1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí VPFC hướng tới tập đoàn tài chính

100 443 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí VPFC hướng tới tập đoàn tài chính
Tác giả Lưu Thị Bích Ngọc
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thu Thủy
Trường học Trường đại học ngoại thương, Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành Kinh tế và Tài chính
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng công ty Cổ phần tài chính Dầu khí PVFC là một tổ chức tài chính hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, các đơn vị thành viên, khơi thông các nguồn vố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

HƯỚNG TỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH

Hà Nội, 6-2008

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước sức ép hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và tự do hoá ngành Tài chính- Ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính, tín dụng Việt Nam buộc phải đề ra chiến lược phát triển dài hơn, phải có quy mô tương xứng với tầm vóc đó Việc một số các định chế tài chính, Ngân hàng đưa ra chiến lược phát triển một tập đoàn tài chính đa năng để có thể vươn ra thế giới và khu vực là một hướng đi đúng đắn vì vai trò của khu vực tài chính đối với nền kinh tế là đặc biệt quan trọng, nhất là đối với những nước chưa

có các kênh phân phối vốn hiệu quả

Đối với nền kinh tế Việt Nam có thể thấy một nghịch lý là tiềm lực tài chính của khu vực tài chính lại thua xa khu vực công nghiệp, trong khi

đó để có thể thực hiện cách mạng công nghiệp và tiến trình công nghiệp hoá thì tư bản tài chính phải có mức tích luỹ nhiều hơn tư bản công nghiệp Với điều kiện như hiện nay việc đầu tư cho những công trình trọng điểm của nền kinh tế như Dầu khí, Điện lực, Hàng không gặp rất nhiều khó khăn vì vậy cần thiết phải có một tiềm lực tài chính đủ mạnh là các tập đoàn tài chính đáp ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn nền kinh tế, phù hợp với xu thế phát triển chung của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc

tế

Các tập đoàn tài chính hùng mạnh không chỉ đóng vai trò to lớn trong tăng trưởng, phát triển kinh tế, mà còn có ảnh hưởng sâu, rộng tới chiến lược kinh doanh, khuynh hướng sản xuất, thị hiếu tiêu dùng của toàn nhân loại, và việc trở thành tập đoàn tài chính là mục tiêu phấn đấu của hầu hết các nước trên thế giới Ở Việt Nam các tổ chức tài chính, các Ngân hàng thương mại đã có lộ trình xây dựng và phát triển các tập đoàn tài

Trang 3

đang ở giai đoạn thử nghiệm và thăm dò Tổng công ty Cổ phần tài chính Dầu khí PVFC là một tổ chức tài chính hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, các đơn vị thành viên, khơi thông các nguồn vốn trong nước, thu hút nguồn vốn nước ngoài và quản lý một cách tối ưu các nguồn vốn đầu tư Theo như định hướng phát triển Tổng công ty sẽ trở thành tập đoàn tài chính vào năm 2010, tuy nhiên các nghiệp vụ kinh doanh còn bộc lộ khá nhiều hạn chế dẫn đến chưa đủ lớn

về tiềm lực cũng như quy mô vốn, công nghệ, nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng mạnh mẽ của thị trường Xuất phát từ thực tế đó em chọn đề tài:

“ Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí PVFC hướng tới tập đoàn tài chính”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những lý luận thực tiễn về tập đoàn tài chính, tìm hiểu thực trạng về hoạt động kinh doanh của Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam từ đó tìm hiểu hạn chế về các nghiệp vụ kinh doanh, đánh giá thuận lợi, khó khăn, đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh, xây dựng lộ trình hướng tới tập đoàn tài chính vào năm

2010

3 Đối tượng nghiên cứu

Các lý thuyết chung về công ty tài chính, tập đoàn tài chính, Tổng công ty tài chính Cổ phần dầu khí PVFC, các nghiệp vụ kinh doanh đặc trưng của công ty như: huy động vốn, đầu tư tài chính, uỷ thác đầu tư thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm kể từ khi thành lập

4 Phạm vi nghiên cứu

Khoá luận không đi sâu vào nghiên cứu các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới mà chỉ đề cập lý thuyết chung đưa ra các giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh của Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí xây dựng thành tập đoàn tài chính Cụ thể là nghiên cứu về hoạt động kinh

Trang 4

doanh của Tổng công ty từ khi thành lập (cuối năm 2000) đến thời điểm cổ phần hoá thành công (năm 2008), xây dựng lộ trình tập đoàn tài chính đến năm 2010

5 Kết cấu đề tài

Ngoài lời mở đầu và kết luận, Khoá luận gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận chung về tập đoàn tài chính và xu hướng hình thành tập đoàn ở Việt Nam hiện nay

Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của PVFC và đánh giá điều kiện xây dựng tập đoàn tài chính

Chương III- Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh của PVFC hướng tới tập đoàn tài chính

Do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức, Khoá luận chưa đề cập được hết mọi khía cạnh, mới chỉ đi sâu vào nghiên cứu đối tượng cụ thể là Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí, còn rất nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được phê bình, đóng góp của tất cả những ai quan tâm đến vấn

đề này Khi thực hiện khoá luận em đã nhận được sự giúp đỡ, động viên tận tình của gia đình, bạn bè thầy cô, đặc biệt là sự gợi ý về tên đề tài cũng như sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn TS Lê Thị Thu Thuỷ Em xin chân thành cảm ơn

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN

TÀI CHÍNH VÀ XU HƯỚNG HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN

TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH

1 Tìm hiểu về công ty tài chính

1.1 Khái niệm

Hiện nay trên thế giới đang tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về công ty tài chính do sự khác biệt về môi trường pháp lý và công cụ tài chính của mỗi nước Tuy nhiên một cách khái quát nhất các nhà kinh tế học

đều thống nhất khái niệm Công ty tài chính là: Một tổ chức tài chính trung

gian phi ngân hàng được thành lập để cung cấp các loại dịch vụ tài trợ, cung cấp các khoản cho vay, cho thuê, đầu tư tài chính,bao thanh toán và thực hiện các hình thức tín dụng ngắn, dài hạn khác Công ty tài chính có

thể được hình thành do các nhà đầu tư trong và ngoài nước hoặc là công ty con của các tập đoàn kinh tế lớn nhằm đa dạng hoá thị trường tài chính Các trung gian tài chính này huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, hay thương phiếu Các công ty tài chính cung ứng chủ yếu các loại tín dụng trung hạn và dài hạn, ví dụ cho người tiêu dùng vay tiền để mua sắm đồ đạc, xe hơi, tu bổ nhà hoặc cho các doanh nghiệp nhỏ vay Ngoài ra, các công ty tài chính còn thực hiện các dịch vụ cầm, giữ hộ và quản lý các chứng khoán, các kim loại quý.vv

Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính đã định nghĩa:

“ Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm”

Trang 6

Sự ra đời của công ty tài chính gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và nhu cầu

đa dạng về các dịch vụ tài chính Nó được hình thành trên cơ sở chuyên môn hoá một số nghiệp vụ trong hoạt động của ngân hàng nhằm khắc phục hạn chế khiếm khuyết của NHTM với các nghiệp vụ chủ yếu là cho vay doanh nghiệp và người tiêu dùng bằng sự đảm bảo tài sản hữu hình

Ở mỗi nước do cơ sở pháp lý, định chế tài chính khác nhau nên phạm

vi, nội dung các nghiệp vụ các công ty tài chính được phép hoạt động khác nhau tuy nhiên đều có đặc điểm chung là:

Về mặt tổ chức: Các công ty tài chính là một tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp trên thị trường tài chính, hạch toán độc lập, được đăng ký kinh doanh theo pháp luật, là các trung gian tài chính và không có nhiều chi nhánh như các NHTM

Về hoạt động: Các công ty tài chính bị hạn chế các nghiệp vụ so với NHTM, hoạt động hẹp hơn và giới hạn một số khâu mang tính chuyên biệt trong một số nghiệp vụ nhất định Nếu như hoạt động NHTM là tập hợp các khoản tiền gửi nhỏ để cho vay các khoản tiền lớn, thì các công ty tài chính lại huy động các khoản tiền lớn rồi chia ra để cho vay các khoản tiền

nhỏ Bảng 1: Sự khác biệt giữa công ty tài chính và NHTM

Được nhận tiền gửi thường

xuyên

Sử dụng vốn chủ sở hữu để cho vay và đầu

tư Được nhận tiền gửi không

kỳ hạn và thực hiện dịch vụ

trung gian thanh toán

Không được nhận tiền gửi ngắn hạn, không thực hiện dịch vụ trung gian thanh toán

Hoạt động đa dạng nhiều

dịch vụ

Hoạt động mạnh ở một số lĩnh vực: cho thuê tài chính, tham gia trực tiếp trên thị trường chứng khoán

Trang 7

Tuy nhiên do sự phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, các công ty tài chính có xu thế mở rộng và đa dạng hoá các nghiệp vụ để phục vụ khách hàng tốt hơn và tối đa hoá lợi nhuận nên sự khác biệt giữa công ty tài chính với các NHTM và các trung gian tài chính khác trở nên mờ nhạt dần

và không còn sự khác biệt lớn

1.2 Phân loại công ty tài chính

1.2.1 Theo tính chất độc lập hay phụ thuộc

a Công ty tài chính độc lập: Là loại hình công ty tài chính đứng độc lập, tự hoạt động kinh doanh do các nhà đầu tư trong và ngoài nước thành lập, không nằm trong hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng hay tập đoàn nào Các công ty này thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như: cho vay

và bảo lãnh các khách hàng thương mại và sản xuất công nghiệp, các hoạt động cho thuê tài sản, bao thanh toán, kinh doanh tiền tệ, tư vấn tài chính

b Công ty tài chính phụ thuộc: do một công ty mẹ hay một tập đoàn kinh tế lớn nắm giữ toàn bộ hay một tỷ lệ vốn nhất định lập nên có nhiệm

vụ cung ứng vốn cho nội bộ tập đoàn và kinh doanh tiền tệ

1.2.2 Theo phạm vi hoạt động

a Công ty tài chính bán hàng: Các công ty này gián tiếp cấp tín dụng cho người tiêu dùng để mua các món hàng từ một nhà bán lẻ hoặc từ một nhã sản xuất nào đó

b Công ty tài chính tiêu dùng: Công ty sẽ cung ứng phần lớn nguồn vốn của mình cho các gia đình và cá nhân vay vào mục đích mua sắm hàng hoá tiêu dùng như các đồ đạc nột thất, đồ da dụng, hoặc sửa chữa nhà cửa các khoản vay được trả góp định kỳ

c Công ty tài chính kinh doanh: Công ty sẽ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp dưới các hình thức như: bao thanh toán, cho thuê tài chính

