BAO CAO KET QUA NGHIEN CUU DE TAI CAP BO Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ LAN TRUYỀN SỐT RÉT Ở KHU DÂN CƯ, KHU BÌA RỪNG VÀ TRONG RỪNG TẠI TỈNH NINH THUẬN VÀ ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI ANOPHE
Trang 1BAO CAO KET QUA NGHIEN CUU DE TAI CAP BO
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ LAN TRUYỀN SỐT RÉT Ở KHU DÂN
CƯ, KHU BÌA RỪNG VÀ TRONG RỪNG TẠI TỈNH NINH
THUẬN VÀ ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI ANOPHELES
TẠI CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TAU
Chủ nhiệm đề tài: TS H6 Dinh Trung
Cơ quan chủ trì đề tài: — Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng
Trang 2BỘ Y TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ LAN TRUYỂN SỐT RÉT Ở KHU DÂN
CƯ, KHU BÌA RỪNG VÀ TRONG RỪNG TẠI TỈNH NINH THUẬN VÀ ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI ANOPHELES
TẠI CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VỮNG TÀU
Chủ nhiệm đề tài: TS Hồ Đình Trung
Cơ quan chủ trì đề tài: — Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng
Trung ương
Mã số đề tài (nếu có) :
Thời gian thực hiện: tháng 7 /2005 đến tháng 7 /2006
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 988,57 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH: 0 triệu đồng
Nguồn khác: Hợp tác Song phương Việt — Bỉ: 988,57 triệu đồng
HÀ NỘI - 2009
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CAP BO
Tên để tài: Đánh giá nguy cơ lan truyền sốt rét ở khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng tại tỉnh Ninh Thuận và điều tra thành phần loai Anopheles tại Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Chủ nhiệm đề tài: TS Hồ Đình Trung
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Sốt rét - KST - CT TƯ
Cơ quan quản lý đề tài : Bộ Y tế
Thu ky dé tai:
Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có) :
Danh sách những người thực hiện chính:
e Viện Sốt rét - KST -CT TƯ: s Viện Sốt rét - KST - CT TP Hồ
8
Chi Minh:
CN Nguyễn Văn Quyết
CN Nguyễn Văn Đồng ¢ Trung tam PCSR Ninh Thuan:
CN Nguyễn Khắc Chinh
BS Ngô Trọng Hưng CN Nguyễn Văn Hàm
CN Nguyên Dinh Luu
CN Bao Don
e Vién y hoc Nhiét đới Prince
Leopold, Antwerp - Bi:
TS Wim Van Bortel KTV Roelants Patricia
Thời gian thực hiện dé tai: thang 7 / 2005 - 7 / 2006
Trang 4NHONG CHU VIET TAT
Annual Entomological Inoculation Rate: Chi sé lan truyén c6n
tring nam
Anopheles
Bay dén trong nha
Soi chuồng gia súc đêm
Enzyme-linked Iimmunosorbent assay: Thử nghiệm miễn dịch hấp phu liên kết men
Cộng tác viên
Độ ẩm trung bình (%)
Ký sinh trùng
Mồi người ngoài nhà
Mồi người trong nhà
Trang 5MUC LUC
PHAN A TOM TAT CAC KET QUA NGHIEN CUU CUA DE TAI
2 | Ap dụng vào thực tiễn sản xuất và đời ¡ sống xã hội 2
PHAN B NOI DUNG BAO CAO CHI TIET KET QUA NGHIEN COU
2.1! Tình hình nghiên cứu ngoài ¡ nước liên quan ¢ đến để tài 6
| 2.2 | Tinh hinh nghié trong nước liên quan đến dé tai — 7|
4 [KẾT QUẢ NGHIÊN CÚU,
.1 ! Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu — _ 19 4.2 | Thành | phần loài và mật độ các loài Anopheles tai Con Dao 20 4.3 | Thanh phan loài và mật độ các loài Anopheles ở các sinh cảnh khác nhau
4.4 | Hoạt động đốt môi trong đêm của một số loài véc tơ sốt rét ở khu dân cư
AS | Dinh loại phức hợp loài Dir us va Minimus bang kỹ thuật PCR _ 28
46 Phân ích ELISA xác định muỗi nhiễm ký sinh trùng sốtrti —— - 30
4.7 Chi số lan truyền côn trùng ở điểm nghiên cứu tại Ninh Thuận 3h
Trang 6
DAR
BAN TU ĐÁNH GIÁ
Về tình hình thực hiện và những đóng góp mới
của đề tài KH & CN cấp Bộ
Tên để tài: Đánh giá nguy cơ lan truyền sốt rét ở khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng tại tỉnh Ninh Thuận và điều tra thành phần loài Anopheles tai Con Dao, tinh Ba Rịa - Vũng Tàu
Thuộc Chương trình (nếu có):
Chủ nhiệm để tài: TS Hồ Đình Trung
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Sốt rết - KST - CT TƯ
Thời gian thực hiện (BĐÐ - KT): 7/2005 — 7/2006
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 988,57 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH: 0 triệu đồng
Nguồn khác: Hợp tác Song phương Việt - Bỉ: 988,57 triệu đồng
Tình hình thực hiện để tài so với để cương:
7.1 Về mức độ hoàn thành khối lượng công việc: Tất cả các nội dung của để tài để ra trong đề cương nghiên cứu đều được thực hiện:
- Thu thập muỗi Anopheles tại thực địa tỉnh Ninh Thuận và Côn Đảo (tỉnh
Bà Rịa — Vũng Tàu)
- - Xác định thành phần loài Anopheles nói chung và các loài véc tơ sốt rét
nói riêng có mặt tại điểm điều tra
- _ Xác định mật độ các loài Anopheles tại các điểm điều tra
- _ Diễn biến hoạt động đốt mồi theo giờ trong đêm của các loài véc tơ ở các sinh cảnh khác nhau tại Ninh Thuận
- Xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rết của các loài muỗi tại điểm
