Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Thế giới ngày nay đang đứng trước xu hướng mang tính quy luật là cácnền kinh tế của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau, hợp tác chặt chẽở phạm vi khu vực cũng như toàn cầu, biểu hiện rõ nét của xu thế này chính làviệc ra đời của các liên kết khu vực và quốc tế như ASEAN, EU,WTO mụctiêu là thúc đẩy tự do hoá thương mại quốc tế, giảm dần và tiến tới xoá bỏcác hàng rào bảo hộ do các quốc gia áp đặt nhằm cản trở tự do hoá thươngmại Có thể nói điều đó đem lại cho Việt Nam ta những cơ hội và cũng đặt ranhiều thách thức
Với việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chứcthương mại thế giới WTO, các ngân hàng nước ngoài sẽ mở rộng mạng lướihoạt động tại Việt Nam và cũng được thực hiện đầy đủ các hoạt động ngânhàng Với các thế mạnh về vốn, kinh nghiệm, kỹ thuật các ngân hàng nướcngoài sẽ là những đối thủ cạnh tranh lớn của các Ngân hàng thương mại ViệtNam trong đó có Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô Do vậy, để tồn tại, đứngvững và phát triển Ngân hàng phải tìm được các giải pháp tốt nhất để tăng cường năng lực cạnh tranh của đơn vị mình trên cả thị truờng trong và ngoàinước
Trước tình hình đó, Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô đặt ra mục tiêu làphải đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị truờng.Trong quá trình thực tập tại Ngân hàng, được tiếp xúc trực tiếp và làm việcvới các anh chị cán bộ Ngân hàng, nhất là trong thời gian làm việc tại Phòngkinh doanh, được nắm rõ hơn về tình hình hoạt động và nhận thức được rõhơn các khó khăn, hạn chế trong quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnhtranh của đơn vị Nhằm vận dụng những kiến thức đã tìm hiểu được và gópmột vài ý kiến trong quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân
hàng, em đã lựa chọn đề tài: ‘’ Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô’’
Trang 2Kết cấu của chuyên đề bao gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại NHTM.
Chương II: Tình hình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô.
Chương III: Gíải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô.
Trong quá trình viết chuyên đề tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúpđỡ rất lớn của thầy giáo TS Phạm Văn Hùng về kiến thức và định hướng,cùng sự giúp đỡ tận tình của các anh, chị trong phòng Kinh doanh của Chinhánh Ngân hàng NN&PTNT Thủ đô Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo
TS Phạm Văn Hùng và những người đã giúp đỡ em trong thời gian thực tậpvà nghiên cứu
Trang 3CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TẠI NHTM
I Một số vấn đề chung về đầu tư
1 Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển
1.1 Khái niệm đầu tư:
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn cácnguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọicông cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh vềnguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư
Ví dụ chủ đầu tư bỏ ra tiền, của cải vật chất, để tiến hành các hoạtđộng nào đó nhằm đạt được những kết quả lớn hơn trong tương lai so với chiphí đã bỏ ra ban đầu như thu về được số tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra, cóthêm nhà máy, trường học, bệnh viện, máy móc thiết bị, sản phẩm được sảnxuất ra, tăng thêm sức lao động bao gồm cả số lượng và trình độ chuyênmôn nghiệp vụ và sức khoẻ Đó là đầu tư
1.2 Khái niệm về đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chỉ dùng vốntrong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ranhững tài sản vật chất( nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kĩnăng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu pháttriển
Một ví dụ về đầu tư phát triển là công ty xe bus Hà Nội vừa đầu tư muasắm thêm một số lượng khá lớn ô tô bus để mở rộng hoạt động phục vụ giaothông công cộng của công ty Tài sản cố định của công ty được tăng thêm
Trang 4đồng thời cơ sở vật chất kinh tế phục vụ giao thông công cộng của thành phốHà Nội cũng được tăng thêm.
2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
2.1 Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây: 2.1.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư
phát triển thường rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quátrình thực hiện đầu tư Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạovốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạchđầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu
tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm Lao động cần sử dụng cho các dựán rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm quốc gia
2.1.2 Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực
hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trìnhđầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm Do vốn lớn lạinằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quảvốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tậptrung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độkế hoạch đầu tư, khắcphục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng
cơ bản
2.1.3 Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận
hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khihết thời hạn sử dụng và đầo thải công trình Nhiều thành quả đầu tư phát huytác dụng lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn
2.1.4 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công
trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,
do đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tưchịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng
Trang 52.1.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Do qui mô vốn đầu tư lớn, thời
kì đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nênmức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư donhiều nguyên nhân, trong đó, có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tưnhư quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt công suất thiết kế…
II Ngân hàng- Ngân hàng thương mại
1 Khái niệm chung về ngân hàng
Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vậtquý cho những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phảitrả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công Khi xã hội phát triển, thươngmại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữtiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền.Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗitrong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rấthiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng,đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng Căn cứvào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại vàngân hàng Nhà nước
2 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Theo Luật Các tổ chức tín dụng của các nước CHXHCN Việt Nam: ‘’Ngân hàng thương mại là trung gian kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếuvà thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Căn cứ trên phương diện những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cungcấp thì ‘’Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện chức năngkinh doanh tiền tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó đểcho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán’’
Trang 6Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bảnnhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn Ngân hàng thươngmại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơmvào nơi khan thiếu Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đíchkinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốnthấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợinhuận của ngân hàng thương mại Hoạt động của ngân hàng thương mại phụcvụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanhnghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
3 Các hoạt động của Ngân hàng thương mại.
3.1 Hoạt động huy động vốn
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồntiền của ngân hàng Ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi để huy động đượctiền của các tổ chức, các doanh nghiệp và dân cư Ngân hàng có rất nhiều cáchình thức huy động khác nhau để có thể tăng lượng tiền gửi của ngân hàngmình như: tiền gửi có kì hạn của các tổ chức xã hội, tiền gủi tiết kiệm của dân
cư, nguồn tiền gửi thanh toán Ngoài ra, ngân hàng có thể phát hành trái phiếuhoặc đi vay từ NHNN, các tổ chức tín dụng để đảm bảo khả năng thanhkhoản, đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng khi cần thiết Hoạt độnghuy động vốn đem lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng Ngân hànghuy động được lượng vốn lớn với chi phí thấp và cho các doanh nghiệp, cánhân vay lại với lãi suất cao hơn
3.2 Hoạt động trung gian thanh toán
Ngân hàng chính là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hếtcác nước Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá, dịch vụ thay chokhách hàng Để việc thanh toán trở nên nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chiphí đối với khách hàng, ngân hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh
Trang 7toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấpmạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi kháchhàng cần.Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông quaNgân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán Các trungtâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán quangân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và cóhiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
3.3 Hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời, đem lại thu nhập chủ yếu chocác ngân hàng, quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng CácNHTM hiện nay đã đưa ra nhiều hình thức cho vay khác nhau để đáp ứngđược tối đa nhu cầu của khách hàng bao gồm: cho vay tiêu dùng, cho vaykinh doanh, cho vay xây dựng nhà cửa, cho vay du học… Nhưng nhìn chungđối tượng mà các NHTM cho vay là các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế
3.4 Hoạt động bảo lãnh
Bảo lãnh là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, qua đókhách hàng có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hóa hoặc thực hiệnđược các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi Thông qua hoạt độngbảo lãnh ngân hàng thu được khoản phí bảo lãnh của khách hàng, ngân hàngcó thể yêu cầu khách hàng ký quỹ, tạo nguồn tiền thanh toán cho ngân hàngvới mức lãi suất rất thấp Bảo lãnh cũng góp phần mở rộng các dịch vụ khácnhư kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, thanh toán…
3.5 Thuê mua
Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựachọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trongđó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê Hợp đồng cho thuê thườngphải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản chothuê (thời hạn khoáng 80-90% đời sống kinh tế của tài sản) Do vậy, cho thuêcủa ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay
Trang 83.6 Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiềuchuyên gia về quản lý tài chính Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ Dịch vụ ủy thácphát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư… Nhiềukhách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính Ngânhàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán,sáp nhập doanh nghiệp
3.7 Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,chính phủ buộc NHTM mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất địnhtrên tổng lượng tiền mà ngân hàng huy động được
- Bảo quản tài sản hộ
- Bảo lãnh
- Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn như uỷ thác vay hộ, uỷ thác chovay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Bên cạnh đó các Ngân hàng lớn thường cung cấp dịch vụ ngân hàng đạilý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiềngửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ
III Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM
1 Khái niệm về cạnh tranh, các loại hình cạnh tranh
Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá
thể có chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thểcùng quan tâm Trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữa các chủ thểkinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đốitrong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất
Trang 9cho mình.Trong nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh là một quy luật kháchquan, là một yếu tố trong cơ chế vận động của thị trường Cạnh tranh là sựganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằmgiành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùnghàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Cạnh tranh có thể xảy
ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt,người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua đượchàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốthơn trong sản xuất và tiêu thụ Có nhiều biện pháp cạn tranh: cạnh tranh giácả (giảm giá ) hoặc phi giá cả (quảng cáo )
Dễ thấy, cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởithực chất nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá Trong sảnxuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phâncông lao động XH tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điềukiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trườngtiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển nhằm giảm mứchao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết để thuđược nhiều lãi Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn cócạnh trạnh
Các loại hình cạnh tranh
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiềuloại
* Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường
Cạnh tranh được chia thành 3 loại
Trang 10- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng
hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mìnhvới gái cao nhát, còn người mua muốn muc với giá thấp nhất Giá cả cuốicùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên
- Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh
phụ thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thìcuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lê, ngườimua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần
- Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh
nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và cólợi cho người mua Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuốisức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phầncủa mình cho các đối thủ mạnh hơn
* Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế
Cạnh tranh được phân thành hai loại
- Cạnh tranh trong nội bộ nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịchvụ Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển
- Cạnh tranh giữa các nghành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất.Trong quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giưã cácnghành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
* Căn cứ vào tính chất cạnh tranh
Cạnh tranh được phân thành 3 loại
Trang 11- Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Cometition): Là hình thức cạnh tranh
giữa nhiều người bán trên thị trờng trong đó không người nào có đủ ưu thếkhống chế giá cả trên thị trường Các sản phẩm bán ra đều được người muaxem là đồng thức, tức là không khác nhua về quy cách, phẩm chất mẫu mã.Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cáchgiảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so vớicác đối thủ cạnh tranh
- Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition) Là hình thức
cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau.Mỗi sản phẩn đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc
ưu thế trong cạnh tranh, người bán phảo sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như:Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnhtranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay
- Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường
chỉ có nột hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cảcủa sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụthuộc vào quan hệ cung cầu
* Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh
Cạnh tranh được chia thành
- Cạnh tranh lành mạnh Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với
chuẩn mực xã hội và đợc xã hội thừa nhận, nó thướng diễn ra sòng phẳng,công bằng và công khai
- Cạnh tranh không lành mạnh Là cạnh tranh dựa bào kẽ hổ của luật
pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án ( như trốn thuế buôn lậu,móc ngoặc, khủng bố vv )
Trang 12Vai trò của cạnh tranh
Đối với các doanh nghiệp: Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và làmột trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển Nóbuộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề,cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý đểnâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế Đó chính là cạnh tranh lànhmạnh Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ,kém phát triển
Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệtcho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm cóchất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học,công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng Dođó, cạnh tranh giúp họ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ, chất lượngsản phẩm ngày càng cao cùng với mức giá cả ngày càng phù hợp với khảnăng của họ
Đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh có vai trò quan trọng trongnền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là độnglực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế Cạnhtranh tạo điều kiện để xoá bỏ độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ bất bình đẳngtrong kinh doanh, phát huy tính năng động, sự sáng tạo trong các doanhnghiệp, nâng cao chất lượng đời sống xã hội, phát triển nền văn minh nhânloại
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả khôngmong muốn về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diệnsở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khicạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bấtchấp pháp luật Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều
Trang 13chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.Trong xã hội, mỗicon người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêudùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người vàcho cộng đồng, xã hội.
2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM
2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì nănglực cạnh tranh đựơc hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duytrì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảođảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mụctiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được được những mục tiêu của doanhnghiệp đặt ra Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạtđược tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xãhội, nâng cao đời sống của nhân dân
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mởrộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranhtrong và ngòai nước Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đócó đựơc
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phầncủa sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường Khả năng cạnh tranh của sảnphẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó Nó dựa vào chấtlượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sảnphẩm dịch vụ đó
2.2 Khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và những đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng.
Trang 14Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệpvà là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế NHTM cũng tồn tại vì mục đích cuốicùng là lợi nhuận Vì thế, các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấpsản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, vớimức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác,độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần đểđạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng Do vậy, cạnh tranh trong NHTMlà cũng là sự tranh đua, giành dựt khách hàng dựa trên tất cả những khả năngmà ngân hàng có được để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấpnhững sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, có sự đặc trưng riêng của mình sovới các NHTM khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợinhuận ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường.
Với những đặc điểm chuyên biệt của mình, sự cạnh tranh trong lĩnhvực ngân hàng cũng có những đặc thù nhất định:
- Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng có liên quan trực tiếp đến tất cảcác ngành, các mặt của đời sống kinh tế -xã hội Do đó:
NHTM cần có hệ thống sản phẩm đa dạng, mạng lưới chi nhánh rộngvà liên thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bất kỳ vị tríđịa lý nào
NHTM phải xây dựng được uy tín, tạo được sự tin tưởng đối với kháchhàng vì bất kỳ một sự khó khăn nào của NHTM cũng có thể dẫn đến sự suysụp của nhiều chủ thể có liên quan
- Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ cóliên quan đến tiền tệ Đây là một lĩnh vực nhạy cảm nên:
Năng lực của đội ngũ nhân viên ngân hàng là yếu tố quan trọng nhấtthể hiện chất lượng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng Yêu cầu đối với đội ngũnhân viên ngân hàng là phải tạo được sự tin tưởng với khách hàng bằng kiếnthức, phong cách chuyên nghiệp, sự am hiểu nghiệp vụ, khả năng tư vấn vàđôi khi cả yếu tố hình thể
Trang 15Dịch vụ của ngân hàng phải nhanh chóng, chính xác, thuận tiện, bảomật và đặc biệt quan trọng là có tính an toàn cao đòi hỏi ngân hàng phải có cơsở hạ tầng vững chắc, hệ thống công nghệ hiện đại Hơn nữa, số lượng thôngtin, dữ liệu của khách hàng là cực kỳ lớn nên yêu cầu NHTM phải có hệthống lưu trữ, quản lý toàn bộ các thông tin này một cách đầy đủ mà vẫn cókhả năng truy xuất một cách dễ dàng Ngòai ra, do dịch vụ tiền tệ ngân hàngcó tính nhạy cảm nên để tạo được sự tin tưởng của khách hàng chọn lựa sửdụng dịch vụ của mình, ngân hàng phải xây dựng được uy tín và gia tăng giátrị thương hiệu theo thời gian.
- Để thực hiện kinh doanh tiền tệ, NHTM phải đóng vai trò tổ chứcTrung gian huy động vốn trong xã hội Nguồn vốn để kinh doanh củangân hàng chủ yếu từ vốn huy động được và chỉ một phần nhỏ từ vốn tự cócủa ngân hàng Do đó yêu cầu ngân hàng phải có trình độ quản lý chuyênnghiệp, năng lực tài chính vững mạnh cũng như có khả năng kiểm soát vàphòng ngừa rủi ro hữu hiệu để đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả
- Chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là một
Công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế Do đó,chất liệu này được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ Hoạt động kinh doanh củaNHTM ngòai tuân thủ các quy định chung của pháp luật còn chịu sự chi phốibởi hệ thống luật pháp riêng cho NHTM và chính sách tiền tệ của Ngân hàngTrung ương
3 Các công cụ cạnh tranh của NHTM
3.1 Cạnh tranh bằng chất lượng
Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ pháttriển như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú đa dạng, tạo thuận lợicho sự lựa chọn của người tiêu dùng và đặt nhà sản xuất trước các áp lực cạnhtranh ngày càng gay gắt và để chiến thắng trong cạnh tranh thì buộc các nhàsản xuất phải nghiên cứu vận dụng nhiều phương thức và công cụ cạnh tranh
Trang 16khác nhau Một công cụ quan trọng hay được vận dụng hiện nay là nâng caochất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp Nhưng đối với một số ngành, thì “chấtlượng” lại có tính chất định tính hơn là định lượng và nó được xác định chủyếu thông qua sự kiểm định đánh giá của chính khách hàng sử dụng sản phẩmdịch vụ đó Vì thế, việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàm ý phải từng bướcthoả mãn cao nhất những yêu cầu, đòi hỏi từ phía khách hàng.