2 Khái quát chung về tập đoàn tài chính

2.1 Khái niệm

Trang 8

Cũng như Công ty tài chính, TĐTC chưa được định nghĩa một cách

chính thống nhưng qua nhiều nghiên cứu có thể hiểu: TĐTC là một thực

thể kinh tế gồm một số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động tài chính) mỗi thành viên tập đoàn là những pháp nhân độc lập, trong đó có một doanh nghiệp làm nòng cốt Các tập

đoàn đều được thành lập một cách tự nguyện trên cơ sở các liên kết về vốn

và hoạt động kinh doanh nhằm cung cấp trọn gói các sản phẩm, dịch vụ tài chính cho khách hàng và tăng cường khả năng cạnh tranh trước xu thế toàn cầu hoá

Xu thế hội nhập và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sự nới lỏng các quy định pháp lý

về Tài chính- Ngân hàng là nguyên nhân thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các TĐTC Khi phát triển đến mức độ nhất định và do nhu cầu của nền kinh tế, các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán hay các tổ chức tài chính khác đều vươn ra hoạt động đa năng và hướng ra toàn cầu thông qua những hình thức khác nhau như liên kết, hợp nhất, sát nhập, thành lập các công ty trực thuộc Mục tiêu của việc hình thành TĐTC là mở rộng quy mô hoạt động và đổi mới công nghệ, giảm chi phí

để có thể tồn tại trong cạnh tranh, từ đó đem lại lợi nhuận tối đa cho tập đoàn Có thể xem xét các quan niệm về TĐTC ở nhiều góc độ khác nhau:

- Căn cứ vào nguồn gốc: Người ta dựa vào việc xem xét tập đoàn kinh tế để đưa ra khái niệm về TĐTC Tập đoàn kinh tế là một chỉnh thể của một tập hợp các đơn vị thành viên có những quan hệ liên kết về lợi ích kinh tế, tài chính, sản phẩm, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu

và được sắp xếp theo một cấu trúc tổ chức nhất định, được kiểm soát điều hành bằng một bộ máy quản lý thống nhất Tập đoàn kinh tế có thể được

Trang 9

Về tổ chức, các tập đoàn kinh tế thường là tập hợp của một số đơn vị thành viên, trong đó có một đơn vị lớn và quan trọng nhất, đóng vai trò chi phối hoạt động của các đơn vị còn lại

Về cơ cấu sở hữu, các tập đoàn thường là đa sở hữu (Nhà nước, công ty, tư nhân) Đơn vị, cá nhân nào chiếm tỷ lệ sở hữu cao trong tổng tài sản sẽ nắm vai trò chi phối

Về quy mô và phạm vi hoạt động, các tập đoàn kinh tế thường có quy mô tài sản lớn, phạm vi hoạt động rộng trong một hoặc nhiều quốc gia

Về sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh, tập đoàn kinh tế có sản phẩm thường đa dạng, trong đó có thể có một hoặc một số sản phẩm mũi nhọn Nếu xét theo lĩnh vực kinh doanh thì các sản phẩm của một tập đoàn kinh

tế có thể trong cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng cũng có thể thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau

Ngoài những đặc điểm cơ bản trên, TĐTC còn có đặc điểm là: Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm chủ yếu là tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Đây là lĩnh vực kinh doanh có tính nhạy cảm và mức độ rủi ro cao, đòi hỏi quy mô vốn lớn

- Căn cứ vào nguyên tắc hoạt động: TĐTC là một tổ chức gồm hai hay nhiều định chế tài chính được liên kết lại với nhau, được xem là một tổ chức đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Phải là một tổ chức bao gồm ba mảng hoạt động tài chính quan trọng đó là ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm

+ Phải là một tổ chức mà hoạt động kinh doanh chính là hoạt động tài chính

- Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh của tập đoàn, có thể theo các xu hướng sau:

+Tập đoàn kinh doanh tổng hợp bao gồm các dịch vụ ngân hàng - tài chính và sản xuất kinh doanh như: Tại Nhật Bản có tập đoàn Normura nổi tiếng kinh doanh chứng khoán, sản xuất, đầu tư khu công nghiệp và hạ tầng

Trang 10

khu công nghiệp…; tập đoàn Sumitomo nổi tiếng về ngân hàng và kinh doanh thương mại Tại Đài Loan có tập đoàn Chinfon vừa có hoạt động ngân hàng, bảo hiểm lại vừa nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất xi-măng Tại Singapore có tập đoàn Keppel Bank kinh doanh lĩnh vực ngân hàng, thương mại, dịch vụ,…

+ Tập đoàn tài chính chuyên về ngân hàng, chứng khoán, các dịch vụ tài chính như tập đoàn Citi Group ( Mỹ ) ; tập đoàn HSBC ( Anh )

Các TĐTC ở Hoa Kỳ thường được xây dựng theo mô hình một công

ty mẹ nắm giữ cổ phần của các công ty con hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Hoạt động kinh doanh của các đơn vị thành viên trực thuộc TĐTC được giám sát và điều chỉnh bởi các cấp có thẩm quyền riêng biệt Hoạt động của các Ngân hàng chịu sự giám sát điều chỉnh của Cơ quan giám sát tiền tệ( OCC ), Cục dự trữ liên bang ( FED) và công

ty bảo hiểm tiền gửi liên bang( FDIC); hoạt động của công ty chứng khoán chịu sự giám sát và điều chỉnh của Uỷ ban Chứng khoán và Hối đoái( SEC); hoạt động của các công ty bảo hiểm do uỷ ban bảo hiểm Quốc gia( SIC) giám sát và điều chỉnh Một TĐTC phải đảm bảo các yêu cầu về: vốn

và khả năng quản lý, yêu cầu về việc tài trợ vốn cho cộng đồng và những yêu cầu trong quản lý TĐTC

Ở Đài Loan các TĐTC có thể đầu tư và sở hữu 100% các đơn vị thành viên, bao gồm Ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ Đạo luật về TĐTC của Đài Loan đã tạo điều kịên cho thị trường tài chính được củng cố, hợp nhất, tính đến cuối năm 2005, Đài Loan đã có 14 TĐTC- NH lớn hoạt động trên các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm

Ở Trung Quốc trước đây, luật Ngân hàng thương mại quy định các NHTM không được phép thực hiện các giao dịch chứng khoán và bảo

Trang 11

đã sửa luật NHTM theo hướng cho phép các NHTM ( công ty mẹ) sở hữu các công ty tài chính( công ty con) theo mô hình TĐTC khi thiết lập đầy đủ những cơ chế pháp lý thận trọng cần thiết

Ở Việt Nam tuy mô hình này còn mới mẻ nhưng với sự hoàn thiện dần của thị trường tài chính hứa hẹn một sự thay đổi lớn cả về cơ cấu, tổ chức cũng như quy mô và phạm vi hoạt động

Tóm lại, mô hình TĐTC với sự phát triển độc lập của hệ thống các NHTM, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới và chắc chắn sẽ ngày một phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam

2- Khuyến khích cạnh tranh, hạn chế độc quyền: Đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, nghiêm cấm các hoạt động lũng đoạn thị trường hoặc phong toả theo khu vực Phân định rõ chức năng quản lý kinh doanh với các chức năng quản lý hành chính TĐTC cần xác định không phải là cơ quan quản lý tài chính Nhà nước cũng không phải là hiệp hội ngành nghề mà là một tổ chức tài chính Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty thành viên được thiết lập trên cơ sở nắm giữ cổ phần, không phải là quan hệ hành chính, áp đặt

3- Thực hiện nguyên tắc đầu tư tự nguyện, tuân theo các quy luật kinh tế và các định chế tài chính, không thể lắp ghép bắng các mệnh lệnh hành chính, tự nguyện góp cổ phần, sợi dây liên kết bằng vốn đảm bảo mối quan hệ rõ ràng trong nội bộ tập đoàn Tăng cường vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo quỹ đạo chung cho tất cả các đơn vị thành viên 4- Phối hợp chiến lược kinh doanh trên tất cả các mặt, các chức năng và ở mọi phương diện Phối hợp chiến lược khu vực hoá với toàn cầu

Trang 12

hoá, chiến lược mũi nhọn với chiến lược đa dạng hoá Tăng cường vai trò trung tâm và sự chi phối của công ty tài chính nhằm hạn chế khả năng bị thôn tính Nhiều tập đoàn đã mở rộng quy mô vốn cho ngân hàng hoặc công ty tài chính trực thuộc và cơ cấu lại danh mục đầu tư cho cả tập đoàn

2.3 Điều kiện hình thành tập đoàn tài chính

2.3.1 Điều kiện khách quan

Môi trường pháp lý có thể cản trở hoặc thúc đẩy sự hình thành và phát triển các TĐTC nhất là những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán Nói cách khác quá trình hình thành và phát triển TĐTC diễn ra theo quy luật khách quan, nhưng Chính phủ cũng đóng vai trò trong việc đưa ra các quyết định và chính sách phát triển dịch

vụ tài chính

Trình độ phát triển của thị trường dịch vụ tài chính tác động đến khả năng mở rộng quy mô của TĐTC thông qua các công ty con hay công ty trực thuộc Trên thực tế, sự hình thành các TĐTC thường bắt nguồn từ việc

mở rộng các loại hình kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ của ngân hàng

mẹ, từ chỗ chỉ kinh doanh dịch vụ ngân hàng, mở rộng sang dịch vụ bảo hiểm, chứng khoán,v.v Mặt khác thị trường tài chính ngày càng phát triển, khách hàng càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng và tiện ích của dịch vụ tài chính- ngân hàng

Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cũng là yếu tố và điều kiện để một tổ chức tài chính phát triển thành TĐTC Các tập đoàn này phải kịp thời nắm bắt thông tin, nhất là công nghệ mới có liên quan đến hoạt động tài chính để có thể khai thác và ứng dụng các thành tựu công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh, mang lại nhiều lợi nhuận cho tập đoàn và tiện ích cho khách hàng

2.3.2 Điều kiện về vốn, công nghệ

Trang 13

tác dụng hỗ trợ cho tập đoàn đổi mới công nghệ, mở rộng lĩnh vực kinh doanh, phát triển dịch vụ mới, tăng cường năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần Các ngân hàng tiên tiến và TĐTC mạnh thường cung cấp các dịch vụ đa dạng và đạt chất lượng cao với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau

2.3.3 Điều kiện về con người

Hiệu quả hoạt động của TĐTC phụ thuộc rất nhiều vào vào trình độ năng lực của đội ngũ nhân viên nhất là đội ngũ lãnh đạo TĐTC có quy mô lớn và độ phức tạp càng cao càng đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành thực sự có năng lực, trình độ cao, phong cách lãnh đạo và phẩm chất đạo đức tốt để quản lý điều hành bộ máy của tập đoàn hoạt động có hiệu quả Không chỉ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đội ngũ nhân viên không ngừng được trau dồi nghiệp vụ, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân và nếu được tạo mọi điều kiện tốt nhất thì đây là lực lượng lớn đóng góp vào thành công của tập đoàn

2.3.4 Điều kiện về quản trị doanh nghiệp

Để kiểm soát khối tài sản và vốn chủ sở hữu khá kớn, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, các TĐTC trên thế giới đều chú trọng đến vấn đề quản trị doanh nghiệp coi quản trị doanh nghiệp tốt là vấn đề sống còn của tập đoàn Hầu hết các TĐTC hàng đầu đều xây dựng một cơ cấu tổ chức phức tạp, bao gồm bộ phận kinh doanh và bộ phận hỗ trợ

Bộ phận kinh doanh được chia thành các mảng chuyên môn chính phù hợp với việc cung cấp các sản phẩm tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đa dạng như cấp tín dụng, tư vấn, dịch vụ, quản lý tài sản, quản lý tài chính, dịch vụ ngân hàng điện tử ra thị trường

Bộ phận hỗ trợ gồm có quản trị rủi ro, tài chính, tác nghiệp và công nghệ thông tin Trong đó tất cả các bộ phận được quản trị thống nhất, tập trung theo ngành dọc đứng đầu là chủ tịch tập đoàn, sau đó là các giám đốc phụ trách khối Cách thức quản lý này cho phép TĐTC, dù có quy mô lớn

Trang 14

và cơ cấu phức tạp đến đâu và dù có bất cứ sự thay đổi nào cũng vẫn duy trì hoạt động ổn định, giảm thiểu rủi ro

2.4 Đặc điểm cơ bản của TĐTC

Hiện nay trên thế giới dã có nhiều TĐTC nổi tiếng: Citigroup (Mỹ), tập đoàn Bank of Tokyo Mitsubishi (UFJ) Nhật Bản, HSBC Holdings ( Anh), May Bank (Malaysia) đến các TĐTC mới thành lập ở Việt Nam như : TĐTC Bảo Việt hay TĐTC tư nhân đầu tiên ở Việt Nam Sacombank, mặc dù các tập đoàn này có mô hình kinh doanh phức tạp, có chiến lược kinh doanh khác nhau nhưng nhìn chung các TĐTC đều có những nét đặc trưng sau:

2.4.1 Tập đoàn tài chính có phạm vi hoạt động rộng lớn

TĐTC không chỉ hoạt động trong một quốc gia mà còn mở rộng sang nhiều quốc gia khác Để chiếm lĩnh thị trường, giảm áp lực cạnh tranh, TĐTC bành trướng thị trường bằng cách tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết, thực hiện phân công quốc tế, do đó phạm vi hoạt động của tập đoàn ngày càng được mở rộng Hiện tại tập đoàn HSBC đang sở hữu hơn 10,000 văn phòng, 284.000 nhân viên tại trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới Tập đoàn ngân hàng Mitsubishi UFJ tính đến tháng 3 năm 2007 có 875 chi nhánh trong và ngoài Nhật Bản, giá trị vốn cổ phiếu 996,990 triệu yên; 33,059 nhân viên Tập đoàn Citi có 200 triệu tài khoản khách hàng tại hơn 100 nước

Tại các thị trường các Tập đoàn đã thực hiện phân công lao động một cách hợp lý trong nội bộ tập đoàn, xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm và kênh bán hàng rộng rãi

2.4.2 Tập đoàn tài chính có quy mô lớn về vốn, nhân lực và doanh số hoạt động

- Về vốn: Do TĐTC vừa có sự tích tụ của bản thân doanh nghịêp lại

có sự tập trung giữa các doanh nghiệp nên tiềm lực tài chính và quy mô về

Trang 15

tập trung vốn cho tập đoàn Điều này tạo ra năng lực cạnh tranh mạnh hơn từng doanh nghiệp riêng lẻ, nâng cao được trình độ xã hội hoá sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Giá trị vốn cổ phiếu của Citigroup (2006) là 112,537 tỷ USD, tập đoàn Mitsubishi UFJ (2007) là 996,990 triệu yên

- Về lao động: Do quá trình tập trung của các doanh nghiệp thành viên, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và phạm vi hoạt động lớn nên tập đoàn có một khối lao động rất lớn, được tuyển chọn và đào tạo một cách nghiêm ngặt nên chất lượng lao động cao Tính đến tháng 7/2007 Citigroup ( Mỹ) có 332.000 nhân viên, Tập đoàn HSBC có 284.000 nhân viên, Tập đoàn UFJ( Nhật Bản) có 33.059 nhân viên

- Về doanh thu: Do có vốn lớn, phạm vi hoạt động rộng, tập đoàn có khả năng nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, củng cố và mở rộng chiếm lĩnh thị trường nên mới đạt được doanh thu và lợi nhuận rất lớn Năm 2007 lợi nhuận ròng của Citigroup là 6,23 tỷ USD, lợi nhuận của HSBC là 22,08

tỷ, Tập đoàn UFJ ( Nhật Bản) tính đến năm 2006 lợi nhuận là 1181,7 tỷ Yên là công ty thứ 3 trong lịch sử Nhật Bản đạt mức lợi nhuận sau thuế trên 1000 tỷ Yên

Bảng số 2: Danh sách 7 tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới năm 2006

Trang 16

7 ING Hà Lan 153,44 9,65 1.615,05

Nguồn: http://www.forbes.com

2.4.3 Tập đoàn tài chính có hình thức sở hữu hỗn hợp

Sở hữu vốn của TĐTC là sở hữu hỗn hợp ( nhiều chủ) nhưng có một chủ sở hữu lớn đó là công ty mẹ đóng vai trò khống chế, chi phối về mặt tài chính Các TĐTC hầu hết đều theo mô hình công ty mẹ- công ty con Quan

hệ tài chính giữa các công ty này chủ yếu là quan hệ hỗ trợ tạo điều kiện thuân lợi cho công ty thành viên vay vốn từ nguồn vốn cổ phần chung của tập đoàn các công ty thành viên đều được hưởng lãi suất từ việc cho vay này theo tỷ lệ vốn góp Vốn tích luỹ có vai trò rất quan trọng, là nguồn vốn chủ yếu để tăng quy mô tập đoàn Các hoạt động đầu tư, huy động vốn được giao cho công ty nắm vốn thực hiện, tập đoàn có thể vay vốn từ các công ty thành viên theo lãi suất thoả thuận Ngoài ra tập đoàn có thể vay vốn từ ngân hàng, hoặc phát hành trái phiếu, tín phiếu để đầu tư vào lĩnh vực có triển vọng cao

Tuỳ theo quy định pháp luật của từng nước, các ngân hàng có thể tham gia vào các TĐTC dưới nhiều hình thức như: cổ đông, chủ nợ, cơ quan phát hành chứng khoán cho TĐTC và cũng có thể là con nợ Chính vì thế ngân hàng ( cùng với công ty thương mại) thường được xem là hạt nhân của TĐTC

2.4.4 Tập đoàn tài chính có cơ cấu phức tạp

Cơ cấu tổ chức của TĐTC rất đa dạng:

Có loại tập đoàn trong đó các công ty con độc lập về tính pháp lý, việc huy động vốn và các hoạt động kinh tế trong tập đoàn được duy trì bằng các hoạt động kinh tế

Có loại tập đoàn các công ty con mất quyền độc lập về tính thương mại và sản xuất, các chủ sở hữu trở thành cổ đông của công ty mẹ Tuy nhiên nhìn chung cơ cấu của TĐTC thường bao gồm bộ phận kinh doanh và bộ

Trang 17

 Ngân hàng bán lẻ phục vụ khách hàng cá nhân đại trà

 Ngân hàng bán buôn bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các công ty lớn

 Ngân hàng phục vụ khách hàng giàu có

 Ngân hàng đầu tư kinh doanh trên thị trường tài chính

Bộ phận hỗ trợ gồm có quản lý rủi ro, tài chính, tác nghiệp và công nghệ thông tin

2.4.5 Tập đoàn tài chính hoạt động kinh doanh đa ngành đa lĩnh vực

Các TĐTC trên thế giới hiện nay đều hoạt động kinh doanh đa ngành

đa lĩnh vực, có chiến lược sản phẩm và định hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu của thị trường, môi trường kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên mỗi tập đoàn đều có ngành và lĩnh vực chủ đạo với những sản phẩm có thương hiệu của tập đoàn Sản phẩm cung ứng bao gồm tất cả các loại hình sản phẩm tài chính: cấp tín dụng, tư vấn, dịch vụ, bảo hiểm, quản lý tài sản, quản lý tài chính, dịch vụ ngân hàng điện tử

Hoạt động đa ngành đa lĩnh vực giúp cho tập đoàn phân tán được rủi ro cho nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, khai thác triệt để thị trường và khách hàng, đảm bảo cho hoạt động của tập đoàn luôn được an toàn và hiệu quả, đồng thời tận dụng cơ sở vật chất và khả năng lao động phong phú của tập đoàn

2.4.6 Tập đoàn tài chính có khả năng tập trung, điều hoà vốn

Mục tiêu khi thành lập tập đoàn là tối đa hoá lợi nhuận nên nguồn vốn của tập đoàn được huy động từ các thành viên và theo hình thức pháp luật cho phép sẽ được tập trung đầu tư vào những lĩnh vực, những dự án có hiệu quả nhất, tránh tình trạng vốn bị phân tán trong những đơn vị nhỏ hoặc đầu tư không có hiệu quả Như vậy vốn của các đơn vị thành viên nhỏ cũng được sử dụng vào những lĩnh vực, dự án có hiệu quả nhất, tạo ra sức mạnh kinh tế quyết định sự phát triển của tập đoàn Giữa các đơn vị thành viên nhỏ cũng có sự huy động vốn, có sự đầu tư lẫn nhau nên có sự liên kết chặt chẽ, phát huy hiệu quả từng đơn vị thành viên và cả tập đoàn