nghiên cứu
- Thiét lập chỉ số lan truyền côn trùng (EIR) ở các sinh cảnh
- _ Thu thập số liệu địa lý - môi trường tại các điểm điều tra
7.2 Về các yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN:
- Bảng số liệu đầy đủ, rõ ràng, chính xác
- Bao céo phan tich đầy đủ, chính xác, rõ ràng và khoa học
- Đánh giá được nguy cơ lan truyền sốt rét ở các khu vực (sinh cảnh) khác nhau làm cơ sở để để xuất biện pháp phòng chống véc tơ thích hợp cho từng vùng
- _ Có được danh sách thành phan loai Anopheles tai Con Dao
-_ Một phần số liệu của đề tài đã được xuất bản trong tạp chí chuyên ngành
- Số liệu của đề tài được sử dụng cho 1 luận văn cao học “Điều tra thành
Trang 78
phần loài, hoạt động đốt môi và vai trò truyền sốt rét của muỗi Anopheles
ở một số sinh cảnh tại tỉnh Ninh Thuận” của học viên Bùi Lê Duy (luận văn sẽ được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) vào tháng 12 /2009)
7.3 Về tiến độ thực hiện:
Hoạt động điều tra tại thực địa và phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm thực hiện đúng tiến độ để ra Việc viết và hoàn chỉnh báo cáo và nghiệm thu chậm so với dự kiến
Về những đóng góp mới của đề tài:
Trên cơ sở so sánh với những thông tin đã được công bố trên các ấn phẩm
trong và ngoài nước đến thời điểm kết thúc đề tài, để tài có những điểm mới sau
đây:
8.1 Về giải pháp khoa học công nghệ:
Đề tài đã áp dụng các kỹ thuật hiện đại để định loại các loài đồng hình của phức hợp ÄMinmuš (kỹ thuật RFLP-PCR) và phức hợp Dư š (kỹ thuật ASPCR); áp dụng kỹ thuật ELISA xác định muỗi nhiễm ký sinh trùng sốt rét
từ đó thiết lập chỉ số lan truyền côn trùng để đánh giá nguy cơ lan truyền sốt rét ở các sinh cảnh khác nhau
8.2 Vé phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu muỗi sốt rét triển khai trong đề tài là các
phương pháp chuẩn thức của Viện Sốt rét — Ký sinh trùng — Côn trùng Trung ương, của Tổ chức Y tế Thế giới và của các nhà khoa học chuyên ngành
8.3 Những đóng góp mới khác: Đã xác định mẫu vật được định loại là
An dirus dựa trên đặc điểm hình thái thu thập ở Côn Dao {A loai An dirus
Peyton and Harrison, 1979 (An dirus A) thuộc phức hợp loài Du,
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2009
Trang 8ANARYWH
DANH SACH TAC GIA CUA DE TAI KH & CN CAP BO
(Danh sách những cá nhân đã đóng góp sáng tạo chủ yếu cho đề tài
được sắp xép theo thứ tự đã thoả thuận)
Tên đề tài Đánh giá nguy cơ lan truyền sốt rét ở khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng tại tỉnh Ninh Thuận và điều tra thành phần loài Anopheles tai Côn Đảo, tỉnh Ba Ria - Vũng Tàu
Thuộc Chương trình (nếu có):
Thời gian thực hiện: 7/2005 — 7/2006
Cơ quan chủ trì: Viện Sốt rét - KST - CT TƯ
TT Học hàm, học vị, họ và tên
1 Tiến sỹ Hồ Đình Trung
3 Thạc sỹ Vũ Đức Chính
4 Cử nhân Nguyễn Đình Luu
Trang 9PHAN A TOM TAT CAC KET QUA NGHIEN CUU CUA DE TAI
1 Kết quả nổi bật của đề tài
1.1 Đóng góp mới của đề tài:
Đã xác định mẫu vật được định loại là An đữus dựa trên đặc điểm hình thái thu thập ở Côn Đảo là loài An dirus Peyton and Harrison, 1979 (An dirus A) thuộc phức hợp loài 2¡rus bằng kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase allele đặc hiệu (ASPCR)
1.2 Kết quả cụ thể của đề tài:
® Nguy cơ lan truyền sốt rét khu dân cư, bìa rừng và trong rừng ở Ninh Thuận:
- Các loài véc tơ sốt rét chinh (An dirus, An minimus) và véc tơ phụ (An aconitus, An macularus) đều có mặt ở khu dân cư, khu bìa rừng và trong
rừng, nhưng mật độ khác nhau giữa 3 sinh cảnh: Mật độ An đirus đốt người
trong rừng (0,600 con/người/đêm) cao hơn 1,3 lần so với khu bìa rừng (0,469
con/người/đêm) và 7,9 lần so với khu dân cư (0,076 con/người/đêm) Mật độ
An minimus trong rừng (0,109 con/người/đêm) cao hơn 1,3 lần so với khu bìa
rừng (0,083 con/ngudi/dém) va 3,1 lần so với khu đân cư (0,035
con/người/đêm) An maculatus là loài ưu thế ở cả 3 sinh cảnh, với mật độ đốt người trong rừng (3,172 con/người/đêm) cao hơn 1,2 lần so với khu bìa rừng
(2,583 con/người/đêm) và 2,7 lần so với khu dân cư (1,178 con/người/đêm)
- Không phát hiện thấy muỗi Anopheles thu thap ở khu dân cư trong giai đoạn
nghiên cứu nhiễm ký sinh trùng sốt rét (KST SR) Khu bìa rừng, tý lệ nhiễm KST SR cia An dirus la 1,11%, cha An maculatus là 0,61% Trong rừng, tỷ lệ
nhiễm KST SR của An đirus là 1,32%, của An maculatus 1a 0,38%
- Chỉ số lan truyền côn trùng năm (AEIR) ở khu dân cư là 0, khu bìa rừng là 7,65 và trong rừng là 7,29, chứng tỏ rằng nguy cơ lan truyền sốt rét khu bìa rừng và trong rừng cao hơn nhiều so với khu dân cư
e Muỗi Anopheles tai Con Đảo:
- Phat hiện sự có mặt của 6 loài Anopheles: An aconitus, An barbirostris,
An dirus, An peditaeniatus, An sinensis va An vagus
