2 Nghiên cứu quy trình xử lý các mẫu thực vật bao gồm lá và cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ Đã nghiên cứu xây dựng quy trình xử lý mẫu thực vật để có bột nguyên liệu thực vật khô cho ng
Trang 1Đề tài độc lập cấp nhà nước
báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài
nghiên cứu quy trình chiết tách
ent-kauran Ditecpenoit có tác dụng
chống ung thư Và chống viêm từ cây
khổ sâm Bắc Bộ (croton tonkinensis
gagnep., euphorbiaceae) - Giai đoạn 2
Mã số: ĐTĐL.2009G/03
Phụ lục
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Chủ nhiệm : GS TSKH Phan Tống Sơn
9072-1
Hà Nội – 6/2011
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐỘNG THÁI TÍCH LŨY
CỦA HOẠT CHẤT ENT-KAURAN DITECPENOIT
TRONG CÂY KHỔ SÂM BẮC BỘ
(CROTON TONKINENSIS GAGNEP., EUPHORBIACEAE)
Chủ nhiệm Đề tài nhánh: PGS TS Phan Minh Giang
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nội dung nghiên cứu của Đề tài nhánh này là nghiên cứu động thái tích lũy
của hoạt chất ent- kauran ditecpenoit trong cây khổ sâm Bắc Bộ (Croton
tonkinensis Gagnep., Euphorbiaceae) theo thời gian ở một số vùng nguyên
liệu
1 Khảo sát các vùng trồng cây nguyên liệu khổ sâm Bắc Bộ và Thu thập
các mẫu nguyên liệu cây khổ sâm Bắc Bộ cho nghiên cứu
1.1 Lựa chọn các vùng trồng cây nguyên liệu khổ sâm Bắc Bộ
Trong số các địa phương đã lâu năm trồng cây nguyên liệu khổ sâm
Bắc Bộ để dùng làm thuốc có thể kể đến Mỹ Đức, Quốc Oai (Hà Tây cũ),
Ngọc Trục thuộc Từ Liêm, Gia Lâm và Hòa Bình
1.2 Khảo sát các vùng trồng cây nguyên liệu khổ sâm Bắc Bộ
Đã tổ chức khảo sát thực địa các vùng trồng cây nguyên liệu khổ sâm
Bắc Bộ bao gồm Mỹ Đức, Quốc Oai (Hà Tây cũ), Ngọc Trục , Gia Lâm và
Hòa Bình (vùng Kỳ Sơn)
Bảo quản các cây cung cấp nguyên liệu để có thể thu thập mẫu cho 3 thời
điểm trong năm (xem Bảng 1: Danh sách mẫu cây khổ sâm Bắc Bộ cho
nghiên cứu) Các thời điểm thu thập mẫu và bộ phận cây cần thu hái được lựa
Trang 3về thời gian thu thập nguyên liệu của các cây thuốc cổ truyền [1,2]
Hình 1: Lá và hoa một cây khổ sâm Bắc Bộ (Ngọc Trục)
1.3 Thu thập các mẫu thực vật
Các mẫu thực vật bao gồm các bộ phận có khả năng chứa hàm lượng
cao các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit là lá và cành con được thu thập tại
các thời điểm trong năm Các thời điểm được lựa chọn là tháng 4, tháng 9 và tháng 1 dương lịch
Bảng 1: Danh sách các mẫu cây khổ sâm Bắc Bộ cho nghiên cứu
Trang 4Hai chữ đầu là ký hiệu của vùng nguyên liệu (ví dụ, NT = Ngọc
Trục); L hoặc T là bộ phận nguyên liệu (L = lá và T = cành con);
các ký hiệu 1, 2 hoặc 3 được dùng để chỉ các thời điểm thu thập mẫu
tương ứng với tháng 4, tháng 9 và tháng 1 dương lịch
Tài liệu tham khảo
1) Võ Văn Chi, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Thành phố
Trang 5học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1997
2 Nghiên cứu quy trình xử lý các mẫu thực vật (bao gồm lá và cành con
của cây khổ sâm Bắc Bộ)
Đã nghiên cứu xây dựng quy trình xử lý mẫu thực vật để có bột nguyên liệu thực vật khô cho nghiên cứu phân tích
2.1 Mẫu thực vật
Mẫu thực vật là cành lá (nhánh cây) tươi của cây khổ sâm Bắc Bộ
(Croton tonkinensis Gagnep.) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) được thu
thập thực địa tại một số thời điểm theo vụ thu hoạch trong năm tại một số vùng trồng cây nguyên liệu khổ sâm Bắc Bộ quan trọng, như đã nêu ở Bảng
1
2.2 Quy trình chung xử lý các mẫu thực vật
Các khảo sát của nhóm nghiên cứu chúng tôi đã cho thấy các nguyên liệu thực vật khô từ lá cây khổ sâm Bắc Bộ có thể chứa một hàm lượng khá
cao các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit Một điều thuận lợi cho các quá trình
xử lý mẫu trong trường hợp nghiên cứu các hoạt chất từ cây khổ sâm Bắc Bộ
là các hoạt chất ditecpenoit này thường có độ ổn định hóa học khá cao và được thu nhận ở trạng thái rắn không dễ bị bay hơi Tuy nhiên để giảm các ảnh hưởng đến các hoạt chất việc xử lý mẫu đòi hỏi một quá trình làm khô mẫu chậm và tránh các tác động mạnh của nhiệt độ và độ ẩm Do đó trước khi tiến hành các nghiên cứu chiết xuất các mẫu thực vật đã được xử lý để ổn định mẫu theo một quy trình chung gồm năm bước sau (xem Sơ đồ 1)
Trang 61 Các mẫu thực vật (cành lá tươi) của cây khổ sâm Bắc Bộ được lưu giữ trong các túi lưới có kích thước 60 cm x 80 cm (rộng x dài) trong bóng râm ở điều kiện nhiệt độ phòng thoáng, mát cho bước xử lý tiếp theo ngay sau đó Các túi nguyên liệu này đều được gắn nhãn có ghi tên mẫu, địa điểm thu thập mẫu, thời gian thu thập mẫu và người trực tiếp thu thập mẫu
2 Sau đó các mẫu thực vật của cây khổ sâm Bắc Bộ được hong khô trong bóng râm trong điều kiện có quạt thông gió trong khoảng thời gian năm ngày Các mẫu thực vật này sau khi đã được lấy ra một phần để dùng cho các nghiên cứu chiết tách đều đuợc bảo quản ở nhiệt độ phòng trong điều kiện
thoáng, mát nhằm hạn chế các ảnh hưởng đến các hoạt chất ent-kauran
ditecpenoit có ở trong các mẫu
3 Các mẫu thực vật của cây khổ sâm Bắc Bộ, sau khi đã được hong khô trong bóng râm, được xử lý tách riêng phần lá và phần cành con (được xác định là phần gắn liền với lá có đường kính khoảng từ 1-1,5 mm) cho bước nghiên cứu chiết xuất Đây là các bộ phận của cây được sử dụng theo kinh nghiệm trong
Y học cổ truyền và có hàm lượng hoạt chất ent-kauran ditecpenoit cao