Đối với các NHTM để cạnh tranh bằng chất lượng phải xây dựng thậttốt chiến lược bằng công nghệ và chiến lược nguồn nhân lực bên cạnh vớiviệc kết hợp chiến lược thị trường, chiến lược kinh doanh phù hợp Chỉ cónhư vậy, các sản phẩm dịch vụ mà NHTM cung ứng mới đáp ứng đúng vàđầy đủ, kịp thời nhu cầu từ phía khách hàng
3.2 Cạnh tranh bằng giá cả
Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai trò quan trọng đốivới quyết định của khách hàng Đối với các NHTM, giá cả chính là lãi suất vàmức phí áp dụng cho các DV cung ứng cho các KH của mình Trong việc xácđịnh mức lãi suất và phí, các NHTM luôn phải đối mặt với những mâu thuẫn:Nếu như NHTM quan tâm tới khả năng cạnh tranh để mở rộng thị phần, thìcần phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các KH của mình, tuynhiên, điều này sẽ làm giảm thu nhập của NHTM, thậm chí có thể khiến NHbị lỗ Nhưng nếu NHTM chỉ chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ra mức lãisuất và phí sao cho đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập, tuy nhiên, điều nàycó thể dẫn đến NH sẽ bị mất dẫn KH, giảm thị phần trong KD, bởi suy chocùng thì KH luôn quan tâm tới mục tiêu tối thượng trong KD trên thươngtrường làm tối đa hoá lợi nhuận, mà để đạt được điều đó thì cần tiết giảm cácchi phí đầu vào Điều này có nghĩa là cạnh tranh bằng giá cả đang trở thànhmột biện pháp nghèo nàn nhất, vì nó làm giảm bớt lợi nhuận tiêu thu được củacác NHTM Xuất phát từ mâu thuẫn trên, việc định giá theo đúng ngang giá
Trang 17trị thị trường sẽ cho phép các NHTM giữ được khách hàng, duy trì và pháttriển thị trường Trên thực tế, việc vận dụng nhân tố giá để cạnh tranh chỉ phùhợp khi xâm nhập thị trường mới và để vận dụng tốt công cụ này, các NHTMthường đưa ra mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất của các đối thủ nhằm lôi kéokhách hàng và chiếm lĩnh thị trường Lãi suất và phí là tín hiệu phản ánh tìnhhình biến động của thị trường, là thông số qua đó các NHTM có thể nắm bắtđược khả năng thanh toán của KH cũng như khả năng cạnh tranh của các đốithủ trên thương trường Do vậy, việc xác định lãi suất trên thị trường là quantrọng, song theo dõi thông tin phản hồi từ khách hàng là rất cần thiết đểNHTM đưa ra mức lãi suất và phí có tính cạnh tranh Đôi khi lãi suất và phímà các NHTM xác định chỉ thu được lợi nhuận nhỏ, hoà vốn thậm chí chịuthua lỗ tạm thời Khi thực sự chiếm lĩnh thị trường, cũng là lúc NHTM lấy lạinhững gì đã chi phí trong cạnh tranh
3.3 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối
Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trìnhkinh doanh Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi giácả và gây ra sự chú ý và thu hút khách hàng Sản phẩm DV của NH có mộttrong những đặc tính là nhanh tàn lụi, không thể lưu trữ, nên việc xây dựngcác kênh phân phối (mạng lưới bán hàng) trở thành một vấn đề hết sức trọngyếu trong kinh doanh ở các NH Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưasản phẩm DV của NH đến KH, đồng thời giúp NH nắm bắt chính xác và kịpthời nhu cầu của KH, qua đó, NH chủ động trong việc cải tiến, hoàn thiện sảnphẩm DV, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp sản phẩm DV cho KH
Để mở rộng thị phần bán lẻ, các NH phát triển các hình thức phân phốicùng nhiều tiện ích:
* Kênh phân phối truyền thống Bao gồm: (1) Hệ thống các Chi nhánh;(2) NH Đại lý (Thường được áp dụng đối với các NHTM chưa có chi nhánh)
Trang 18* Kênh phân phối hiện đại Trước năm 1950, các NH thường phát triểnmạnh mẽ mạng lưới chi nhánh để mở rộng thị phần và gây sức ép lên các đốithủ cạnh tranh Tuy nhiên, từ năm 1980 trở lại đây, các kênh phân phối hiệnđại với ưu thế về nhiều mặt đang dần trở thành xu hướng chung Bao gồm:
(1) Các chi nhánh tự động hoá hoàn toàn Đặc điểm của kênh phân phốinày là hoàn toàn do máy móc thực hiện, dưới sự điều khiển của các thiết bịđiện tử Nó có những ưu thế to lớn về chi phí giao dịch và tốc độ thực hiệnnghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của KH
(2) Chi nhánh ít nhân viên Chi nhánh ít nhân viên có vị trí quan trọngtrong hệ thống NH, nhất là các chi nhánh lưu động Ưu điểm của chúng là chiphí thấp, hoạt động linh hoạt
(3) NH điện tử (E Banking) Phương thức phân phối này thông quađường điện thoại hoặc máy vi tính Nó cung cấp cho KH rất nhiều tiện ích,tiết kiệm chi phí và thời gian, hoạt động được ở mọi lúc, mọi nơi Các giaodịch được thực hiện thông qua các phương tiện giao dịch điện tử bao gồm: (i)Máy TT tại điểm bán hàng (EFTPOS), cho phép KH thực hiện TT bằng thẻmột cách nhanh gọn ngay tại nơi mua hàng; (ii) Máy rút tiền tự động (ATM),hoạt động 24/24 giờ, cung cấp cho KH các DV như rút tiền mặt, chuyểnkhoản, vấn tin số dư và nhiều DV khác; (iii) NH qua điện thoại (TelBanking), thông qua các nhân viên trực máy hoặc hộp thư thoại, KH có thểthực hiện giao dịch dễ dàng với NH
(4) NH qua mạng Được chia làm 2 loại: (i) NH qua mạng nội bộ(mạng LAN) Hệ thống này hoạt động dựa trên cơ sở KH có tài khoản tại NH,có máy tính cá nhân nối mạng với NH và đăng ký thuê bao với NH để đượccấp mã số truy nhập và mật khẩu KH có thể dùng máy tính của mình truynhập vào máy chủ của NH để thực hiện các giao dịch, tìm kiếm thông tin; (ii)
NH qua mạng internet Đây là loại hình NH ở cấp cao hơn KH chỉ cần có
Trang 19máy tính cá nhân nối mạng internet là có thể giao dịch được với NH màkhông cần phải đến NH Ngoài chức năng kiểm tra tài khoản, KH có thể sửdụng hàng loạt DV trực tuyến khác như vay, mua hợp đồng bảo hiểm, đầu tưchứng khoán, chuyển ngân, mở L/C, mở thư bảo lãnh,…
Ngoài công cụ cạnh tranh bằng chất lượng, bằng giá và tổ chức hợp lýmạng lưới phân phối SPDV, các NHTM còn áp dụng các công cụ phi giá đểtăng năng lực cạnh tranh thông qua việc đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ bán hàng(quảng cáo, khuyến mãi ) Đây là hình thức nhằm gây sự chú ý và thu hútkhách hàng
4 Các nhân tố tác động đến cạnh tranh của các NHTM
4.1 Nhóm nhân tố khách quan Có 4 lực lượng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một NHTM, đây là những nhân tố khách quan
4.1.1 Tác nhân từ phía NHTM mới tham gia thị trường Các NHTM
mới tham gia thị trường với những lợi thế quan trọng như: Mở ra những tiềmnăng mới; Có động cơ và ước vọng giành được thị phần; Đã tham khảo kinhnghiệm từ những NHTM đang hoạt động; Có được những thống kê đầy đủ vàdự báo về thị trường… Như vậy, bất kể thực lực của NHTM mới là thế nào,thì các NHTM hiện tại đã thấy một mối đe dọa về khả năng thị phần bị chiasẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà các NHTMhiện tại chưa thể có thông tin và chiến lược ứng phó
4.1.2 Tác nhân là các đối thủ NHTM hiện tại Đây là những mối lo
thường trực của các NHTM trong KD Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đếnchiến lược hoạt động KD của NHTM trong tương lai Ngoài ra, sự có mặt củacác đối thủ cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng (NH) phải thường xuyên quan tâmđổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các DV cung ứng để chiến thắngtrong cạnh tranh
Trang 204.1.3 Sức ép từ phía KH Một trong những đặc điểm quan trọng của
ngành NH là tất cả các cá nhân, tổ chức KD sản xuất hay tiêu dùng, thậm chílà các NH khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm (SP) DVNH,vừa là người bán SPDV cho NH Những người bán SP thông qua các hìnhthức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mong muốn là nhậnđược một lãi suất cao hơn; trong khi đó, những người mua SP (vay vốn) lạimuốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế Như vậy, NH sẽphải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả vàgiữ chân được KH cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể Điềunày đặt ra cho NH nhiều khó khăn trong định hướng cũng như phương thứchoạt động trong tương lai