- An, đirus là loài ưu thế, ưa đốt gia súc hơn đốt người, với mật độ đốt người giao động từ 0,III - 5,000 con/ngườiđêm và mật độ soi ở chuồng gia súc là
101,000 con/người/đêm
- Khong phat hiện được muỗi An điruš thu thập trong thời gian nghiên cứu
nhiễm KST SR
Trang 101.3 Hiệu quả dao tao:
- _ Nâng cao trình độ thực hành các kỹ thuật điều tra, phân tích mẫu vật muỗi sốt rét cho cán bộ tham gia nghiên cứu
- _ Cung cấp số liệu cho 1 luận văn cao học “Điều tra thành phần loài, hoạt động
đốt mổi và vai trò truyền sốt rết của muỗi Ázopheles ở một số sinh cảnh tại
tỉnh Ninh Thuận” của học viên Bùi Lê Duy (luận văn sẽ được bảo vệ tại Trường Đại hoc Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) vào tháng 12 / 2009)
1.4 Hiệu quả xã hội:
- Ninh Thuận: Việc xác định nguy cơ lan truyền sốt rét tại các sinh cảnh khác nhau là căn cứ khoa học để tìm kiếm biện pháp phòng chống véc tơ đặc thù thích hợp cho những người hoạt động trong các điều kiện môi trường khác nhau, từ đó nâng cao hiệu quả phòng chống sốt rét, góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng
- Côn Đảo: Kết quả điều tra véc tơ sốt rét tại Côn Đảo là căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch và triển khai các biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét
thích hợp cho những người sinh sống và làm việc trên hòn đảo có vị trí quan trọng về du lịch, kinh tế và quốc phòng này
1.5 Các hiệu quả khác:
Trao đổi thông tin: Một phần số liệu của đề tài đã đăng trong Tạp chí Phòng chống Bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng (Số 4 / năm 2006)
2 Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội
Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo cho Dự án Quốc gia phòng chống sốt rét và là
một nguồn thông tin để Dự án xem xét, để xuất và triển khai các biện pháp phòng
chống véc tơ đặc thù, thích hợp cho từng sinh cảnh, nhất là cho các đối tượng hoạt động
và ngủ qua đêm khu vực bìa rừng và trong rừng, góp phần phòng chống hiệu quả sốt rét rừng ở Việt Nam
3 Đánh giá việc thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương đã được phê duyệt
a Tiến độ: Hoạt động điều tra tại thực địa và phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm
thực hiện đúng tiến độ đề ra Việc viết và hoàn chỉnh báo cáo và nghiệm thu chậm so với dự kiến
b Thực hiện các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đề ra: Tất cả các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đã được thực hiện đầy đủ
c Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương:
- Bang s6 liệu đầy đủ, rõ ràng, chính xác
- _ Báo cáo phân tích đầy đủ, chính xác, rõ ràng và khoa học
- _ Đánh giá được nguy cơ lan truyền sốt rết ở các khu vực (sinh cảnh) khác nhau
Trang 11làm cơ sở để để xuất biện pháp phòng chống véc tơ thích hợp cho từng vùng
- _ Có được danh sách thành phần loài Anopbheles tại Côn Đảo
d Danh giá việc sử dụng kinh phí:
- Kinh phí do Dự án Hợp tác Song phương Việt - Bỉ cấp: 988.570.000 đ (tương
- Nghiên cứu biện pháp phòng chống véc tơ thích hợp cho người có hoạt động
ban đêm khu bìa rừng và trong rừng, nhất là các đối tượng ngủ rừng, ngủ rẫy
Trang 12PHAN B NOI DUNG BAO CAO CHI TIET KET QUA NGHIEN CUU
1 DAT VAN DE
Nghiên cứu dịch tễ sốt rét (SR) khu vực Đông Nam Á đưa ra nhận xét là mức độ
lan truyền SR thay đổi theo chiều hướng giảm dần từ trong rừng ra bìa rừng và tới khu vực xa rừng ?, Tại Thái Lan, những người thường xuyên hoạt động và ngủ trong rừng
có nguy cơ nhiễm SR cao hơn 6 - 13 lần so với những người chỉ sống và làm việc trong
khu dan cu “* 7 G một số địa phương khu vực Miền Trung và Đông Nam Bộ (Việt
Nam), những người thường xuyên ngủ qua đêm trong rừng có nguy cơ nhiễm SR cao
hơn 2 - 4 lần so với những người khác #” !, Lan truyền SR là kết quả tương tác giữa 4
yếu tố: muỗi truyền bệnh (véc tơ), con người, ký sinh trùng sốt rét (KST SR), và môi
trường Trong số các yếu tố trên, thì muỗi truyền bệnh có vai trò như thế nào dẫn đến
nguy cơ lan truyền SR khác nhau giữa khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng? Để trả
lời câu hỏi này, việc điều tra đánh giá thành phần loài, mật độ, tập tính, tỷ lệ nhiễm KST SR của véc tơ ở các sinh cảnh khác nhau là cần thiết Đồng thời, kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học để tìm kiếm biện pháp phòng chống véc tơ đặc thù thích hợp
cho từng khu vực, nhất là cho những người hoạt động và ngủ trong rừng, bởi vì các biện pháp phòng chống véc tơ thông thường (phun hoá chất tồn lưu, màn tầm hoá chất diệt
muỗi) có thể là không thích hợp và kém hiệu quả trong phòng chống véc tơ SR cho
nhóm đối tượng này
Thành phần loai Anopheles & Viét Nam liên tục được bổ sung do nhiều loài mới
được tìm ra nhờ mở rộng diện điều tra và ứng dụng các kỹ thuật sinh hoá, sinh học phân