4 Mẫu thực vật (lá hoặc cành con, để riêng) của cây khổ sâm Bắc Bộ sau đó được sấy trong tủ sấy ở điều kiện nhiệt độ 40 oC trong 48 giờ
Các mẫu nguyên liệu thực vật (tức lá khô hoặc cành con khô, để riêng) của cây khổ sâm Bắc Bộ bây giờ đã được ổn định cho các nghiên cứu chiết xuất
5 Để cho dung môi hữu cơ có thể thẩm thấu vào các cấu trúc tế bào của các
mô thực vật trong quá trình chiết xuất, các nguyên liệu thực vật (lá khô hoặc cành con khô) của cây khổ sâm Bắc Bộ cần được xay thành bột mịn Cho các nghiên cứu chiết xuất ở quy mô phân tích, các nguyên liệu thực vật này được xay thành bột trong máy xay cỡ nhỏ (Philips, Hà Lan) Để giảm nhiệt sinh ra
Trang 7gian 30 giõy
Sơ đồ 1: Quy trình chung xử lý các mẫu thực vật của cây khổ sâm Bắc Bộ Phõn tớch sắc ký lớp mỏng (TLC) định tớnh để kiểm tra sự cú mặt của cỏc
hoạt chất ent-kauran ditecpenoit trong cỏc mẫu sau xử lý:
Quy trỡnh phõn tớch TLC chung
1) Ngõm chiết 1 g mẫu sau xử lý với MeOH khan trong bỡnh Erlenmeyer (1 ngày)
2) Cất loại kiệt dung mụi MeOH dưới ỏp suất giảm
3) Chuẩn bị mẫu dung dịch phõn tớch TLC (10 mg phần chiết MeOH/1 ml MeOH)
4) Phõn tớch TLC định tớnh : sử dụng bỡnh triển khai TLC Sigma-Aldrich, bản mỏng TLC Aluminium precoated sheets silica gel 60 F (Merck, Germany),
Trang 8CH2Cl2), đưa mẫu lên bản mỏng: 20 µl cho mẫu phần chiết MeOH (10 mg/1
ml MeOH) và 5 µl cho mẫu chuẩn, hệ dung môi n-hexan-axeton 3:1 (v/v), nhiệt độ triển khai TLC: nhiệt độ phòng, thuốc thử hiện màu: Dragendorff-Munier (hiện màu da cam) và vanilin/H2SO4 đặc 1% (hiện màu tím), phương
pháp phân tích TLC định tính: so sánh và co-TLC
2.3 Áp dụng quy trình xử lý mẫu chung
Quy trình xử lý mẫu chung nêu trên đã được áp dụng để xử lý 30 mẫu nguyên liệu tươi của cây khổ sâm Bắc Bộ bao gồm 15 mẫu lá và 15 mẫu cành con Các nguyên liệu sau khi xử lý đều đạt yêu cầu sử dụng; phân tích TLC đã
cho thấy sự có mặt các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit mục tiêu trong các
nguyên liệu này
2.4 Kết luận
1) Đối với các mẫu thực vật (lá và cành con) từ cây khổ sâm Bắc Bộ đã khảo sát và xác định các điều kiện thích hợp để xử lý ổn định mẫu thực vật tươi mà
không làm ảnh hưởng đến các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit: thời gian
hong khô ngoài không khí, nhiệt độ sấy (40 oC) và thời gian sấy mẫu, để thu được các mẫu nguyên liệu thực vật khô ổn định
2) Đã áp dụng phương pháp TLC để kiểm tra định tính các thành phần, kết
quả cho thấy sự có mặt của các thành phần hoạt chất ent-kauran ditecpenoit
cần thu nhận ở tất cả các mẫu sau xử lý
3) Quy trình chung đã được áp dụng để xử lý 30 mẫu nguyên liệu tươi của cây khổ sâm Bắc Bộ được thu thập tại các vùng trồng cây khổ sâm Bắc Bộ khác nhau tại ba thời điểm trong năm
Trang 9Theo quy trình của chúng tôi, các nghiên cứu phân tích được thực hiện trên các phần chiết MeOH Theo sự đánh giá của chúng tôi metanol có một số giá trị ưu việt: metanol là dung môi được sử dụng phổ biến trong sản xuất do
có giá thành thấp, độ chiết các ent-kauran ditecpenoit có hoạt tính sinh học
đạt cao, có tính phù hợp với các quy trình cần loại bỏ các chất màu gây cản trở trong quá trình sản xuất
Quy trình điều chế phần chiết metanol toàn phần cho phân tích từ lá và
từ cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ
3.1 Nguyên liệu thực vật
Nguyên liệu thực vật (lá và cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ, Croton tonkinensis Gagnep., Euphorbiaceae) được xử lý ổn định theo một quy trình
chung (xem Mục 2, Phần 2.2) Các mẫu nguyên liệu khô đều được xay thành
bột mịn để dùng cho các nghiên cứu chiết xuất các hoạt chất ent-kauran
ditecpenoit
3.2 Quy trình chung điều chế các phần chiết metanol toàn phần Chiết
xuất các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit từ cây khổ sâm Bắc Bộ
Trong bước chuẩn bị chiết xuất, các tế bào thực vật đã được chuẩn bị cho sự tiếp xúc với dung môi hữu cơ sau khi nguyên liệu khô (lá hoặc cành con) đã được chuyển thành dạng bột mịn Do độ phân cực của các hoạt chất
ent-kauran ditecpenoit cũng như để hạn chế sự giải phóng các chất màu, chất
dễ bay hơi và sáp (dễ tan trong các dung môi ít phân cực) vào dịch chiết, và
do tính chất hóa học tương đối trơ của MeOH đối với các hoạt chất ent-kauran
ditecpenoit mục tiêu ở điều kiện chiết xuất được lựa chọn (ngâm chiết ở nhiệt
độ phòng) và giá thành phù hợp cho các mục đích sản xuất lượng lớn, MeOH
đã được lựa chọn làm dung môi chiết Quá trình chiết rắn - lỏng các hoạt chất
Trang 10thực hiện theo Sơ đồ 2 qua các bước sau
Quy trình chung chiết các mẫu thực vật từ cây khổ sâm Bắc Bộ
1 Ngâm chiết bột nguyên liệu khô (lá hoặc cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ) trong MeOH khan trong các bình Erlenmeyer 250 ml ở nhiệt độ phòng Khối lượng nguyên liệu được sử dụng cho mỗi lần ngâm chiết mẫu phân tích
là 50 g lá hoặc 10 g cành con
2 Sau khi ngâm chiết ba ngày, các dịch chiết MeOH được lọc hút chân không bằng phễu lọc Büchner
Lặp lại quy trình ngâm chiết và gộp các dịch chiết MeOH lại
Dùng MeOH tráng kỹ bã nguyên liệu sau mỗi lần ngâm chiết
3 Cất loại kiệt nhanh MeOH bằng thiết bị quay cô chân không dưới áp suất giảm ở nhiệt độ < 50 oC, thu được các phần chiết MeOH
4 Tiếp tục loại hết dung môi ở các phần chiết MeOH này bằng áp suất giảm trong 30 phút
Sơ đồ 2: Quy trình điều chế các phần chiết MeOH từ cây khổ sâm Bắc Bộ
bét nguyªn liÖu l¸ (cµnh con)