4.1.4 Sự xuất hiện các DV mới Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính
trung gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các DV tài chính mớicũng như các DV truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm Các trunggian này cung cấp cho KH những SP mang tính khác biệt và tạo cho ngườimua SP có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường NH mở rộng hơn Điềunày tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, thị phầnsuy giảm Ngày nay, người ta cho rằng, khi các NHTM mạnh lên nhờ sự rènluyện trong cạnh tranh thì hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốthơn sau các cú sốc của nền kinh tế
4.2 Nhóm nhân tố chủ quan Bên cạnh các nhân tố khách quan tác
động đến năng lực cạnh tranh của các NHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tốthuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lựccạnh tranh của các NH này Chúng bao gồm: (i) Năng lực điều hành của ban lãnh đạo NH; (ii) Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM; (iii) Côngnghệ cung ứng DV NH; (iv) Chất lượng nhân viên NH; (v) Cấu trúc tổ chức;(vi) Danh tiếng và uy tín của NHTM
Trang 21Bên cạnh đó, đặc điểm của SP và đặc điểm của KH cũng là nhân tốthuộc về NHTM chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động KD củaNHTM Cụ thể:
Về đặc điểm của SP Như trên đã chỉ ra, cạnh tranh trong hoạt động KDcủa NHTM bị chi phối bởi các đặc điểm hoạt động KD của nó SP chính sửdụng trong hoạt động KD của NHTM là tiền, đó là loại SP có tính xã hội vàtính nhạy cảm cao, chỉ một biến động nhỏ (thay đổi lãi suất) cũng có ảnhhưởng to lớn đến hoạt động KD của các NHTM nói riêng và hoạt động củatoàn xã hội nói chung Từ đặc điểm này dẫn đến cạnh tranh giữa các NHTMngày càng trở nên quyết liệt Cạnh tranh giữa các NHTM là nỗ lực hoạt độngđồng bộ của NH trong một lĩnh vực khi cung ứng cho KH những SP DV cóchất lượng cao nhằm khẳng định vị trí của NH vượt lên khỏi các NH kháctrong cùng lĩnh vực hoạt động ấy Có nghĩa là, chính vì SPKD có tính nhạycảm cao đã làm tăng tính cạnh tranh trong hoạt động KD của NHTM
Về đặc điểm của KH KH của NHTM không phải là KH luôn “trungthành” mà rất dễ bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch Mức độ trungthành của KH phụ thuộc vào sự đối xử của NHTM với họ, mà cao nhất là lợiích trực tiếp thu được từ quan hệ giao dịch với NH KH có thể ngay lập tứcthay đổi quan hệ với NH để tìm mối lợi lớn hơn nếu họ biết rằng mức lãi màhọ nhận được cao (nếu là SP bán) và mức lãi suất thấp (nếu là SP mua) so với
NH họ quan hệ Như vậy, sự cạnh tranh của NH cũng được nhân lên do đặcđiểm KH rất dễ thay đổi quan hệ với NH
Các đặc điểm nêu trên được coi là các nhân tố về phía NHTM tạo nêntính cạnh tranh cao của KDNH, từ đó góp phần tạo sức mạnh nội lực choNHTM Nếu một NH có thể phát huy tối đa sức mạnh của các yếu tố trên, kếthợp với việc nắm bắt thông tin về các đối thủ mới gia nhập, thận trọng với các
Trang 22đối thủ hiện tại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thì cạnh tranh không phải làđiều đáng lo ngại.
IV Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
1 Khái niệm đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh: Đầu tư nâng cao
năng lực cạnh tranh của NHTM là quá trình bỏ vốn đầu tư nhằm tiến hành cáchoạt động làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (máy móc, thiết bịcông nghệ…) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kĩ năng…), gia tăng hiệu quả kinhdoanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng đó trên thị trường
2 Nội dung đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh:
Thứ nhất, đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ Các NHTM đẩy
mạnh ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ thôngtin, bởi vì chỉ trên cơ sở kỹ thuật công nghệ hiện đại thì các NHTM mới cóđiều kiện triển khai các loại hình DV mới, mở rộng đối tượng và phạm vi KH.Công nghệ thông tin cho phép các NHTM nắm bắt cập nhật và đầy đủ cácthông tin từ phía KH, cho phép giảm thiểu rủi ro từ lựa chọn đối nghịch và rủi
ro đạo đức Công nghệ hiện đại cũng cho phép các NHTM giảm chi phí, giảmthời gian trong giao dịch, tăng độ an toàn cho KH - đây vốn là những yêu cầubắt buộc trong KD của các NHTM
Các Website của ngành NH được ví như trung tâm thông tin, các chinhánh phân phối ở mọi lúc, mọi nơi, KH có thể truy cập để tìm hiểu, lấythông tin về các DV cung cấp, phía NH cũng có thể tiếp cận với KH nhanhchóng và có hiệu quả
Thứ hai, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong hệ thống
hoạt động NH, rủi ro luôn tiềm ẩn do tất cả các khâu, các công đoạn trong KDcủa NHTM đều gắn liền với sự vận động của vốn tiền tệ Để giảm thiểu rủi ro
Trang 23thì một trong những yêu cầu bắt buộc là nâng cao trình độ chuyên môn nghiệpvụ cho tất cả các cán bộ, nhân viên trong các NHTM, không chỉ là trình độchuyên môn nghiệp vụ tài chính - NH, mà còn đòi hỏi nâng cao trình độ kinhtế tổng hợp, bởi vì, có như vậy thì các NHTM mới tư vấn cho KH của mìnhcác định hướng đầu tư vốn hiệu quả, đồng thời qua đó mới thẩm định chínhxác các dự án đầu tư tín dụng.
Thứ ba, đầu tư nâng cao năng lực tài chính, trong đó quan trọng nhất là
vốn điều lệ Vốn điều lệ của NHTM được xem là chiếc “đệm” để đối phó cóhiệu quả với các cú sốc từ bên ngoài, bảo đảm một sự an toàn trong KDNH.Nếu vốn điều lệ quá thấp sẽ khiến các NHTM hoạt động luôn bị bất cập, bởivì sẽ bị hạn chế trong mở rộng thị phần cho vay và huy động vốn, sẽ bị hạnchế trong mở các chi nhánh, phòng giao dịch, và do vậy, sẽ khó có cơ hộingày càng tiến gần hơn đến các KH mục tiêu và trên tất cả thì điều này đồngnghĩa với một sự thua kém, bất lợi về khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, tăngvốn điều lệ bằng cách nào và đạt đến qui mô nào là tối ưu? Đây luôn là vấn đềkhông đơn giản, nhất là đối với các NHTM ở các nước đang phát triển, đangtrong quá trình chuyển đổi Về nguyên tắc, các NHTM có thể tăng vốn thôngqua các kênh: (1) Tăng vốn Ngân sách Nhà nước cấp (đối với các NHTM nhànước); (2) Cổ phần hóa NHTM Nhà nước; (3) Phát hành thêm cổ phiếu mới(đối với các NHTMCP); (4) Sáp nhập, hợp nhất các NHTM Tuy nhiên, vấnđề quan trọng là việc tăng vốn phải đi kèm với tăng cường năng lực quản trịthì mới lợi dụng được tính kinh tế nhờ qui mô Nếu không đảm bảo được yêucầu này thì việc tăng vốn sẽ rất có thể dẫn tới làm giảm hiệu quả, suy yếu năng lực cạnh tranh của chính NHTM
Thứ tư,đầu tư tăng cường hiệu quả công tác Marketing NH Để tăng
cường hiệu quả công tác marketing, các NHTM cần phân đoạn chính xác thịtrường, xác định đúng đối tượng khách hàng mục tiêu, từ đó có biện pháp chủđộng tiếp cận khách hàng để giới thiệu các SPDV của mình Các biện pháp
Trang 24truyền thống thường được sử dụng là quảng cáo qua các phương tiện thông tinđại chúng (báo chí, truyền hình, mạng internet ), áp dụng marketing FourMix (Product, Price, Place, Promotion) trong đó tích cực thực hiện các hoạtđộng quan hệ với KH nhằm đi sâu tìm hiểu KH và thu nhận các thông tin từphía KH để có những phương hướng, biện pháp điều chỉnh thích hợp, từ đógiúp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM Hoạt động Marketing tốt không những tăng tuy tín, thương hiệu mà còn góp phần giúp NHTM thuđược lợi nhuận nhiều hơn, vững mạnh hơn và phát triển hơn.