Trang 18

2.5 Vai trò của tập đoàn tài chính với sự phát triển kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế

Khi các công ty doanh nghiệp đứng trước sức ép cạnh tranh về vốn, thị phần đều có xu hướng liên minh hay tổ hợp với các công ty khác để phân chia thị trường hoặc khai thác tiềm năng vốn có của mình Vì vậy hình thành TĐTC là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Tập đoàn tài chính có vai trò hết sức to lớn đối với nền kinh tế các quốc gia trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế Vai trò đó thể hiện:

 Thành lập TĐTC cho phép các doanh nghiệp huy động nguồn lực vật chất, lao động và vốn trong xã hội vào quá trình kinh doanh Việc thành lập TĐTC đã hạn chế tối đa sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thành viên, mô hình tập đoàn có lợi cho việc huy động tài sản, thu hút ngày càng đông khách hàng thông qua việc đa dạng hoá nhiều lĩnh vực kinh doanh với chi phí thấp hơn

Với phạm vi và quy mô kinh doanh lớn, TĐTC có thể tập trung nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi lượng vốn lớn nhất là những ngành công nghệ hiện đại Tiềm lực kinh tế mạnh, có sự phân công, phối hợp của các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong nhiều lĩnh vực và phạm vi rộng lớn, tập đoàn có khả năng liên tục chiếm lĩnh, củng cố thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của tập đoàn, đồng thời giảm bớt và phân tán rủi ro Thông qua đặc điểm điều hoà vốn của tập đoàn, vốn của các doanh nghiệp thành viên được sử dụng vào những dự án tốt nhất, tránh tình trạng vốn bị đầu tư tràn lan, trùng lặp, hiệu quả không cao

 Với tiềm lực mạnh, tập đoàn có khả năng tổ chức nghiên cứu các

đề tài khoa học công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn và cần sự phối hợp của nhiều nhà khoa học, phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu mà từng doanh

Trang 19

nghiên cứu khoa học vào kinh doanh có hiệu quả cao hơn với chi phí giảm Tập đoàn có tác dụng lớn trong việc cung cấp, trao đổi thông tin và những kinh nghiệm tốt trong các hoạt động kinh doanh, nghiên cứu, triển khai kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giữa các doanh nghiệp thành viên

 Với các nước phát triển, sự thống nhất trong tập đoàn sẽ góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ ra nước ngoài một cách có hiệu quả nhất Với các nước đang phát triển, các TĐTC là cầu nối để tiếp thu nhanh chóng các thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới, làm thu hẹp khoảng cách

về trình độ với các nước phát triển, thúc đẩy công nghiệp hoá- hiện đại hoá nền kinh tế, đồng thời TĐTC là công cụ hữu hiệu để chống sự thâm nhập một cách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới, giúp cho sản xuất trong nước có thể đứng vững và từng bước vươn ra thị trường các nước

 Hiệu quả hoạt động từ các TĐTC góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế-

xã hội của đất nước

Việc hình thành TĐTC làm thay đổi bộ mặt xã hội cho từng địa phương hay trong một quốc gia, giải quyết việc làm cho một phần các dân

cư tại các khu vực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn hoá các ngành nghề

Hoạt động của các TĐTC góp phần làm cho cơ cấu sản xuất có sự chuyển dịch từ hàng hoá sử dụng sức lao động sang hàng hoá cần nhiều vốn và công nghệ, tập trung vào những sản phẩm có giá trị bổ sung cao Cơ cấu ngành cũng có sự thay đổi, chuyển từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp chế tạo- dịch vụ Khu vực dịch vụ ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế

Tóm lại, các TĐTC có vai trò chi phối ngày càng lớn không chỉ đối với quốc gia mà còn đối với cả nền kinh tế quốc tế

II CƠ CHẾ QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH

1 Cơ chế quản lý tập đoàn tài chính

Trang 20

Đặc điểm của TĐTC thường là lấy ngân hàng cỡ lớn làm hạt nhân của tập đoàn để liên kết và khống chế các doanh nghiệp xung quanh bằng mối quan hệ nắm giữ cổ phần, cho vay vốn và sắp xếp nhân sự Mô hình phổ biến nhất của TĐTC là tổ chức theo kiểu công ty mẹ- công ty con Trong đó cả hai công ty đều có tư cách pháp nhân độc lập, có tài sản và bộ máy quản lý riêng, giao dịch giữa công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con là giao dịch bên ngoài, giao dịch thị trường Công ty mẹ sở hữu toàn bộ hoặc tỷ lệ nhất định vốn cổ phần trong các công ty con, đề ra chiến lược và định hướng cụ thể của tập đoàn, đồng thời phân bổ nguồn lực của tập đoàn thông qua các hoạt động tài chính như phát hành, mua bán chứng khoán, cơ cấu lại tài sản của công ty con Ngoài ra công ty mẹ còn sử dụng vốn của mình để đầu tư, góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết để hình thành các công ty con hoặc công ty liên kết

Công ty con là công ty mà một số cổ phần cua nó ở trên mức tỷ lệ nhất định thuộc về một công ty khác hoặc bị một công ty khác khống chế,

đó là công ty mẹ Tuy thế nhưng công ty con vẫn là những pháp nhân độc lập, hoạt động tự chủ và tự chịu trách nhiệm Hình thức pháp lý của công ty con khá đa dạng, có thể là công ty cổ phần do công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối; công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, trong đó công ty

mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty liên doanh với nước ngoài do công

ty mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do công ty mẹ là chủ sở hữu

Căn cứ vào tính chất phạm vi hoạt động, TĐTC kinh doanh theo mô hình công ty mẹ- công ty con có 2 loại: Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần tuý và mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh Trên thực tế không có sự tách bạch rõ ràng, nhiều TĐTC kinh doanh theo mô hình công ty mẹ- công ty con là hỗn hợp của 2 loại hình thức trên, tức là

Trang 21

2 Tổ chức hoạt động tập đoàn tài chính

Điều kiện để một TĐTC hoạt động hiệu quả và không ngừng phát triển là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, phát triển thị trường vốn, tăng cường tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp luật, phát triển nguồn nhân lực, hệ thống thông tin toàn cầu

Tất cả các bộ phận được quản trị và hoạt động thống nhất, tập trung theo ngành dọc Đã là một tập đoàn thì nhất thiết phải có cơ chế quản trị chung như: hội đồng chiến lược, ban kiếm soát, hội đồng quản trị, uỷ ban bầu cử Các thành viên trong hội đồng hay uỷ ban hoạt động theo tôn chỉ và mục đích chung đã được các bên thống nhất từ trước và đa số theo cơ chế kiêm nhiệm Trong đó chủ tịch tập đoàn thường là người có ảnh hưởng và

uy tín lớn nhất thuộc công ty chính của tập đoàn Sau chủ tịch tập đoàn sẽ

có các giám đốc phụ trách từng mảng hoạt động, ví dụ giám đốc phụ trách tài chính, giám đốc phụ trách hàng

TĐTC chủ yếu hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con Công ty mẹ, chủ sở hữu được xác định rõ là các cổ đông, bao gồm các loại

cổ đông: nhà nước, các tổ chức, các cá nhân và người lao động Các cổ đông thực hiện quyền chủ sở hữu của mình thông qua tham dự đại hội cổ đông, bầu và bãi nhiệm HĐQT và quyết định điều lệ của tập đoàn Với tư cách là một cổ đông, công ty mẹ đề ra những biện pháp kiểm soát các công

ty con, đặc biệt là về kết quả hoạt động vì mục tiêu chính của các công ty con là hoạt động có lãi để trả cổ tức cho công ty mẹ

III XU HƯỚNG HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

1 Xu hướng hình thành trên thế giới

Từ khoảng cuối Thế kỷ XIX, sau thời kỳ phát triển mạnh mẽ dưới sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, các công ty bắt đầu cần nhiều vốn hơn để mở rộng lĩnh vực và địa bàn kinh doanh, đặc biệt là mở rộng ra thị trường quốc tế Đến cuối Thế kỷ XX thì quá trình này bắt đầu diễn ra

Trang 22

mạnh mẽ, hàng loạt các tập đoàn xuyên quốc gia, hoạt động đa lĩnh vực ra đời, tồn tại và phát triển cho đến tận ngày nay

Tại Hàn Quốc, các Tập đoàn bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 1950-1960 theo mô hình công ty mẹ là công ty sở hữu thương hiệu và thực hiện chức năng đầu tư tài chính Các tập đoàn ở Hàn Quốc và Nhật Bản đều xuất phát điểm từ lĩnh vực sản xuất công nghiệp và mở rộng dần ra các lĩnh vực khác, từ sản xuất điện tử, ôtô đến các sản phẩm công nghiệp nặng như khai thác mỏ, tàu biển, hoạt động thương mại, dịch vụ, các sản phẩm tiêu dùng và cuối cùng là lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Nghiên cứu quá trình hình thành các tập đoàn, dễ nhận thấy có hai phương thức chủ yếu

để hình thành các tập đoàn kinh doanh:

Một là: Hình thành tập đoàn do mở rộng quy mô và chia nhỏ công ty theo các lĩnh vực hoặc địa bàn hoạt động

Hai là: Hình thành do sự liên kết, sáp nhập tự nhiên dựa trên mối quan hệ về đầu tư hoặc sản phẩm

Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã tạo ra làn sóng phát triển mạnh

mẽ của các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ Một số tập đoàn có vai trò và ảnh hưởng chi phối nền kinh tế không chỉ của một quốc gia mà của toàn thế giới Tất cả các nhà kinh tế, các chính trị gia nhận thấy những tác động tiêu cực của các tập đoàn nhưng không thể không thừa nhận sự tồn tại và vai trò của chúng Và người ta đã có lúc dùng sự phát triển của một vài tập đoàn

để đo sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia Về lĩnh vực kinh doanh của tập đoàn, có thể theo các xu hướng sau:

+ Tập đoàn kinh doanh tổng hợp bao gồm các dịch vụ ngân hàng - tài chính và sản xuất kinh doanh như: Tại Nhật Bản có tập đoàn Normura nổi tiếng kinh doanh chứng khoán, sản xuất, đầu tư khu công nghiệp và hạ tầng khu công nghiệp…; tập đoàn Sumitomo nổi tiếng về ngân hàng và kinh doanh