MeOH
dÞch chiÕt MeOH
2 lÇn (x 3 ngµy)
cÊt lo¹i MeOH
phÇn chiÕt MeOH
Trang 11hoạt chất ent-kauran ditecpenoit từ các nguyên liệu thực vật khô
Quy trình phân tích TLC chung
1) Chuẩn bị dung dịch mẫu phân tích TLC (10 mg phần chiết MeOH /1 ml MeOH)
2) Phân tích TLC định tính: sử dụng bình triển khai TLC Sigma-Aldrich, bản mỏng TLC Aluminium precoated sheets silica gel 60 F254 (Merck, Germany),
chất chuẩn ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1) (1 mg/1 ml
CH2Cl2), đưa mẫu lên bản mỏng: 20 µl cho mẫu phần chiết MeOH (10 mg/1
ml MeOH) và 5 µl cho mẫu chuẩn, hệ dung môi n-hexan-axeton 3:1 (v/v), nhiệt độ triển khai TLC: nhiệt độ phòng, thuốc thử hiện màu: Dragendorff-Munier và vanilin/H2SO4 đặc 1%, phương pháp phân tích TLC định tính: so
sánh và co-TLC
3.3 Áp dụng quy trình ngâm chiết mẫu chung
Quy trình ngâm chiết mẫu chung nêu ở trên đã được áp dụng để chiết
30 mẫu nguyên liệu khô của cây khổ sâm Bắc Bộ bao gồm 15 mẫu lá và 15 mẫu cành con Các phần chiết đạt yêu cầu sử dụng cho phân tích; phân tích
TLC cho thấy các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit mục tiêu được chiết ra tốt
từ các nguyên liệu cây khổ sâm Bắc Bộ
3.4 Kết luận
1) Đã xây dựng được quy trình chiết thích hợp ở quy mô chiết mẫu phân tích với lượng mẫu thực vật thích hợp được lựa chọn là 50 g bột lá khô hoặc 10 g bột cành con khô của cây khổ sâm Bắc Bộ
2) Theo quy trình, mẫu thực vật được ngâm chiết 2 lần với metanol khan ở nhiệt độ phòng, mỗi lần trong ba ngày Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC)
trên silica gel với hệ dung môi n-hexan-axeton (3:1, v/v) đã được áp dụng để
Trang 124 Chiết tách và tinh chế các mẫu chuẩn ent-7
β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat và các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit phụ khác từ lá
cây khổ sâm Bắc Bộ
Mục 4 có nhiệm vụ xây dựng quy trình thực nghiệm áp dụng cho lượng
nhỏ chất để chiết tách và tinh chế các mẫu chuẩn
7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1) và các hoạt chất kauran ditecpenoit phụ khác
ent-1α,14α-diaxetoxy-7β-hydroxykaur-16-en-15-on (2) và ent-1α,7β
-diaxetoxy-14α-hydroxykaur-16-en-15-on (3) từ lá cây khổ sâm Bắc Bộ
Các quy trình điều chế các mẫu chuẩn ent-kauran ditecpenoit đều bao
gồm các bước cơ bản sau:
1) Chuẩn bị nguyên liệu (phần chiết MeOH) cho sự phân bố hai pha lỏng;
2) Phân bố hai pha lỏng lần lượt giữa nước với các dung môi hữu cơ n-hexan
và diclometan: điều chế các phần chiết hữu cơ giàu các ent-kauran
ditecpenoit;
3) Sắc ký điều chế lượng nhỏ các ent-kauran ditecpenoit thô;
4) Sắc ký tinh chế các mẫu chuẩn ent-kauran ditecpenoit;
5) Kiểm tra các sản phẩm nhận được (TLC phân tích, HPLC phân tích, phổ
1H- NMR và phổ 13C-NMR)
Trang 13Nguyên liệu thực vật là lá cây khổ sâm Bắc Bộ (Croton tonkinensis
Gagnep., Euphorbiaceae) Lá cây được hong khô trong bóng râm rồi sấy ở
40oC, sau đó được xay thành bột mịn
4.2 Các quy trình chiết tách và tinh chế các mẫu chuẩn ent-kauran
ditecpenoit từ lá cây khổ sâm Bắc Bộ
Yêu cầu đặt ra cho nhiệm vụ này là nghiên cứu quy trình phân lập các
hợp chất chuẩn cho phân tích bao gồm
ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1), ent-1α,14α-diaxetoxy-7β-hydroxykaur-16-en-15-on (2) và
ent-1α,7β-diaxetoxy-14α-hydroxykaur-16-en-15-on (3)
Các quy trình này đều bao gồm các bước chung sau:
1 Ngâm chiết nguyên liệu bột lá khô của cây khổ sâm Bắc Bộ trong MeOH
khan ở nhiệt độ phòng (2 lần, mỗi lần trong ba ngày)
2 Sau mỗi lần ngâm chiết lọc tách lấy các dịch chiết MeOH Gộp các dịch chiết MeOH lại và cất loại kiệt nhanh MeOH bằng thiết bị quay cô chân không dưới áp suất giảm ở nhiệt độ < 50 oC để thu phần chiết MeOH
3 Phần chiết MeOH được hoà với nước cất rồi lần lượt chiết với các dung
môi có độ phân cực tăng dần (n-hexan và diclometan) Cất loại kiệt dung môi
của các dịch chiết tương ứng dưới áp suất giảm bằng thiết bị quay cô chân
không, thu được các phần chiết n-hexan và diclometan
4 Gộp chung các phần chiết n-hexan và diclometan Tiến hành sắc ký cột
phần chiết gộp này trên silica gel (0,063-0,200 mm, Merck, Germany), rửa
giải gradient với n-hexan và các hệ dung môi EtOAc hoặc
n-hexan-axeton Kiểm soát quá trình phân tách bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) (silica
gel, n-hexan-EtOAc 3:1 hoặc n-hexan-axeton 3:1, v/v; thuốc hiện:
vanilin/H2SO4 đặc 1% hoặc Dragendorff-Munier) Các phân đoạn rửa giải
Trang 14được cất loại dung môi dưới áp suất giảm bằng thiết bị quay cô chân không ở nhiệt độ < 50 oC
Chất ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat thô nhận được từ phân đoạn được rửa giải với hệ dung môi n-hexan-EtOAc 3:1 hoặc n-hexan-axeton
3:1, v/v
Các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit phụ khác (ent-1α,14α-diaxetoxy-7β
-hydroxykaur-16-en-15-on (2) và ent-1α,7β-diaxetoxy-14α
-hydroxykaur-16-en-15-on (3)) nhận được dưới dạng thô từ phân đoạn được rửa giải với hệ
dung môi n-hexan-EtOAc 1:1 hoặc n-hexan-axeton 1:1, v/v
Tiếp theo bước này các giai đoạn tinh chế sản phẩm có thể được thực hiện theo các quy trình A, B và C sau đây Điểm khác biệt giữa các quy trình tinh chế này là ở việc sử dụng các chất hấp phụ (silica gel, silica gel pha đảo (silica gel RP) và Sephadex LH-20) và do đó có các điều kiện sắc ký khác nhau
Qui trình A: Tinh chế trên chất hấp phụ silica gel