3 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM
3.1 Năng lực tài chính
Tốc độ tăng trưởng vốn bình quân phải trên 10%/năm, các NHTM đềuphải có tỷ lệ vốn tối thiểu tương ứng với tài sản sinh lời Để đánh giá chỉ tiêunày, thường người ta đánh giá thông qua quy mô vốn chủ sở hữu và quy môtài sản có của NH
3.1.1 Khả năng sinh lời
Đánh giá chỉ tiêu này theo 02 tỷ số cơ bản:
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA – Return on assets)
ROA = Lợi nhuận ròng/tổng tài sản bình quân * 100
Với chỉ tiêu này cho biết 01 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận, tài sản có sinh lời càng lớn thì tỷ số này càng lớn
- Tỷ suất sinh lời trên vốn tự có (ROE – Return on Equity)
ROE = Lợi nhuận ròng/vốn tự có *100
Với chỉ số này cho biết 01 đồng vốn sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận và phản ánh hiệu quả hoạt động của NH Hệ số càng lớn, khả năng sinhlời càng lớn
Trang 253.1.2 Chất lượng tín dụng
Áp dụng tỷ lệ chung theo quyết định 112/2006/QĐ –ttg (của Thủ tướngchính phủ về chỉ tiêu hoạt động NH giai đoạn 2006 – 2010), nợ xấu của NH làdưới 5% trên tổng dư nợ
3.1.3 Chỉ tiêu quản trị rủi ro
Bao gồm một số chỉ tiêu như:
- Rủi ro lãi suất = Tài sản nhạy cảm LS/nguồn vốn nhạy cảm lãi suất
- Rủi ro vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu/ tài sản rủi ro
- Rủi ro thanh khoản = (Tài sản thanh khoản – vốn vay)/tổng vốn huyđộng
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ vốn huy động gấp mấy lần vốn chủ sở hữu(thường là biến động từ 15 đến 20 lần)
3.2 Năng lực hoạt động kinh doanh
Năng lực hoạt động của một NHTM thông thường được xem xét trêncác mặt:
Năng lực huy động vốn Do nhu cầu vốn hoạt động từ các khách hàngmột số năm gần đây khá lớn, nên các NHTM đã đưa ra nhiều chính sáchkhuyến mãi, hậu mãi để huy động vốn, sự cạnh tranh nhìn chung là khá quyếtliệt Tuy nhiên, có thể thấy là các NHTM Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng côngcụ giá thấp để huy động vốn Một số NHTM cũng sử dụng biện pháp mở rộngchi nhánh để tiến gần hơn tới khách hàng, tuy nhiên, việc mở chi nhánh hiệnnay là khá ồ ạt, chưa thực sự tính đến hiệåu quả, gây khó khăn cho công tácquản trị, gia tăng rủi ro Rõ ràng là, với đối sách tăng lãi suất để huy động vốnít nhiều sẽ làm suy giảm lợi nhuận của các NHTM
Năng lực đầu tư tín dụng Do nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế tăngcao, dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM rất lớn, dư nợ chovay tăng rất mạnh một số năm gần đây Cụ thể: Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Trang 26bình quân của các NHTM khoảng trên 25%/năm, cá biệt có những ngân hàngcó tốc độ tăng trưởng tới 30 - 40%/năm một mức tăng trưởng quá cao, vượt
xa mức trung bình của NHTM các nước trong khu vực (Hầu hết NHTM cácnước trong khu vực đều có mức tăng trưởng tín dụng dưới 10% Trung Quốcmức tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 20%/năm so với mức tăng trưởng GDPbình quân trên 10%/năm) ; hơn nữa, tốc độ tăng trưởng cao diễn ra trong mộtkhoảng thời gian khá dài, đi đôi với năng lực quản trị rủi ro còn nhiều hạn chếtrong một môi trường kinh doanh đầy rủi ro có thể dẫn đến nguy cơ rủi ro tíndụng tăng cao, làm môi trường tín dụng luôn căng thẳng, xói mòn sự ổn định
vĩ mô của hệ thống tiền tệ ngân hàng
3.3 Năng lực mở rộng và phát triển các sản phẩm dịch vụ
Với đặc tính riêng của ngành ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ hầunhư không có sự khác biệt thì các NHTM phát huy khả năng cạnh tranhkhông chỉ bằng những sản phẩm cơ bản mà còn thể hiện ở tính độc đáo, sự đadạng của sản phẩm dịch vụ của mình
Một ngân hàng mà có thể tạo ra sự khác biệt riêng cho từng loại sảnphẩm của mình trên cơ sở những sản phẩm truyền thống sẽ làm cho danh mụcsản phẩm của mình trở nên đa dạng hơn, điều này sẽ đáp ứng được hầu hếtcác nhu cầu cầu khác nhau của khách hàng khác nhau, từ đó dễ dàng chiếmlĩnh thị phần và làm tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng
Các NHTM còn sử dụng các sản phẩm dịch vụ bổ trợ khác để thu hútkhách hàng, tạo thu nhập cho ngân hàng như cung cấp sao kê định kỳ, tư vấntài chính…
Các NHTM đã tích cực áp dụng các phần mềm trong giao dịch thanhtoán, tuy nhiên, do tính liên kết giữa các NH chưa cao (đã đề cập ở trên) nênđã dẫn tới những bất cập nhất định trong triển khai các phần mềm trong quảnlý
Trang 27Một số năm gần đây các NHTM đã triển khai mạnh nghiệp vụ thanhtoán thẻ, nhưng hiện cũng chỉ có khoảng 20 thương hiệu thẻ, gần 500 máyATM với khoảng 1,3 triệu thẻ Triển vọng đầu tư phát triển dịch vụ này sẽcòn khó khăn nếu không tăng vốn tự có cho các NHTM, nhưng việc tăng vốntự có vẫn rất nan giải.