tử trong phân loại học Tuy vậy, thành phần loài A»opheles ở nước ta chủ yếu được xác
định dựa vào kết quả điều tra ở các địa phương trên đất liền Vì vậy, việc điều tra thu
thập muỗi Anopheles ở Côn Đảo sẽ cung cấp mẫu vật để hoàn thiện hơn nữa danh sách thành phần loài Anopheies trên toàn lãnh thổ Việt Nam Mặt khác, cho đến nay Dạng muỗi Côn Sơn (Con Son form) thu thập được ở Côn Đảo thuộc nhóm loài phụ Leucosphyrus 1 nhóm có vai trò truyền SR quan trọng ở Đông Nam A vẫn chưa được
xác định vị trí phân loại chính thức ® Vì vậy, xác định Dạng muỗi Côn Sơn là một
loài hay chỉ là một biến thể của một loài nào đó trong nhóm loài phụ Leucosphyrus, và
nhất là tìm hiểu vai trò truyền SR của nó tại Côn Đảo là việc cần làm Kết quả điều tra muỗi Anopheles nói chung và véc tơ SR nói riêng tại Côn Đảo sẽ là cơ sở quan trọng
cho việc xây dựng kế hoạch và triển khai các biện pháp phòng chống véc tơ SR thích hợp cho cư dân sinh sống và khách du lịch trên hòn đảo có vị trí quan trọng về kinh tế
và quốc phòng này
Trang 13Trong bối cảnh trên, đề tài “Đánh giá nguy cơ lan truyền sốt rét ở khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng tại tỉnh Ninh Thuận và điều tra thành phần lodi Anopheles tại Côn Đảo, tính Bà Rịa - Vũng Tòu" được tiến hành với các mục tiêu sau đây:
1 Đánh giá nguy cơ lan truyền sốt rét tại một số khu vực dân cư, khu bìa rừng và
trong rừng ở tỉnh Ninh Thuận dựa trên mật độ và tỷ lệ nhiễm thoa trùng của
véc to sot rét
2 Điều tra thành phần loài và mật độ các loài Anopheles nói chung và các loài đã được xác định là véc tơ sốt rét ở Việt Nam tại Con Dao (tinh Bà Ria-Viing Tàu)
Trang 142 TONG QUAN DE TAI
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài
2.1.1 Về lan truyền sốt rét ở khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng
Lan truyền SR dai dắng là hiện tượng phổ biến tại nhiều vùng rừng núi ở Dong Nam Á Ở những vùng này thường có mặt mét sé loai Anopheles cé khả năng truyền
bệnh, chẳng hạn như An đrus, An minimus, An maculatus, An fluviatilis, trong đó
An dirus được coi là có vai trò quan trọng nhất 23, Mức độ lan truyền SR ở một khu vực nào đó liên quan chặt chế đến số lượng loài véc - tơ có mặt, mật độ va khả năng
truyền bệnh của mỗi loài Nhiều nghiên cứu đưa ra cùng một nhận xét là mức độ lan
truyền SR thay đổi theo chiều hướng giảm dần từ trong rừng ra bìa rừng và tới khu vực
xa rừng Tại vùng Tây Bắc Thái Lan, những người thường xuyên hoạt động và ngủ
trong rừng có nguy cơ nhiễm SR cao hơn khoảng 13 lần so với những người chỉ sống
và làm việc trong khu dân cư #, Một nghiên cứu khác tiến hành tại một địa phương ở
Thái Lan gần biên giới Myanmar cho thấy những người có hoạt động liên quan đến
rừng (săn bắn, tìm kiếm và khai thác lâm, thổ sản ) có nguy cơ mắc SR cao hơn 6 lần
so với những người không có hoạt động trong rừng 29),
Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự khác nhau về mức độ lan truyền
SR giữa khu vực dân cư (ngoài rừng) với khu bìa rừng và trong rừng là do sự khác nhau
về mật độ, tuổi thọ của các loài véc tơ nói chung và của Án đirus nói riêng giữa các khu vực này Trong rừng, An đirus có mặt với mật độ đáng kể quanh năm Ngược lại, ở khu dân cư ngoài rừng, An đirus có mật độ cao vào mùa mưa, nhưng trong mùa khô do không có ổ nước để An dirus đẻ trứng, nên mật độ Án điruš thường rất thấp Tại một địa phương của Bangladesh, trong các tháng mùa khô chỉ tìm thấy bọ gậy Án dirus ở
các ổ nước đọng trong lòng suối cạn trong rừng cách khu dân cư hơn 3 km ® Ở Thái
Lan, vào mùa khô số lượng Án đirus bắt được trong rừng nguyên sinh cao hơn 2 lần so
với nơi rừng đã bị chặt phá để lấy đất làm nương rẫy 2”
Ngoài yếu tố mật độ và thời gian có mặt trong năm của Á¡: đirus, thì sự khác nhau
về tuổi thọ và tỷ lệ nhiễm KST SR của các quần thể An đirus giữa khu vực trong rừng,
bìa rừng và xa rừng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến mức độ lan truyền SR khác nhau giữa các khu vực Theo Sharma VP và Kondrashin AV (1991), các quần thể véc -
tơ trong rừng sâu có tuổi thọ và tỷ lệ nhiễm thoa trùng cao hơn khu vực bìa rừng và xa
rừng “” Tại Myanmar, tỷ lệ mang thoa trùng của An đirus trong rừng sâu là 2,8%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực dân cư giao động trong khoảng 0,4 - 1,2% #3,
Khác nhau về số lượng loài véc tơ tham gia truyền SR cũng là một yếu tố làm cho mức độ lan truyền SR không như nhau giữa các khu vực Tại Thái Lan, thành phần loài vếc tơ ở rừng nguyên sinh thường cao hơn ở khu vực rừng đã khai thác để lấy đất canh
tác nông nghiệp 29,
Trang 152.1.2 Về thành phan loai Anopheles, véc to sot rét va nhém Leucosphyrus
Trên thế giới có khoảng 420 loài muỗi thuộc giống Anopheles, trong đó khoảng 70