5 Chất ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat thô được tinh chế tiếp
bằng sắc ký cột trên silica gel (0,063-0,200 mm, Merck, Germany), rửa giải
với hệ dung môi n-hexan-EtOAc 3:1 (v/v), sau đó được kết tinh chậm trong cùng hệ dung môi cho ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1) tinh
khiết ở dạng tinh thể hình kim không màu (phân tích TLC, HPLC và phổ 1NMR) Kiểm soát quá trình phân tách bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) (silica
H-gel, n-hexan-EtOAc 3:1, v/v)
6 Các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit phụ khác ở dạng thô được tinh chế
tiếp bằng sắc ký cột trên silica gel (0,063-0,200 mm, Merck, Germany), rửa
giải với hệ dung môi n-hexan-EtOAc 4:1 và 2:1 (v/v), sau đó được kết tinh
Trang 15ditecpenoit phụ chuẩn khác
(ent-1α,14α-diaxetoxy-7β-hydroxykaur-16-en-15-on (2) và ent-1α,7β-diaxetoxy-14α-hydroxykaur-16-en-(ent-1α,14α-diaxetoxy-7β-hydroxykaur-16-en-15-on (3)) ở dạng
bột vô định hình màu trắng (phân tích TLC, HPLC và phổ 1H-NMR) Kiểm
soát quá trình phân tách bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) (silica gel,
n-hexan-EtOAc 3:1, v/v)
Do trong các yêu cầu phân tích hai hợp chất ent-kauran ditecpenoit 2 và
3 thường cần được phát hiện đồng thời nên cũng có thể sử dụng hỗn hợp của
hai chất này làm chất chuẩn mà không cần phải phân lập tinh khiết từng hợp chất riêng biệt
Quy trình B: Tinh chế trên chất hấp phụ Sephadex® LH-20
5 Chất ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat thô được tinh chế tiếp
bằng sắc ký cột trên Sephadex® LH-20 (Pharmacia, Sweden), rửa giải với dung môi MeOH khan, sau đó được kết tinh chậm trong cùng hệ dung môi
cho ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat tinh khiết (phân tích TLC,
HPLC và phổ 1H-NMR) Kiểm soát quá trình phân tách bằng sắc ký lớp mỏng
(TLC) (silica gel, n-hexan-EtOAc 3:1, v/v)
Quy trình C: Tinh chế trên chất hấp phụ đảo pha silica gel RP-18 (ODS)
5 Chất ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat thô được tinh chế tiếp
bằng sắc ký cột pha đảo trên ODS (octadecyl silica gel, YMC, Japan) hoặc silica gel RP-18 (Merck, Germany), rửa giải với hệ dung môi gradient MeOH-H2O 3:1 và 4:1, v/v, sau đó được cất loại dung môi dưới áp suất giảm
bằng thiết bị quay cô chân không cho
ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat tinh khiết (phân tích TLC, HPLC và phổ 1H-NMR) Kiểm soát quá
trình phân tách bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) (silica gel, n-hexan-EtOAc 3:1,
Trang 16Sử dụng các phương pháp TLC, HPLC và 1H-NMR
1) Phân tích TLC (với dãy 5 nồng độ áp dụng khác nhau, ví dụ 5 µl, 10 µl,
15 µl, 20 µl và 25 µl - nồng độ hoà tan mẫu đầu 1 mg/ml), dùng các hệ dung
môi triển khai khác nhau như n-hexan-EtOAc 3:1 và n-hexan-axeton 3:1, v/v,
hiện màu với các thuốc hiện Dragendorff-Munier và vanilin/H2SO4 đặc 1%,
và soi đèn UV λ 254 nm
Chất ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1): R f 0,36 (TLC, silica
gel, n-hexan-EtOAc 3:1, v/v) và (TLC, silica gel, n-hexan-axeton 3:1, v/v),
hiện màu da cam với thuốc thử Dragendorff-Munier và màu tím hồng với thuốc thử vanilin/H2SO4 đặc 1%
Các chất 1α,14α-diaxetoxy-7β-hydroxykaur-16-en-15-on (2) và
ent-1α,7β-diaxetoxy-14α-hydroxykaur-16-en-15-on (3): Rf 0,36 (TLC, EtOAc 3:1, v/v) và (TLC, silica gel, n-hexan-axeton 3:1, v/v), hiện màu trắng
n-hexan-với thuốc thử Dragendorff-Munier và màu xám n-hexan-với thuốc thử vanilin/H2SO4
đặc 1% (Chú ý: các chất 2 và 3 không phân giải được trên TLC và xuất hiện
ở dạng một vệt có chung giá trị Rf)
2) Phân tích HPLC với detectơ PDA (cột phân tích ODS 250 × 4.6 i.d mm,
cỡ hạt 5 µm, gradient, 20%-100% MeOH-H2O v/v (25 phút), MeOH (5 phút),
UV ở λ 210 nm, tốc độ dòng 1 ml/phút, nồng độ mẫu 10 mg/ml, thể tích bơm mẫu 10 µl) Các chất chuẩn 1, 2 và 3 đều có các chromophore giống nhau của nhóm cacbonyl và do đó có thể được phát hiện bằng detectơ UV được đặt ở các bước sóng λ 210 nm, 240 nm và 254 nm
Chất ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1) có thời gian lưu
khoảng 23,907 phút, HPLC-UV: 240 nm
Trang 17khoảng 20,112 phút, HPLC-UV: 240 nm
Chất ent-1α,7β-diaxetoxy-14α-hydroxykaur-16-en-15-on (3) có thời gian lưu
khoảng 20,692 phút, HPLC-UV: 240 nm
Như vậy HPLC với chương trình gradient trên cho sự phân giải tốt của cả ba
hợp chất 1, 2 và 3, các pic đều có sự đối xứng Độ tinh khiết của các chất này
cũng có thể được kiểm tra bằng detectơ PDA
ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1):
1 H-NMR (CDCl 3 ): δ (ppm) 0,84 (3H, s, H3-19), 1,14 (3H, d, J = 1,19 Hz,
H3-20), 3,10 (1H, m, H-13), 2,10 (3H, s, 18-OAc), 3,66 (1H, d, J = 10,8 Hz, H-18a), 3,87 (1H, d, J = 10,8 Hz, H-18b), 4,05 (1H, dd, J = 12,0 Hz, 4,4 Hz, H-7), 5,29 (1H, t, J = 1,1 Hz, H-17a), 5,97 (1H, t, J = 1,1 Hz, H-17b)
O OH
H
1 2 3
7 8 9 10
11 12 13 14 15
16 17
18 19 20
1
Trang 18(q, C-20), 27,7 (t, C-6), 27,9 (t, C-14), 32,8 (t, C-12), 35,4 (t, C-3), 36,4 (s, C-4), 37,6 (d, C-13), 38,9 (t, C-1), 39,6 (s, C-10), 46,3 (d, C-5), 51,8 (d, C-9), 58,3 (s, C-8), 70,8 (d, C-7), 72,3 (t, C-18), 115,0 (t, C-17), 149,2 (s, C-16), 171,2 (s)/21,1 (q) (18-OAc), 209,7 (s, C-15)
ent-1α,14α-diaxetoxy-7β-hydroxykaur-16-en-15-on (2):