Về nghiệp vụ bảo lãnh và thanh toán quốc tế: Nghiệp vụ này khôngphải NHTM nào cũng có thể thực hiện mà chỉ một số NHTM lớn, có uy tínmới thực hiện được
Nghiệp vụ kinh doanh hối đoái: Do thị trường hối đoái của Việt Namchưa phát triển, các công cụ phái sinh (Swap, Forword, Option, Future) hoạtđộng kém hiệu quả do vậy trong thực tế một số NHTM nước ta những nămqua đã thực hiện nghiệp vụ kinh doanh hối đoái nhưng rủi ro rất lớn
Các nghiệp vụ phi tín dụng khác mới chỉ bước đầu tiếp cận
3.4 Về năng lực quản trị - điều hành
Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt độngkinh doanh của bất kỳ NH nào là vai trò của những người lãnh đạo, nhữngquyết định của họ có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của NH
Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong ngânhàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn tronghoạt động ngân hàng Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngânhàng có một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn
Tuy nhiên, nhìn chung các NHTM của ta mô hình quản lý nhìn chungcòn nặng kiểu quản lý truyền thống, mang tính chất địa dư hành chính, rất khókhăn để phát triển mạng lưới ra bên ngoài do hạn chế về tài chính, quản trị,
Trang 28sức cạnh tranh Trình độ năng lực chuyên môn của cán bộ trong hệ thống NHcòn chưa cao
3 5 Về năng lực công nghệ
Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, côngnghệ thông tin có thể làm giảm 76% chi phí hoạt động ngân hàng Trong lĩnhvực ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu tố tạo nênsức mạnh cạnh tranh của các NHTM Để năng cao chất lượng sản phẩm dịchvụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng thì nhu cầu công nghệ là vôcùng quan trọng Công nghệ sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến mangtính độc đáo và tiện ích hơn, nó giúp các NHTM Nhưng đây là một lĩnh vựcđòi hỏi sự đầu tư rất lớn, ví dụ như để xây dựng hệ thống thông tin quản lýcho một NHTM Nhà nước cần phải chi phí tới 500 - 600 tỷ đồng VND Đâycũng chính là bất cập đối với hệ thống NH Việt Nam do qui mô vốn điều lệthấp
Nhìn tổng thể thì công nghệ của các NHTM Việt Nam còn nhiều yếukém so với các NH nước ngoài Cụ thể:
- Theo WB, công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam vẫn còn ởmức thấp kém Chỉ số công nghệ ngân hàng ở Việt Nam mới chỉ là (-0,47).Trong khi ở Trung Quốc là (-0,35); Thái Lan (-0,07), Indonexia (-0,07),Malaysia là 1,08 và của Singapore là 1,95
- Tính liên kết giữa các NH về giải pháp công nghệ chưa cao… dẫn đếncác dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, tiện lợi và hấp dẫn, phạm vi kinhdoanh trùng với lĩnh vực hoạt động có ưu thế của các NH nước ngoài (về hoạtđộng thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, đầu tư dự án,…)
Trang 29- Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực NH làm tăng các giao dịch vốn, trongkhi đó cơ chế quản lý và hệ thống thông tin giám sát NH hầu như còn rất sơkhai, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa có hiệu lực để đảm bảo việctuân thủ nghiêm minh pháp luật trong hoạt động NH và sự an toàn của hệthống NH, nhất là việc cảnh báo sớm các rủi ro của hoạt động NH Sự pháttriển của công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ mạng và kỹ thuật số tạonền tảng cho sự phát triển các dịch vụ NH điện tử, tự động, như: HomeBanking, Internet Banking, thẻ thanh toán, giao dịch điện tử… nhờ đó gópphần tích cực làm văn minh hoá hoạt động NH, nhưng hiện nay an ninh mạngtrong hoạt động NH của Việt Nam còn rất nhiều lỗ hổng.
3.6 Về thương hiệu
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống con người ngày càngđược nâng cao thì sự cạnh tranh về thương hiệu sẽ ngày càng mạnh mẽ Bảnchất thương hiệu chính là uy tín về chất lượng dịch vụ mà một NH sẵn sàngcung ứng cho xã hội Tuy nhiên xây dựng thương hiệu cho một loại sản phẩmhay dịch vụ hoàn toàn không phải là chuyện của ngày một ngày hai, lại càngkhông phải chỉ là việc tạo ra cho hàng hóa, dịch vụ một cái tên với một biểutượng hấp dẫn rồi tiến hành đăng ký bảo hộ và … yên tâm trông chờ nhữngcái tên, biểu tượng đó mang lại cho doanh nghiệp Xây dựng thành côngthương hiệu cho một hoặc một nhóm sản phẩm là cả một quá trình gian nan,một quá trình tự khẳng định chính mình với sự đầu tư hợp lý trên cơ sở hiểumột cách cặn kẽ các nội hàm của thương hiệu
Tuy vậy bản thân hình tượng, dấu hiệu của hàng hóa chưa đủ nói lênđiều gì Yếu tố làm cho thương hiệu đi vào tâm trí khách hàng chính là chấtlượng hàng hoá, dịch vụ; cách ứng xử của doanh nghiệp với khách hàng vàvới cộng đồng; những hiệu quả và tiện ích đích thực cho người tiêu dùng donhững hàng hóa và dịch vụ đó mang lại
Trang 30Chương II TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN THỦ ĐÔ
I. Giới thiệu chung về chi nhánh ngân hàng nông nghiệp& phát triển nông thôn Thủ đô
1 Quá trình hình thành và phát triển
Trước đây, NHNN&PTNT thủ đô có tên là NHNN&PTNT Bùi ThịXuân Chi nhánh NHNN&PTNT Bùi Thị Xuân là đơn vị phụ thuộcNHNN&PTNT Việt Nam, bắt đầu từ ngày 25/11/2008 căn cứ Điều lệ về tổchức và hoạt động của NHNN&PTNT Việt Nam, căn cứ Quyết định số13.2008/QĐ-NHNN, theo đề nghị của Tổng giám đốc NHNN&PTNT ViệtNam, chi nhánh Bùi Thị Xuân dổi tên thành chi nhánh thủ đô.Chi nhánhNHNN&PTNT thủ đô đặt trụ sở giao dịch tại số 91, phố Huế, Phường NgôThì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Nhận rõ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đấtnước, mà trọng tâm là phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần đổi mới nôngthôn ngoại thành Hà Nội NHNN&PTNT thủ đô đã nhanh chóng khai thác,tận dụng triệt để các nguồn vốn huy động được để đầu tư cho các thành phầnkinh tế , trong đó ưu tiên cho lĩnh vực nông nghiệp Nhờ những chính sáchđổi mới kịp thời, thay đổi nhận thức tiên tiến, duy trì đẩy mạnh những lợi thế,khắc phục kiên quyết những yếu điểm tồn tại là thiếu vốn, thiếu tiền mặt, nênchỉ sau một thời gian, NHNN&PTNT thủ đô đã có đủ tiền mặt và nguồn vốnvề cơ bản thoả mãn các nhu cầu về tín dụng và tiền mặt cho khách hàng
Sau những nỗ lực, phấn đấu , NHNN&PTNT thủ đô đã từng bướctrưởng thành, đi những bước đi vững chắc với sự phát triển t oàn diện trên các
Trang 31mặt huy động vốn, tăng trưởng đầu tư, nâng cao chất lượng tín dụng, thu chitiền mặt, mở rộng quan hệ hợp tác.NHNN&PTNT thủ đô đã tự tin vững bướctrong công cuộc đổi mới, hoà mình với sự phát triển vượt bậc của hệ thốngđiện tử hiện đại-an toàn-tin cậy đạt hiệu quả với chuẩn mực quốc tế trong quátrình hôị nhập kinh tế quốc tế.
2 Mô hình tổ chức và chức năng , nhiệm vụ chính của các phòng ban tại chi nhánh NHNN&PTNT Thủ đô.
2.1 Mô hình tổ chức
Chi nhánh NHNN&PTNT thủ đô là đơn vị trực thuộc NHNN&PTNTViệt Nam, có con dấu, bảng cân đối kế toán, được tổ chức và hoạt động theotổ chức và quy chế của NHNN&PTNT Việt Nam Chi nhánh hoạt động theoluật của tổ chức tín dụng, có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ về tài chính,tự chịu mọi trách nhiệm về hoạt động kinh doanh
Chi nhánh NHNN&PTNT thủ đô có 4 phòng ban Ban giám đốc củaNHNN&PTNT thủ đô bao gồm Giám đốc và 2 Phó giám đốc
Trang 32Hình 1.1: SƠ Đễ̀ Bệ̃ MÁY QUẢN LÝ CỦA CHI NHÁNH
NHNN&PTNT THỦ Đễ
2.2 Chức năng, nhiệm vụ của cỏc phòng ban
Ban lãnh đạo gụ̀m 1 Giám đụ́c và 2 Phó giám đụ́c có nhiợ̀m vụ quản lý
hoạt đụ̣ng kinh doanh của ngõn hàng cũng như quyờ́t định những vṍn đờ̀ liờnquan đờ́n quản lý và tụ̉ chức trong ngõn hàng
Giám đụ́c là người đứng đõ̀u trực tiờ́p chỉ đạo điờ̀u hành mọi hoạt đụ̣ngcủa toàn chi nhánh theo đúng quy định của Nhà nước, Ngõn hàng nhà nước,NHNN&PTNT Viợ̀t Nam và chịu trách nhiợ̀m trước pháp luọ̃t và Tụ̉ng giámđụ́c vờ̀ quyờ́t định của mình
NHN
0 & PTNT Việt Nam
NHN
0 & PTNT tHỦ Đễ
Ban l nh đạoãnh đạo
Phòng hành chính
Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ
Trang 33Phó giám đốc là người giúp việc chỉ đạo điều hành một số mặt nghiệpvụ do Giám đốc phân công, uỷ quyền Khi giải quyết công việc được phâncông, uỷ quyền, Phó giám đốc trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật vàGiám đốc về kết quả công việc đó.