Trang 23

bảo hiểm lại vừa nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất xi-măng Tại Singapore có tập đoàn Keppel Bank kinh doanh lĩnh vực ngân hàng, thương mại, dịch vụ,…

+ Tập đoàn tài chính chuyên về ngân hàng, chứng khoán, các dịch

vụ tài chính như tập đoàn Citi Group (Mỹ); tập đoàn HSBC; tập đoàn ING ( Hà Lan); AIG ( Mỹ)

Xin giới thiệu một số tập đoàn tài chính lớn:

- Tháng 5/2001, Tập đoàn tài chính Citigroup của Mỹ đã tuyên bố mua Tập đoàn Ngân hàng lớn nhất Mêcico Banacci với giá khổng lồ: 12,5

tỷ USD Đây là cuộc mua bán lớn nhất trong lịch sử tại thị trường các nước mới nổi như Mêxico Citigroup là Tập đoàn tài chính lớn của Mỹ – Trong

đó, Ngân hàng thương mại khổng lồ Citibank là Ngân hàng đóng vai trò sáng lập ra Tập đoàn Việc sáp nhập Ngân hàng Banamex thuộc Tập đoàn Banacci của Mêxico vào chi nhánh Ngân hàng Citibank của Mỹ tại Mêxico không chỉ là giải pháp mở rộng phạm vi kinh doanh của Tập đoàn Citigroup mà còn củng cố vị thế trên thị trường tài chính của chính "ngân hàng bị bán" là Banamex sau khi bị mất thế cạnh tranh bởi sự kiện năm

2000 Tập đoàn BBAA của Tây Ban Nha đã mua Ngân hàng Bancomer vốn

là đối thủ chính của Ngân hàng Banamex tại Mêxico Mặt khác, cuộc sáp nhập này theo tính toán của Chủ tịch Tập đoàn Citigroup ông Sandy Weill thì hàng năm Tập đoàn sẽ giảm được ít nhất 200 triệu USD cho chi phí chuyển giao công nghệ và nhất là chi phí huy động vốn thấp hơn

- Năm 2002 sự sát nhập giữa Ngân hàng thương mại Dresdner và Công ty bảo hiểm Allanz trong lĩnh vực tài chính mới và lớn nhất tại Đức dựa trên nguyên tắc gộp cổ phần của hai định chế tài chính Ngân hàng và phi Ngân hàng thành một liên minh tài chính hỗn hợp nhằm củng cố địa vị tài lực và đặc biệt là để tận dụng tối đa lợi thế của các bên: Công ty bảo hiểm Allanz phát huy được tối đa nguồn lợi thu được từ việc mở rộng thị trường và sử dụng hệ thống bán lẻ thông qua các nghiệp vụ kinh doanh

Trang 24

ngân hàng, còn ngân hàng Dresdner thì tập trung được nguồn lực khổng lồ vào việc kinh doanh trong lĩnh vực đầu tư tài sản tài chính Tập đoàn mới này do Ngân hàng Dresdner đóng vai trò sáng lập và chi phối Tập đoàn này sau khi ra đời đã hoàn toàn có đủ điều kiện và thực lực để một mặt tự phòng vệ, một mặt vươn ra thị trường tài chính thế giới với tư cách là một Tập đoàn tài chính xuyên quốc gia mang quốc tịch Đức

- Tại Pháp năm 2000, ngân hàng thương mại BNP đã trúng thầu mua lại toàn bộ cổ phần của Ngân hàng Paribas để hình thành nên Tập đoàn tài chính hàng đầu của Pháp mang tên: Tập đoàn tài chính BNP - Paribas, với

117000 nhân viên, mở chi nhánh và Công ty con trên khắp nước Pháp và

90 chi nhánh ở nước ngoài tại nhiều quốc gia trên thế giới Tập đoàn này kinh doanh chủ yếu trên 4 nhóm sản phẩm gồm: Dịch vụ doanh nghiệp, đầu

tư, quản lý tài sản và dịch vụ bán lẻ Các ngân hàng con cũng như các chi nhánh của các ngân hàng thành viên đều quản trị kinh doanh theo các nhóm sản phẩm nói trên theo mô hình dọc Lãnh đạo tập đoàn này là đại diện các quan chức cao cấp của các ngân hàng thành viên và hoạt động theo cơ chế các Hội đồng thực quyền, đưa ra các qui chế, các chuẩn mực hoạt động và phương thức quản trị thống nhất cho toàn bộ các ngân hàng thành viên

- Tập đoàn HSBC Holdings: Là một trong những tập đoàn cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng hàng đầu thế giới với tổng tài sản là 1.861 tỷ USD tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2007 và là tập đoàn lớn thứ 4 thế giới về tài sản Ngân hàng này báo cáo tài chính bằng dollar

Mỹ vì 80% doanh thu từ bên ngoài Anh quốc Gần 22% doanh thu của ngân hàng này là tại Hồng Kông, nơi nó có trụ sở cho đến năm 1993 Ngoài

ra HSBC đã tham gia với các hãng toàn cầu như New York Life, Prudential

và Alluanz để thành lập một liên doanh bảo hiểm tại ấn Độ, thị trường 1,1

tỷ dân với tổng phí bảo hiểm hàng năm đã tăng gấp đôi lên hơn 20 tỷ USD

Trang 25

Nhận xét chung về các TĐTC trên thế giới và trong khu vực:

Một điều dễ nhận thấy nhất ở các TĐTC trên thế giới và khu vực là

mô hình kinh doanh phức tạp, cung cấp các sản phẩm đa năng và phạm vi hoạt động rộng khắp ở các quốc gia Với nền tảng là một ngân hàng hay một công ty bảo hiểm, khi phát triển đến độ cần thiết, các tổ chức tài chính đều vươn ra hoạt động đa năng và hướng ra toàn cầu theo nhiều hướng khác nhau như thông qua hợp nhất, sát nhập một số NHTM, cổ phần hoá những NHTM Nhà nước hay hợp nhất NHTM và công ty bảo hiểm Các TĐTC nổi tiếng đều rất chú trọng đến trách nhiệm xã hội như bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn, thân thiện với môi trường, hoạt động từ thiện, coi đó là một trong những mục tiêu cần đạt tới ngoài mục tiêu lợi nhuận

2 Xu thế hình thành tập đoàn tài chính ở Việt Nam

Trong thời gian qua, hệ thống tài chính Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng kể cả về cấu trúc, quy mô lẫn loại hình tổ chức Từ việc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại quốc doanh cho đến thí điểm thành lập tập đoàn Tài chính - Bảo Việt, đều là những bước đi cần thiết để tạo dựng mô hình tổ chức mới- tổ chức “Tập đoàn” trên thị trường tài chính Việt Nam Những thay đổi này đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Ngành tài chính vốn là ngành thu hút được sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, không chỉ bởi mức lợi nhuận khổng lồ,

mà còn là tính chi phối và mối liên hệ của nó tới tất cả các ngành và lĩnh vực khác trong nền kinh tế Năm 2007 là năm bùng nổ mạnh mẽ của thị trường tài chính với sự ra đời liên tiếp của các Ngân hàng, công ty chứng khoán, các tổ chức tài chính khác Thời gian gần đây, chúng ta nói nhiều đến xu hướng hình thành các tập đoàn trong các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tài chính đang manh nha hình thành Chúng ta đang có rất nhiều tập đoàn định hướng sẽ phát triển thành tập đoàn tài chính hoặc đi theo mô hình Ngân hàng đầu tư như công ty chứng khoán Sài Gòn SSI, Bảo Việt,

Trang 26

Vietcombank VCB , Ngân hàng đầu tư và phát triển BIDV Quy luật cạnh tranh, đào thải, sát nhập là quy luật muôn đời của nền kinh tế thị trường, tất yếu sẽ dẫn đến xu thế các Ngân hàng , công ty chứng khoán, công ty tài chính lớn thâu tóm dần các mảng thị trường nhỏ hoặc sẽ bắt tay nhau để phân chia thị trường tài chính lớn

Trên thế giới, mô hình TĐTC, TĐTC- NH đã tồn tại từ lâu Tuy nhiên, ở nước ta vì nhiều hạn chế, chủ yếu là từ nguồn vốn và hệ thống pháp lý, việc đưa các ngân hàng, các tổ chức tài chính khác trở thành tập đoàn đầu tư tài chính vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập Tuy nhiên xét về khía cạnh phát triển đầu tư tài chính, đây là bước đi tất yếu của các công ty tài chính, các tổ chức tín dụng, các ngân hàng sau cổ phần hoá, nhất là ở giai đoạn hội nhập chung của đất nước

3 Vấn đề cần lưu ý khi thành lập tập đoàn tài chính ở Việt Nam

Qua nghiên cứu các mô hình Tập đoàn tài chính nêu trên, chúng ta

có thể thấy rằng hầu hết các quá trình hình thành mô hình Tập đoàn, các cuộc sáp nhập hoặc cổ phần hoá Ngân hàng trên thế giới đều diễn ra theo một số nguyên tắc mang tính khách quan vừa có lợi, vừa bao gồm cả những mặt hạn chế mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình cổ phần hoá NHTM Nhà nước và quá trình hình thành mô hình Tập đoàn tài chính trong tương lai như sau:

Thứ nhất, việc xuất hiện các mô hình tổ chức và vận hành doanh

nghiệp là một phạm trù lịch sử, có tính độc lập khách quan Một mệnh lệnh hành chính là không đủ để biến một ngân hàng thương mại hay một Tổng công ty nào đó thành một tập đoàn tài chính Sự can thiệp của nhà nước chỉ

là điều kiện cần, mang ý nghĩa hỗ trợ và thúc đẩy, cần đặc biệt tôn trọng quy luật khách quan, tránh việc hình thành các tập đoàn tài chính một cách nóng vội khi chưa thực sự hội đủ những điều kiện tối cấn thiết

Trang 27

Gắn liền với tập đoàn kinh doanh là mô hình công ty mẹ - công ty con Tương tự như việc hình thành tập đoàn, việc một công ty nào đó trong tập đoàn giữ vị trí công ty mẹ cũng không thể hình thành bằng một quyết định hành chính Trong các tập đoàn kinh tế lớn ở các nước đang phát triển, công ty mẹ có vị trí đặc biệt quan trọng, là công ty có khả năng chi phối được hoạt động kinh doanh của các công ty con Trước pháp luật công ty

mẹ cũng là một pháp nhân độc lập, bình đẳng với các công ty con Tuỳ theo từng tập đoàn, công ty mẹ chi phối các công ty con bằng các quan hệ kinh

tế, thông qua tỷ lệ vốn góp, qua việc cho sử dụng thương hiệu hoặc qua việc hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ, thị trường