1 H-NMR (CDCl 3 ): δ (ppm) 0,90 (3H, s, H3-19), 0,95 (3H, s, H3-18), 1,27 (3H, s, H3-20), 1,97 (3H, s, 14-OAc), 1,99 (3H, s, 1-OAc), 3,08 (1H, br s, H-13), 4,19 (1H, dt, J = 11,9 Hz, 4,6 Hz, H-7), 4,86 (1H, br s, H-1), 5,41 (1H, s, H-17a), 6,01 (1H, s, H-14), 6,18 (1H, s, H-17b)
13 C-NMR (CDCl 3 ): δ (ppm) 16,6 (t, C-11), 18,6 (q, C-20), 21,4 (q, C-19), 22,7 (t, C-2), 27,3 (t, C-6), 32,3 (t, C-12), 32,9 (s, C-4), 33,2 (q, C-18), 35,0 (t, C-3), 44,2 (d, C-13), 43,0 (s, C-10), 47,6 (d, C-5), 48,1 (d, C-9), 61,6 (s, C-8), 72,7 (t, C-1), 72,9 (d, C-7), 76,1 (d, C-14), 117,7 (t, C-17), 146,0 (s, C-16),
170,1 (s)/21,2 (q) (1-OAc), 170,6 (s)/21,4 (q) (14-OAc), 206,5 (s, C-15)
ent-1α,7β-diaxetoxy-14α-hydroxykaur-16-en-15-on (3):
O OH H
H
1 2 3
4 5 6 7
8 9 10
1112 13 14 15
16 17
18 19 20
2
OAc
OAc
O OAc H
H
1 2 3
7 8 9 10
11 12 13 14 15
16 17 20
OAc
OH
Trang 19(3H, s, H3-20), 2,01 (3H, s, 1-OAc), 2,02 (3H, s, 7-OAc), 3,12 (1H, br s, 13), 4,86 (1H, br s, H-1), 4,89 (1H, s, H-14), 5,42 (1H, s, H-17a), 5,45 (1H,
H-dd, J = 12,4 Hz, 3,9 Hz, H-7β), 6,17 (1H, s, H-17b)
13 C-NMR (CDCl 3 ): δ (ppm) 16,6 (t, C-11), 18,5 (q, C-20), 21,2 (q, C-19), 22,6 (t, C-2), 25,0 (t, C-6), 31,0 (t, C-12), 32,9 (q, C-18), 33,0 (s, C-4), 34,9 (t, C-3), 42,3 (s, C-10), 45,7 (d, C-13), 46,9 (d, C-5), 46,99 (d, C-9), 60,9 (s, C-8), 72,7 (d, C-1), 74,3 (d, C-14), 75,9 (d, C-7), 118,3 (t, C-17), 146,7 (s, C-
16), 170,1(s)/21,2 (q) (1-OAc), 168,1 (s)/21,2 (q) (7-OAc), 205,0 (s, C-15)
4.3 Kết luận
1) Qua các thí nghiệm đã xây dựng được quy trình chiết tách và tinh chế thích
hợp các mẫu chuẩn ent-kauran ditecpenoit từ lá cây khổ sâm Bắc Bộ Các điều kiện thí nghiệm để phân lập lượng nhỏ các mẫu chuẩn ent-kauran
ditecpenoit từ nguyên liệu lá cây khổ sâm Bắc Bộ đã được xác định
2) Các điều kiện phân tích để xác định các hợp chất này như TLC phân tích, HPLC phân tích trên pha đảo và phổ NMR đã được đưa ra Độ sạch của chất
chuẩn 1 đạt > 98% (HPLC, NMR) Hỗn hợp của 2 và 3 nhận được với tỷ lệ 1:1 đạt độ sạch theo 2 và 3 là 100% (NMR)
5 Phân tích định tính và định lượng ent-7
β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat và xác định các hoạt chất ent-kauran ditecpenoit phụ khác
trong các mẫu nguyên liệu cây khổ sâm Bắc Bộ bằng các phương pháp phân tích
Yêu cầu của phần này là nghiên cứu các phương pháp phân tích các
hoạt chất ent-kauran ditecpenoit có trong các mẫu nguyên liệu cây khổ sâm Bắc Bộ Ngoài hoạt chất ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1)
ra các ent-kauran ditecpenoit khác từ cây khổ sâm Bắc Bộ cần được phân tích
Trang 20diaxetoxy-14α-hydroxykaur-16-en-15-on (3) Sự có mặt của các ent-kauran
ditecpenoit này trong các hỗn hợp với chất 1 có thể được phân tích thuận lợi
bằng phổ 1H-NMR và bằng phương pháp HPLC; bên cạnh đó phương pháp TLC dễ thực hiện và cũng cho những thông tin hữu ích
5.1 Nghiên cứu phân tích định tính phần chiết metanol toàn phần bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC)
Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC) cho phép phân tích định tính nhanh các thành phần đặc trưng của một thuốc hoặc của một chế phẩm Các thông tin đảm bảo cho độ lặp lại của việc phân tích này là nguồn gốc thuốc, điều kiện chiết, điều kiện phân tích TLC, hệ dung môi sắc ký, nồng độ chất,
và phương pháp phát hiện [1, 2] Chất chuẩn được triển khai đồng thời với mẫu phân tích để nhận dạng hợp chất này trong mẫu phân tích
5.1.1 Dụng cụ phân tích TLC
1) Bình triển khai sắc ký lớp mỏng (Sigma-Aldrich)
2) Bản mỏng TLC Aluminium precoated sheets silica gel 60 F254 (Merck, Germany), 20 × 20 cm, 25 sheets, layer thickness: 200 µm
3) Bản mỏng phân giải cao HPTLC Fertigplatten Kieselgel 60 F254 (Merck, Germany), 10 × 10 cm, 25 plates, layer thickness: 200 µm
4) Syringe Hamilton và plastic capillary để đưa mẫu lên bản mỏng
5) Dung môi phân tích khan: n-hexan, axeton, etyl axetat
6) Đèn UV (λ = 254 nm) (phương pháp hiện màu không phá hủy mẫu)
7) Bình phun thuốc hiện (CHLB Đức) và các thuốc hiện màu hoá học Dragendorff-Munier hoặc vanilin/H2SO4 đặc 1% (phương pháp hiện màu phá huỷ mẫu)
Trang 212) Kích thước bản mỏng hoạt động là 10 cm × 10 cm Vạch xuất phát cách mép dưới 1 cm và tuyến dung môi cách mép trên 0,3 cm Các vệt chất xuất phát cách nhau 1 cm
3) Chuẩn bị mẫu phân tích: Ngâm chiết 1 g bột mẫu khô (lá hoặc cành con
của cây khổ sâm Bắc Bộ) trong ba ngày trong MeOH ở nhiệt độ phòng Lọc dịch chiết nhận được và cất loại kiệt MeOH dưới áp suất giảm Hoà tan phần chiết MeOH (1 mg) trong MeOH khan (1 ml) Mẫu chất chuẩn được sử dụng
ở nồng độ 0,5 mg/ml
4) Tối ưu hoá hệ dung môi triển khai TLC (các hệ dung môi và tỷ lệ)
Dùng hệ dung môi triển khai: n-hexan-axeton 3:1 (hoặc n-hexan-EtOAc
3:1), v/v
5) Bão hoà dung môi ở nhiệt độ phòng (dung môi sắc ký được để trong bình
30 phút trước khi bắt đầu tiến hành sắc ký), và không bão hoà dung môi (dung môi sắc ký được đưa vào bình triển khai, xoáy mạnh đều xung quanh trong vài giây, sau đó để yên bình để cho sắc ký bắt đầu)
6) Đưa mẫu lên bản TLC: 5, 10 và 20 µl dung dịch mẫu thử và mẫu chuẩn (5 µl) được đưa lên bản TLC cách nhau từng khoảng 1 cm và cách mép dưới bản TLC 1 cm
7) Điều kiện triển khai:
nhiệt độ phòng
Sau đó để bản mỏng ngoài không khí cho bay hơi hết dung môi và hiện màu với các thuốc hiện khác nhau
8) Hiện màu bản mỏng:
a) Phun thuốc hiện vanilin/H2SO4 đặc 1%
Điều chế thuốc hiện: pha 1 g vanilin trong 100 ml H2SO4 đặc (98%), phun
o
Trang 22b) Phun thuốc hiện Dragendorff-Munier