Phòng hành chính nhân sự nằm trong bộ máy giúp việc cho Giám đốc
và phục vụ cho các phòng nghiệp vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh,chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc chi nhánh NHNN&PTNT thủ đô.Phòng được hình thành ngay từ khi chi nhánh đi vào hoạt động và đã cónhững đóng góp quan trọng trong việc trợ giúp ban lãnh đạo đưa ra các quyếtđịnh đúng đắn kịp thời phục vụ cho hoạt động kinh doanh
Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ là bộ phận chuyên trách, hoạt động
độc lập với các phòng nghiệp vụ khác, giúp giám đốc điều hành đúng phápluật mọi hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, hạn chế rủi ro trong kinh doanhvà bảo vệ an toàn tài sản, đảm bảo tính chuẩn xác của số liệu hạch toán.Trực tiếp triển khai tác nghiệp các nghiệp vụ về kiểm tra kiểm toán
II Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhánh
1 Các sản phẩm chủ yếu của Chi nhánh
- Sản phẩm tín dụng: Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay thì hiện tạisản phẩm tín dụng của Chi nhánh gồm có: Cho vay tiêu dùng (mua xe, muanhà trả bằng lương, bằng thu nhập, mua sắm vật dụng gia đ.nh ); Cho vaykinh doanh bất động sản; Cho vay kinh doanh chứng khóan; Cho vay du học;Cho vay đi lao động nước ng.ai; Cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinhdoanh; Cho vay lưu vụ; Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu; Cho vay mua sắm tàisản cố định, đầu tư dự án
- Sản phẩm huy động vốn gồm: Tiền gửi không kỳ hạn; Tiền gửi thanhtoán;
Trang 34Tiền gửi tiết kiệm (Tiền gửi tiết kiệm đảm bảo bằng vàng, tiền gửi tiếtkiệm bậc thang); Chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn; Tài khỏan tiền gửi có kỳ hạn;Tiền gửi của ngân hàng khác.
- Sản phẩm bảo lãnh trong nước bao gồm: Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnhthực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh hoàn thanh toán; Bảo lãnhbảo hành công trình, thiết bị; Bảo lãnh vay vốn; Bảo lãnh khác
- Sản phẩm thanh toán quốc tế: Mở L/C; Ủy nhiệm chi; Ủy nhiệm thu;Nhờ thu; Chuyển tiền; Chiết khấu bộ chứng từ
- Sản phẩm dịch vụ: Dịch vụ kiều hối; Dịch vụ chi trả Western Union;Dịch vụ thẻ; Dịch vụ thu, chi hộ; Dịch vụ trả lương qua thẻ; Dịch vụ chuyểntiền trong nước; Dịch vụ séc; Dịch vụ ngân quỹ; Dịch vụ tài khỏan; Dịch vụthanh toán đa biên; Dịch vụ mua bán ngoại tệ
- Sản phẩm ngân hàng điện tử bao gồm: SMS banking; Atransfer;Vntopup
2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng NN&PTNT Chi nhánh Thủ đô:
Chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng ngày nay là tạo ra và cungcấp các dịch vụ tài chính mà thị trường có nhu cầu Một trong những dịch vụquan trọng nhất là cho vay, đặc biệt là thực hiện những khoản cho vay tài trợđối với hoạt động đầu tư của các hãng kinh doanh hay tài trợ cho chi tiêu củacác thành viên trong xã hội Những khoản vay này tạo ra công ăn việc làm vàthu nhập cho hàng ngàn người Mặc dù không phải tất cả những người nàyđều vay vốn ngân hàng nhưng chắc chắn họ là những người được hưởng lợigián tiếp từ hoạt động cho vay Tuy nhiên ngân hàng không thể sử dụng toànbộ số vốn huy động để cho vay Một mặt, hầu hết các khoản cho vay có tínhthanh khoản thấp, ngân hàng không thể bán chúng trên thị trường một cách dễdàng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt Một vấn đề khác nữa là những khoản chovay thuộc nhóm tài sản của ngân hàng có mức rủi ro cao nhất như rủi ro dovỡnợ cao nhất Do bất kỳ một sự suy giảm đáng kể nào trong nền kinh tế địa
Trang 35phương đều đưa đến sự giảm sút chất lượng đối với danh mục cho vay củangân hàng Mặt khác tất cả những khoản thu nhập từ cho vay đều chịu thuế.Điều này đã buộc ngân hàng phải nỗ lực tìm kiếm những lĩnh vực đầu tư mớinhằm hạn chế sự tác động của thuế, đặc biệt trong những năm gần đây khi màhoạt động cho vay luôn đứng ở mức cao Vì tất cả những lý do trên, ngânhàng đã phân chia danh mục tài sản của mình từ 1/5 đến 1/3 giá trị danh mụcvào một loại hình tài sản sinh lời khác: Như đầu tư vốn vào các đơn vị khác,đầu tư vốn vào thị trường chứng khoán (đầu tư chứng khoán chỉ những hành
vi mua cổ phiếu, trái phiếu nhằm mục đích thu lợi của pháp nhân hoặc cánhân, nó là hình thức quan trọng của đầu tư trực tiếp) Ngân hàng chủ yếu đầu
tư vào các loại chứng khoán sau: Tín phiếu và trái phiếu chính phủ, Tín phiếuvà trái phiếu công ty, các loại chứng khoán nợ khác và một số cổ phiếu đượcpháp luật cho phép
Qua sự thực hiện định hướng kinh doanh đã lựa chọn, điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển nền kinh tế, đảm bảo tăngtrưởng đều và vững chắc Mở rộng quy mô gắn với nâng cao chất lượng hiệuquả kinh doanh, đa dạng các hình thức huy động vốn, từng bước nâng cao tỷtrọng nguồn vốn có tính ổn định, có mức lãi suất đầu vào thấp, ổn định, thựchiện cho vay có chọn lọc trong phạm vi khả năng kiểm soát.Tích cực đào tạonâng cao trình độ cán bộ để tạo ra ưu thế trong cạnh tranh, đảm bảo ổn địnhviệc làm, thu nhập và nâng cao đời sống người lao động trong toàn chi nhánh.Trên cơ sở nhận thức, khắc phục những khó khăn, khai thác tận dụng hiệu quảnhững lợi thế, trong năm 2008 chi nhánh NHNN&PTNT Thủ đô đã đạt đượcmột số kết quả sau
Trang 362.1 Nguồn vốn
Tổng nguồn vốn đến ngày 31/12/2008: 890 tỷ đồng, đạt 22,5% so vớikế hoạch năm 2008, tăng 804 tỷ đồng so với 31/03/2008
Bảng 1.1 : Cơ cấu nguồn vốn huy động của Chi nhánh năm 2007-2008
Đơn vi: tỷ đồng
1.Phân theo đồng tiền
huy động:
- Nguồn nội tệ
- Nguồn ngoại tệ
137.301
122.320 14.981
394.908
327.000 67.908
890.179
799.108 91.071
- TG có kỳ hạn<12 tháng
- TG có kỳ hạn 12 đến
<24 tháng
- TG có KH>,=24 tháng
137.001
21.309 13.672 11.029 90.991
890.170
11.376 106.236 10.896 761.671
3 Phân theo thành phần
kinh tế:
- Tiền gửi, tiền vay các
TCTD
- Tiền gửi các TCKT
- Tiền gửi dân cư
- Nguồn vốn uỷ thác đầu
tư
137.001
49.276 87.725
394.908
257.140
890.179 50.000
562.549 277.630 0
225.4%
108.0%