loài đã được xác định là véc tơ truyền SR ở người trong điều kiện tự nhiên °”?, Một loài Anopheles có thể là véc tơ chính ở vùng này, nhưng lại không có vai trò truyền bệnh ở
vùng khác Chẳng hạn, Án philippinensis có mặt rộng rãi ở vùng Đông Phương, nhưng
mới chỉ được khẳng định có vai trò truyền SR ở Bangladesh mà thôi ”? Nói cách khác
thành phần loài véc tơ là không giống nhau ở các vùng địa lý khác nhau
Nhóm Leucosphyrus thuộc giống Anopheles được coi là nhóm có vai trò dịch tễ quan trọng ở Đông Nam Á Nhóm này được chia thành 3 nhóm phụ: Leucosphyrus, Elegans và Riparis Cả ba loài có vai trò truyền SR quan trọng là An balabacensis Baisas, An dirus Peyton and Harrison, va An leucosphyrus Doenitz déu thuộc nhóm
phụ Leucosphyrus 29, Cho đến nay, nhóm phụ Leucosphyrus được xác định có 12 loài:
An baisasi, An balabacensis, An introlatus, An latens, An leucosphyrus, An dirus (An dirus A), An cracens (An dirus B), An scanloni (An, dirus C), An bamaii
(An.dirus D), An elegans (An dirus E), An nemophilous, An takasagoensis, va mot
dạng được gọi là Dang muỗi Con Son (Con Son form) °° An balabacensis cé mat
ở các vùng đảo của các nước như Malaysia, Indonesia Các loài thành viên thuộc phức
hợp loài Dirus có mặt ở vùng đất liền một số nước Châu Á Dạng muỗi Côn Sơn mới chỉ thấy có mặt tại Côn Đảo, và cho đến nay vị trí phân loại và vai trò truyền SR của nó vẫn chưa được xác định
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến để tài
2.2.1.Về lan truyền sốt rét trong khu dân cư, bìa rừng và trong rừng
Cũng giống như các nước khác ở Đông Nam Á, tại Việt Nam lan truyền SR có mối liên quan chặt chẽ với rừng Kết quả nghiên cứu dịch tễ SR tại xã Suối Kiết (Tánh Linh, Bình Thuận) cho thấy những người thường xuyên hoạt động và ngủ trong rừng có nguy cơ mắc SR cao hơn 4 lần so với những người không thường xuyên làm việc và ngủ
trong rừng 2, Tại xã Đấk Ơ (Phước Long, Bình Phước), những người làm việc và ngủ trong rừng có nguy cơ nhiễm SR cao hơn khoảng 2 lần so với những người khác ®',
Có nhiều nguyên nhân làm cho những người hoạt động và ngủ trong rừng có nguy cơ mắc SR cao, nhưng trước hết phải nói đến là do mức độ tiếp xúc giữa người với véc to trong rừng thường cao hơn ở các khu vực khác Ở Việt Nam, An dirus đã được
xác định là véc - tơ SR chính ở khu vực rừng núi từ 20 vĩ độ Bắc trở vào Nam ? Phân
bố của An đirus gắn liên với rừng và mật độ giảm dần theo hướng từ trong rừng ra bìa rừng và xa rừng Tại xã Khánh Phú (Khánh Vinh, Khanh Hoa), mat do An dirus trong
rừng sâu cao hơn 2 lần so với khu bìa rừng và hơn 10 lần so với khu thôn bản ` Tại xã
Đắk Ở (Phước Long, Bình Phước), mật độ (con/người/đêm) của An đirus bắt bằng mồi
người khu thôn bản là 0,11; khu bìa rừng là 0,74; và ở trong rừng là 2,19 4”, Cùng với
Trang 16mật độ, tỷ lệ nhiễm thoa trùng của Án dirus trong rừng thường cao hơn ở khu dan cư dẫn đến chỉ số lan truyền côn trùng nam (Annual Entomological Inoculation Rate (AEIR): số lần muỗi mang thoa trùng đốt một người trong một năm) ở trong rừng cao
hơn khu dân cư Tại Khánh Phú (Khánh Vĩnh, Khánh Hoà), AEIR của An đirus ở trong
rừng là 43,69; ở bìa rừng là 28,12; và ở khu thôn bản là 1,95 ®, Tại Đấk Ơ (Phước
Long, Bình Phước), chỉ số này là 51,33 ở trong rừng; 17,28 ở bìa rừng; và 4,34 ở khu
vực thôn bản “® Ngoài ra, một nghiên cứu khác cũng tiến hành tại Khánh Phú (Khánh
Vĩnh, Khánh Hoà) giai đoạn 2002-2004 cho biết An dius bắt ở khu thôn bản không thấy nhiễm thoa trùng ở một số tháng trong nam, trong khi d6 An dirus bat trong rimg
nhiễm thoa trùng ở hầu hết các tháng trong năm ? Các kết quả nghiên cứu nêu trên gợi
ý rằng trong rừng là nơi có cường độ truyền bệnh cao nhất và thời gian lan truyền SR
dài nhất
2.2.2 Về muỗi Anopheles ở Việt Nam nói chung và ở Côn Đảo nói riêng
Trong chương trình phòng chống sốt rét (PCSR), phòng chống véc - tơ có một vị trí
đặc biệt quan trọng Để góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng chống vếc -
tơ, thì những nghiên cứu về các lĩnh vực như khu hệ, phân bố, sinh học, sinh thái học của muỗi Anopheles noi chung và các loài véc tơ SR nói riêng là cần thiết Những nghiên cứu này cung cấp thông tin để xây dựng chiến lược và kế hoạch phòng chống véc - tơ phù hợp Cho đến nay, ít nhất có 59 loài Aropheles được tìm thấy ở Việt Nam, trong đó An minimus la véc to SR chính vùng rừng núi toàn quốc, An đirus là véc tơ chính vùng rừng núi từ 20 vĩ độ Bắc trở vào Nam, và An epiroticus (trước đây gọi là
An sundaicus) là véc tơ chính vùng nước lợ ven biển Nam Bộ '?, Tuy nhiên thành phần
loài Anopheles ở Việt Nam được xác định chủ yếu dựa vào kết quả điều tra tiến hành ở
các địa phương trong đất liền Số lượng các đợt điều tra, nghiên cứu về Anopheles trén các đảo vùng biển Việt Nam còn rất hạn chế Cho đến nay, tại đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên
Giang) phat hién cé mat 15 loai Anopheles, trong dé An dirus va An epiroticus la véc
tơ SR chính ?' Ở Côn Đảo, theo kết quả diéu tra mudi Anopheles trong cdc nam 1977,
1987 và 2000 của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Thành phố Hồ Chí Minh, đã phát hiện 9 loài Anopheles: An aconitus, An barbirostris, An dirus, An jeyporiensis,
An maculatus, An peditaeniatus, An sinensis, An epiroticus, va An vagus
Trang 173 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7 / 2005 đến tháng 7 / 2006
3.2 Địa điểm
- Tai Ninh Thuan:
Mục đích của nghiên cứu tại Ninh Thuận là đánh giá nguy cơ lan truyền SR tại khu dân cư, khu bìa rừng và trong rừng dựa trên mật độ và tỷ lệ nhiễm thoa trùng của véc tơ, mà khả năng phát hiện véc tơ mang thoa trùng sẽ cao ở những nơi có tỷ lệ KST
SR cao Vì vậy, tiêu chuẩn chọn điểm nghiên cứu là: tỷ lệ KST SR trong cộng đồng dân
cư cao; về sinh cảnh: các điểm nghiên cứu phải có rừng; và người dân địa phương có
hoạt động trong rừng Dựa vào các tiêu chuẩn trên, 3 thôn: Thôn Do, Thôn Hạ Dài, Thôn Tà Nôi thuộc xã Ma Nới (huyện Ninh Sơn) và 5 thôn: Thôn Gia É, Thôn Bô Làng, Thôn Hành Rạc 1, Thôn Bậc Rây 1, và Thôn Bậc Rây 2 thuộc xã Phước Bình (huyện Bác Ái) là những thôn có tỷ lệ KST SR phát hiện trong đợt điều tra cắt ngang tháng 11/2003 từ 9,4% - 41,7% được chọn làm điểm điều tra muỗi Anopheles (Bảng 1) Vị trí các điểm điều tra muỗi Anopheles được minh hoạ ở Hình 1
Bảng 1 Kết quả phân tích IFAT và xét nghiệm KST SR tại các điểm nghiên cứu
6 Ninh Thuan (Thang 11 / 2003)
Số mã Xét nghiệm [FAT | Xét nghiệm KST
TT Địa điểm Dân | máu xét | SỐmẫu | % | Sốmẫu | %
Thon Do (Ma Ndi,
Thon Ha Dai (Ma
Thôn Tà Nôi (Ma
(Phước Bình, Bác Ai) 352 S3 25 47,2 5 34 Thôn Bậc Rây 2
(Phước Bình, Bac Ai) 502 75 19 25,3 YW 22,7
Trang 19- Tai Con Dao:
Huyện Côn Đảo (tinh Ba Ria - Vang Tau) nim 6 vi tri 8°34" - 8°49' vi độ Bac, 105931' - 106°45' kinh độ Đông, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 100 hải lý vẻ phía Nam Huyện Côn Đảo có diện tích 76 km”, dân số khoảng 5.000 người, được phân
thành 9 cụm dân cư Ngoài dân địa phương, còn có một số đơn vị quân đội đóng trên
đảo Hệ động thực vật trên cạn và dưới nước khu vực Côn Đảo rất phong phú, có nhiều loài quí hiếm, vì vậy đã được khoanh vùng bảo vệ và quy hoạch là Vườn quốc gia từ năm 1993 Tại Côn Đảo, bệnh sốt rét vẫn đang lưu hành Từ năm 2002 -2004 có 69 KST SR được phát hiện tại huyện đảo này, trong đó có cả Plasmodium ƒalciparum và Plasmodium vivax
Bốn điểm đại diện cho các sinh cảnh khác nhau trên đảo đã được chọn để điều tra muỗi Anopheles được minh hoạ trên Hình 2: (1) Điểm dân cư gần rừng ngập nước ngọt; (2) Điểm dân cư gần rừng rậm phía trong đảo; (3) Điểm du lịch gân rừng, ven
biển; và (4) Điểm trong rừng sâu
Hình 2 Vị trí các điểm điều tra mudi Anopheles tai Con Dao
(Các điểm đánh số 1, 2, 3, 4)
il
Trang 203.3 Phuong pháp nghiên cứu
3.3.1 Tại Ninh Thuận
e Vị trí bắt muỗi:
- _ Tại mỗi thôn: chọn 2 nhà (một nhà ở bìa thôn và một nhà ở giữa thôn) làm nơi điều tra muỗi Anopheles trong khu dân cư; và chọn 2 điểm trong rừng nơi người dân địa phương thường ngủ lại qua đêm khi họ vào rừng khai thác lâm
sản (2 điểm này cách bìa rừng ít nhất l km, và khoảng cách giữa 2 điểm tối
thiểu là 1 km) để điều tra muỗi Anopheles trong rừng
- Riêng Thôn Hạ Dài (xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn) và Thôn Hành Rạc 1 (xã Phước Bình, huyện Bác Ái): ngoai diéu tra Anopheles trong khu dân cư và trong rừng, mỗi thôn chọn 3 điểm ở khu bìa rừng, khoảng cách giữa các điểm
khoảng 500 m, để điều tra muỗi Anopheles Ba điểm này nằm trên đường mòn
nối khu dân cư với rừng
e Phương pháp điều tra thu thập muỗi:
- _ Trong khu dân cư: Mồi người trong nhà và ngoài nhà suốt đêm (18 giờ - 6 gid) -_ Trong rừng và khu bìa rừng: Mồi người suốt đêm (18 giờ - 6 gid)
e Số đợt điều tra: 2 đợt ( Đợt 1: tháng 10/2005; Đợt 2: tháng 11 / 2005)
e Số đêm bắt muỗi trong mỗi đợt điều tra: 8 đêm/điểm điều tra
e Bảo quản mẫu vật muỗi: muỗi được bảo quản trong ống ependorf riêng từng con Mỗi
con có số ký hiệu riêng ghi trên nhãn và nhãn được bỏ trong ống ependorf đựng con
muỗi đó Các thông tin liên quan đến mỗi con muỗi được ghi trong phiếu điều tra, bao gồm: ngày/tháng/năm điều tra, nơi điều tra, giờ bắt, phương pháp điều tra Các ống
ependorf đựng muỗi được bảo quản trong túi nilon chứa silica gel để chống mốc
12
Trang 22
Hình 5 Sinh cảnh Trong rừng tại Ninh Thuận 3.3.2 Tại Côn Đảo
° Puss pháp điều tra thu thập muỗi:
Mỗi người trong nhà và ngoài nhà suốt đêm (18 giờ - 6 giờ)
Bay dén trong nhà suốt đêm (18 giờ - 6 giờ)
Soi muỗi đậu trong nhà ban ngày (7 giờ - 10 giờ)