Thứ hai, hiện đã có khá nhiều văn bản pháp qui dưới luật nhằm

hướng dẫn hoạt động của các Tổng công ty tài chính và các NHTM Nhà nước Tuy nhiên, đa phần các văn bản pháp quy này đều được xây dựng trên quan điểm xem doanh nghiệp nhà nước là một đơn vị trực thuộc Với vai trò là người hỗ trợ, Chính phủ cần sớm hình thành những nền tảng pháp

lý cơ bản điều chỉnh hoạt động của tập đoàn kinh tế nói chung, tập đoàn tài chính nói riêng, đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính và các chuẩn mực kế toán

Bên cạnh đó, kiên quyết đẩy mạnh quá trình đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước theo hướng hạn chế tối thiểu các doanh nghiệp cổ phần hoá mà Nhà nước vẫn nắm cổ phần chi phối Đối với việc cổ phần hoá, Nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ trên 51% cổ phần Bởi hai lý do:

1) Nhà nước vẫn có khả năng chi phối với tư cách là cổ đông lớn nhất mà không cần nắm giữ đến 51% cổ phần

2) Việc nắm giữ trên 51% sẽ làm hạn chế quy mô vốn và khả năng

mở rộng của các tổ chức tài chính này Đồng thời, cần nới lỏng tỷ lệ tham gia

cổ phần của các tổ chức tài chính nước ngoài (mức hiện tại là 10%) để các tổ

Trang 28

chức tài chính, tín dụng có thể tìm được những cổ đông chiến lược phù hợp và tăng quy mô vốn điều lệ phù hợp với thông lệ khu vực và quốc tế

Thứ ba, cần đảm bảo vai trò chi phối và kiếm soát của Công ty mẹ

đối với các công ty con thông qua mối quan hệ tài chính Hiện tại, vai trò của Tổng công ty đối với các công ty thành viên rất mờ nhạt, vốn của Tổng công ty chính là vốn nhà nước trên sổ kế toán của các công ty thành viên cộng lại Thực chất, tổng công ty chỉ can thiệp vào hoạt động của các công

ty thành viên bằng các quyết định mang tính hành chính Đây là một nguyên tắc tối kỵ trong việc tổ chức mô hình hoạt động của tập đoàn Đối với hoạt động của các NHTM, công ty tài chính và công ty bảo hiểm, cơ chế điều chuyển vốn rõ ràng hơn nhưng vốn điều chuyển thực chất là vốn huy động chứ không phải vốn điều lệ của công ty mẹ

Việc mở rộng hoạt động theo hướng đa ngành, đa nghề, đa lĩnh vực

sẽ đưa các tập đoàn tài chính của Việt Nam trở thành một mô hình khép kín

từ nghiên cứu, đầu tư, sản xuất đến lưu thông phân phối và xuất khẩu Chính sự khép kín của mô hình tập đoàn là một trong những nguyên nhân khiến cảnh báo từ giới phân tích kinh tế về cơ chế kiểm soát hoạt động của

mô hình này ngày càng lớn Đòi hỏi về việc công khai, minh bạch trong quản trị điều hành của mô hình tập đoàn được đặt ra hết sức cấp thiết Việc chuyển đổi sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng đang được chờ đợi như một điều kiện để luật hoá hoạt động của các doanh nghiệp này trên mặt bằng pháp lý chung

Trang 29

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA PVFC VÀ ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG TẬP

ĐOÀN TÀI CHÍNH

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ VIỆT NAM

1 Giới thiệu chung về Tập đoàn dầu khí Việt Nam

Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam tiền thân là đoàn địa chất 36 thuộc Tổng cục Địa chất được thành lập để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò dầu khí Việt Nam Trải qua nhiều giai đoạn phát triển năm 1977 đổi tên thành công ty dầu khí Việt Nam trực thuộc Tổng cục Dầu khí Việt Nam được thành lập để thực hiện nhiệm vụ hợp tác với các công ty nước ngoài trong lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí tại Việt Nam Theo quyết định số 330/TTg ngày 29/5/1995 của Thủ tướng Chính phủ, điều lệ tổ chức

và hoạt động phê chuẩn tại NĐ số 38/CP ngày 30/5/1995 thành lập nên Tổng công ty dầu khí Việt Nam gọi tắt là Petro Việt Nam Petro Việt Nam hoạt động theo tinh thần nghị định 91/TTg của Chính phủ về việc xây dựng

và phát triển các tập đoàn của Việt Nam Tháng 8/2006- Tổng công ty dầu khí Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam quyết định là công ty mẹ- Tập đoàn dầu khí Việt Nam theo quyết định số 199/2006/QĐ- TTg ngày 29/8/2006 Tên giao dịch quốc tế: VIET NAM OIL AND GAS GROUP, gọi tắt là Petro Việt Nam, viết tắt là PVN

Hiện nay với hơn 50 đơn vị thành viên và các công ty liên doanh, lực lượng lao động hơn 22.000 người và doanh thu năm 2007 đạt 213.000 tỷ đồng( chiếm gần 19% GDP của cả nước) Petro Việt Nam hoạt động không chỉ trong lãnh thổ Việt Nam mà còn liên kết rộng rãi với nước ngoài

Là công ty dầu khí quốc gia thuộc quyền quản lý Nhà nước, Petro Việt Nam được giao nhiệm vụ triển khai thực hiện toàn bộ các hoạt động

Trang 30

liên quan đến việc phát hiện, khai thác và làm gia tăng giá trị của nguồn tài nguyên dầu khí tại Việt Nam

2 Giới thiệu chung về Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí PVFC

2.1 Quá trình ra đời và phát triển của công ty

PVFC xuất phát là: một doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Petro Việt Nam, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp Nhà nước và các luật có liên quan khác được thành lập theo quyết định 04/2000 QĐ- VPCP do Bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng Chính phủ

ký 30/03/2000, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động, vốn điều lệ ban đầu là 100 tỷ VNĐ Ngày 1/1/2005 tăng vốn điều lệ của PVFC lên 300 tỷ, đồng thời ngày 28/2/2005 khai trương hoạt động Chi nhánh Công ty tài chính Dầu khí tại Vũng Tàu và cho đến nay vốn điều lệ của PVFC đã tăng lên 5000 tỷ Ngày 19/10/2007 đã tổ chức thành công đáu giá cổ phần, số lượng cổ phần đưa ra đấu giá là: 59.638.900 cổ phần, giá đấu thành công bình quân là 69.974 đồng/cổ phần

Ngày 18/03/2008 Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí chính thức

ra mắt và công bố cổ đông chiến lược nước ngoài PVFC chính thức chuyển đổi sang mô hình Tổng công ty với vốn điều lệ là 5000 tỷ VNĐ trong đó Mogan Stanley trở thành cổ đông chiến lược nắm giữ 10% vốn điều lệ của PVFC

Nhiệm vụ chính của PVFC là thực hiện việc huy động vốn, cho vay vốn và các dịch vụ tài chính tiền tệ khác với Petro VN, các đơn vị thành viên của Petro VN và các tổ chức cá nhân khác ngoài Petro VN Thực hiện hoạt động kinh doanh với tư cách là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng PVFC có:

 Trụ sở chính là: 72 Trần Hưng Đạo- Hoàn Kiếm- Hà Nội

 Mạng lưới của PVFC có mặt ở hầu hết các thành phố lớn: ở Hà Nội

Trang 31

Các công ty con là: Công ty cổ phần quản lý quỹ PVFC, công ty cổ phần đầu tư và tư vấn PVFC, công ty cổ phần bất động sản PVFC Việt Nam, công ty cổ phần truyền thông PVFC, công ty chứng khoán PVFC, và Tổng công ty sẽ hướng đến mở rộng ở hầu hết các tỉnh thành và nước ngoài

 Về nguồn nhân lực, khi mới thành lập, chỉ có 8 cán bộ chủ chốt từ công ty mẹ sang, nhưng đến nay PVFC đã xây dựng được đội ngũ cán bộ công nhân viên trẻ( gần 1000 người), được đào tạo bài bản chuyên môn, có nghiệp vụ, có tham vọng, năng động và có nhiều khả năng trong lao động sáng tạo

Trải qua hơn 8 năm hình thành và phát triển, PVFC đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trở thành một định chế tài chính mạnh không những trên thị trường mà còn là một định chế quan trọng trong Tập đoàn Điều đó thể hiện qua sự tăng trưởng hàng năm của PVFC, năm đầu đi vào hoạt động tổng tài sản của PVFC chỉ có

360 tỷ VNĐ, đến năm 2007 tổng giá trị tài sản đạt gần 49.000 tỷ VNĐ, doanh thu đạt trên 3.150 tỷ VNĐ, lợi nhuận trước thuế trên 630 tỷ VNĐ Năm 2008, năm đầu tiên thực hiện mô hình mới, mục tiêu mà PVFC đặt ra

là phấn đấu giữ vững tốc độ tăng trưởng cao và ổn định Doanh thu đạt

5000 tỷ VNĐ, lợi nhuận đạt 1000 tỷ VNĐ, đảm bảo lợi ích của cổ đông với

cổ tức đạt tối thiểu 11,5%

Việc Morgan Stenley (TĐTC Mỹ) trở thành cổ đông chiến lược cùng các cổ đông khác đã chứng minh năng lực, uy tín và thương hiệu của PVFC đối với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, đồng thời sẽ mang một luồng sinh khí mới đến với PVFC bởi một bộ máy quản lý mới mang tầm

cỡ quốc tế Đây cũng chính là một phần chiến lược “ vươn ra biển lớn” của PVFC

2.2 Vai trò và sự cần thiết của PVFC trong Petro Việt Nam

2.2.1 Vai trò của PVFC

Trang 32

Cùng với các NHTM và các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác, PVFC không những đem lại lợi ích cho chính mình mà còn đem lại lợi ích đầy đủ cho cả người có vốn cũng như người cần vốn Với tính chất là một

tổ chức tài chính chuyên môn hoá cao trong một số nghiệp vụ được quy định, PVFC có những lợi thế:

 PVFC là một thành viên của Petro VN, được xác định là xương sống tài chính trong hệ thống tài chính, Ngân hàng, Chứng khoán, Bảo hiểm của Tập đoàn, sức mạnh của PVFC còn có sức mạnh của Petro VN