(Nguồn: : Báo cáo kế hoạch tổng hợp kinh doanh củaChi nhánh)
Trang 37* Cơ cấu nguồn vốn theo đồng tiền huy động:
- Nguồn nội tệ: 799 tỷ đồng, chiếm 90% tổng nguồn vốn, đạt 244%kế hoạch năm 2008
- Nguồn vốn ngoại tệ qui đổi VNĐ: 91 tỷ, chiếm 10% tổng nguồnvốn, đạt 134% kế hoạch năm 2008
* Cơ cấu nguồn vốn theo tính chất nguồn huy động:
- Nguồn vốn huy động từ dân cư: 278 tỷ đồng, chiếm 31% tổngnguồn vốn, đạt 108% kế hoạch năm 2008
Trong đó ngoại tệ qui đổi VNĐ: 78 tỷ, chiếm 8.7% tổng nguồn vốn
- Nguồn vốn các TCKT: 563 tỷ, chiếm 63% tổng nguồn vốn
Trong đó: ngoại tệ quy đổi VNĐ:14 tỷ, chiếm 1.6% tổng nguồn vốn
- Tiền gửi, tiền vay các TCTD: 50 tỷ, chiếm 5.6% tổng nguồn vốn
* Cơ cấu nguồn vốn theo thời gian:
- Nguồn vốn không kì hạn: 11 tỷ, chiếm 1.2% tổng nguồn vốn
- Nguồn vốn có kỳ hạn<12 tháng: 106 tỷ, chiếm 11.9% tổng nguồn vốn
- Nguồn vốn có kỳ hạn>12 tháng: 773 tỷ, chiếm 86.9% tổng nguồn vốn
Đi đầu trong vai trò ổn định thị trường tiền tệ, là công cụ đắc lực hữuhiệu của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thực thi các chínhsách tài chính, tiền tệ qua đó có đóng góp tích cực trong kiềm chế lạm phát ởnhững tháng đầu năm và hiện nay là kích cầu, ngăn ngừa suy giảm kinh tế Từđầu năm đến nay, thực hiện 12 lần giảm lãi suất cho vay; chấp nhận giảmdoanh thu để cùng đồng hành, chia sẻ khó khăn với cộng đồng doanh nghiệpvà các hộ sản xuất do vậy đã trực tiếp hỗ trợ trên 10 triệu hộ gia đình và trên 3vạn doanh nghiệp có đủ vốn với mức lãi suất hợp lý để phục hồi sản xuất, đẩymạnh xuất khẩu Trước thực tế đó, để tiếp tục giữ vững nguồn vốn hiện có vàtừng bước tăng trưỏng nguồn vốn Chi nhánh đã không ngừng đa dạng hoá cáchình thức huy động ngoài các loại hình truyền thông như tiền gửi tiết kiệm cókì hạn trả lãi hàng tháng, hàng quý tiết kiệm khuyến mại, tiết kiệm bậc
Trang 38thang, tiết kiệm dự thưởng và tặng quà đối với tiền gửi nội ngoại tệ và nhiềuhình thức huy động đa dạng đá ứng thị hiếu của khách hàng
Ngoài việc đa dạng hoá các hình thức huy động vốn từ dân cư , Chinhánh còn tìm mọi biện pháp giữ vững và tiếp cận nguồn vốn nhàn rỗi củacác doanh nghiệp, các TC xã hội tiếp tục tăng trưởng nguồn vốn
2.2 Dư nợ
Tổng dư nợ đến 31/12/2008: 539 tỷ đồng đạt 110% so với KH năm
2008, so với 31/03/2008 tăng 96 tỷ đồng Trong đó cho vay trung hạn, dài hạn
150 tỷ đồng đạt 97% tỷ đồng so KH
- Phân tích dư nợ theo thời gian cho vay
+ Dư nợ ngắn hạn: 389 tỷ, chiếm 72% tổng dư nợ
+ Dư nợ trung, dài hạn: 150 tỷ, chiếm 28% tổng dư nợ
+ Nợ xấu đến 31/12/2008: 0
- Phân tích dư nợ theo loại tiền:
+ Dư nợ nội tệ : 461 tỷ đồng, chiếm 86% tổng dư nợ
+ Dư nợ ngoại tệ qui đổi VNĐ: 78 tỷ đồng, chiếm 14% tổng dư nợ
2.3 Công tác thanh toán quốc tế
Trong năm qua, hoạt động của chi nhánh NHNN&PTNT Thủ đô nóichung gặp không ít khó khăn Như thị trưòng hối đoái biến động mạnh, chỉ sốgiá tiêu dùng tăng, cơ cấu xuất nhập khẩu mất cân đối, bên cạnh là sự cạnhtranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các ngân hàng thương mại và tổ chứctín dụng trên địa bàn Hà Nội nhằm duy trì sự phát triển và mở rộng thị phần.Các ngân hàng chỉ có thể khắc phục bằng cách không ngừng cải tiến phươn gthức hoạt động và nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh
Đứng trước những khó khăn, thách thức hoạt động kinh doanh công tácthanh toán quốc tế đã xây dựng đề án phát triển hoạt động thanh toán quốc tếcủa chi nhánh Dưới đây là những số liệu cụ thể về công tác thanh toán quốctế của chi nhánh:
Trang 39- Kim ngạch nhập khẩu trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về thịtrường và giá cả
L/C nhập : 1.150 ngàn USD/10 món, 8.883 ngàn JPY
L/C xuất: + Nhờ thu : 128 ngàn/ 02 món
+ Chiết khấu: 106 ngàn USD/ 05 món
Chuyển tiền: + Chuyển tiền đi : 4.424 ngàn USD/31 món
+ Chuyển tiền đến: 319 ngàn EUR/08 món , 623 ngàn USD/34 món.Thu dịch vụ từ TTQT và Kinh doanh tệ đạt 940 triệu đồng
Thống nhất với phòng kế toán, tín dụng để đơn giản háo một số thủ tụcgiấy tờ trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu nhằmphục vụ khách hàng nhanh chóng và chính xác, trong quá trình thực hiện đãcó sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng nghiệp vụ với nhau và đã tạo đượchiệu quả tốt trong công việc
2.4 Kết quả tài chính
- Tổng thu: 97 tỷ, tăng so với 31/03/2008 là 87 tỷ Trong đó thu lãi:
82 tỷ thu dịch vụ là 1.254 triệu
- Tổng chi: 91 tỷ tăng so với 31/03/2008 là 77 tỷ Trong đó chi trả lãi:
67 tỷ, chiếm 74% trong tổng chi
- Chênh lệch thu nhập- chi phí: 6.9 tỷ
- Lãi suất bình quân đầu vào, đầu ra: 0.15%
- Hệ số tiền lương đạt được: 1.46
2.5 Dịch vụ và các tiện ích thực hiện
Trong năm qua việc triển khai các loại hình dịch vụ được Ban giám đốcđặc biệt quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu năm Đến nay Chi nhánh đã triển khainhiều hình thức dịch vụ: chuyển tiền nhanh, dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảohiểm, dịch vụ thanh toán biên mậu, dịch v ụ bảo lãnh, ATM, thẻ tín dụng nộiđịa thẻ ghi nhớ Thanh toán thẻ ACB, Master Card, thanh toán sec dulịch thu đổi ngoại tệ
Trang 40Năm 2008 Chi nhánh tiếp tục triển khai dịch vụ thẻ ATM, cho đến nayđã có 632 khách hàng sử dụng thẻ ATM của Chi nhánh, số lượng thẻ : 547 thẻthường và 85 thẻ VISADEBIT với số dư 500 triệu đồng.
Nhìn chung chi nhánh đã triển khai các l oại hình dịch vụ đã thực hiệntốt trong toàn chi nhánh việc này đã được quán triệt đến từng Phòng ban, từngcán bộ việc thực hiện triển khai các dịch vụ tiện ích, đây là một việc làm khóđòi hỏi toàn thể cán bộ nhân viên phải nâng cao ý thức, coi việc phát triển cácloại hình dịch vụ là nhiệm vụ bắt buộc trong hoạt động kinh doanh của Chinhánh NHNN&PTNT Thủ đô trước mắt và lâu dài
Trong chiến lược phát triển của mình, Chi nhánh sẽ trở thành đơn vị tàichính đa nghành, đa sở hữu, hoạt động đa lĩnh vực Theo đó, toàn hệ thốngxác định những mục tiêu lớn phải ưu tiên, đó là: Tiếp tục giữ vai trò chủ đạo,chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn của đất nước