
Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế được đặt lên hàng đầu Theo đó người nộp thuế được hưởng nhiều quyền lợi từ việc thực hiện cơ chế