Do vậy thị trường của PVFC rất ổn định, từ năm 2000-2006, PVFC đã thu xếp vốn cho rất nhiều dự án lớn của ngành với tổng giá trị lên tới 10.000 tỷ VNĐ

 PVFC giúp giảm thiểu các rủi ro cho những người cung ứng vốn cho thị trường nhờ những nghiệp vụ về tài sản có của mình PVFC là kênh dẫn vốn có tính chất chuyên môn hoá trong việc thu hút và đầu tư các khoản vốn trung và dài hạn và có tính rủi ro cao hơn ( đầu tư mạo hiểm)

 PVFC có nguồn vốn khá chủ động, về thời hạn không bị ràng buộc bởi các nhu cầu khắt khe về tính thanh khoản cũng như những ràng buộc của Ngân hàng trung ương đối với các NHTM Vì vậy PVFC sẽ là khách hàng lớn trên thị trường chứng khoán và góp phần tạo nên sự sôi động của thị trường chứng khoán

2.2.2 Sự cần thiết của PVFC trong Petro Việt Nam

Sự cần thiết của PVFC đó là:

 Tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư để cung ứng cho Tập đoàn, các thành viên trong Tập đoàn, quản lý và đầu tư các khoản vốn chưa sử dụng trong Tập đoàn

 Làm đầu mối và tư vấn cho Tập đoàn, các đơn vị thành viên trong quan hệ với các Ngân hàng như VIBank, VCB , các đối tác đầu tư, cung

Trang 33

 Quản lý rủi ro tài chính cho Tập đoàn bao gồm quản lý về thanh khoản, tín dụng, lãi suất, kỳ hạn thanh toán Bên cạnh việc quản lý tài chính nội bộ PVFC còn cung cấp tài chính cho các khách hàng để mua hàng và các dịch vụ chính của tập đoàn Việc hình thành PVFC giúp cho Tập đoàn Dầu khí khai thác triệt để sức mạnh trên thị trường tài chính- tiền tệ thông qua quản lý vốn tập trung thống nhất các nguồn tài chính, điều hoà tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi, đảm bảo điều hành vốn linh hoạt Mặt khác PVFC giúp cho Petro Việt Nam và các thành viên giảm bớt lệ thuộc quá nhiều về nhu cầu vốn lưu động vào các NHTM

 Việc hình thành PVFC giúp Petro mở rộng lĩnh vực hoạt động, đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm những nguồn lợi nhuận mới từ những ngành nghề có khả năng sinh lợi cao, đồng thời giúp cho Tập đoàn quản lý một cách tối ưu, hiệu quả các nguồn vốn

2 3 Cơ cấu tổ chức Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí PVFC

Cũng như các công ty cổ phần khác, PVFC gồm có Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển và

kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty Dưới Hội đồng quản trị là Ban giám đốc, điều hành công việc hàng ngày của công ty, chịu sự giám sát và trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm

vụ được giao Ngoài ra còn có ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, ban giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông thực hiện các nhiệm vụ được giao Cơ cấu tổ chức, quản lý của tổng công ty cũng mang nét đặc thù của TĐTC đó là: Khối kinh doanh và khối quản lý Khối kinh doanh bao gồm các sản phẩm dịch vụ của công ty: phòng đầu tư, phòng thu xếp vốn và tín dụng doanh nghiệp, phòng dịch vụ tài chính, phòng quản lý vốn UTĐT Khối quản lý bao gồm: phòng tổ chức hành chính, phòng kiểm tra, kiểm soát nội

bộ, phòng kế hoạch và thị trường

Sơ đồ : Cơ cấu tổ chức tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí

Trang 34

Sơ đồ : Cơ cấu tổ chức tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí

Trang 35

2.4 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh

Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Tổng công ty rất đa dạng, đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu khách hàng, cụ thể là: Dịch vụ tài chính, hoạt động thu xếp vốn, hợp tác đầu tư dự án, uỷ thác đầu tư UTĐT, tín dụng cá

nhân, tín dụng doanh nghiệp, kinh doanh ngoại hối

2.4.1 Dịch vụ tài chính

Đây là một trong những dịch vụ chủ yếu và quan trọng của công ty bao gồm rất nhiều hình thức như: huy động vốn uỷ thác, tư vấn tiền gửi, thẩm định và tái thẩm định, tư vấn tài chính, tư vấn cổ phần hoá

 Hoạt động huy động vốn uỷ thác

Gồm 2 hình thức:

- Uỷ thác quản lý vốn kỳ hạn: Là việc khách hàng có vốn nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định chuyển tiền vào tài khoản của PVFC, uỷ thác cho PVFC quản lý số tiền của mình với lãi suất kỳ hạn cụ thể được quy định chi tiết trong thoả thuận chuyển vốn do hai bên ký Trong trường hợp này, nếu khách hàng có nhu cầu rút vốn trước hạn thì lãi suất khách hàng được hưởng sẽ

là lãi suất trả trước hạn được thống nhất trong thoả thuận chuyển vốn uỷ thác

- Nhận tiền gửi có kì hạn trên một năm là thể thức trong đó khách hàng gửi một số tiền nhất định tại PVFC với kỳ hạn trên một năm và được quy định

rõ trong Hợp đồng tiền gửi kỳ hạn

 Hoạt động tư vấn tiền gửi

PVFC đóng vai trò trung gian tư vấn cho khách hàng lựa chọn ngân hàng

có uy tín để gửi tiền một cách an toàn và có hiệu quả nhất Khách hàng thường xuyên được PVFC cung cấp các thông tin về thị trường tài chính tiền

tệ liên quan hỗ trợ cho các quyết định về thời hạn và số lượng tiền gửi hiệu quả

 Hoạt động thẩm định và tái thẩm định

Gồm hai hình thức:

Trang 36

- Tái thẩm định tín dụng

Thẩm định các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật dự án, về các rủi ro có thể xảy

ra, làm cơ sở để ra quyết định cho vay, đầu tư hoặc từ chối

- Thẩm định và tái thẩm định dự án đầu tư, phương án tài chính

Tư vấn cho chủ đầu tư về việc lựa chọn phương án đầu tư và phương án tài chính phù hợp với khả năng tài chính và quy mô của dự án

 Hoạt động tư vấn tài chính

Gồm hai loại hình:

- Tư vấn tài chính dự án

Thực hiện khảo sát, nghiên cứu phân tích và đánh giá tính kinh tế của dự

án, đánh giá năng lực các nguồn tài trợ tiềm năng, từ đó xây dựng, cơ cấu nguồn vốn hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế- tài chính cho dự án

- Tư vấn tài chính doanh nghiệp

Tư vấn cho doanh nghiệp xử lý các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tài chính, tư vấn cho doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tài chính trong kinh doanh, lập đề án thu xếp vốn theo nhu cầu doanh nghiệp

 Hoạt động tư vấn cổ phần hoá

Tư vấn cho doanh nghiệp toàn bộ qua trình cổ phần hoá doanh nghiệp thành công, các bước chuẩn bị (lập lộ trình, xử lý các vấn đề về tổ chức, lao động, tài chính, ) xây dựng phương án (bao gồm cả bán cổ phần và các tư vấn khác sau cổ phần hoá)

2.4.2 Hoạt động thu xếp vốn

PVFC sẽ thực hiện các vai trò là người thu xếp vốn: Thay mặt bên vay tìm kiếm nguồn vốn cho dự án; Soạn thảo, đàm phán các điều kiện của Hợp đồng vay vốn; Hỗ trợ bên vay và các thành viên đồng tài trợ, giải ngân, thu

nợ, thu lãi, giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến Hợp đồng tín

Trang 37

a Đồng tài trợ: Với mối quan hệ hợp tác rộng khắp với các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước, PVFC đảm bảo chắc chắn dự án của khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn vượt khả năng cung ứng vốn cũng như hạn mức cho vay của một tổ chức tín dụng sẽ được hợp vốn tài trợ từ những nguồn tối ưu nhất

b PVFC cấp tín dụng trực tiếp bằng nguồn vốn của mình hoặc vốn uỷ thác của Tổng công ty, các tổ chức tài chính tín dụng khác Các chủ đầu tư được nhận nguồn tài trợ với lãi suất cạnh tranh, giảm thiểu chi phí thực tế trả cho khoản vay, thuận tiện nhanh chóng, và được PVFC chịu trách nhiệm đến cùng với các dự án

c PVFC nhận uỷ thác đàm phán, ký kết các hợp đồng tín dụng với các nhà tài trợ trong và ngoài nước cho các chủ dự án Đối với những dự án có nhu cầu vay vốn rất lớn hoặc các điều kiện vay vốn có đặc thù riêng, phức tạp, các dự án vay vốn nước ngoài với những loại hình tín dụng, luật pháp chế tài rất khác biệt, PVFC nhận uỷ thác của chủ đầu tư dự án để trực tiếp:

+ Đàm phán ký kết các hợp đồng tín dụng cho dự án

+ Hỗ trợ giải ngân

+ Quản lý khoản vay

d Dàn xếp thuê mua tài chính : PVFC thay mặt chủ đầu tư tìm kiếm, lựa chọn, đàm phán với tổ chức cho thuê tài chính để đảm bảo khách hàng có cơ hội được sử dụng các dịch vụ thuê mua tài chính với các điều kiện phù hợp cho dự án, công trình, trang thiết bị, máy móc và các động sản khác

2.4.3 Hợp tác đầu tư

Là một trong những lĩnh vực hoạt động chủ đạo của PVFC, ngay từ những ngày đầu hoạt động PVFC luôn chú trọng mở rộng các hoạt động hợp tác của mình trong nhiều lĩnh vực: Hợp tác đầu tư dự án, kinh doanh cổ phiếu

và chứng từ có giá Trước hết về hợp tác đầu tư dự án:

Trang 38

a Cơ chế hợp tác đầu tư

Với phương châm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư là “ hợp tác cùng phát triển” PVFC đã tiến hành mở rộng hoạt động đầu tư vào nhiều ngành và lĩnh vực đầu tư đa dạng Khi tham gia hợp tác đầu tư, PVFC tham gia với các hình thức hợp tác đầu tư linh hoạt tuỳ theo tính chất từng dự án Đối tác tham gia hợp tác cùng PVFC sẽ có cơ hội được tham gia đầu tư vào các dự án đầu tư hấp dẫn, với nhiều hình thức hợp tác đa dạng

b Hình thức hợp tác

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh: PVFC và các đối tác cùng ký hợp đồng hợp tác kinh doanh để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không cần lập pháp nhân mới Các bên tự chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động của mình và phân chia kết quả kinh doanh theo thoả thuận trong hợp đồng