Điều chế thuốc hiện: pha chế dung dịch gốc từ các dung dịch sau:
- dung dịch A: 17 g Bi(NO3)2 và 200 g axit tactric trong 800 ml nước cất
- dung dịch B: 160 g KI trong 400 ml nước cất
Trộn hai dung dịch A và B với nhau, thu được dung dịch gốc có màu da cam Dung dịch gốc này cần được bảo quản trong chai màu nâu, tránh ánh sáng và
để lạnh Pha dung dịch gốc thành dung dịch thuốc thử để sử dụng như sau: 50
ml dung dịch gốc và 200 g axit tactric trong 400 ml nước cất (ghi màu sắc của vệt hiện trên sắc ký đồ TLC);
c) Soi đèn tử ngoại ở bước sóng λ 254 nm
9) Mô tả sắc ký đồ TLC:
Mô tả các giá trị Rf, màu sắc của các vệt chất và của chất chuẩn (TLC phân tích)
5.1.3 Các ví dụ phân tích TLC định tính các ent-kauran ditecpenoit từ lá
và cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ
1) Phân tích TLC phần chiết MeOH từ lá và cành con
Thực hiện quy trình phân tích TLC nêu trên với 30 mẫu phân tích (15 mẫu phần chiết MeOH từ lá và 15 mẫu từ cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ được thu thập ở năm địa phương vào ba thời điểm trong năm, xem Bảng 1)
Phân tích TLC (xem Bảng 2) dễ dàng phát hiện sự có mặt của hoạt chất 1 trong các phần chiết MeOH do 1 cho màu đặc trưng với các thuốc hiện
Dragendorff-Munier (da cam) và vanilin/H2SO4 đặc 1% (tím hồng) Các hoạt
chất 2 và 3 có Rf trùng với của 1 và không có các màu đặc trưng với các thuốc
hiện Dragendorff-Munier (trắng) và vanilin/H2SO4 đặc 1% (xám), do đó khó phát hiện trực tiếp trong các mẫu phần chiết MeOH bằng các phân tích TLC
Trang 23STT Ký hiệu mẫu Phát hiện các hoạt chất
Trang 2429 MD-T2 1
Dưới đây là các sắc ký đồ được hiện màu với các thuốc hiện Dragendorff-Munier (Hình 2) và vanilin/H2SO4 đặc 1% (Hình 3) của một số mẫu phần chiết MeOH từ lá và cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ Như đã nêu ở trên, do có màu đặc trưng với các thuốc hiện này nên sự có mặt của hợp
chất 1 trong các phần chiết MeOH dễ được phát hiện bằng phân tích TLC, trong khi các chất 2 và 3 trong các phần chiết này khó có thể được nhận biết bằng TLC Các vệt chất 1 được phát hiện tại Rf × 100 = 36 Cần lưu ý đến sự khác biệt giữa TLC profile của các mẫu phần chiết MeOH từ lá với của các mẫu phần chiết từ cành con
Hình 2: Phân tích TLC các phần chiết MeOH và các chất chuẩn
(các mẫu lần lượt từ trái sang phải : GL-L, HB-L, NT-L, MD-L, QO-L,
U-L, GL-T, HB-T, NT-T, MD-T, QO-T, U-T, và các mẫu chất chuẩn
S1 (1), S2 (2) và S3 (3), hiện màu bằng thuốc hiện Dragendorff-Munier,
chuẩn S1 hiện màu da cam, các chuẩn S2 và S3 hiện màu trắng)
Trang 25Hình 3: Phân tích TLC các phần chiết MeOH và các chất chuẩn
(các mẫu lần lượt từ trái sang phải : GL-L, HB-L, NT-L, MD-L, QO-L,
U-L, GL-T, HB-T, NT-T, MD-T, QO-T, U-T, và các mẫu chất chuẩn
S1 (1), S2 (2) và S3 (3), hiện màu bằng thuốc hiện vanilin/H2 SO 4 đặc
1%, chuẩn S1 hiện màu tím, các chuẩn S2 và S3 hiện màu xám)
Sự so sánh các sắc ký đồ TLC ở Hình 2 với Hình 3 cho thấy thuốc hiện
Dragendorff-Munier là sự lựa chọn thích hợp để nhận biết hợp chất 1 trong
các phần chiết metanol từ các nguyên liệu thực vật Các tecpenoit nói chung nhạy với thuốc hiện vanilin/H2SO4 đặc 1%, do đó sắc ký đồ trở nên khó nhận dạng hơn; tuy nhiên sự vắng mặt các dải màu tím ở phía trên và phía dưới của
vệt chất 1 cũng đã cho phép ta nhận dạng hợp chất này
Các chất 1, 2 và 3 không hiện đèn UV ở bước sóng λ 254 nm (Hình 4)
Các sắc ký đồ TLC chuẩn của phần chiết MeOH từ lá và cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ được nêu tổng quát trong Bảng 3
Trang 26Hình 4: Phân tích TLC các phần chiết MeOH và các chất chuẩn
(các mẫu lần lượt từ trái sang phải : GL-L, HB-L, NT-L, MD-L, QO-L,
U-L, GL-T, HB-T, NT-T, MD-T, QO-T, U-T, và các mẫu chất chuẩn
S1 (1), S2 (2) và S3 (3), hiện màu bằng đèn UV ở λ 254 nm, các vệt
chất của S1, S2 và S3 không hiện màu với đèn UV)
Bảng 3: Sắc ký đồ TLC chuẩn của phần chiết MeOH từ lá và cành con
của cây khổ sâm Bắc Bộ
STT Rf × 100
Munier
Dragendorff-Vanilin/H 2 SO 4 đặc 1% Dragendorff-Munier
Trang 27với MeOH và được cô kiệt dung môi dưới áp suất giảm Phần cặn nhận được được sử dụng cho phân tích TLC theo quy trình được nêu ở Mục 5.1.2 (xem
Hình 5)
Quy trình chung chiết pha rắn phần chiết MeOH:
1) Ổn định cartridge RP-18 bằng 1 ml H2O,
2) Chuẩn bị dung dịch mẫu trong 1 ml 20% MeOH-H2O,
3) Nạp dung dịch mẫu phân tích,
4) Rửa với 20% MeOH-H2O,
5) Rửa với 40% MeOH-H2O,
6) Rửa với 100% MeOH
Sắc ký đồ TLC chuẩn của phần chiết MeOH-SPE từ lá cây khổ sâm Bắc Bộ được nêu tổng quát trong Bảng 4 Sắc ký đồ TLC này về cơ bản tương tự sắc ký đồ của phần chiết MeOH từ lá được nêu trong Bảng 3; tuy nhiên bớt được một số vệt chất phụ
Trang 28Hình 5: Phân tích TLC các phần chiết MeOH-SPE và các chất chuẩn
(các mẫu lần lượt từ trái sang phải : GL-L, HB-L, NT-L, MD-L, QO-L, U-L,
GL-T, HB-T, NT-T, MD-T, QO-T, U-T, và các mẫu chất chuẩn S1 (1), S2 (2)
và S3 (3), hiện màu bằng thuốc hiện Dragendorff-Munier, chuẩn S1 hiện màu
da cam, các chuẩn S2 và S3 hiện màu trắng)
Bảng 4: Sắc ký đồ TLC chuẩn của phần chiết MeOH-SPE
từ lá cây khổ sâm Bắc Bộ STT Rf × 100 Dragendorff-Munier
Trang 29MeOH của lá và cành con
Trong một thử nghiệm khác các ent-kauran ditecpenoit được làm giàu trong các phần chiết n-hexan và diclometan nhận được qua sự phân bố hai