Soi bắt muỗi ở chuồng gia súc ban đêm (từ 19 giờ - 24 gid)
“Thu thập bọ gậy ở các loại thuỷ vực khác nhau
s Số đợt điều tra: một đợt (tháng 10 - 11 năm 2005)
14
Trang 23
Hình 6 Chuông lợn tại Côn Đảo:
nơi thu thap mudi Anopheles 6 chuồng gia súc ban đêm
Hình 7 Điều tra bọ gậy Anopheles tại Côn Đảo
15
Trang 243.3.3 Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
Định loại muỗi, bọ gậy dựa vào đặc điểm hình thái theo Bảng định loại Anopheles Việt Nam (Muỗi — Quang — Bo gay) của Viện Sốt rét - Ký sinh
trùng - Côn trùng Trung ương (1987) ?®, Các loài thành viên phức hợp loài Maculatus được định loại hình thái theo Nguyễn Đức Mạnh và ctv (2001) Ê),
Định loại các loài thành viên của phức hợp loài Minimus bằng kỹ thuật RFLP- PCR (Restriction Fragment Length Polymorphism — Polymerase Chain
Reaction) theo phương pháp của Van Bortel W ¿¿ ai (2000) €3;
+ Vùng DNA sử dụng để phân tích: Vùng đệm nội phiên mã thứ 2 (internal Transcribed Spacer 2: ITS2) cua rDNA
+ Tach chiét DNA:
* Nghién 1-6 chân từ 1 con muỗi trong tube Eppendorf 1,5 ml cé chứa 50 pl dung dich chiét (5M NaCl; 05M EDTA pH = 8; 1M Tris-HCl pH =8,6; 20% SDS)
* U dịch nghiên 30 phút 6 65°C trong bé cách thuỷ
* Cho vao méi tube 7 ul 8M C,H,KO,dé lam két tia phitc hop SDS- protein ,ủ trong đá lạnh 30 phút
* Ly tâm tốc độ 12.000 vòng/phút trong 15 phút Hút phần dịch nổi phía trên cho vào một tube sạch
* Cho vào mỗi tube chứa dịch lỏng mới chuyển sang 100 Ì ethanol
tuyệt đối, ủ trong đá lạnh hoặc tủ lạnh —20°C ít nhất 5 phút
* Ly tâm tốc độ 12.000 vòng/phút trong 15 phút Hút bỏ phần dịch
nổi phía trên
* Cho vào mỗi tube 150 HÌ ethanol 70% Ly tâm ở tốc độ 12.000
vòng/phút trong 5 phút Hút bỏ phần chất lỏng phía trên
* Cho vào mỗi tube 1501 ethanol tuyệt đối Ly tâm ở tốc độ 12.000 vòng/phút trong 5 phút Hút bỏ phần chất lỏng phía trên
* Để phần lắng ở đáy tube khô, sau dé hoa tan trong 25 kl dich đệm
v6 tring TE (10M Tris-HCl pH = 8; 1 mM EDTA)
+ Nhan khuyéch dai:
(5’-TATGCTTAAAATCAGGGGGT-3’) Nhan khuyếch đại trong tube
Eppendorf 0,5 ml chita 50 ul hén hop phan ting, g6m: 1,5 mM MgCl, 10
mM Trí-HCI pH = 8,4, 50 mM KCl, 0,1% Triton X-100, 200 uM dNTPs,
500 nM mồi TTS2A, 500 nM mồi ITS2B, 0,5 don vi DNA polymerase va
0,5 ul dich chiét DNA Đầu tiên hỗn hợp phản ứng được duy trì ở 94°C trong 3 phút Tiếp theo là 35 chu kỳ liên tiếp với mỗi chu kỳ gồm 1 phút
ở 94°C, 1 phút ở 55°C và 2 phút ở 72°C Cuối cùng duy trì 6 72°C trong 10 phút Sản phẩm khuyếch đại (sản phẩm PCR) được kiểm tra trên gel
agarose 1,5%
16
Trang 25+ Men phan cat gidi han:
Sử dụng men BsiZI để phân cắt sản phẩm PCR Lay 5 pl san pham
PCR cho vào tube Eppendorf trong đó có chứa hỗn hợp gồm lố Hl nước cất, 2,5 wl dung dich dém Green va 1,5 pl men BsiZI Ủ 2 giờ trong bể
cách thuỷ ở 65°C Dùng 11 HÌ sản phẩm phân cắt để chạy điện di trên gel
agarose 3%, sau đó nhuộm gel trong dung dich ethidium bromide
+ Doc két qua:
Quan sát và chụp ảnh các băng trên gel đưới ánh sáng cực tim
hoặc trên máy VDS Trên gel, An.minmus A biểu hiện 2 băng nằm sát
cạnh nhau nên hình ảnh giống như chỉ có 1 băng ở mức 200bp Còn An.minimus C có hai băng tách biệt nhau: một băng tương ứng 200bp và băng thứ hai tương ứng 300bp
- Định loại loài thành viên phức hợp Ðữus bằng kỹ thuật ASPCR (AIIele- specific Polymerase Chain Reaction) theo phuong phap cua Walton CJ et al
(1999) 8;
+ Mồi sử dụng:
Mồi D-U (5'-CGCCGGGGCCGAGGTGG-3') là mồi chung gắn tại cùng một vị trí trên ITS2 của tất cả các loài thành viên của phức hợp Dirus Môi
(An.crasens); M6i D-D (5’-GCGCGGGACCGTCCGTT-3’) đặc hiệu cho An.dirus D (An.baimaii), Méi D-F (5’-AACGGCGGTCCCCTTTG-3’) dac
hiệu cho An.dirus F (An.nemophilous); Môi D-AC gắn ở những vị trí khác nhau trên FTS2 của An.dirus A (An.dirus) va An.dirus C (An.scaloni)
+ Nhan khuyéch dai :
* Hỗn hop phản ứng khuyếch đại: mỗi loại mồi (D-U, D-AC, D-B, D-D, D-F) 1 pl, 200 pl dNTP, 2 nM MgCl, 4% DMSO, 20 mM
(NH,)2SO,, 75 mM Tris-HCl! (pH=9,0), 0,01% Tween va 0,25 don vi
én nhiét DNA polymerase
* Điều kiện phản ứng: Đầu tiên hỗn hợp phản ứng được duy trì ở
94°C trong Š phút Tiếp theo là 32 chu kỳ liên tiếp với mỗi chu kỳ ở 94°C trong 15 giây, 55°C trong lã giây và ở 72C trong 30 phút Cuối cùng duy trì ở 72"C trong 10 phút
+ Đọc kết quả:
Sản phẩm PCR được chạy điện di trên gel agarose 2,5% Sau đó quan sát
và chụp ảnh các băng trên gel đưới ánh sáng cực tím hoặc trên máy VDS Trên gel, các loài trong phức hợp Diru„# có các băng tương ứng như sau:
An.dirus A (An.dirus): 562bp An.dirus B (An.crasens): 514bp
An.dirus C (An.scaloni): 349bp An.dirus D (An.baimaii): 306bp
An.dirus F (An.nemophilous): 223bp
17