- Đầu tư cổ phần vào các công ty cổ phần đã và đang hoạt động, vận hành, khai thác

- Đầu tư thành lập pháp nhân mới: công ty cổ phần, công ty liên doanh Với tôn chỉ PVFC sẽ thực hiện thành công sứ mệnh đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của ngành dầu khí, đảm bảo vận hành sinh lợi hiệu quả nhất mọi nguồn lực tài chính trong ngành góp phần xây dựng thành công Tập đoàn Dầu khí vững mạnh, trong những năm tới PVFC sẽ tiếp tục mở rộng hoạt động đầu tư với các lĩnh vực và với các đối tác trong và ngoài ngành Dầu khí với phương châm: Ưu tiên đầu tư vào các dự án trong ngành Dầu khí và hợp tác với các đơn vị là thành viên Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đặc biệt chú trọng phát triển đầu tư vào các dự án, các đơn vị cùng ngành kinh tế kỹ thuật khác trong đó tập trung vào các lĩnh vực: năng lượng, du lịch cao cấp và vật liệu Đồng thời thắt chặt hơn nữa mối quan hệ với các ngân hàng, các đối tác nhằm thu hút và tạo nguồn vốn cho hoạt động đầu tư

c Kinh nghiệm và lợi thế của PVFC

Trang 39

PVFC có mối quan hệ mật thiết với các đơn vị trong và ngoài ngành nhằm chủ động nghiên cứu và tìm kiếm cơ hội đầu tư: Công ty dịch vụ kỹ thuật Dầu khí( PTSC), công ty thiết kế và xây dựng Dầu khí( PVECC), Tổng công ty xây dựng Vinaconex, Tổng công ty xây dựng Sông Đà Bước đầu, PVFC đã tạo lập được niềm tin với khách hàng trong quá trình hợp tác đầu tư các dự án: Dự án trạm phân phối LPG khu đô thị mới Mỹ Đình 2, dự án nhà máy sản xuất vỏ bình Gas, đầu tư cổ phần công ty cổ phần xây dựng và đầu tư Việt Nam( Cavico) Hơn nữa, PVFC ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động đầu tư vào nhiều lĩnh vực như: Dầu khí, năng lượng, du lịch cao cấp

d Các lĩnh vực ưu tiên đầu tư và các dự án PVFC đang tham gia

PVFC ưu tiên đầu tư vào: Dầu khí, năng lượng, du lịch cao cấp Dự án lớn mà PVFC đang tham gia: Dự án đầu tư sản xuất nhà máy vỏ bình ga, hợp đồng hợp tác đầu tư và kinh doanh tàu FPSO, thuỷ điện An Điềm A, Dự án nhà máy xi măng Mỹ Đức- Hà Tây góp cổ phần với công ty cổ phần dầu khí Sông Hồng, công ty cổ phần xây dựng và đầu tư Việt Nam

Ngoài ra một hình thức khác của hợp tác đầu tư là: PVFC còn đầu tư, kinh doanh cổ phiếu ở các giai đoạn khác nhau như: Các đơn vị đang chuẩn bị cổ phần hoá, các đơn vị đã cổ phần hoá và sẽ phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ… Cổ phần bán ra của các đơn vị sẽ được PVFC nghiên cứu đầu tư, cũng như các loại chứng từ có giá trên thị trường thường rất đa dạng, PVFC tìm kiếm thông tin và mua của các tổ chức phát hành đáng tin cậy

 Các dự án đầu tư PVFC cùng tham gia góp vốn với các đối tác thông qua việc thành lập Công ty Cổ phần mới đầu tư, quản lý, vận hành dự án: Thành lập Công ty Cổ phần Thuỷ điện Sông Vàng để triển khai dự án Thuỷ điện An Điềm II; Thành lập Công ty Cổ phần Dầu khí Sông Hồng (Song Hong Gas) để triển khai đồng thời 3 dự án Trạm phân phối Gas cho Khu đô thị Trung Hoà Nhân Chính, Mỹ Đình I, Mỹ Đình II; Thành lập Công ty Cổ

Trang 40

phần Đầu tư và Phát triển Năng lượng để thực hiện đầu tư các dự án Thuỷ điện

 Trong thời gian qua, PVFC đã đầu tư vào rất nhiều loại chứng từ có giá trên thị trường như: Trái phiếu công trình giao thông thuỷ lợi, trái phiếu Tổng công ty điện lực, trái phiếu tàu thuỷ…Với việc phân tích kỹ lưỡng tình hình lãi suất thị trường cũng như tìm hiểu về chủ thể phát hành, PVFC sẽ đưa

ra được quyết định đúng đắn về đầu tư kinh doanh chứng từ có giá nhằm sử dụng an toàn và có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn huy động

2.4.4 Dịch vụ uỷ thác đầu tư

Đây là hình thức đầu tƣ gián tiếp trong đó khách hàng uỷ thác đầu tư

sẽ lựa chọn một hoặc một nhóm các cơ hội đầu tư trên cơ sở danh mục các cơ hội đầu tư do PVFC giới thiệu Sau đó, ký hợp đồng uỷ thác đầu tư, giao vốn

và uỷ quyền cho PVFC thực hiện đầu tư trong khoảng thời gian nhất đinh và được hưởng mọi kết quả đầu tư thực tế( bao gồm lợi nhuận, giá trị gia tăng và rủi ro - nếu có) theo cơ chế phân chia kết quả kinh doanh đồng thời phải trả phí dịch vụ cho PVFC theo thoả thuận quy định tại hợp đồng Đồng thời PVFC sẽ thay mặt khách hàng thực hiện đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư trong thời hạn uỷ thác của khách hàng, định kỳ báo cáo kết quả đầu tư thực tế

và trả lợi tức cho khách hàng, hoàn trả vốn uỷ thác đầu tư cho khách hàng theo cơ chế quy định tại hợp đồng khi kết thúc thời hạn uỷ thác

Đối với các tổ chức công ty còn có thêm dịch vụ mô giới đầu tư:

Là hình thức đầu tƣ trực tiếp, trong đó khách hàng được PVFC tư vấn

và giới thiệu để khách hàng đầu tư hoặc mua lại quyền đầu tư của PVFC vào các loại hàng hoá mà PVFC đang nắm giữ như: Phần vốn góp của PVFC trong các dự án đầu tư, cổ phiếu thuộc sở hữu của PVFC tại các Công ty/đơn

vị cổ phần, quyền đầu tư góp vốn của PVFC vào một cơ hội đầu tư hấp dẫn

Ngày đăng: 17/04/2014, 13:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10) Báo cáo tài chính Tổng công ty tài chính Cổ phần Dầu khí 2001- 2007 11) Đặng thị hồng Loan- Khoá luận năm 2006: Nghiên cứu hoạt động của một số tập đoàn tài chính trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam http://www.kiemtoan.com.vnhttp://pvfc.com.vn Link
1) Huỳnh Ngọc Hạnh, tìm hiểu về tập đoàn Tài chính- Ngân hàng, trường cao đẳng TC-KT, nội san NCKH, số 46 Khác
2) Nguyễn Đại Lai- Nhận dạng về tập đoàn tài chính- Đề xuất khái niệm và khuyến nghị với các NHTM ở Việt Nam, chuyên đề nghiên cứu trao đổi- Ngân hàng Nhà nước Khác
3) Lê Văn Sang- Trần Quang Lâm, các công ty xuyên quốc gia trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, Nxb khoa học- xã hội Khác
4) ThS Phan Anh Tuấn - Đề cương bài giảng lý thuyết tài chính tiền tệ 2006 5) Vũ Huy Từ- Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá 6) Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 315, tháng 8/2004, số 329, tháng 10/2005. số 367, tháng 6/2006 Khác
7) Tạp chí tài chính Ngân hàng số 15 ( tháng 8/2006); số 6 ( tháng 6/2006); số 17/2006 Khác
8) Tạp chí chứng khoán Việt Nam số 4 ( tháng 4/2005) 9) Tạp chí tổ chức Nhà nước 1/2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 3: Tình hình hoạt động kinh doanh của PVFC 2001-2007 - Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí VPFC hướng tới tập đoàn tài chính
Bảng s ố 3: Tình hình hoạt động kinh doanh của PVFC 2001-2007 (Trang 44)
Bảng số 4: Cơ cấu đầu tƣ kinh doanh dự kiến PVFC - Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí VPFC hướng tới tập đoàn tài chính
Bảng s ố 4: Cơ cấu đầu tƣ kinh doanh dự kiến PVFC (Trang 47)
Bảng số 5: Biểu lãi suất cho vay cá nhân tại PVFC  (Thời điểm hiện tại) Hình thức  Đối tƣợng cho vay  Kỳ hạn  Lãi suất/ - Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí VPFC hướng tới tập đoàn tài chính
Bảng s ố 5: Biểu lãi suất cho vay cá nhân tại PVFC (Thời điểm hiện tại) Hình thức Đối tƣợng cho vay Kỳ hạn Lãi suất/ (Trang 48)
Bảng 6: Tỷ lệ nắm giữ vốn của Tập đoàn Dầu khí tại PVFC - Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí VPFC hướng tới tập đoàn tài chính
Bảng 6 Tỷ lệ nắm giữ vốn của Tập đoàn Dầu khí tại PVFC (Trang 65)
Bảng 1  Sự khác biệt giữa công ty tài chính và NHTM  5  Bảng 2  Danh sách 7 TĐTC lớn nhất thế giới năm 2006  14  Bảng 3  Tình hình hoạt động kinh doanh của PVFC 2001- 2007  42  Bảng 4  Cơ cấu đầu tư kinh doanh dự kiến PVFC năm 2008  45  Bảng 5  Biểu lãi s - Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí VPFC hướng tới tập đoàn tài chính
Bảng 1 Sự khác biệt giữa công ty tài chính và NHTM 5 Bảng 2 Danh sách 7 TĐTC lớn nhất thế giới năm 2006 14 Bảng 3 Tình hình hoạt động kinh doanh của PVFC 2001- 2007 42 Bảng 4 Cơ cấu đầu tư kinh doanh dự kiến PVFC năm 2008 45 Bảng 5 Biểu lãi s (Trang 94)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w