pha lỏng phần chiết MeOH của lá và cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ theo quy trình được nêu ở Mục 4.2 Với quy trình này các hợp chất phân cực sẽ được loại bỏ vào pha nước Mặc dù quy trình này không loại bỏ được
chlorophyll và sáp, các hệ dung môi chạy TLC hexaaxeton 3:1 hoặc
n-hexan-EtOAc 3:1 tạo được sự phân giải cao và phân tách tốt các hợp chất
lipoid khác ra khỏi hoạt chất 1, khiến cho hợp chất này có thể được nhận biết
dễ dàng bằng các thuốc hiện Dragendorff-Munier (Hình 6 và Hình 7) và vanilin/H2SO4 đặc 1% (Hình 8 và Hình 9) Sự có mặt của chlorophyll đã được
xác định là không gây cản trở cho việc phân tích TLC hoạt chất 1
Trang 30Hình 6: Phân tích TLC phần chiết n-hexan và các chất chuẩn
(các mẫu lần lượt từ trái sang phải : GL-L, HB-L, NT-L, MD-L,
QO-L, U-QO-L, GL-T, HB-T, NT-T, MD-T, QO-T, U-T, và các mẫu chất
chuẩn S1 (1), S2 (2) và S3 (3), hiện màu bằng thuốc hiện
Dragendorff-Munier, chuẩn S1 hiện màu da cam, các chuẩn S2 và S3
hiện màu trắng)
Điểm đặc biệt là hoạt chất 1 cũng có thể được phát hiện dễ dàng trong
các phần chiết này bằng thuốc hiện vanilin/H2SO4 đặc 1% (xem Hình 8 và Hình 9)
Trang 31
Hình 7: Phân tích TLC phần chiết CH2Cl2 và các chất chuẩn
(các mẫu lần lượt từ trái sang phải : GL-L, HB-L, NT-L, MD-L,
QO-L, U-QO-L, GL-T, HB-T, NT-T, MD-T, QO-T, U-T, và các mẫu chất
chuẩn S1 (1), S2 (2) và S3 (3), hiện màu bằng thuốc hiện
Dragendorff-Munier, chuẩn S1 hiện màu da cam, các chuẩn S2 và S3
hiện màu trắng)
Hình 8: Phân tích TLC phần chiết n-hexan và các chất chuẩn
(các mẫu lần lượt từ trái sang phải : GL-L, HB-L, NT-L, MD-L, QO-L,
U-L, GL-T, HB-T, NT-T, MD-T, QO-T, U-T, và các mẫu chất chuẩn
S1 (1), S2 (2) và S3 (3), hiện màu bằng thuốc hiện vanilin/H2 SO 4 đặc
1%, chuẩn S1 hiện màu tím, các chuẩn S2 và S3 hiện màu xám)
Trang 32Hình 9: Phân tích TLC phần chiết CH2Cl2 và các chất chuẩn
(các mẫu lần lượt từ trái sang phải : GL-L, HB-L, NT-L, MD-L, QO-L,
U-L, GL-T, HB-T, NT-T, MD-T, QO-T, U-T, và các mẫu chất chuẩn
S1 (1), S2 (2) và S3 (3), hiện màu bằng thuốc hiện vanilin/H2 SO 4 đặc
1%, chuẩn S1 hiện màu tím, các chuẩn S2 và S3 hiện màu xám)
Các sắc ký đồ TLC chuẩn của phần chiết n-hexan từ lá và cành con của
cây khổ sâm Bắc Bộ được nêu tổng quát trong Bảng 5
Bảng 5: Sắc ký đồ TLC chuẩn của phần chiết n-hexan
từ lá và cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ
Trang 33từ lá và cành con của cây khổ sâm Bắc Bộ
STT Rf × 100
Dragendorff-Munier
Vanilin/H 2 SO 4 đặc 1%
Munier
1) Đã thực hiện việc chuẩn bị mẫu phân tích và tiến hành phân tích TLC với
30 mẫu phân tích bao gồm 15 mẫu phần chiết MeOH từ lá và 15 mẫu từ cành
con của cây khổ sâm Bắc Bộ được thu thập từ năm địa phương vào ba thời
điểm trong năm Phương pháp TLC phát hiện được tốt hoạt chất
ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1) và tỏ rõ tính đơn giản, hữu ích,
nhanh và chi phí thấp trong kiểm nghiệm thực tế Kết quả nghiên cứu cũng
cho thấy khả năng phân tích định tính hoạt chất 1 vẫn được đảm bảo khi sử
dụng chiều cao bản TLC hoạt động 10 cm hoặc 5 cm Thể tích đưa mẫu lên
bản mỏng là 20 µl cho mẫu phân tích (nồng độ: 1 mg phần chiết MeOH/1 ml
MeOH khan) và 5 µl cho mẫu chuẩn (nồng độ: 0,5 mg/ml) Thuốc thử thích
hợp để phát hiện hoạt chất 1 là Dragendorff-Munier (da cam) và
vanilin/H2SO4 đặc 1% (tím) Các thuốc hiện này cho các màu tương ứng là
trắng (Dragendorff-Munier) và xám (vanilin/H2SO4 đặc 1%) với các
ent-kauran ditecpenoit 2 và 3 Hệ dung môi axeton 3:1 hoặc
n-hexan-EtOAc 3:1 cho độ phân giải tốt và cho phép phát hiện trực tiếp hợp chất 1
trong phần chiết MeOH của nguyên liệu thực vật cũng như trong các phần
Trang 34phần chiết MeOH đã được loại các hợp chất phân cực
2) Các thử nghiệm phân tích TLC so sánh được tiến hành với các phần chiết
n-hexan và diclometan nhận được từ phần chiết MeOH toàn phần của các
mẫu cây khổ sâm Bắc Bộ cũng như với phần chiết MeOH toàn phần đã được
xử lý bằng phương pháp chiết rắn pha đảo (RP-SPE) và với phần chiết MeOH toàn phần (không qua xử lý) đã cho thấy phần chiết MeOH toàn phần cũng đảm bảo tương đối đầy đủ các thông tin và độ phân giải cho phân tích định tính Thuốc hiện Dragendorff-Munier là thuốc thử ưu tiên cho phân tích
TLC định tính hợp chất 1
3) Sự hạn chế của quy trình phân tích TLC là khả năng phát hiện trực tiếp các
hợp chất ditecpenoit 2 và 3 thấp do sự chồng chập vệt chất với hợp chất 1
Tài liệu tham khảo
1 H Wagner, S Bladt, E M Zgainski, Plant drug analysis A thin layer chromatography atlas, Springer-Verlag, Berlin (1984)
2 X Q Liu, L L Du, W W Li, H F Guan, F Liu, Simutaneous qualitative
and quantitative analysis of commercial Bistorta rhizomes and its
differentiation from closely related herbs using TLC and HPLC-DAD
fingerprinting, Chem Pharm Bull., 56, 75-78 (2008)
3 K Ravikanth, M Thakur, B Singh, M Saxena, TLC based method for
standadization of Pongamia pinnata (Karanj) using Karanjin as marker,
Chromatographia, 69, 597-599 (2009)
Trang 35toàn phần bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Phương pháp HPLC là một phương pháp rất hữu ích trong phân tích định tính và định lượng thành phần hoạt chất của dược liệu [1], [2], [3], [4]
Dưới các điều kiện thực nghiệm được nghiên cứu chuẩn hóa, các ent-kauran
ditecpenoit trong cây khổ sâm Bắc bộ được phân tích thuận lợi bằng phương pháp HPLC
5.2.1 Thiết bị HPLC phân tích
Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) Agilent 1100 series HPLC-DAD (Agilent Technology, USA) bao gồm bơm G1311A, đetectơ G1315B Diode Array Detector (DAD), manual sampler 7725i và loop mẫu 20
µl Phân tích được thực hiện trên cột sắc ký Lichrospher RP-18 (cỡ hạt 5 µm, 4,0 mm × 250 mm) (Agilent Technology) và cột bảo vệ C18 (cỡ hạt 5 µm, 4,6
mm × 7,5 mm) (Agilent Technology) DAD được đặt ở các bước sóng λ 210
nm, 240 nm, 254 nm và 360 nm Kiểm soát hệ thống sắc ký và xử lý số liệu được thực hiện với phần mềm Chemstations
Dung môi MeOH (HPLC, Merck, Germany), nước cất hai lần
5.2.2 Điều kiện phân tích HPLC
Chế độ chạy HPLC gradient:
Pha động chạy gradient từ 20% đến 100% MeOH trong 25 phút, sau đó 100% MeOH trong 10 phút Pha động đã được lựa chọn tối ưu qua thử nghiệm phân tích các tỷ lệ khác nhau của hệ dung môi MeOH-H2O với chất
chuẩn ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1) và dịch chiết lá
MeOH của cây khổ sâm Bắc Bộ; hệ gradient 20-100% MeOH-H2O cho đường nền ổn định, sự phân giải tốt và tính đối xứng của các pic
Tốc độ dòng: 1 ml/phút
Trang 36- Nồng độ mẫu đo: 10 mg/ml với các mẫu phần chiết MeOH
- Nồng độ mẫu chuẩn (1): 1 mg/ml (MeOH)
- Lọc các dung dịch mẫu phân tích qua màng lọc 0,45 µm trước khi bơm mẫu vào cột sắc ký
a) Khảo sát độ lặp lại trong ngày
Phần trăm diện tích pic HPLC và thời gian lưu cho dung dịch mẫu
chuẩn ent-7β-hydroxy-15-oxokaur-16-en-18-yl axetat (1) (20 µg/ml) được
tiêm lặp lại 6 lần trong cùng một ngày
Lập Bảng 7 về kết quả khảo sát độ lặp lại trong ngày của hệ thống và tính các độ lệch chuẩn tương đối (RSD) cho thời gian lưu và diện tích pic (λ
Trang 37Kết quả khảo sát độ lặp lại trong ngày cho thấy hệ thống sắc ký có RSD của thời gian lưu (0,205) và diện tích pic (1,877) < 2% đáp ứng yêu cầu phân tích
Các sắc ký đồ HPLC khảo sát độ lặp lại trong ngày được đưa ra trong phần Phụ lục (Phụ lục 1: Khảo sát độ lặp lại trong ngày của hệ thống sắc ký)
b) Khảo sát độ lặp lại khác ngày
Phần trăm diện tích pic HPLC và thời gian lưu cho dung dịch mẫu
chuẩn 1 (20 µg/ml) được tiêm lặp lại 2 lần trong cùng một ngày và quy trình
phân tích được lặp lại trong 3 ngày liên tiếp
Lập Bảng 8 về kết quả khảo sát độ lặp lại khác ngày của hệ thống và tính các độ lệch chuẩn tương đối (RSD) cho thời gian lưu và diện tích pic (λ
Trang 38của thời gian lưu (0,052) và diện tích pic (0,809) < 2% đáp ứng yêu cầu phân tích
Các sắc ký đồ HPLC khảo sát độ lặp lại khác ngày được đưa ra trong phần Phụ lục (Phụ lục 2: Khảo sát độ lặp lại khác ngày của hệ thống sắc ký)
5.2.4 Đánh giá sự phù hợp của phương pháp định lượng
a) Khảo sát độ tuyến tính
Độ tuyến tính được xác định giữa nồng độ và diện tích pic với các dung
dịch mẫu chuẩn 1 ở các nồng độ 50 µg/ml, 100 µg/ml, 200 µg/ml và 500 µg/ml (Bảng 9: Khảo sát độ tuyến tính) Mỗi nồng độ mẫu chất 1 được bơm
hai lần và diện tích pic được lấy giá trị trung bình
Sự phụ thuộc tuyến tính giữa nồng độ và diện tích pic (λ 210 nm) đã được xác định bằng phương trình hồi quy: y = mx + b, trong đó: y là diện tích
pic, x là nồng độ của mẫu chuẩn 1 theo µg/ml, m = 70,30449 và b =
806,63608
Giá trị hệ số tương quan r2 = 0,998 cho thấy sự tuyến tính của nồng độ
và diện tích pic trong khoảng nồng độ 50 đến 500 µg/ml
Bảng 9: Khảo sát độ tuyến tính STT Nồng độ mẫu chuẩn 1 Diện tích pic
Trang 39của mẫu chuẩn 1 được xây dựng trên Hình 10
Hình 10: Đồ thị biểu diễn khoảng tuyến tính của mẫu chuẩn 1
Các sắc ký đồ HPLC của việc khảo sát độ tuyến tính được đưa ra trong phần Phụ lục (Phụ lục 3: Khảo sát độ tuyến tính của phương pháp định lượng)
b) Giới hạn phát hiện (LOD) và Giới hạn định lượng (LOQ)
Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng được xác định dựa trên dãy
các nồng độ pha loãng của dung dịch mẫu chuẩn 1 thấp nhất (10 µg/ml) Giới
hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) được xác định là lượng
hợp chất cần thiết để tạo ra một tín hiệu (S) ít nhất lớn gấp ba lần (S/N = 3) hoặc mười lần (S/N = 10) tín hiệu nhiễu nền (N) Các giá trị LOD và LOQ đã
được xác định là 8,79 µg/ml và 29,01 µg/ml cho mẫu chuẩn 1
Các sắc ký đồ HPLC của việc xác định giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) được đưa ra trong phần Phụ lục (Phụ lục 4: Xác định các giới hạn định lượng LOD và LOQ)
Amount [ug/ml]
Area
0 5000 10000 15000 20000 25000 30000 35000
1 2 3
4
PTS, DAD1 A
Correlation: 0.99777 Rel Res% (1): -7.424
Area = 70.3044937*Amt +806.63608
Trang 40Điều chế phần chiết metanol:
Cân một lượng m g (khoảng 3 g) mẫu bột lá khô của cây khổ sâm Bắc
Bộ vào bình định mức 50 ml Thêm 50 ml metanol HPLC khan và chiết bột lá
trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng Lọc tách lấy phần dịch lọc và phần bã được
chiết tiếp với 50 ml metanol HPLC khan trong 24 giờ Gộp các dịch lọc
metanol (lần 1 và lần 2), làm bay hơi dung môi đến mức còn 10 ml và lọc
dịch chiết qua màng lọc HPLC 0,45 µm (Agilent) cho phân tích HPLC
Quy trình được lặp lại cho 3 mẫu lá (M i , i = 1, 2 và 3)
Chuẩn bị dung dịch phân tích:
Đưa dung dịch lọc chính xác về mức 10 ml bằng metanol HPLC để tạo
dung dịch phân tích (dung dịch M) Thực hiện thí nghiệm với 3 mẫu ngâm
chiết (M1, M2 và M3)
Phân tích định lượng:
Phân tích HPLC 3 lần cho một mẫu ngâm chiết (M i) ở bước sóng phát
hiện λ 210 nm Sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính để xác định nồng độ