Trang 26ELISA phát hiện KST SR ở muỗi: Muỗi Anopheles thu thập tại các điểm điều tra ở Ninh Thuận và Côn Đảo được sử dụng để phân tích bằng kỹ thuật ELISA (Enzyme-Linked Immunosorbent Assays) phát hiện kháng nguyên thoa trùng Plasmodium falciparum, P vivax 210, P vivax 247 theo qui trình của
Burkot TR ef al (1984) “, va Wirtz RA et al (1985, 1992) & © Cac bude
như sau:
+ Nghiền đầu và ngực muỗi trong tube 1,5 m] trong đó có chứa 50 tử
BB:NP-40 Rửa chày nghiền 2 lần, mỗi lần với 75 ul BB (Blocking
buffer) (Toàn bộ dịch nghiền là 200 1u)
+ Nho 50 pl dung dich Mab (Monoclonal antibodies) vao mi giéng ctla phién nhua:
+ Rửa các giếng 2 lần bằng PBS-Tween 0,05%
+ Nhỏ vào mỗi giếng 50 pl hén hợp Mab-peroxidase hoà trong BB
(0,05 Hg/50 pl BB) Ủ 60 phút
+ Rửa các giếng 3 lần bằng PBS-Tween 0,05%
+ Cho vao mdi giéng 100 ul dung dich substrate U 30 ~60 phút
+ Đọc kết quả bằng mất thường hoặc máy đọc ELISA ở bước sóng 405
hoặc 414 nm
3.3.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
Số liệu thu thập được quản lý và phân tích bằng phần mềm Excel
3.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
Người bắt muỗi là dân địa phương, từ 18 tuổi trở lên, tự nguyện tham gia (không lựa chọn phụ nữ đang có thai để bắt muỗi) Người bắt muỗi có thể chấm dứt tham gia
nghiên cứu bất kỳ lúc nào mà không cần phải đưa ra lý do Những người này được khám và điểu trị sốt rét miễn phí nếu mắc sốt rét trong quá trình tham gia nghiên cứu
18
Trang 274 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu
Bảng 2 Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm khu vực nghiên cứu
(Nguồn số liệu: Trạm khí tượng Phan Rang)! (Nguồn số liệu: Trạm khí tượng Côn Dao)
24,9 0 72_| 24,2 0 69 | 25,5 0 79_| 24,9 0 78 24,8 0 71 | 25,8 0 71 | 25,3 0 79 | 26,3 0 80 26,5 0 76 | 26,3 4 72 |264| 0 82 | 267 | 6l 79 28,4 0 74 | 28,2 0 73 | 2841 9 79 | 28,3 0 78 28,7 | 8l 74 | 29,9 17 73 | 28,8 | 186 | 79 | 28,7 | 193 91
hÍI=IlSI'2|®|~|®|tal+>|lS2|>—> 25,1 8 66 | 245 | 177 §2 |258 | 33 76 | 258 | 241 83
Ghỉ chú: T: Nhiệt độ trung bình (°C); R: Lượng mưa (mm); H: Độ ẩm trung bình (%)
Số liệu ghi nhận được tại Trạm khí tượng Phan Rang (Ninh Thuận) và Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) cho thấy: Nhiệt độ trung bình tháng ở cả hai khu vực này trong
các năm 2004 - 2005 giao động từ khoảng 24°C đến 30°C Các tháng có nhiệt độ thấp là
tháng 12, tháng I và tháng 2; từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ trung bình cao hơn so với các tháng khác trong năm Ở cả hai khu vực nghiên cứu, độ ẩm trung bình tháng từ 70% đến 90%; lượng mưa không đáng kể đo được từ tháng 1 đến tháng 4, lượng mưa tăng dần từ tháng 5 và cao nhất từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm (Bảng 2)
19
Trang 284.2 Thành phần loài và mat do cac loai Anopheles tai Con Dao
Bang 3 Thành phần loài và mật độ các loai Anopheles tai Con Dao
(Điều tra tháng 10 - 11 /2005)
Điểm điều tra Loài MIN | MNN é EGE BDTN | Bo gay
Khu dan cu gan | An aconitus 0,167 | 0,500
rừng ngập nude | An barbirostris 0,250 12,000
Không Khu du lich gan | An dirus 4,400 | 5,000 | cégia | 8,000 | 29,000
MNN: Môi người ngoài nhà (Mật độ: conlngườiđêm)
CGS: Soi chuồng gia súc đêm (Mật độ: conlngườiđêm)
BDTN: Bay dén trong nha (Mat dé: con/bdyldém
Bo gdy: Mat dé: con!/100 bat
Bang các phương pháp điều tra muỗi trưởng thành và bọ gậy, đã phát hiện 6 loài Anopheles ở các sinh cảnh khác nhau ở Côn Đảo: An acomius, An barbirosris,
An dirus, An peditaeniatus, An sinensis, An vagus (Bang 2) Tại 4 sinh cảnh điều tra,
An dirus có mặt ở 3 sinh cảnh, chỉ có điểm điều tra thuộc khu dân cư gần rừng ngập
nước ngọt là không phát hiện được loài muỗi này Ở điểm điều tra thuộc khu du lịch gần rừng ven biển, chỉ bắt được 1 loài Anopheles duy nhất là An đirus với mật độ đốt
người trong nhà và ngoài nhà tương ứng là 4,400 và 5,000 con/người/đêm Điều đáng
lưu ý là tại điểm điều tra trong rừng sâu cũng chỉ bất được I loài Anopheles duy nhất là
An đirus với mật độ soi chuồng gia súc ban đêm lên tới 101,000 con/người/đêm, cao hơn rất nhiều so với mật độ đốt người trong nhà (0,500 con/người/đêm) và đốt người ngoài nhà (3,000 con/người/đêm) Phương pháp soi muỗi đậu trong nhà ban ngày không bắt được mudi Anopheles, vi vay phuong pháp này không được trình bày trong bảng 3
20
Trang 294.3 Thành phần loài và mật độ các loài Anopheles & các sinh cảnh khác nhau tại Ninh Thuận
4.3.1 Kết quả đợt điều tra tháng 10 / 2005 tai Ninh Thuan:
Bảng 4 Thành phần loài và mật độ các loài Anopheles ở các sinh cảnh khác nhau tại
Ninh Thuận (Điều tra bằng Mồi người suốt đêm ở 8 thôn, tháng 10 / 2005)
Trong đợt điều tra tháng 10 / 2005 ở các sinh cảnh khác nhau thuộc 8 thôn tại
Ninh Thuan phát hiện sự có mặt của 20 loài Anopheles (Bảng 4) Sinh cảnh bìa rừng có thành phần loài ít nhất (10 loài) và ở trong rừng có thành phần loài phong phú nhất (17
loài)
21